1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của việt nam sang thị trường đài loan

107 278 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 879,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần đây, trong cơ chế thị trường hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài được chủ yếu thực hiện thông qua các doanh nghiệp dịch vụ xuất khẩu lao động, chiếm 80% t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

NGUYỄN HÀ LINH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM

SANG THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

SANG THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH iii

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động 10

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của xuất khẩu lao động 10

1.3 Cơ sở thực tiễn của công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 19

1.3.1 Tổng quan hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam 19

1.3.2 Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan và yêu cầu quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động 28

1.3.3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc quản lý các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và bài học cho Việt Nam 33

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Phương pháp nghiên cứu 42

2.2 Thiết kế nghiên cứu 43

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG SANG 46

THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN 46

3.1 Các nội dung cơ bản của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động sang Đài Loan 46

3.1.2 Bộ máy quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động 54

Trang 4

3.1.3 Định hướng, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp 63

3.1.4 Các cơ chế phản hồi từ những người lao động về hoạt động của các doanh nghiệp 67

3.2 Thực tiễn triển khai và đánh giá kết quả đạt được của công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động sang Đài Loan 71

3.2.1 Kết quả đạt được của việc thực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động 71

3.2.2 Một số tồn tại và nguyên nhân 77

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 84

VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ĐÀI LOAN 84

4.1 Bối cảnh của hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan thời gian tới 84

4.2 Một số giải pháp chính sách 86

4.3 Các kiến nghị về một số định hướng chính sách chung 92

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Bốn trụ cột cơ bản của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp dịch vụ 18

Bảng 1.2 Số lao động Việt Nam đưa đi làm việc ở Liên Xô và Đông Âu (1980 – 1990) 20

Bảng 1.3 Số lao động Việt Nam đưa đi làm việc ở nước ngoài (1991 – 2000) 22

Bảng 1.4 Số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (2000 – 2005) 23

Bảng 1.5 Số lao động Việt Nam đưa đi làm việc ở nước ngoài (2006 - 2015) 26

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Các bước phân tích của luận văn 45Hình 3.1 Mô hình quản lý các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và lao động làm việc ở nước ngoài 54Hình 3.2 Cơ cấu bộ máy của Cục quản lý lao động ngoài nước 60Hình 3.3 Bộ máy hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động 73

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển việc làm ngoài nước là mục tiêu quan trọng trong chiến lược việc làm quốc gia của Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt là giai đoạn 2010-2020 theo xu hướng toàn cầu hóa và chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước

ta Cùng với những lợi ích kinh tế và xã hội to lớn như giải quyết việc làm và tạo thu nhập, qua thời gian làm việc ở nước ngoài lao động Việt Nam còn được nâng cao trình độ tay nghề, ngoại ngữ, văn hóa ứng xử giúp phát triển nghề nghiệp và việc làm bền vững khi trở về

Những năm gần đây, trong cơ chế thị trường hoạt động đưa người lao động

đi làm việc ở nước ngoài được chủ yếu thực hiện thông qua các doanh nghiệp dịch

vụ xuất khẩu lao động, chiếm 80% tổng số lao động được đưa đi Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động (XKLĐ) này là loại hình doanh nghiệp tương đối đặc thù, hoạt động theo cả Luật Doanh nghiệp và Luật Người lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Quan điểm quản lý nhà nước về lĩnh vực xuất khẩu lao động được cụ thể hóa trong các Nghị Quyết, Chỉ thị của Đảng Ngay từ năm 1998, Chỉ thị 41-CT/TW của

Bộ Chính trị (Khóa XIII) về xuất khẩu lao động và chuyên gia nêu rõ nhiệm vụ của

quản lý nhà nước được đặt ra là “ nâng cao trình độ quản lý của các đơn vị xuất

khẩu lao động, mặt khác phải chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động đi làm việc ở nước ngoài…” Tuy nhiên, cùng với các tác động của khủng

hoảng kinh tế, chính trị trong khu vực và trên toàn cầu, việc gia tăng số lượng lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc đang nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp ảnh hưởng lớn đến sự an toàn của việc làm ngoài nước Nguyên nhân chủ yếu xuất phát

từ những hạn chế trong hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ Nhiều doanh nghiệp có quy mô nhỏ, ít đầu tư vốn và nguồn nhân lực nên hoạt động chưa hiệu quả Một số doanh nghiệp không chú trọng công tác quản lý lao động làm việc ở nước ngoài, chậm phát hiện và xử lý các vấn đề phát sinh đối với người lao động Thậm chí, vẫn còn một số doanh nghiệp còn chạy theo lợi nhuận trước mắt; một số

Trang 9

doanh nghiệp không quản lý chặt chẽ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của các chi nhánh được giao nhiệm vụ; khi xảy ra tranh chấp trong quá trình thực hiện, có những doanh nghiệp đã không tích cực giải quyết kịp thời, dứt điểm, ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động

Việt Nam đưa lao động sang làm việc tại Đài Loan kể từ tháng 11/1999 theo Thoả thuận về gửi và tiếp nhận lao động Việt Nam sang Đài Loan làm việc ký giữa Văn phòng Kinh tế - Văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc với Văn phòng Kinh tế Văn hoá Đài Bắc tại Hà Nội

Nhiều năm qua, Đài Loan là thị trường tiếp nhận nhiều nhất lao động Việt Nam Số lượng lao động Việt Nam đi làm việc tại Đài Loan tăng trưởng ổn định, đặc biệt gia tăng mạnh trong 5 năm trở lại đây (năm 2014 là trên 62.000 lao động, 8 tháng đầu năm 2015 là 49.000 lao động) Phần đông người lao động Việt Nam được chủ sử dụng lao động Đài Loan đánh giá là chăm chỉ, cần cù và thông minh; chính

vì vậy mà số lượng người lao động Việt Nam được chủ sử dụng lao động lựa chọn khá cao và luôn đứng vị trí thứ 2 và thứ 3 trong số 6 nước đưa lao động sang làm việc tại Đài Loan từ năm 2004 đến nay

Tuy nhiên, từ năm 2004 đến nay tình hình người lao động Việt Nam làm việc tại Đài Loan bỏ hợp đồng ra ngoài làm việc bất hợp pháp cao, với tỷ lệ khoảng 8%

so với số lao động Việt Nam có mặt tại Đài Loan và chiếm gần 50% tổng số lao động nước ngoài bỏ hợp đồng tại Đài Loan Trong khi đó, tỷ lệ người lao động Việt Nam bỏ hợp đồng ra ngoài làm việc bất hợp pháp và tình trạng thu phí quá cao so với quy định vẫn không được cải thiện Nguyên nhân của tình trạng này có một phần từ hoạt động chạy theo lợi nhuận, buông lỏng khâu kiểm tra của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và việc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp này còn chưa thực sự hiệu quả

Thực trạng trên đang đặt ra các yêu cầu cấp bách trong việc tăng cường quản

lý nhà nước thông qua các công cụ về pháp lý để giám sát được việc tuân thủ luật pháp, đánh giá được hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tìm ra các giải pháp và có các hành động nhanh

Trang 10

chóng nhằm khắc phục, giải quyết những tồn tại, hạn chế kể trên, nhằm tiếp tục thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động sang Đài Loan làm việc theo hướng vừa bảo đảm mục tiêu kinh tế, vừa đảm bảo được các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động cũng như giữ gìn và củng cố uy tín của nhà nước ta trên lĩnh vực này

Với mong muốn vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn và đóng góp vào việc tăng cường nâng cao chất lượng quản lý hoạt động đưa người lao động đi

làm việc tại Đài Loan, tôi chọn đề tài : “Quản lý nhà nước đối với các doanh

nghiệp xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan” làm luận văn

thạc sỹ cho mình

Liên quan đến đề tài bài viết cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp XKLĐ của Việt Nam sang Đài Loan được tiến hành như thế nào?

- Những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp XKLĐ của Việt Nam sang thị trường Đài Loan

là gì? Nguyên nhân của những hạn chế đó?

- Việt Nam cần những giải pháp gì để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp XKLĐ sang thị trường Đài Loan thời gian tới?

1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích

Luận văn nhằm hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn của công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp XKLĐ của Việt Nam, từ đó vận dụng vào việc phân tích, đánh giá việc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp XKLĐ của Việt Nam sang Đài Loan và đề xuất một số giải pháp chính sách nhằm hoàn thiện công tác này

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn của việc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp XKLĐ sang Đài Loan của Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp XKLĐ sang thị trường Đài Loan

Trang 11

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp XKLĐ sang Đài Loan

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ của Việt Nam sang thị trường Đài Loan, đặc biệt là các công cụ quản lý, cơ chế và chính sách quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp này

Phạm vi nghiên cứu

*Phạm vi không gian: công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp

XKLĐ của Việt Nam sang Đài Loan

*Phạm vi thời gian: chủ yếu tập trung vào giai đoạn 2011 – 2015 (về số

liệu), có tham chiếu giai đoạn trước với dấu mốc là việc ban hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006

1.4 Các đóng góp của luận văn

Luận văn đã đưa ra kiến nghị về một số giải pháp chính sách, trong đó gồm nhiều giải pháp mới, mang tính đột phá và sáng tạo (như các giải pháp về phân loại doanh nghiệp, các chế tài xử phạt doanh nghiệp vi phạm, minh bạch thông tin ) nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp XKLĐ của Việt Nam sang thị trường Đài Loan

1.5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu và tham khảo, luận văn được kết cấu làm 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn của

việc quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động sang thị trường Đài Loan

Chương 4 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP

XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Quá trình phát triển của kinh tế thế giới đã đặt ra nhiều vấn đề mới, trong đó mối liên kết phân công lao động giữa các nước, các khu vực ngày càng diễn ra mạnh mẽ hơn, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng lên Trong bối cảnh đó, việc khai thác các lợi thế nói chung, lao động nói riêng là cách thức quan trọng nhằm tăng cường hợp tác vì lợi ích của các nước cũng như của chính người lao động (NLĐ) XKLĐ có quan hệ chặt chẽ với vấn đề di cư, di chuyển lao động do vậy, khi nghiên cứu không thể không đề cập đến nội dung này Trong số các công trình

đã công bố có liên quan đáng chú ý là cuốn: Di chuyển con người để cung cấp dịch

vụ của các tác giả Aaditya Matto- Antonia Carzanifa (2003) Đóng góp có giá trị

của công trình trên là làm rõ các khái niệm có liên quan: di cư, di chuyển lao động, dịch vụ lao động kinh nghiệm di cư của Thái Lan, Philipin và nhất là chỉ ra cách tiếp cận từ chính các nhà quản lý, các chính sách của các nước nhập cư lớn hiện nay

Ở Việt Nam khi bàn về XKLĐ, nhiều quan điểm cho rằng, cần thiết phải đặt vấn đề này trong tổng thể chiến lược phát triển nguồn nhân lực lao động Có thể nêu lên công trình có nhiều đóng góp giá trị được công bố của Nguyễn Huy Chương

(2002) Về tạo nguồn nhân lực tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá Kết luận

chung của công trình này là nhấn mạnh tầm quan trọng của phát trỉển nguồn nhân lực nói chung, lao động Việt Nam nói riêng hiện nay và trong thời gian tới Ở nhiều cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã làm rõ thực trạng lao động của Việt Nam cả

ở khía cạnh tích cực và hạn chế, nêu lên nhiều ý kiến thực tế nhằm phát huy lợi thế của Việt Nam về sử dụng lao động trong nước và quốc tế

Ở Việt Nam, nghiên cứu kinh nghiệm XKLĐ của các nước cũng là chủ đề hấp dẫn thu hút các nhà nghiên cứu Trong số các công trình về lĩnh vực này đáng

chú ý là nghiên cứu: XKLĐ của một số nước Đông Nam Á: Kinh nghiệm và bài học của Nguyễn Thị Bích Hồng (2007) Công trình đã làm rõ cách tiếp cận về nhận thức

Trang 13

cũng như chính sách của các nước về vấn đề XKLĐ Tác giả cho rằng, phải coi XKLĐ như là ngành kinh tế quan trọng, chủ động vạch ra chiến lược cũng như xây dựng một hệ thống chính sách để phát triển ngành kinh tế đặc biệt này

Trong khi các nước kém phát triển chủ yếu XKLĐ phổ thông để giải quyết nạn thừa lao động thiếu việc làm và tìm kiếm nguồn ngoại tệ để nâng cao mức sống, giảm tải áp lực xã hội, thì các nước phát triển một mặt nhập khẩu lao động loại này

để giải bài toán thiếu hụt lao động, mặt khác các nước đó lại XKLĐ cao cấp để thu

về nguồn ngoại tệ lớn Liên quan đến vấn đề này, công trình nghiên cứu “Báo cáo di dân quốc tế” của Tổ chức di cư quốc tế (2010) đã chỉ ra và khẳng định thực trạng cũng như sự khác biệt về chất lượng nguồn lao động xuất, nhập khẩu ở các nước có nền kinh tế phát triển khác nhau, từ đó giúp cho chúng ta có bài học và định hướng trang bị về kiến thức chuyên môn cũng như các hiểu biết về phong tục, tập quán cho NLĐ, phục vụ tốt cho công tác XKLĐ trong những năm đầu thế kỷ XXI

Phân tích và làm rõ thực trạng XKLĐ của các nước và nhất là ở Đông Nam

Á là đóng góp nổi bật của một số công trình công bố gần đây Đáng chú ý là nghiên

cứu có giá trị về vấn đề này được trình bày tại Hội thảo quốc tế: “International

Migration and Labor Maket in Asia” (Di dân quốc tế và thị trường lao động ở châu

Á) do Viện Lao động Nhật Bản tổ chức tại Tokyo tháng 2- 2001, trong đó nhiều báo

cáo có giá trị được công bố như của tác giả Manolo Abella: Cooperation in

managing labour migration in a globalizing world (Hợp tác trong quản lý lao động

di cư trong thế giới toàn cầu hóa), của Chalamwong Yongyuth: International

Migration and Labor Market in Thailand (Di dân quốc tế và thị trường lao động của

Thái Lan) và của Rosalinda Dimapilis Baldoz: Managing the Philippine overseas

employment (Quản lý lao động Philippine làm việc ở nước ngoài) Nhìn chung,

nghiên cứu của các học giả trên đã khái quát khá đầy đủ bức tranh toàn cảnh của vấn đề XKLĐ ở châu Á, trong đó phân tích các tác động của liên kết kinh tế và di

cư quốc tế, khía cạnh xã hội của vấn đề, đặc biệt về tương lai của hợp tác XKLĐ Đóng góp nổi bật có thể nhận thấy là: thực tế XKLĐ của một số nước như Thái

Trang 14

Lan, Philippine, Việt Nam đã được đánh giá khách quan cả ở khía cạnh tích cực

này Tiêu biểu trong số này là công trình của Trần Văn Hằng (1996) Các giải pháp

nhằm đổi mới quản lý nhà nước về XKLĐ trong giai đoạn 1995- 2010 Mặc dù ở

nhiều cách tiếp cận khác nhau, song đóng góp nổi bật của các công trình trên là làm

rõ được bức tranh XKLĐ của nước ta trong thời gian qua tập trung vào các nội dung: phân tích sự gia tăng về số lượng, chất lượng lao động xuất khẩu qua các thời

kỳ, đi sâu vào xem xét các thị trường trọng điểm như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia và Trung Đông, các ngành nghề lĩnh vực mà lao động của chúng ta tham gia

Các đánh giá tương đối thống nhất trong các công trình trên là: chủ trương đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài của ta là hoàn toàn đúng đắn Việc xác định các thị trường trọng điểm và khai thác các thị trường này trong thời gian qua nhìn chung

là khá hiệu quả Hầu hết các nghiên cứu trên đã làm rõ những đóng góp của việc XKLĐ không chỉ đối với sự phát triển kinh tế đất nước (là ngành thu ngoại tệ lớn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần xoá đói, giảm nghèo ) mà còn cho phép cải thiện chất lượng lao động, tiếp thu khoa học công nghệ và quản lý mở rộng quan hệ hợp tác và hữu nghị với nhân dân nước bạn

Bên cạnh việc đánh giá thành công trong XKLĐ, các công trình đều cho rằng vẫn còn khá nhiều bất cập cần phải giải quyết Những yếu kém này tồn tại ở nhiều

Trang 15

phía, nhiều khâu cả ở tầm vĩ mô cũng như ở cơ sở và cả doanh nghiệp cũng như cá

nhân người lao động Nghiên cứu của Nguyễn Lương Phương (2002) XKLĐ và

chuyên gia không chỉ khẳng định những thành tựu của XKLĐ mà còn nêu rõ những

hạn chế trong lĩnh vực này như: số lượng lao động đưa đi của các doanh nghiệp còn

ít so với yêu cầu; nhiều doanh nghiệp thiếu chủ động tìm kiếm khai thác thị trường; chất lượng đội ngũ lao động thấp, nhất là ngoại ngữ, tay nghề; vấn đề lao động bỏ trốn đang gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của lao động Việt Nam, sự rủi ro của NLĐ

và cả các doanh nghiệp đưa người đi lao động vẫn còn lớn; tiêu cực, lừa đảo trong XKLĐ vẫn còn tồn tại và hoạt động ngày càng tinh vi hơn, gây hậu quả xấu trong

xã hội Đây là những nội dung rất quan trọng đang được các cơ quan có trách nhiệm cũng như người lao động quan tâm

Không chỉ phân tích thực trạng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài mà đóng góp có ý nghĩa thực tiễn đáng chú ý trong các công trình nghiên cứu thời gian qua là

đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giải quyết việc làm cũng như đảm bảo hoạt động và nâng cao chất lượng XKLĐ của nước ta hiện nay và trong thời gian tới Với mục tiêu đó, một số ít nghiên cứu đã tập trung phân tích, đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động

Thí dụ, nghiên cứu “Nghiên cứu thẩm quyền và thủ tục cấp phép XKLĐ” của Đào

Công Hải (Bộ LĐTB&XH, 2003) đã phân tích có căn cứ lý thuyết và thực tiễn về các giải pháp đảm bảo việc làm và tăng cường XKLĐ Các kiến nghị cụ thể của những công trình nghiên cứu trên tập trung vào các nội dung sau: 1) Cần đặt vấn đề XKLĐ trong chiến lược phát triển và sử dụng nguồn lực lao động chung của đất nước; 2) Cần xây dựng định hướng chiến lược dài hạn về phát triển thị trường XKLĐ, trong đó nhấn mạnh đến các thị trường trọng điểm và lâu dài với loại hình chất lượng cao; 3) Cần phối hợp các giải pháp động bộ: nhà nước, địa phương, doanh nghiệp, NLĐ các bộ, ngành có liên quan để đảm bảo hoạt động XKLĐ có hiệu quả và chất lượng; và 4) Cần tích cực tháo gỡ những bất cập, khó khăn đang tồn tại để đưa hoạt động XKLĐ ngày càng đi vào nề nếp, kỷ cương và có hiệu quả kinh tế, xã hội tốt hơn Công trình của Thái Thị Hồng Minh (2003): “Hoàn thiện

Trang 16

quản lý dịch vụ XKLĐ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” đã phân tích cơ

sở lý luận về quản lý dịch vụ XKLĐ, đánh giá thực trạng của hoạt động quản lý dịch vụ XKLĐ của Bộ LĐTBXH giai đoạn 1996-2002 và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dịch vụ XKLĐ của Bộ LĐTBXH Công trình của Trần

Thị Thu (2006): “Nâng cao hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động của các doanh

nghiệp trong điều kiện hiện nay” Công trình nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở

thực tiễn XKLĐ tại Công ty Cung ứng nhân lực quốc tế và Thương mại (SONA) cùng một số doanh nghiệp với mục đích làm rõ khái niệm và sự cần thiết nâng cao hiệu quả quản lý XKLĐ tại các doanh nghiệp XKLĐ của Việt Nam, đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý XKLĐ của các doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam

và kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý XKLĐ của các doanh nghiệp XKLĐ

Vấn đề XKLĐ của Việt Nam nói chung và XKLĐ của Việt Nam sang thị trường Đài Loan cũng là chủ đề nghiên cứu của một số luận văn thạc sỹ kinh tế, thí dụ: “Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường khu vực Đông Bắc Á: thực trạng và giải pháp” (Lưu Văn Hưng, 2005), trong đó đề cập đến hoạt động XKLĐ

sang thị trường Đài Loan; “Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài

Loan” (Đặng Văn Ngữ, 2012); “Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang Đài Loan” (Dương Thanh Thùy, 2013)… Các luận văn này đều chủ yếu tập trung

phân tích thực trạng XKLĐ của Việt Nam sang thị trường Đài Loan dưới các góc độ tiếp cận khác nhau về chuyên ngành (như kinh tế chính trị, kinh tế đối ngoại…) mà chưa đề cập nhiều đến nội dung quản lý doanh nghiệp

Nhìn chung, các nghiên cứu nêu trên đã khái quát lý luận về xuất khẩu lao động và thực trạng hoạt động XKLĐ và quản lý nhà nước về XKLĐ, quản lý hoạt động xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp ở nước ta và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và đổi mới hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý hoạt động XKLĐ của Việt Nam Tuy nhiên, đến nay chưa có một đề tài khoa học hay công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu, cập nhật cả trên phương diện lý luận và

Trang 17

thực tiễn về công tác quản lý đối với doanh nghiệp XKLĐ sang thị trường Đài Loan giai đoạn hiện nay

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của xuất khẩu lao động

* Một số khái niệm cơ bản

“Lao động”, theo định nghĩa của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) được hiểu

là hoạt động có chủ đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những những vật thể tự nhiên phù hợp với lợi ích của mình Lao động cũng chính là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải, vật chất và tinh thần, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, trong đó, sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình lao động tạo ra của cải, vật chất, tinh thần cho

xã hội

“Nguồn nhân lực” là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, có khả năng

tham gia lao động và được thể hiện ở hai khía cạnh là số lượng (tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc và thời gian lao động có thể huy động được

từ họ) và chất lượng (sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động) Nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội

“Thị trường lao động” và “Di chuyển lao động”: Theo ILO: Thị trường lao

động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công Thị trường lao động được hình thành bởi cung và cầu lao động Do có sự phát triển không đồng đều, giữa các quốc gia và mỗi nước đều có lực lượng lao động hay nguồn nhân lực khác nhau, vì vậy, trong mỗi quốc gia đã hình thành cung và cầu lao động khác nhau Trong nền kinh tế thị trường tự do và các thị trường lao động được

mở cửa, việc di chuyển lao động là một thực tế khách quan Tùy thuộc vào nhu cầu lao động, khả năng cung ứng việc làm và chất lượng nguồn nhân lực của mỗi quốc

Trang 18

gia trong từng giai đoạn, nhất định tất yếu dẫn đến sự lưu chuyển của người lao động (NLĐ) vùng này sang vùng khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác Đồng thời, để đảm bảo sử dụng, khai thác có hiệu quả các nguồn lao động di cư đó, các quốc gia đều có những cơ chế pháp lý riêng và cơ chế phối hợp mang tính thể chế pháp lý để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ nước mình tại quốc gia

mà NLĐ đến làm việc và khuyến khích lực lượng lao động di cư hợp pháp, góp phần vào sự phát triển kinh tế của quốc gia mình Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, sức lao động trở thành hàng hóa, hình thành nên các thị trường lao động trên cơ sở nhu cầu sử dụng lao động; khả năng cung ứng lao động; giá cả của sức lao động (tiền lương); cạnh tranh trên thị trường lao động; cơ sở hạ tầng của thị trường lao động

“Xuất khẩu lao động”: là một loại hình dịch vụ nhằm đưa người lao động từ

nước này sang làm việc ở nước khác Xuất khẩu lao động là một hình thức di chuyển lao động trong nền kinh tế thị trường với những đặc điểm và vai trò sau:

* Đặc điểm của xuất khẩu lao động

Khoảng cách về trình độ kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới là lý do để hoạt động xuất khẩu lao động diễn ra Các nền kinh tế phát triển có nhiều lao đô ̣ng

có trình độ cao , những chuyên gia giàu kinh nghiê ̣m nhưng la ̣i thiếu mô ̣t lực lượng lớn lao đô ̣ng phổ thông đảm nhâ ̣n những công viê ̣c vất vả , nă ̣ng nho ̣c, thu nhâ ̣p thấp hơn mức trung bình chung của toàn xã hô ̣i Những nước đang phát triển hay kém phát triển với đặc điểm đông dân có lực lượng lao đô ̣ng dồi dào song lại thiếu việc làm và thu nhập thấp Tuy nhiên, lao đô ̣ng ở các nước đang phát triển và kém phát triển thường có trình đô ̣ , tay nghề thấ p, chưa được tiếp câ ̣n với sự phát t riển của công nghê ̣ Chính sự khác biệt này mà giữa các quốc gia đã tiến hành hoạt động xuất và nhâ ̣p khẩu lao đô ̣ng Do quy luâ ̣t cung cầu trên thi ̣ trường lao động, hoạt

đô ̣ng XKLĐ trở nên phổ biến rô ̣ng rãi và mang tính tất yếu khách quan

Trang 19

Hoạt động xuất khẩu lao động đem lại lợi ích cho cả ba bên : nhà nước, doanh nghiê ̣p và cả bản thân người lao đô ̣ng đi xuất khẩu Đồng thời, hoạt động này cũng đem la ̣i lợi ích cho cả nhà nước và doanh nghiê ̣p của nước tiếp nhâ ̣n lao đô ̣ng

Trước tiên, về phía quốc gia xuất khẩu lao đô ̣ng , đó là nguồn thu cho ngân sách nhà nước từ các khoản thuế thu nhậ p doanh nghiê ̣p cùng với ngoa ̣i tê ̣ được các lao đô ̣ng gửi về cho gia đình Nguồn ngoa ̣i tê ̣ này có vai trò quan tro ̣ng trong viê ̣c cân bằng la ̣i cán cân thương ma ̣i , xóa đói giảm nghèo Thêm vào đó , xuất khẩu lao

đô ̣ng đã phần nào giải quyết được thất nghiệp và nhu cầu việc làm tăng cao do đặc thù đông dân ở các nước đang phát triển hay kém phát triển

Hoạt động này cũng đem lại doanh thu cho các công ty xuất khẩu lao động từ các khoản chi phí có được trong quá trình đưa người lao đô ̣ng đi làm viê ̣c ở nước ngoài như: tiền dịch vụ, tiền môi giới,

Bản thân người lao động có cơ hội đươ ̣c làm viê ̣c ở nước ngoài , giúp họ có đươ ̣c nhiều lợi ích trực tiếp và gián tiếp Lợi ích trực tiếp chính là khoản tiền lương hàng tháng, từ đó ho ̣ có thể đảm bảo phí sinh hoa ̣t cá nhân , có tích lũy, gửi tiền về phụ giúp gia đình Sau khi kết thúc hợp đồng lao đô ̣ng , với số tiền tiết kiê ̣m , họ hoàn toàn có t hể đầu tư để tiếp tu ̣c ta ̣o ra lợi nhuâ ̣n Trong quá trình nhiều năm làm viê ̣c, rèn luyện ý thức , tác phong làm việc , trình độ và tay nghề của người lao động cũng được nâng cao

Còn đối với quốc gia tiếp nhận lao động , lơ ̣i ích được tạo ra từ chính những người lao đô ̣ng này đó là phần bù đắp lượng lao đô ̣ng thiếu hu ̣t trong nước Thêm nữa, khoản tiền lương chi trả cho các lao động nước ngoài là tương đối rẻ so với tiền lương trả cho lao đô ̣ng trong nước

Hoạt động xuất khẩu lao động không chỉ dành cho các nước đang phát triển hay kém phát triển mà các nước phát triển cũng tiến hành xuất khẩu lao động Nhưng các nước phát triển tiến hành xuất khẩu lao đô ̣ng của mình sang các nước khác thường là lao động có trình độ , tay nghề cao và thường là lao đô ̣ng chất xám

Trang 20

Xuất khẩu lao động từ các nước đang và kém phát triển , lực lượng lao đô ̣ng thường thiếu tay nghề, trình độ thấp, đươ ̣c hiểu là lao đô ̣ng đơn giản

Hoạt động XKLĐ đươ ̣c đă ̣t trong môi trường ca ̣nh tranh gay gắt giống như các hoạt động kinh tế khác Trên thực tế , lượng hồ sơ đăng kí đi làm viê ̣c ở nước ngoài là rất lớn nhưng số lao động được chọn lại được giới hạn từ phía doanh

nghiê ̣p của quốc gia tiếp nhâ ̣n Vì vậy, viê ̣c ca ̣nh tranh giữa những người lao đô ̣ng với nhau là không tránh khỏi , sự ca ̣nh tranh không chỉ dừng la ̣i từ phía người lao

đô ̣ng mà còn xảy ra giữa các doanh nghiê ̣p , công ty xuất khẩu lao động khi có chung mô ̣t thi ̣ trường xuất khẩu

Mô ̣t sự ca ̣nh tranh khác với quy mô rô ̣ng lớ n hơn, đó là ca ̣nh tranh giữa các quốc gia cùng tiến hành xuất khẩu lao đô ̣ng Ngày càng có nhiều nước tham gia vào lĩnh vực xuất khẩu lao động, trong hiện thời và trước mắt các nước nhập khẩu lao động chỉ muốn tiếp nhận lao động có kỹ năng cao, thích ứng với công nghệ mới, siết chặt chính sách nhập cư có xu hướng quản lý lao động nhập cư thông qua các hợp đồng lao động tạm thời và chính sách quản lý lao động nhập cư

Xuất khẩu lao đô ̣ng không đơn thuần chỉ là bán sức lao đô ̣ng từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoạt động này kéo theo việc di chuyển lao động giữa các nước Sự khác biê ̣t về văn hóa , phong tu ̣c tâ ̣p quán , lối sống, múi giờ, khí hậu đem la ̣i xáo trộn cho cả xã hô ̣i ta ̣i nơi tiếp nhâ ̣n và nơi lao đô ̣ng được đưa đi Nhờ xuất khẩu lao đô ̣ng mà đời sống của nhân dân được cải thiện thông qua khoản thu nhâ ̣p người lao đô ̣ng gửi về cho gia đình và người thân Đây cũng là biê ̣n pháp nhằ m tiến hành xóa đói giảm nghèo bền vững

* Vai tro ̀ của xuất khẩu lao động

- Xuất khẩu lao động góp phần tạo việc làm

Hoạt động xuất khẩu lao động đóng một vai trò lớn, đặc biê ̣t đối với các quốc gia đang phát triển hay châ ̣ m phát triển Vai trò đầu tiên hết sức quan tro ̣ng là giải quyết viê ̣c làm cho quốc gia tiến hành xuất khẩu lao đô ̣ng Đặc biệt các quốc gia

Trang 21

đang và kém phát triển , những nơi đông dân với chính sách phát triển còn chưa phù

hơ ̣p, khối lượng viê ̣c làm bi ̣ ha ̣n chế và thất nghiê ̣p khiến cho vấn đề ổn đi ̣nh kinh tế

vĩ mô trở nên khó khăn

Người lao đô ̣ng đi làm viê ̣c ở nước ngoài có được nguồn thu nhâ ̣p ổn đi ̣nh , tùy vào vị trí công việc và lĩnh vực làm việc cũng như thị trường lao động mà mức lương hàng tháng sẽ có sự khác biê ̣t Tuy nhiên, sau khi trừ chi phí sinh hoa ̣t , người lao đô ̣ng vẫn có thể dư ra mô ̣ t khoản tiết kiê ̣m và sau đó sẽ tích lũy để gửi về cho người thân Đây cũng là nguồn thu nhâ ̣p cho gia đình của ho ̣ giúp cho những gia đình này cải thiê ̣n cuô ̣c sống và sau này khoản tiền gửi cũng có thể trở thành khoản đầu tư cho viê ̣c ổn đi ̣nh nghề nghiê ̣p lâu dài

Xuất khẩu lao động góp phần xây dựng đô ̣i ngũ lao đô ̣ng có tay nghề , trình

đô ̣, ý thức kỷ luật cao sau khi kết thúc hợ p đồng làm viê ̣c ở nước ngoài tiếp nhâ ̣n lao đô ̣ng

Trên thực tế , đối với các thi ̣ trường tiếp nhâ ̣n lao đô ̣ng từ nước khác , những chủ doanh nghiệp sẽ phả i trả mức lương thấp hơn so với lao đô ̣ng trong nước Chính vì vậy, các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí sản xuất nếu thuê lao động nước ngoài Đây được coi là mô ̣t lợi thế từ các nước xuất khẩu lao đô ̣ng

- Xuất khẩu lao động giúp tăng cường hội nhập, mở rộng giao lưu quốc tế

XKLĐ cũng tăng cường hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trên thế giới khi

xu hướng toàn cầu hóa ngày càng trở nên phổ biến Đây cũng là cơ hô ̣i để giao lưu văn hóa, tiếp nhâ ̣n những nét đe ̣p văn hóa từ quốc gia khác

1.2.2 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp dịch vụ xuất khẩu lao động

Tại các nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi và hội nhập như Việt Nam, nhà nước có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của ngành dịch vụ do khu vực kinh tế tư nhân vốn rất năng động phù hợp để phát triển ngành dịch vụ bị hạn chế Trong bối cảnh đó, nhà nước cần xây dựng khung khổ luật pháp và chính sách nhằm

Trang 22

quản lý sự phát triển của ngành dịch vụ, đảm bảo chất lượng dịch vụ; đảm bảo việc thực thi các cam kết quốc tế Trong lĩnh vực dịch vụ như XKLĐ, Nhà nước có vai trò thiết yếu trong việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập, thúc đẩy giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội trong việc tiếp cận dịch vụ của các công ty XKLĐ.1

XKLĐ là một loại hình dịch vụ, do vậy quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này cần được nghiên cứu trong khung khổ quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp dịch vụ nói chung Trong bối cảnh mới của Việt Nam hiện nay, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dịch vụ nói riêng phải dựa trên nguyên tắc phù hợp với thể chế kinh tế thị trường, lấy cơ chế thị trường làm nền tảng để định hướng cho việc áp dụng các công cụ quản lý Trong mối quan hệ này, nhà nước cần thực sự coi trọng những quy luật khách quan, mang tính phổ biến của thị trường và kinh tế thị trường hiện đại, thừa nhận vai trò quyết định của thị trường trong phân bổ các nguồn lực của xã hội Nhà

nước tập trung thực hiện các vai trò và chức năng như: i) Ổn định kinh tế vĩ mô và kiến tạo cơ hội phát triển; ii) Thiết lập khung khổ pháp luật, chính sách và bộ máy

thực thi đảm bảo các loại thị trường liên tục được hoàn thiện và hoạt động có hiệu quả, có cạnh tranh công bằng, bình đẳng và kiểm soát hiệu quả độc quyền kinh

doanh dưới mọi hình thức, v.v iii) Tổ chức cung ứng các loại dịch vụ công ích,

thiết yếu; giảm bất công, bất bình đẳng về thu nhập, phúc lợi và thực hiện các nhiệm vụ xã hội khác Nhà nước cần đoạn tuyệt hoàn toàn tư duy phân biệt đối xử

giữa các thành phần kinh tế để tạo lập một môi trường thực sự bình đẳng, tự do

cạnh tranh trong phát triển giữa các doanh nghiệp thuộc nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế

Trên cơ sở đó, quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp dịch vụ nói chung

và các doanh nghiệp XKLĐ nói riêng được thực hiện trên bốn phương diện:

- Nhà nước thiết lập môi trường, khung khổ pháp luật và các quy định để giám sát, điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp:

1 Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Dự án VIE/02/009 (2005), “Phát triển khu vực dịch vụ ở Việt Nam: Chìa khóa cho tăng trưởng bền vững”, tháng 11/2005

Trang 23

Khung khổ pháp luật và điều tiết của nhà nước có vai trò quan trọng và là chìa khóa đối với nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ Nhà nước cần xây dựng môi trường hoạt động cho các doanh nghiệp mà cơ bản là môi trường pháp lý và thể chế; kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp; tham gia khắc phục những khuyết tật của thị trường, đặc biệt coi trọng và thực hiện tốt chức năng hỗ trợ công dân lập thân, lập nghiệp về kinh tế Do nền kinh tế nước

ta đã được đa dạng hoá về hình thức sở hữu và chuyển sang cơ chế thị trường nên công cụ quản lý bằng pháp luật của nhà nước hết sức quan trọng

Trên thực tế, hệ thống pháp luật trong nước có thể tạo ra những cơ chế bóp méo hoạt động dịch vụ Nhiều nước đang phát triển có quá nhiều hoặc không có các quy định liên quan đến giấy phép kinh doanh và chứng chỉ hành nghề; chuẩn mực đối với các giấy phép kinh doanh và chứng chỉ hành nghề có thể lại quá thấp; các quy định được nêu ra rất chung chung dẫn đến những diễn giải tuỳ tiện Trong lĩnh vực XKLĐ, thủ tục phiền hà và những quy định không minh bạch khiến cho chi phí giao dịch cao hơn; đồng thời những thay đổi không đoán trước được trong khuôn khổ luật pháp sẽ tác động tiêu cực đến lĩnh vực dịch vụ này.2

Tình trạng buông lỏng

kỷ luật, kỷ cương, xem nhẹ pháp chế trong hoạt động kinh tế của nhiều doanh nghiệp đã tác động tiêu cực đến hoạt động XKLĐ thời gian qua Để khắc phục tình trạng trên, cần từng bước đưa hoạt động XKLĐ vào khuôn khổ pháp luật, thiết lập các quy định, tiêu chí hoạt động cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, đồng thời có chế tài xử phạt rõ ràng và đúng mức

- Nhà nước thiết lập bộ máy hành chính để quản lý hoạt động của các doanh nghiệp:

Trong quản lý nhà nước đối với các dịch vụ như XKLĐ cần sự phối hợp

chính sách giữa các cơ quan của chính phủ, chủ yếu do: i) các hoạt động dịch vụ XKLĐ có tính liên ngành khó có thể quản lý được bởi duy nhất một bộ, ngành; ii)

Trong lĩnh vực XKLĐ, ngày càng có nhiều vấn đề mới, phức tạp, nảy sinh không

2 Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc 2006 Khung khổ cho chiến lược

quốc gia phát triển khu vực dịch vụ ở Việt Nam đến năm 2020 Dự án VIE/02/009 Hà nội, tháng 06/2006

Trang 24

thể giải quyết một cách toàn diện thông qua khuôn khổ chiến lược của một bộ/cơ quan cụ thể, do vậy đòi hỏi phải có cách tiếp cận của “toàn bộ bộ máy chính

quyền”; iii) Nguồn ngân sách hạn hẹp khiến cho nhiều cơ quan có xu thế chỉ tập trung giải quyết các vấn đề của bản thân mình mà bỏ qua các vấn đề liên ngành; iv)

Người dân, nhất là người nghèo kỳ vọng nhiều hơn vào chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề về XKLĐ, do đó đòi hỏi chính phủ phải có sự quản lý tốt hơn đối

với khu vực tư nhân; v) lĩnh vực XKLĐ liên quan đến cả yếu tố nước ngoài và rất

khó xác định các rào cản đối với thương mại dịch vụ do phần lớn rào cản này không xảy ra “ở biên giới,” mà ở “trong biên giới” từng quốc gia.3

- Nhà nước định hướng, hỗ trợ phát triển cho các doanh nghiệp:

Một trong những chức năng chính của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp dịch vụ nói chung và đối với doanh nghiệp XKLĐ nói riêng là định hướng

về mặt chiến lược cho sự phát triển của các doanh nghiệp Sự định hướng này được thực hiện gián tiếp qua các công cụ chính sách kinh tế-xã hội vĩ mô (thí dụ, các chính sách về lãi suất, tỷ giá, các chủ trương chung về đầu tư phát triển, giảm nghèo…) Ngoài ra, nhà nước có thể trực tiếp giúp đỡ các doanh nghiệp dịch vụ XKLĐ khắc phục những khó khăn riêng của mình (thí dụ, các vấn đề về tuyển dụng lao động, đào tạo, công tác lãnh sự ở nước ngoài, các vấn đề liên quan đến khiếu nại…)

Nhìn chung, nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp XKLĐ nhằm khắc phục những khó khăn phổ biến sau:

+ Khó khăn trong việc tuyển dụng lao động để đưa đi làm việc ở nước ngoài (thí dụ, thiếu nguồn cung ứng lao động trong những lĩnh vực mà phía đối tác nước ngoài có nhu cầu cao), trong đó bao gồm cả khó khăn trong việc đào tạo kỹ năng cho người lao động đáp ứng nhu cầu đối tác nước ngoài

+ Khó khăn trong việc quản lý lao động Việt Nam ở nước ngoài

3 Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc 2006 Khung khổ cho chiến lược

quốc gia phát triển khu vực dịch vụ ở Việt Nam đến năm 2020 Dự án VIE/02/009 Hà nội, tháng 06/2006

Trang 25

+ Khó khăn trong việc tiếp cận thông tin (đặc biệt là thông tin về thị trường nước ngoài), về cơ chế chính sách, khung khổ pháp lý, về quy định của hội nhập

- Nhà nước thiết lập các cơ chế phản hồi từ những người lao động đối với hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ:

Cơ chế phản hồi từ phía những người lao động là yếu tố hết sức quan trọng nhằm hỗ trợ nhà nước trong việc quản lý hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ Người lao động là người trực tiếp nhận dịch vụ từ các công ty, chịu ảnh hưởng lớn nhất từ chất lượng và giá cả của các dịch vụ này Thực tế thời gian qua cho thấy, một số công ty XKLĐ đã không tuân thủ những quy định của nhà nước về việc thu phí, tuyển dụng, đào tạo và các yêu cầu bảo vệ lợi ích chính đáng cho người lao động Việt Nam ở nước ngoài Tuy nhiên, nhiều người lao động không có hoặc ít có

cơ hội để phản ánh các vấn đề này với các cơ quan quản lý nhà nước Việc thiếu vắng các cơ chế tiếp nhận và xử lý phản hồi của người lao động một cách nhanh chóng, hiệu quả cũng là một trong những trở ngại lớn đối với việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam hiện nay

Bảng 1.1: Bốn trụ cột cơ bản của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp dịch vụ Môi trường, khung

khổ pháp luật và

các quy định

Bộ máy hành chính

Định hướng, hỗ trợ phát triển

Cơ chế phản hồi

từ những người lao động

- Cơ chế phối hợp giữa các tổ chức

- Các dịch vụ cụ thể nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp giải quyết khó khăn

- Các cơ chế (thí dụ: tổ chức, diễn đàn, hiệp hội, đường dây nóng…) tiếp nhận, xử lý nhanh chóng ý kiến của người dân

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Trang 26

1.3 Cơ sở thực tiễn của công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.3.1 Tổng quan hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam

Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm, ngay trong thời kỳ của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Đến nay, hoạt động này đã trải qua các giai đoạn phát triển sau:

Giai đoạn 1980 – 1990

Đây là giai đoạn đầu tiên Việt Nam triển khai đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, từ việc thực hiện Nghị định 46/NĐCP ngày 11/02/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc đưa một bộ phận lao động đi làm việc có thời hạn và bồi dưỡng tay nghề ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Trong giai đoạn này, chủ trương đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài của Việt Nam là nhằm mục tiêu “giải quyết việc làm cho một bộ phận thanh niên”, “nhờ các nước XHCN anh

em đào tạo một đội ngũ lao động có tay nghề vững, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

tế nước ta sau này” và “cử chuyên gia sang giúp các nước đang phát triển ở châu Phi và Trung cận Đông” Mục tiêu kinh tế của hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia thời kỳ này chưa được chú ý đầy đủ Trong giai đoạn này, hoạt động hợp tác quốc tế về lao động được thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, do các cơ quan Nhà nước và địa phương trực tiếp tiến hành trên cơ sở thỏa thuận hợp tác lao động và chuyên gia giữa nước ta với 4 nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc và Bungari và các nước ở Trung Đông, Châu Phi như Iraq, Libya, An-giê-ri, Ăng-gô-la, Mô-zăm-bích, Công-gô, Y-ê-men, Ma-đa-gax-ca Mục tiêu của hợp tác lao động là nhằm bù đắp sự thiếu hụt nhân lực trong phát triển kinh tế ở các nước nhận lao động, trong nước cần giải quyết việc làm cho một bộ phận người lao động và qua đó đào tạo và nâng cao tay nghề cho người lao động

Cơ chế quản lý kinh tế của nước ta thời kỳ này mang tính chất quản lý tập trung, bao cấp tương tự như các nước nhận lao động, nên cơ chế hợp tác lao động cũng được thực hiện theo cơ chế đó: Cơ quan Nhà nước trực tiếp ký kết các Hiệp định, thỏa thuận và tổ chức thực hiện đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc

ở nước ngoài (từ việc tuyển chọn, đưa đi, quản lý người lao động ở nước ngoài và làm thủ tục, giải quyết chế độ cho họ sau khi về nước)

Trang 27

Đến cuối giai đoạn này (1989 – 1990), theo tinh thần đổi mới nền kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng đã có những bước đổi mới, ngoài mục tiêu như trước đây còn có mục tiêu phát triển kinh tế đất nước Bên cạnh hình thức hợp tác lao động như trước, đã bước đầu hình thành các tổ chức kinh tế cung ứng lao động và chuyên gia ra nước ngoài làm việc, trực tiếp ký kết hợp đồng và thực hiện đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức nhận thầu khoán, đồng bộ (từ quản lý, kỹ sư đến công nhân)

Trong 10 năm hợp tác lao động (1980 – 1990), nước ta đã đưa được gần 300.000 lao động, trong đó gồm, khoảng 220.000 lao động đi làm việc tại Liên Xô

và các nước Đông Âu; hơn 30.000 người đi làm việc ở Iraq và Libya; 7.200 lượt chuyên gia đi làm việc ở Châu Phi và 23.713 thực tập sinh vừa học vừa làm ở nước ngoài Ngân sách Nhà nước thu được khoảng 800 tỷ đồng (theo tỷ giá Rúp/Đồng Việt Nam năm 1990), hơn 300 triệu USD; Đồng thời, người lao động và chuyên gia

đã đưa về nước một lượng hàng hoá thiết yếu với trị giá hàng nghìn tỷ đồng Tuy nhiên do hoàn cảnh lịch sử, do còn thiếu kinh nghiệm, hệ thống chính sách pháp luật, nên xuất khẩu lao động giai đoạn này còn có nhiều tồn tại và hạn chế

Bảng 1.2 Số lao động Việt Nam đưa đi làm việc ở Liên Xô và Đông Âu (1980 – 1990)

Trang 28

Ngay từ đầu những năm 1990, trong bối cảnh của công cuộc Đổi mới đất nước, nhằm thể chế hoá chủ trương của Đảng về đổi mới chính sách, cơ chế xuất khẩu lao động và chuyên gia, Chính phủ đã lần lượt ban hành các Nghị định về xuất khẩu lao động: Nghị định số 370/HĐBT ngày 9/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy chế về việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là văn bản pháp quy đầu tiên đánh dấu bước ngoặt về pháp luật, cơ chế, cách thức tổ chức thực hiện từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường: Chuyển từ thị trường các nước xã hội chủ nghĩa cũ là chủ yếu sang thị trường các nước tư bản chủ nghĩa là chính; tách rõ chức năng và tổ chức quản lý nhà nước với trực tiếp tổ chức thực hiện XKLĐ; các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế hoạt động XKLĐ được thành lập, được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cấp giấy phép hoạt động cung ứng lao động và chuyên gia cho nước ngoài

Ngày 22/9/1998, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (1998) đã ban hành

Chỉ thị số 41/CT-TW về XKLĐ và chuyên gia nêu rõ: “Cùng với giải quyết việc làm trong nước là chính thì xuất khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất n- ước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; là một bộ phận của hợp tác quốc

tế, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu dài với các nước Xuất khẩu lao động và chuyên gia phải được mở rộng và đa dạng hoá hình thức, thị trường xuất khẩu lao động, phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đáp ứng

Tiếp đến, Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/9/1999 nhằm thể chế hóa chủ trương về xuất khẩu lao động theo tinh thần Chỉ thị 41-CT/TW Ngoài các văn bản trên, Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan còn ban hành các văn bản liên quan đến chế độ đối với người lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài

Giai đoạn này đã hình thành được đội ngũ doanh nghiệp xuất khẩu lao động (gần 150 doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động), thị trường xuất khẩu lao động của nước ta từng bước được mở rộng lên đến hơn 30 nước và vùng lãnh thổ;

4 Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (1998) Chỉ thị số 41/CT-TW về XKLĐ và chuyên gia ngày

22/9/1998, Hà nội

Trang 29

với số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài hơn 10 vạn người; hình thức và ngành nghề xuất khẩu lao động tương đối đa dạng (xây dựng, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, vận tải biển, đánh bắt và chế biến hải sản, chuyên gia y tế, giáo dục, nông nghiệp); mức lương và thu nhập của người lao động cũng đã được tăng dần lên qua các năm, người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thu nhập cao hơn

từ 6 đến 10 lần so với thu nhập từ việc làm trong nước Đời sống người đi lao động

và gia đình họ được cải thiện, góp phần xoá đói giảm nghèo

Bảng 1.3 Số lao động Việt Nam đưa đi làm việc ở nước ngoài (1991 – 2000)

Trong giai đoạn 2000 – 2005, hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc

ở nước ngoài tiếp tục được quan tâm và đẩy mạnh với sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật được ban hành trong giai đoạn trước Xuất khẩu lao động và chuyên gia tiếp tục được Đảng và Chính phủ Việt Nam khẳng định là một hoạt động kinh tế

- xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá,

Trang 30

Trong giai đoạn này đã có sự tách biệt chức năng quản lý Nhà nước với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách và quản lý hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp được Nhà nước cấp giấy phép hoạt động, có quyền ký kết hợp đồng, tuyển chọn lao động, đưa lao động đi và quản lý lao động làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, trong giai đoạn này, các doanh nghiệp được phép hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia đều là các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế Nhà nước không thuộc đối tượng được cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động

Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, và sự nỗ lực của các doanh nghiệp được cấp phép, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong giai đoạn này tăng hơn so với giai đoạn trước và tăng dần theo các năm

Bảng 1.4 Số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (2000 – 2005)

Nguồn: Cục quản lý lao động ngoài nước (2015)

Giai đoạn 2006 – nay

Trong giai đoạn 2006 – nay, các quy định liên quan đến XKLĐ tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện theo cơ chế thị trường với sự ra đời của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006

- Về thị trường xuất khẩu lao động ngoài nước : giai đoạn này, ta đã thực hiện tương đối thành công việc phát triển, mở rộng thị trường lao động ngoài nước; tiếp tục giữ vững và tăng thị phần tại các thị trường hiện có như Đài Loan, Hàn Quốc,

Trang 31

Nhật Bản, Malaysia, trong đó đã rất thành công trong việc mở rộng đáng kể thị phần

ở các thị trường quan trọng, nhận nhiều lao động và có thu nhập cao như Đài Loan

và Nhật Bản; mở thêm một số thị trường nhận số lượng lớn lao động ở các nước Trung Đông, gồm Các Tiểu vương quốc A-rập thống nhất (UEA), Ca-ta, A-rập Sê-

út, Oman, Bahrain; bắt đầu đưa lao động mới sang Li-bi, An-giê-ri; xúc tiến mở lại thị trường Cộng hòa Séc, LB Nga, Ban Lan, Bungari, Slovakia; đang thí điểm đưa lao động sang Öc, Bồ Đào Nha, CHLB Đức,…, mở rộng lĩnh vực ngành nghề lao động cung ứng cho thị trường nước ngoài (điều dưỡng, hộ lý, lao động kỹ thuật cao, ) Giai đoạn này, ta đã đưa lao động đi làm việc tại trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, giải quyết việc làm cho nhiều người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo

Hình thức xuất khẩu lao động ngày càng đa dạng hơn so với thời kỳ trước đây Cùng với hình thức đi làm việc ở nước thông qua các doanh nghiệp được cấp phép đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài là chủ yếu, hình thức doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhận đầu tư ra nước ngoài có đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập, nâng cao tay nghề và người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cá nhân cũng đã chiếm tỉ trọng đáng kể trong số lao động đi làm việc ở nước ngoài

Bên cạnh sự gia tăng về số lượng lao động đưa đi làm việc ở nước ngoài qua hàng năm, công tác đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong giai đoạn này còn mở rộng thêm lĩnh vực ngành nghề lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, khi mà lao động Việt Nam có trình độ tay nghề cao đã có cơ hội đi làm việc ở nước ngoài trong một số ngành nghề, lĩnh vực mới như chương trình hợp tác đưa ứng viên điều dưỡng, hộ lý Việt Nam đi học tập và làm việc tại Cộng hòa liên bang Đức và Nhật Bản được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội triển khai thực hiện từ năm 2012

- Về đội ngũ doanh nghiệp xuất khẩu lao động: đã hình thành đội ngũ doanh nghiệp xuất khẩu lao động: tính đến 29/10/2015, đã có 246 doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó

có 185 doanh nghiệp đưa lao động sang Nhật Bản, 105 doanh nghiệp đưa lao động

Trang 32

sang Đài Loan, 152 doanh nghiệp được đưa lao động sang Malaysia (hiện có 25 doanh nghiệp còn đưa lao động sang thị trường này), 50 doanh nghiệp đưa lao động sang Trung Đông Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lao động trong số này đã hoạt động một cách chuyên nghiệp và có hiệu quả, mở được các thị trường mới đưa lao động đi: Có khoảng 30 doanh nghiệp đưa đi hàng nghìn lao động mỗi năm và đang quản lý hàng chục nghìn lao động ở nước ngoài Nhiều doanh nghiệp đã tích cực đầu tư cho công tác đào tạo nguồn lao động để chủ động chuẩn bị được nguồn lao động có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động quốc tế

- Về chất lượng nguồn lao động xuất khẩu lao động: Chất lượng nguồn lao động xuất khẩu từng bước được nâng lên: cuối năm 2003, số lượng lao động được đào tạo nghề trước khi đi làm việc ở nước ngoài mới đạt khoảng 35% thì đến nay tỷ

lệ này đã đạt trên 50%; lao động ta được người sử dụng lao động nước ngoài đánh giá tốt về khả năng tiếp thu công việc nhanh, cần cù, chịu khó và trình độ văn hoá Lao động trước khi đi đã qua các lớp bồi dưỡng kiến thức về phong tục, tập quán, pháp luật có liên quan của nước tiếp nhận lao động Gần 80% lao động Việt Nam đi làm việc ở Hàn Quốc theo Luật cấp phép được tuyển chọn trong số học sinh học nghề dài hạn tại các trường dạy nghề, trên 90% lao động đi làm việc ở Các Tiểu vương quốc A rập thống nhất, các nước ở khu vực Trung đông là những lao động có tay nghề khá; Hệ thống các trường, trung tâm đào tạo lao động xuất khẩu đã và đang được hình thành, phát triển

- Về công tác quản lý, bảo vệ quyền lợi của người lao động làm việc ở nước ngoài: chúng ta đã hình thành được một hệ thống quản lý lao động ở nước ngoài, bao gồm Cơ quan đại diện ngoại giao, Ban Quản lý lao động thuộc Cơ quan đại diện ngoại giao và đại diện các doanh nghiệp đưa lao động đi Vì vậy, hầu hết các

vụ việc phát sinh đã được phát hiện và giải quyết kịp thời, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động

- Về công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao hiểu biết của người dân về hoạt động xuất khẩu lao động: công tác thông tin, tuyên truyền phổ biến pháp luật

về xuất khẩu lao động đã được chú trọng; đã triển khai nhiều hình thức cung cấp

Trang 33

thông tin và tuyên truyền về xuất khẩu lao động Các Bộ, ngành có liên quan và chính quyền các địa phương đã tổ chức các hội nghị về xuất khẩu lao động để phổ biến các quy định của pháp luật, về thị trường, về nhu cầu, điều kiện lao động xuất khẩu cho các cấp chính quyền cấp huyện và xã; đồng thời, cũng cung cấp thông tin, phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng đưa nhiều tin, bài về xuất khẩu lao động Nhờ đó, đã nâng cao nhận thức của các cơ quan chính quyền và người lao động về hoạt động xuất khẩu lao động, đặc biệt là nhận thức của người lao động về

sự cần thiết trong việc tự bồi dưỡng, học tập nâng cao tay nghề và ngoại ngữ theo yêu cầu của nước tiếp nhận lao động; đồng thời, đạt được sự công khai, minh bạch trong xuất khẩu lao động; hạn chế được tình trạng lừa đảo trong xuất khẩu lao động

- Về số lượng : Từ năm 2006 đến tháng 4/2015 đã có 808.769 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài Hiện nay có khoảng 500 ngàn lao động Việt Nam đang làm việc ở trên 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề, thu nhập hàng năm của người lao động khoảng 1,6 – 2 tỷ USD

Bảng 1.5 Số lao động Việt Nam đưa đi làm việc ở nước ngoài (2006 - 2015)

Trang 34

Bài học kinh nghiệm

Từ thực tiễn hoạt động và quản lý lĩnh vực đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài qua 35 năm hình thành và phát triển, những bài học kinh nghiệm

có thể rút ra như sau:

- Chủ trương nhất quán của Đảng, sự vào cuộc, ủng hộ của hệ thống chính trị

từ Trung ương đến địa phương; cấp ủy, chính quyền địa phương phải coi chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác này là một trong những nhiệm vụ chính trị để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

- Xây dựng và thường xuyên hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, chính sách tạo khuôn khổ pháp lý tốt, sát thực tiễn và khả thi cho sự phát triển và quản lý lĩnh vực

- Nâng cao chất lượng đào tạo, bổ túc tay nghề, ngoại ngữ, chuẩn bị nguồn lao động có chất lượng cao cung ứng cho nước ngoài với sự hỗ trợ của nhà nước, sự tham gia của các doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo

- Coi trọng công tác tổ chức và có biện pháp giám sát chất lượng tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài với các hình thức, nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy thích hợp, bảo đảm tăng trách nhiệm và năng lực hoàn thành tốt hợp đồng, khả năng thích ứng và tự bảo vệ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài

- Thực hiện đa dạng hóa hình thức xuất khẩu lao động phải đi đôi với chuẩn

bị tốt các điều kiện thực hiện và biện pháp quản lý nhằm bảo đảm hiệu quả và tránh rủi ro cho doanh nghiệp và người lao động

- Mở thêm thị trường là quan trọng, nhưng giữ vững thị trường và phát triển thị phần còn quan trọng hơn Để phát triển thị trường bền vững cần tăng cường công tác điều hành phát triển thị trường và các yếu tố khác làm tăng uy tín, chất lượng thực hiện hợp đồng của lực lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài

- Có chính sách và thực hiện tốt các chính sách liên quan đến hỗ trợ đào tạo, giáo dục, vốn vay, thủ tục hành chính cho người lao động trước khi đi, bảo vệ họ khi ở nước ngoài và tái hòa nhập, khai thác, sử dụng, phát huy khi họ về nước

Trang 35

- Tiếp tục kiện toàn, nâng cao đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước lĩnh vực đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài ở trong nước và ngoài nước; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước vừa thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp, vừa giám sát, điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động

- Phối hợp, hợp tác chặt chẽ, đồng bộ giữa cơ quan quản lý nhà nước về đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài với các bộ, ngành, đặc biệt là với Bộ Ngoại giao, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Công an, Bộ Tư pháp , với các địa phương và tổ chức xã hội, các Hiệp hội; hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp với các địa phương và cơ sở đào tạo nghề trong mọi khâu của quá trình đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

- Thực hiện tốt việc cải cách thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người lao động

1.3.2 Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan và yêu cầu quản

lý nhà nước đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động

Đài Loan là vùng lãnh thổ thuộc Trung Quốc, nằm ở khu vực Thái Bình Dương với diện tích là 35.800 km2, đứng thứ 136 trên thế giới Dân số Đài Loan khoảng 23 triệu người, đứng thứ 49 trên thế giới Đài Loan gồm 2 mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa, nhiệt độ trung bình tại Đài Loan khoảng 20o

C Tiếng Hoa phổ thông và tiếng bản địa (tiếng Phúc Kiến) là ngôn ngữ chính thức tại Đài Loan Đồng tiền của Đài Loan là Đài tệ; 1 USD tương đương khoảng 33 Đài Tệ

Việt Nam bắt đầu đưa lao động sang làm việc tại Đài Loan từ cuối năm

1999 Sau 15 năm thực hiện, Việt Nam đã đưa được trên 450 ngàn lượt lao động sang làm việc tại Đài Loan.5 Nhìn chung, người lao động có việc làm và thu nhập tốt, được chủ sử dụng đánh giá cao về khả năng làm việc, tính cần cù, chịu khó Chất lượng và vị thế của lao động Việt Nam đã dần được khẳng định

Số lượng lao động Việt Nam đi làm việc tại Đài Loan tăng trưởng ổn định hàng năm, đặc biệt gia tăng mạnh trong 5 năm trở lại đây (năm 2014: trên 62 ngàn

5 Cục quản lý lao động ngoài nước 2015 Báo cáo tình hình đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài Hà nội,

Trang 36

người, 6 tháng/2015: gần 37 ngàn người) Tính đến tháng 11/2015, số lượng lao động Việt Nam đang làm việc tại Đài Loan khoảng trên 160 nghìn người và Việt Nam là nước cung ứng lao động lớn thứ hai vào Đài Loan (sau In-đô-nê-sia)

Đài Loan có nhu cầu cao tiếp nhận lao động nước ngoài vào làm việc, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ như giúp việc gia đình, chăm sóc người bệnh tại các

cơ sở bảo trợ xã hội… Hiện tại, có 61,96% số lao động Việt Nam ở Đài Loan, làm việc trong lĩnh vực sản xuất, chế tạo (nhà máy), 36,97 % lao động làm việc trong lĩnh vực chăm sóc người bệnh và giúp việc gia đình, còn lại là lao động làm việc trong các lĩnh vực khác như xây dựng, thuyền viên (chiếm số lượng nhỏ, dưới 1%) Thu nhập của người lao động nước ngoài tại thị trường Đài Loan khoảng 500 USD/tháng (giúp việc gia đình) và từ 650 USD – 700 USD (lao động công xưởng,

hộ lý) Sau khi trừ đi các chi phí sinh hoạt tại Đài Loan, số tiền trung bình lao động

có thể gửi về nhà từ 300 USD – 350 USD

Hiện nay, Đài Loan vẫn đang thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là thu hút các doanh nghiệp Đài Loan đang đầu tư ở nước ngoài về nước tham gia đầu tư, phát triển kinh tế nội địa Một trong những chính sách thu hút là nới lỏng hạn ngạch tiếp nhận lao động nước ngoài cho các doanh nghiệp Đài Loan

về nước đầu tư hoặc các dự án đầu tư Bên cạnh đó, các chính sách liên quan đến chăm sóc sức khỏe người già, người bệnh cũng được đa dạng hóa về hình thức dịch

vụ và nới rộng hơn về điều kiện đáp ứng nhu cầu thực tế tại Đài Loan Do vậy, thị trường lao động nước ngoài tại Đài Loan trong những năm tới sẽ tiếp tục gia tăng về

số lượng, trong đó, lao động Việt Nam đã, đang và sẽ vẫn là nguồn cung ứng chủ lực cho ngành sản xuất công nghiệp và chăm sóc người bệnh trong các trung tâm dưỡng lão, bệnh viện

Hiện có 105 doanh nghiệp tham gia đưa lao động sang thị trường này với số lượng lao động sang Đài Loan không đồng đều, tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp lớn, có kinh nghiệm lâu năm trong việc xuất khẩu lao động Sáu tháng đầu năm 2015 có 10 doanh nghiệp đưa được trên 1.000 lao động, trong khi đó có trên 20 doanh nghiệp có số lượng lao động đưa sang Đài Loan chưa tới 100 lao động

Trang 37

Nhìn chung, các doanh nghiệp XKLĐ sang thị trường Đài Loan đang trở nên chuyên nghiệp Bộ máy của doanh nghiệp sau một thời gian hoạt động đã được cải

tổ cho phù hợp với đặc thù chuyên môn theo hướng đơn giản, nhưng phân cấp trách nhiệm rõ ràng hơn

Tuy nhiên, điểm yếu của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn nằm ở công tác tổ chức và quản lý cán bộ Bộ phận tổ chức và quản lý nguồn nhân lực tại hầu hết doanh nghiệp XKLĐ nói chung và doanh nghiệp XKLĐ sang Đài Loan nói riêng chưa thực sự được coi trọng và vì thế, chưa phát huy được vai trò, trách nhiệm của mình Kết quả là, các doanh nghiệp: (i) Thiếu các chương trình đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ thường xuyên (đào tạo nội bộ và đào tạo bên ngoài) cho đội ngũ nhân viên của mình; (ii) Không xây dựng chính sách phát triển và níu giữ nhân tài cho doanh nghiệp dẫn đến hiện tượng đội ngũ cán bộ làm công tác XKLĐ nhảy việc liên tục, ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định và phát triển bền vững của doanh nghiệp; (iii) Duy trì đội ngũ “cộng tác viên” là những người không thuộc biên chế đơn vị, không hưởng lương nhưng giúp doanh nghiệp trong khâu tạo nguồn lao động và được trả % theo số lượng người lao động tuyển chọn được Đây là việc làm hết sức nguy hiểm vì các doanh nghiệp không thể kiểm soát mọi hoạt động của các “cộng tác viên” này, không ràng buộc được trách nhiệm của họ nhưng người lao động tuyển chọn qua kênh này thường đặt hết lòng tin vào đội ngũ “cộng tác viên”, việc làm các thủ tục tuyển chọn, xuất cảnh đều thông qua họ, dẫn đến tình trạng sai lệch thông tin giữa doanh nghiệp và người lao động về các vấn đề liên quan đến thông tin tuyển dụng và thông tin về thị trường lao động ngoài nước: việc làm, thu nhập, các chi phí phải trả

Tính chất đặc thù của ngành dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đòi hỏi doanh nghiệp phải duy trì các mối quan hệ rộng khắp, không chỉ với các đối tác, chủ sử dụng nước ngoài mà còn với các cơ quan quản lý trong nước, chính quyền địa phương cũng như người lao động, gia đình người lao động Điều này đòi hỏi lãnh đạo doanh nghiệp phải làm tốt công tác quản lý và tổ chức điều hành doanh nghiệp sao cho hiệu quả Ngày nay, việc sử dụng công nghệ thông tin

Trang 38

như một công cụ hữu ích hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác điều hành và duy trì hoạt động thường xuyên đã được các doanh nghiệp trên thế giới khai thác và sử dụng tối đa Tuy nhiên, ngay cả đối với những doanh nghiệp được coi là có nhiều

cơ hội học tập các kinh nghiệm của đối tác nước ngoài như các doanh nghiệp XKLĐ của Việt Nam dường như còn quá chậm chạp trong việc tiếp thu học hỏi những thành tựu bên ngoài

Theo số liệu tổng hợp của Cục Quản lý lao động ngoài nước- BLĐTBXH về việc cấp, đổi giấy phép của doanh nghiệp XKLĐ cho thấy hiện mới chỉ có 60 doanh nghiệp trong tổng số 246 doanh nghiệp được cấp phép XKLĐ, trong đó có cả các doanh nghiệp XKLĐ sang thị trường Đài Loan có trang web riêng để giới thiệu về công ty và sử dụng trang web như một công cụ để quảng bá hình ảnh và trao đổi thông tin với khách hàng Số lượng các doanh nghiệp có địa chỉ e-mail để liên lạc cao hơn (90%) nhưng cũng vẫn chưa phải toàn bộ các doanh nghiệp sử dụng e-mail như là kênh liên lạc chủ yếu nhằm giảm thiểu chi phí lại đảm bảo thông tin nhanh, chính xác Nguyên nhân giải thích cho sự chậm chạp, lạc hậu này là khả năng điều hành hạn chế của người lãnh đạo doanh nghiệp Bản thân các nhà lãnh đạo điều hành doanh nghiệp hiện nay chưa ý thức được tầm quan trọng của công nghệ thông tin mà mới chỉ bắt đầu tập trung vào vấn đề ngoại ngữ, chuyên môn của đội ngũ cán

bộ trong doanh nghiệp mình Tuy nhiên, ngay cả trình độ ngoại ngữ của cán bộ hoạt động XKLĐ cũng là điểm yếu dễ thấy của các doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam, đặc biệt đối với các thị trường mà người dân không nói tiếng Anh như Đài Loan

Việc cán bộ không gắn bó lâu dài với doanh nghiệp XKLĐ cũng là một thách thức đối doanh nghiệp Để đào tạo một cán bộ có đủ nghiệp vụ, kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực này mất nhiều thời gian Các khoá đào tạo, tập huấn nghiệp

vụ không phải được thường xuyên mở Hơn nữa, mỗi khoá học doanh nghiệp chỉ có thể cử từ 1 đến 2 cán bộ tham gia Sau khi được bồi dưỡng nghiệp vụ mà cán bộ không tiếp tục làm việc cho doanh nghiệp thi doanh nghiệp sẽ phải tuyển dụng cán

bộ mới và lại bắt đầu công tác huấn luyện từ đầu Điều này sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp do thiếu hụt cán bộ có kinh nghiệm

Trang 39

Ngoài ra, các DN hiện nay đa số thiếu bộ phận kiểm tra, giám sát hoạt động của các đơn vị trong DN, giúp ban lãnh đạo trong công tác quản lý hoạt động của cơ

sở mình Chính vì thế, 70% các vụ việc vi phạm do Cục Quản lý lao động ngoài nước- Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phát hiện đều do cấp dưới của các doanh nghiệp làm sai mà lãnh đạo doanh nghiệp không biết hoặc không phát hiện ra

Đặc biệt, tình trạng khiếu nại phát sinh xảy ra đối với việc đưa lao động sang thị trường Đài Loan vẫn tiếp tục tồn tại dai dẳng Có những doanh nghiệp khi phát sinh vụ việc thì giải quyết nhanh, dứt điểm, nhưng cũng có những doanh nghiệp còn

để vụ việc kéo dài, giải quyết không dứt điểm Nguyên nhân của việc khiếu nại chủ yếu nằm ở các vấn đề sau của doanh nghiệp:

- Các doanh nghiệp có giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài chưa giải quyết triệt để những vấn đề phát sinh đối với người lao động, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; doanh nghiệp thu phí của người lao động cao hơn mức quy định của pháp luật

- Doanh nghiệp chưa thực hiện đúng cam kết với người lao động như hợp đồng đã ký kết;

- Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật chưa đến được các đối tượng hoạt động đưa người đi làm việc ở nước ngoài như doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, doanh nghiệp trúng thầu nhận thầu

- Doanh nghiệp mở nhiều đầu mối thực hiện hoạt động tuyển chọn, đào tạo song chưa thực hiện nghiêm túc quy định về bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động

Thực tế trên đặt ra yêu cầu phải tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp XKLĐ sang thị trường Đài Loan đáp ứng mục tiêu thúc đẩy hoạt động XKLĐ, xử lý tốt các vụ việc phát sinh liên quan đến khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động, đồng thời cũng đảm bảo yêu cầu khuyến khích, hỗ trợ hoạt động kinh doanh hợp pháp của các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này

Trang 40

1.3.3 Kinh nghiệm của một số nước trong việc quản lý các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và bài học cho Việt Nam

* Kinh nghiệm của Philippine trong việc xây dựng môi trường pháp lý và chính sách cho việc quản lý các doanh nghiệp XKLĐ

Philippine là một trong những nước xuất khẩu lao động lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á Người Philippine đi lao động ở khắp nơi trên thế giới, số lao động có mặt ở nước ngoài bình quân khoảng 5 triệu người và thu nhập trung bình đạt khoảng 18-20 tỷ USD/năm Từ lâu Philippine đã coi XKLĐ là một trong những ngành nghề đối ngoại quan trọng của đất nước và có rất nhiều kinh nghiệm để tăng cường XKLĐ và quản lý tài chính XKLĐ

Bộ Luật lao động của Philippine ra đời năm 1973 đã đặt cơ sở về việc làm ngoài nước với quan điểm xúc tiến việc XKLĐ dư thừa cho đến khi nền kinh tế của đất nước phát triển tạo đủ việc làm cho mọi người trong độ tuổi lao động Cục Quản

lý việc làm ngoài nước (POEA) là cơ quan duy nhất của Chính phủ thực hiện các chức năng tuyển mộ, bố trí và quản lý các khu vực tư nhân tham gia vào chương trình XKLĐ và cấp giấy phép làm việc ở nước ngoài cho người lao động khi có hợp đồng lao động cá nhân Tháng 6/1995, Luật về Di dân và Người Philippine ở nước ngoài được Quốc hội Philippine thông qua, quy định hành lang pháp lý cho việc thực hiện chương trình Quốc gia về XKLĐ, đồng thời quy định việc khuyến khích bằng vật chất và các hình thức phạt đối với các tổ chức (hoặc cá nhân) tuyển người

đi lao động ở nước ngoài và việc chuyển ngoại tệ bất hợp pháp

Bên cạnh các Bộ luật và luật, Philippines còn xây dựng một hệ thống chính sách phát triển thị trường, nguồn nhân lực và quản lý tài chính Ví dụ:

Chính sách phát triển thị trường việc làm ngoài nước: Cục Quản lý việc làm ngoài nước (POEA) đã soạn thảo Chương trình tiếp thị và các chiến lược tiếp thị nhằm giúp các Công ty XKLĐ định hướng hoạt động, và quảng cáo năng lực của các tổ chức cung ứng và lao động xuất khẩu Philippine trên thị trường lao động quốc tế

Ngày đăng: 22/04/2016, 08:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Bốn trụ cột cơ bản của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp dịch vụ - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của việt nam sang thị trường đài loan
Bảng 1.1 Bốn trụ cột cơ bản của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp dịch vụ (Trang 25)
Bảng 1.2. Số lao động Việt Nam đƣa đi làm việc ở Liên Xô và Đông Âu (1980 – 1990) - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của việt nam sang thị trường đài loan
Bảng 1.2. Số lao động Việt Nam đƣa đi làm việc ở Liên Xô và Đông Âu (1980 – 1990) (Trang 27)
Bảng 1.3. Số lao động Việt Nam đưa đi làm việc ở nước ngoài (1991 – 2000) - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của việt nam sang thị trường đài loan
Bảng 1.3. Số lao động Việt Nam đưa đi làm việc ở nước ngoài (1991 – 2000) (Trang 29)
Bảng 1.4. Số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (2000 – 2005) - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của việt nam sang thị trường đài loan
Bảng 1.4. Số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (2000 – 2005) (Trang 30)
Hình 1.1: Hệ thống quản lý lao động ở ngoài nước của Hàn Quốc - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của việt nam sang thị trường đài loan
Hình 1.1 Hệ thống quản lý lao động ở ngoài nước của Hàn Quốc (Trang 43)
Hình 1.2. Hệ thống tuyển chọn lao động đi xuất khẩu của Hàn Quốc - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của việt nam sang thị trường đài loan
Hình 1.2. Hệ thống tuyển chọn lao động đi xuất khẩu của Hàn Quốc (Trang 43)
Hình 2.1. Các bước phân tích của luận văn - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của việt nam sang thị trường đài loan
Hình 2.1. Các bước phân tích của luận văn (Trang 52)
Hình 3.1. Mô hình quản lý các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và lao động - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của việt nam sang thị trường đài loan
Hình 3.1. Mô hình quản lý các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và lao động (Trang 61)
Hình 3.2. Cơ cấu bộ máy của Cục quản lý lao động ngoài nước - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của việt nam sang thị trường đài loan
Hình 3.2. Cơ cấu bộ máy của Cục quản lý lao động ngoài nước (Trang 67)
Hình 3.3. Bộ máy hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động - Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của việt nam sang thị trường đài loan
Hình 3.3. Bộ máy hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w