Ngoài các bệnh truyền nhiễm gây dịch được các cấp, các ngành quan tâm trong nhiều năm gần đây, tai nạn thương tích cũng đang là những vấn đề rất đáng quan tâm, đặc biệt là trẻ em, tình t
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ Thương tích là nguyên nhân gây tử vong và thương tật hàng đầu ở trẻ
em trên toàn thế giới, phòng chống thương tích ở trẻ em có liên quan chặt chẽ đến các vấn đề sức khỏe trẻ em [70] Giải quyết thương tích ở trẻ em phải là vấn đề của tất cả các hoạt động để nhằm cải thiện tình hình tử vong, mắc bệnh ở trẻ em và sức khỏe chung của trẻ [71]
Thương tích tuổi thơ là một vấn đề cộng đồng lớn yêu cầu phải có sự quan tâm khẩn cấp Thương tích là mối nguy hiểm đối với trẻ em trên toàn thế giới, gây tử vong hơn 900.000 trẻ em mỗi năm Các thương tích không chủ ý chiếm gần 90%, là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em từ 10-16 tuổi [31]
Trên thế giới hàng chục triệu trẻ em phải điều trị tại bệnh viện, nhiều trẻ để lại những thương tật ảnh hưởng đến trẻ suốt đời Theo thống kê cho thấy, trẻ từ 0–16 tuổi có thể bị tử vong hoặc để lại thương tật (DALYs) do tai nạn giao thông đường bộ và ngã chiếm tỉ lệ cao
Ở nước ta, trong thời kỳ đổi mới, nhờ có sự phát triển kinh tế xã hội và hiệu quả của các chương trình y tế quốc gia mà hiện nay mô hình bệnh tật và
tử vong ở trẻ em đã có sự thay đổi đáng kể: Tỉ lệ mắc và tử vong do các bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng đã giảm rõ rệt Trong khi đó tỉ lệ mắc và tử vong
do các bệnh không nhiễm trùng lại đang không ngừng gia tăng, trong đó có chấn thương tai nạn thương tích [15]
Theo thống kê của Cục quản lý môi trường Bộ Y tế, năm 2011 có 1.247.209 trường hợp mắc tai nạn thương tích (TNTT) và 36.869 ca tử vong
do TNTT Năm 2010, trung bình mỗi ngày có khoảng hơn 100 người chết và hàng nghìn người bị chấn thương gây tàn tật suốt đời do tai nạn thương tích gây ra Tỉ suất tử vong do tai nạn thương tích là 42,69/100.000 người
Trang 2dân/năm Đuối nước là nguyên nhân gây tử vong thứ hai ở người lớn và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em [17], [18], [26].
Thống kê tại hai Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ và Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng cho thấy trong vòng 6 tháng từ tháng 7-12/2011, tổng số trẻ bị TNTT đến viện khám là 2.502 trường hợp Lứa tuổi 2-5 thường bị TNTT cao nhất 57,14%, tiếp theo là lứa tuổi 6-10 tuổi (20,72%), 11-14 tuổi (17,20%)
Thị xã Quảng Yên có 19 xã, phường có 01 trung tâm Y tế thị xã, 19 trạm y tế xã/phường Ngoài các bệnh truyền nhiễm gây dịch được các cấp, các ngành quan tâm trong nhiều năm gần đây, tai nạn thương tích cũng đang là những vấn đề rất đáng quan tâm, đặc biệt là trẻ em, tình trạng chấn thương do tai nạn thương tích ở đối tượng này còn rất ít được đề cập đến
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và kiến thức, thực hành của người dân về tai nạn thương tích ở trẻ
em tại Quảng Yên - Quảng Ninh năm 2014”, với mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng tai nạn thương tích ở trẻ em tại thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh năm 2014.
2 Đánh giá kiến thức, thực hành của người dân về phòng chống tai nạn thương tích ở trẻ em tại thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh năm 2014
Trang 3Chương 1TỔNG QUANThương tích ở trẻ em là một vấn đề y tế công cộng ngày càng được quan tâm trên phạm vi toàn cầu, đây là một lĩnh vực đáng lo ngại cho trẻ em
từ khi một tuổi cho đến tuổi trưởng thành, mỗi năm có đến hàng trăm nghìn trẻ em tử vong vì thương tích hoặc bạo lực, hàng triệu trẻ em khác phải chịu hậu quả của các thương tích không gây tử vong Đối với mỗi lĩnh vực thương tích ở trẻ em, đã có những biện pháp làm giảm khả năng xảy ra và mức độ nghiêm trọng do thương tích gây ra đã được kiểm chứng - nhưng nhận thức về vấn đề này và khả năng ngăn chặn nó, cũng như cam kết để thực hiện phòng ngừa thương tích ở trẻ em, vẫn còn ở mức thấp không thể chấp nhận được Những gì đã được thực chứng là có hiệu quả trong việc làm giảm gánh nặng thương tích trẻ em ở một vài nước có thể được điều chỉnh và thực hiện ở các nước khác, với những kết quả tương tự
Mỗi ngày trên khắp thế giới cuộc sống của hơn 2000 gia đình phải rơi
lệ vì trẻ tử vong do một thương tích không chủ ý hay còn gọi là ‘tai nạn’ mà
có thể ngăn ngừa được Sự đau khổ mà các gia đình này phải chịu - những người mẹ, người cha, người anh, người chị, hay ông bà và bạn bè - là vô hạn
và thường lan tỏa ra khắp cộng đồng Thảm kịch như vậy có thể làm thay đổi nhiều cuộc đời một cách không thể khác được
Thương tích không chủ ý là mối đe dọa lớn nhất tới sự sống còn của các em Các thương tích không chủ ý cũng là một nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp tàn tật, mà có thể có ảnh hưởng kéo dài một cách toàn diện tới cuộc đời non trẻ của các em: những mối quan hệ, việc học tập và vui chơi Trong số đó, những trẻ em phải sống trong nghèo đói, gánh nặng của thương
Trang 4tích là cao nhất, vì những em này ít có khả năng hưởng lợi từ các biện pháp phòng ngừa mà các em khác có thể đã nhận được
Các thương tích ở trẻ em đã và đang bị lãng quên trong rất nhiều năm qua, và còn thiếu nhiều trong các sáng kiến hiện thời về sự sống còn của trẻ trong chương trình nghị sự toàn cầu Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc và nhiều đối tác khác đã quyết định phải đưa vấn
đề thương tích trẻ em thành một ưu tiên cho y tế công cộng toàn cầu và phát triển các cộng đồng
Mức độ chín chắn của trẻ em, mối quan tâm và nhu cầu của chúng khác với người lớn Vì vậy, việc sao chép đơn thuần các chiến lược phòng chống thương tích phù hợp với người lớn là không bảo vệ trẻ em một cách thích đáng Có những can thiệp đã được thực chứng như ghế ngồi của trẻ em trên ô
tô, các mũ bảo hiểm xe đạp, làm hàng rào cho bể bơi, quy định về nhiệt độ cho vòi nước nóng và chấn song cửa sổ, để định rõ một số ít can thiệp
Nghiên cứu có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc phòng chống, tuyên truyền và nghiên cứu và trong việc chăm sóc và phục hồi chức năng của trẻ em với các thương tật Những ngành chủ chốt khác bao gồm giáo dục, giao thông, môi trường và thực thi pháp luật
Theo WHO các chương trình phòng chống bạo lực và thương tích ở trẻ
em cần được lồng ghép vào với sự sống còn của trẻ em và các chiến lược to lớn khác tập trung vào việc cải thiện cuộc sống của trẻ em Bằng chứng cho những thành công ấn tượng trong công tác phòng chống thương tích ở trẻ em tại các quốc gia vừa có một nỗ lực phối hợp [31]
Kết quả này ủng hộ cho việc tăng đầu tư về nguồn nhân lực và năng lực thể chế Điều này sẽ cho phép sự phát triển, thực hiện các chương trình để
Trang 5ngăn chặn cơn triều dâng về thương tích ở trẻ em và tăng cường sức khỏe và tình trạng hạnh phúc của trẻ em và gia đình
1.1 Một số khái niệm
Tai nạn (Accident): là sự kiện không chủ tâm, dẫn đến một thương tích
rõ ràng, phần lớn các TNTTcó thể phòng ngừa được
Thương tích (Injury): là sự tổn hại về thể chất xảy ra khi cơ thể con
người bất ngờ phải chịu một lực vượt quá ngưỡng chịu đựng về sinh lý - nếu không thì là hậu quả của tình trạng thiếu một trong những yếu tố sống còn như: ôxi, lực (nhiệt, hóa học hoặc bức xạ)
Tai nạn thương tích là những thương tổn do: tai nạn giao thông, ngã,
tai nạn lao động, va chạm, điện giật dẫn đến bị vết thương chảy máu, bong gân, phù nề xây xát, gãy xương, gãy răng, vỡ thủng nội tạng, chấn thương sọ não, bỏng, ngạt/đuối nước, ngộ độc, tự tử, mà cần đến sự chăm sóc y tế, phải nghỉ học/nghỉ làm hoặc bị hạn chế sinh hoạt ít nhất 1 ngày
Tai nạn thương tích do vô tình là một tai nạn tình cờ xảy ra có thể hoặc
có thể không dẫn đến thương tích, xảy ra trong cộng đồng
Trẻ em: trẻ em là người dưới 18 tuổi, công ước Liên hiệp quốc về các
quyền của trẻ em [27] Mặc dù vậy, các khái niệm khác liên quan đến trẻ em thì dễ thay đổi hơn “Tuổi thơ” là một kết cấu xã hội, các ranh giới của nó thay đổi theo thời gian và địa điểm [21], [23] và nó ám chỉ cho sự dễ tổn thương đối với thương tích Trẻ em 10 tuổi có thể được bảo vệ không phải chịu hay làm các công việc trách nhiệm kinh tế gia đình ở nước này, nhưng ở một nước khác thì những nghĩa vụ này có thể là chỉ tiêu và được coi là có lợi cho cả trẻ em và gia đình [27], cho nên, tuổi thơ và các giai đoạn phát triển được đan xen với tuổi, giới tính, gia đình và hoàn cảnh xã hội, trường học, công việc và văn hóa [27], [36] Thay vì được đo lường một cách cứng nhắc,
Trang 6trẻ em nên được xem xét qua bối cảnh, văn hóa và năng lực [1] Do vậy nghiên cứu tập trung vào các thương tích ở trẻ em dưới 16 tuổi [8] để chỉ rõ những tai nạn thương tích ở trẻ.
1.2 Sơ lược lịch sử tai nạn thương tích ở trẻ em
Năm 1917, một vụ va chạm giữa con tàu chở đạn dược của Pháp và tàu của Na uy đã gây nên một vụ nổ lớn tại vùng Halifax, Nova Scotia, một vùng chật hẹp, đông đúc dân cư, gây nên một thảm họa làm chết 2000 người, bị thương 9000 người và khoảng 31.000 người bị mất nhà ở Nước Mỹ và Canada đã được đề nghị hỗ trợ về y tế Một đội y tế của bang Boston dưới sự chỉ huy của bác sĩ William E.Ladd đã chuẩn bị rất nhiều thuốc, phương tiện,
và các y dụng cụ cần thiết để giúp công việc cứu chữa trẻ em bị thương tích
và ông đã dành rất nhiều thời gian, công sức trong việc chăm sóc và chữa trị cho những trẻ nhỏ này Vì vậy năm 1917 được đánh dấu như năm khởi đầu của vấn đề nghiên cứu tai nạn thương tích ở trẻ em [66]
Trước năm 1940, tai nạn thương tích chưa được quan tâm đến, vì giai đoạn này các bệnh dịch hoành hành trên khắp thế giới, tử vong ở trẻ em chủ yếu là do các bệnh dịch gây ra Vào khoảng giữa những năm 1940, tai nạn thương tích bắt đầu nổi lên như là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trẻ
em ở hầu hết các nước Phương Tây và Mỹ
Từ năm 1955 - 1970 các nghiên cứu về tai nạn thương tích ở trẻ em chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực cấp cứu chấn thương và chỉnh hình Tầm quan trọng của vấn đề tai nạn thương tích ở trẻ em đã được đánh dấu bởi đầu năm 1966 - khi Izant và Hubay kêu gọi sự quan tâm của cộng đồng tới một số lớn trẻ em đang bị giết hại và bị tàn tật do các tai nạn thương tích gây ra Từ
đó, tai nạn thương tích ở trẻ em đã được quan tâm và nhìn nhận một cách đúng mức hơn Năm 1969 được đánh dấu như một bước ngoặt trong vấn đề
Trang 7nghiên cứu tai nạn thương tích khi tờ báo "Accidental Death and Disability:
The Neglected Disease of Modern Society" được xuất bản tại Mỹ, dần dần đã
làm thay đổi nhận thức của các chuyên gia y tế trong lĩnh vực chấn thương, nhìn nhận tai nạn thương tích như là một bệnh dịch
Năm 1972, hội phẫu thuật nhi đầu tiên được thành lập ở Mỹ, trong đó
có uỷ ban về chấn thương trẻ em Những tiến bộ quan trọng nhất trong thời
kỳ này đó là từng bước hình thành, tổ chức mạng lưới cấp cứu chấn thương trẻ em Nhiều tiến bộ trong hồi sức, điều trị nội khoa đã góp phần làm cho hiệu quả điều trị chấn thương trẻ em được tốt hơn; khái niệm giờ vàng ngọc trong cấp cứu chấn thương được Cowley đưa ra, giúp các trung tâm cấp cứu chấn thương chú ý nhiều đến vấn đề cấp cứu ban đầu ngoài viện và vấn đề vận chuyển nạn nhân Nửa đầu những năm 1980 là thời kỳ củng cố và phát triển nhanh của ngành chấn thương trẻ em Năm 1981, Viện nghiên cứu chấn thương trẻ em Kiwanis đã được thành lập tại Boston Mỹ [47], [50], [51]
Năm 2005, WHO và UNICEF ra lời kêu gọi một nỗ lực toàn cầu để phòng chống thương tích ở trẻ em [24] Năm 2006 lời kêu gọi đó được tiếp nối bởi kế hoạch hành động 10 năm của WHO về thương tích ở trẻ em [72]
Kế hoạch này liệt kê các mục tiêu, hoạt động và các kết quả mong muốn về thương tích trẻ em và bao gồm các lĩnh vực số liệu, nghiên cứu, dự phòng, dịch vụ, xây dựng năng lực và truyền thông, từ đó vấn đề nghiên cứu tai nạn thương tích ở trẻ em đã được triển khai một cách rộng rãi và toàn diện trên các lĩnh vực điều trị, tổ chức mạng lưới cấp cứu, vấn đề kiểm soát và phòng ngừa tai nạn thương tích ở trẻ em
Trước năm 1997, vấn đề nghiên cứu can thiệp phòng ngừa tai nạn thương tích trong cộng đồng ít được quan tâm ở nước ta Năm 1997 chương trình phòng chống tai nạn thương tích xây dựng cộng đồng an toàn mới bắt đầu được nghiên cứu và triển khai thí điểm tại Việt Nam Trong những năm
Trang 8gần đây nước ta mới đưa ra và bắt đầu triển khai chính sách Quốc gia về phòng chống tai nạn thương tích Hội nghị Quốc gia lần thứ nhất về triển khai chính sách Quốc gia về phòng chống tai nạn thương tích được tổ chức tại Hà Nội ngày 17 và 18/12/2002 [6], [28,[35].
1.3 Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em trong và ngoài nước
1.3.1 Tai nạn thương tích ở các nước phát triển và công nghiệp hoáTheo UNICEF, tai nạn thương tích là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em ở tất cả các nước phát triển, ước tính chiếm 40% các trường hợp tử vong ở lứa tuổi 1 - 14 Ở các nước thuộc OECD, mỗi năm ước tính khoảng 20.000 trẻ em bị chết do các tai nạn thương tích như TNGT, thương tích có chủ định, đuối nước, ngã, bỏng, ngộ độc và chấn thương khác; trong
đó TNGT chiếm khoảng 41% tất cả tử vong do tai nạn thương tích gây ra Cứ 100.000 trẻ em sinh ra ở các nước thuộc OECD có khoảng 200 trẻ em sẽ chết
trước 15 tuổi do bị tai nạn thương tích [69].
Trang 9Tỉ lệ tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ em 1 - 14 tuổi so với tử vong chung ở các nước thuộc OECD, 1991 – 1995
Tên nước Số TV do
TNTT
TV do TNTT/TV chung (%)
Tên nước Số TV do
TNTT
TV do TNTT/TV chung (%)
Trang 10Tại Mỹ, theo nghiên cứu của Hardin WD [53], năm 1986, ước tính trong một năm, cứ 5 trẻ dưới 19 tuổi thì có một trẻ bị tai nạn thương tích nào
đó cần phải tới các dịch vụ y tế Tử vong do tai nạn thương tích gây ra chiếm tới 52% tử vong ở trẻ 1-14 tuổi, 40% ở trẻ 1 - 4 tuổi và 70% ở trẻ 5 - 9 tuổi chi phí trực tiếp cho điều trị số trẻ này ước tính khoảng 7,5 tỉ USD Khoảng
20 năm gần đây, nhờ có những tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị cũng như phòng bệnh mà TLTV do bệnh tật ở trẻ em đã giảm tới 56%, trong khi đó tử vong do tai nạn thương tích mới chỉ giảm được 25% Hiện nay tai nạn thương tích ở Mỹ đang được coi như một vấn đề bệnh dịch Quốc gia Trung bình mỗi năm có hơn 150.000 người chết, 80.000 người bị tàn tật vĩnh viễn; 1/8 số bệnh nhân vào viện cấp cứu là do tai nạn thương tích, chi phí xã hội do TNTT gây ra ước tính khoảng 130 tỉ USD [53]
Tại Pháp, theo Chevallier.B tai nạn thương tích ở trẻ em đang là một vấn đề quan trọng trong y tế cộng đồng, tai nạn thương tích là nguyên nhân hàng đầu phải nhập viện, tử vong và tàn tật ở trẻ em 1-15 tuổi Năm 1994
tổ chức sức khoẻ cộng đồng đưa ra báo cáo về "Sức khoẻ ở Pháp" Bản báo cáo đã nêu rõ sự nghiêm trọng của tai nạn thương tích trong sức khoẻ cộng đồng và đã đưa ra vấn đề phòng chống tai nạn thương tích như là một ưu tiên trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
Theo WHO (2004), thương tích là kẻ giết người nguy hiểm đối với trẻ
em trên toàn thế giới Chúng là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em từ 10-19 tuổi [5],[33] Riêng thương tích giao thông đường bộ là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong cao trong số trẻ ở độ tuổi 15 -19 và là nguyên nhân đứng thứ hai trong số trẻ em từ 10-14 tuổi Ngoài những ca tử vong, hàng chục triệu trẻ em đòi hỏi phải được chăm sóc tại bệnh viện cho các thương tích không gây tử vong Nhiều trẻ em bị để lại với một loại hình thương tật nào đó, thường là hậu quả suốt đời [31]
Nhìn chung, trên 95% các ca tử vong do thương tích ở trẻ em xảy ra tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình Mặc dù tỉ lệ tử vong do thương tích
Trang 11ở trẻ em thấp hơn nhiều trong số trẻ em ở các quốc gia phát triển, nhưng thương tích vẫn là một nguyên nhân chính dẫn đến tử vong, chiếm khoảng 40% tất cả các ca tử vong ở trẻ em, thương tích là nguyên nhân của 30% số
ca tử vong ở độ tuổi từ 1- 3, con số này lên tới 40% ở trẻ em 4 tuổi và 50% - 60% ở độ tuổi 5 -17, thương tích không phải là điều tất yếu xảy ra; chúng có thể được phòng chống hoặc kiểm soát Ví dụ ở các quốc gia thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) số lượng các ca tử vong do thương tích
ở trẻ em dưới 15 tuổi giảm 50% từ năm 1970 đến 1995 Cho đến gần đây, người ta ít để ý đến vấn đề thương tích ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình Thiếu nhận thức về vấn đề này, cộng với những hoàn cảnh đặc biệt mà những nước này đối mặt có nghĩa là các biện pháp đã được kiểm chứng chưa được thực hiện với cùng mức độ như chúng đã được thực hiện ở các quốc gia thu nhập cao WHO (2004)
Các quốc gia đối phó với nhiều ưu tiên cạnh tranh và các can thiệp cho thương tích cần được đánh giá đúng mức về tính hiệu quả Tuy nhiên, cần phải biết thêm rất nhiều về việc phòng chống thương tích và tử vong ở trẻ em
so với những gì đã được thực hiện ( Kim Phụng- Quảng trị)
1.3.2 Tai nạn thương tích ở các nước đang phát triển
Theo thống kê của UNICEF, ở các nước đang phát triển ước tính mỗi năm có khoảng 1 triệu trẻ em dưới 16 tuổi chết vì tai nạn thương tích, 98% tất
cả các trường hợp tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ em trên thế giới là ở các nước đang phát triển Cứ 100.000 trẻ em sinh ra tại các nước đang phát triển thì có hơn 1000 trẻ sẽ chết trước 15 tuổi do bị tai nạn thương tích Riêng TNGT mỗi năm giết chết khoảng 240.000 trẻ em, tương đương với 2 chiếc máy bay phản lực cỡ lớn chở đầy trẻ em nổ tung trên bầu trời mỗi ngày ( AFa niStan)
Theo thống kê của Mỹ, 1986 - 1996 về tỉ lệ tử vong do TNTT/100.000 dân ở một số nước đang phát triển và một số nước công nghiệp (theo mọi lứa tuổi)
Trang 12Nam Nữ Năm nghiên cứu
1.3.3 Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em Việt Nam
Ở nước ta, trong thời kỳ đổi mới, nhờ có sự phát triển của kinh tế xã hội và hiệu quả của các chương trình y tế Quốc gia, hiện nay tỉ lệ mắc và tử vong do các bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng đã giảm đi rõ rệt, trong khi đó tỉ
Trang 13lệ mắc và tử vong do các bệnh không nhiễm trùng lại đang không ngừng gia tăng, trong đó có tai nạn thương tích Tính chung trong cả nước, mỗi ngày có khoảng hơn 20 trẻ chết, hơn 70 trẻ tàn phế và hàng trăm trường hợp bị chấn thương vì tai nạn thương tích [38], [40], [41].
Theo Nguyễn Văn Thưởng và cộng sự, ở nước ta, kể từ khi những chính sách kinh tế mới, sản xuất phát triển, điều kiện kinh tế xã hội được cải thiện; đời sống nhân dân khá lên thì số người bị chấn thương và chết vì các tai nạn trong sinh hoạt, lao động, sản xuất giao thông ngày càng nhiều và đã xếp vào hàng thứ 3, thứ 4 trong 10 nguyên nhân hàng đầu về bệnh tật và tử vong tại các bệnh viện [39]
Theo kế hoạch hành động chiến lược nhằm giảm tai nạn thương tích cho trẻ em Việt Nam tháng 6/2001, trong năm 1999, số trẻ em tử vong liên quan đến tai nạn giao thông Các nghiên cứu ở cấp cộng đồng cho thấy tai nạn thương tích chiếm 11% - 13% số trường hợp tử vong
Qua nghiên cứu của Trương Đình Kiệt và Đỗ Văn Dũng [25], số trường hợp tử vong ở một số xã thuộc sáu tỉnh miền Trung và Nam bộ năm 1996 -
1997, cũng như nghiên cứu của Lê Cự Linh và Lê Vũ Anh [4] đánh giá gánh nặng bệnh tật tại huyện Chí linh, Hải Dương qua phân tích số liệu tử vong năm 1997-1998 cho thấy tai nạn thương tích là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật ở trẻ em và trẻ vị thành niên: 60% tử vong ở lứa tuổi 1- 15 là
do tai nạn thương tích, số trẻ em chết vì ngộ độc, chết đuối, bỏng cao hơn số trẻ em chết do viêm não Nhật Bản, sốt xuất huyết và dịch tả, thương hàn [25]
Khi nói đến những nguyên nhân tử vong, chúng ta thường nghĩ nhiều nhất là do bệnh tật Nhưng theo phân tích nguyên nhân gây tử vong ở trẻ em Việt Nam qua điều tra UNICEF [44] cho thấy như sau:
Tỉ lệ tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ em Việt Nam
Trang 14Loại TNTT TL% TV của TNTT TL % TSTV chung
cơ tử vong do TNTT cao hơn nữ giới 3 lần Nguyên nhân tử vong chính là TNGT (17,91/100.00 dân), tiếp đến là đuối nước (7,12/100.00) và tự tử (4,78/100.000) Đuối nước là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai sau tai nạn giao thông, chiếm 10% tổng số tử vong nói chung Đối với trẻ em và vị thành niên dưới 19 tuổi, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong Tỉ suất tử vong do đuối nước cao nhất ở nhóm 0 - 4 tuổi với trung bình 19 trẻ/100.000 trẻ năm, trong đó trẻ nam có nguy cơ tử vong nhiều hơn trẻ nữ 1,4 lần [9], [13], [18]
1.4 Một số nghiên cứu đánh giá hậu quả của tai nạn thương tích.Việc đánh giá hậu quả của tai nạn thương tích thông qua số liệu tử vong thường đơn giản và dễ thực hiện vì các số liệu tử vong thường được ghi chép, báo cáo đầy đủ và được quan tâm nhiều hơn, thế nhưng những tai nạn thương tích không chết người như những tai nạn thương tích được điều trị
Trang 15trong bệnh viện, những tai nạn thương tích điều trị tại các phòng khám cấp cứu, những tai nạn thương tích điều trị thầy thuốc tư, hoặc tự điều trị tại nhà
… hậu quả còn lớn hơn nhiều so với số tử vong [2], [3], [7]
Để đánh giá mức độ trầm trọng của tai nạn thương tích không chết người [46], hoặc có thể dựa vào thang chia mức độ nặng của tai nạn thương tích mà Tepas và hội phẫu thuật ngoại nhi Trường Đại học Y khoa bang Florida Hoa Kỳ đưa ra năm 1997 [52] nhằm giúp việc đánh giá mức độ nặng của tai nạn thương tích và tiên lượng bệnh nhân cho các thầy giáo lâm sàng và tính toán mức độ thiệt hại về kinh tế Tuy nhiên, vấn đề áp dụng thang chia độ này cho đến nay vẫn còn ít sử dụng ở các nước đang phát triển
Theo báo cáo của WHO điều tra về tình hình tàn tật do tai nạn thương tích ở một số nước như sau :
Tại Trung Quốc điều tra năm 1997 có 31% tàn tật là do chấn thương gây ra
Ở Ấn độ điều tra năm 1991: thành thị 28% bị cụt chi, 42% mất chức năng khớp và 22% bất thường chi là do tai nạn thương tích gây ra, trong khi
đó tỉ lệ tương ứng ở vùng thuần nông là 22%, 42% và 27% [54]
Tại Philippines điều tra năm 1991: tỉ lệ tàn tật do tai nạn thương tích gây ra là: 21/100.000 dân bị liệt, liệt tứ chi là 12/100.0000 dân, liệt một chỉ là 120/100.000 dân [54]
Tại Thái Lan, theo nghiên cứu của Tosutho và Suriyawongpaisal chi phí do TNGT gây ra năm 1995 cho thấy: ước tính chi phí gián tiếp khoảng 15
tỉ bahts, tương đương 600 triệu USD; nếu tính cả các phí tổn trực tiếp như phí tổn của dịch vụ y tế và hư hỏng tài sản thì tổng chi phí khoảng 40 tỉ bahts, tương đương với 1,6 tỉ USD (1995), chiếm khoảng 23 % tổng số ngân sách chi tiêu của ngành y tế vào khoảng 0,9% GDP [54]
Trang 16Ở Việt Nam, kể từ khi có chính sách kinh tế mới, mở cửa và hội nhập, sản xuất phát triển, điều kiện kinh tế xã hội được cải thiện, đời sống nhân dân khá lên thì số người bị chấn thương và chết vì các tai nạn ngày càng nhiều, xếp vào hàng thứ 3, thứ 4 trong 10 nguyên nhân hàng đầu về bệnh tật và tử vong tại các bệnh viện
Theo Jennifer Oxley, Cuong Pham V, Anne Jamaludin, Mark Stevenson (8.2011), nghiên cứu đánh giá các can thiệp về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em ở Việt Nam tại 6 tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Trị, Huế, Đồng Tháp và Cần Thơ từ năm 2006-2010 cho thấy đa số trẻ em bị tai nạn thương tích là nam (khoảng 70%) Ngoài ra, trẻ em ở độ tuổi từ 5 đến
14 - 42 % về mọi tai nạn thương tích, sau đó là trẻ ở độ tuổi 15-19, 20% trẻ bị tai nạn thương tích ở độ tuổi dưới 4 tuổi Ở các xã được can thiệp ở bốn trong
số sáu tỉnh có giảm tỉ lệ tai nạn thương tích không gây tử vong [32], [22]
Theo thống kê của Cục Quản lý môi trường Y tế: Năm 2011 tại 55 tỉnh/thành phố có 1.247.209 trường hợp mắc tai nạn thương tích (TNTT) với
tỉ suất là 1.645/100.000 người, tăng 0,16% so với năm 2010 [18]
Nhóm tuổi 15-19 có tỉ suất mắc TNTT cao nhất là 2.402/100.000 người; tỉ suất tử vong do TNTT/100.000 dân năm 2005 là 45,01%, năm 2010 còn 42,69%, tỉ suất tử vong trung bình một năm do TNTT trong giai đoạn 2005-2010 là 44,3/100.000 dân [14], [19], [20]
1.5 Đặc điểm kinh tế xã hội của thị xã Quảng Yên
Thị xã Quảng Yên nằm ở trung tâm vùng trũng của tỉnh, thị xã Quảng Yên về phía tây tiếp giáp với thành phố Hải Phòng, phía tây bắc giáp thành phố Uông Bí, phía bắc giáp huyện Hoành Bồ, phía đông và đông bắc giáp thành phố Hạ long, đều của tỉnh Quảng Ninh Phía đông nam giáp huyện Cát
Trang 17Bà Thị xã có quốc lộ 18B chạy từ tây sang đông, tuyến giao thông quan trọng nối giữa các tỉnh đi biên giới Trung Quốc.
Thị xã Quảng Yên có diện tích đất tự nhiện 78,41 km2, Dân số 144.000.000 người gồm 19 xã , phường
Thị xã Quảng Yên kinh tế nông nghiệp là chủ yếu chiếm khoảng 70% Hiện nay, ngoài trồng lúa nước, một số gia đình còn nuôi trồng thuỷ sản và vận tải, khai thác đá là một ngành kinh tế phụ, hầu hết các xã, phường trong thị xã đều có nghề phụ
Trên địa bàn thị xã hệ thống Y tế đáp ứng cho công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân có 01 trung tâm Y tế; 19 trạm y tế xã, phường
Nhìn chung trình độ dân trí và thu nhập của nhân dân thị xã còn thấp so với các huyện, thị, thành phố khác của tỉnh
Chương 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 18- Trẻ trên 12 tuổi: phỏng vấn trực tiếp ( có phiếu phỏng vấn phần phụ lục)
* Các tiêu chuẩn lựa chọn:
Các tai nạn thương tích gây thương tổn do: tai nạn giao thông, ngã, tai nạn lao động, va chạm, điện giật dẫn đến bị vết thương chảy máu, bong gân, phù nề xây xát, gãy xương, gãy răng, vỡ thủng nội tạng, chấn thương sọ não, bỏng, ngạt/đuối nước, ngộ độc, tự tử, mà cần đến sự chăm sóc y tế, phải nghỉ học/nghỉ làm hoặc bị hạn chế sinh hoạt ít nhất 1 ngày
* Tiêu chuẩn loại trừ:
Các tai nạn thương tích do thiên tai, thảm họa như lũ lụt gây vỡ đê, động đất, …
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu:
Thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 01/1/2014 đến ngày 30/10/2014
Trang 192.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
- p: Tỉ lệ tai nạn thương tích ước tính 11,84% [34]
- d: Sai số tương đối so với tỉ lệ p, chọn d = 0,05 Thay vào công thức tính được số trẻ dưới 16 tuổi tối thiểu cần điều tra là khoảng 170
Tại nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành điều tra toàn bộ số trẻ em dưới
16 tuổi để nghiên cứu (1921 trẻ)
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn theo phương pháp nhiều giai đoạn
- Giai đoạn 1: Chọn chủ đích thị xã Quảng Yên đưa vào nghiên cứu.
Thị xã Quảng Yên có 11 phường và 8 xã có điều kiện kinh tế xã hội gần giống nhau chủ yếu là thuần nông
- Giai đoạn 2: Chọn 1 phường và 2 xã.
Trang 20+ Lập danh sách 11 phường sau đó bốc ngẫu nhiên lấy 1 phường Một phường được chọn là phường Hà An.
+ Lập danh sách 8 xã sau đó bốc ngẫu nhiên lấy 2 xã Hai xã được lựa chọn là xã Hoàng Tân và xã Tiền An
- Giai đoạn 3: Chọn đối tượng nghiên cứu là trẻ em dưới 16 tuổi đủ các
tiêu chuẩn nghiên cứu và lập danh sách toàn bộ số trẻ dưới 16 tuổi tại các xã/phường được chọn nghiên cứu
SƠ ĐỒ QUÁ TRÌNH CHỌN MẪU
Quảng Yên
1 phường 2 xã
Hộ gia đình
Trang 21- Tỷ lệ phần trăm các loại thương tích theo địa dư, tuổi, giới, vị trí tổn thương
2.2.4.2 Biến số nghiên cứu
- Phân bố tai nạn theo khu vực
- Số lần mắc tai nạn theo năm
- Phân bố tai nạn theo tuổi
- Phân bố theo vị trí tổn thương
- Loại tổn thương
- Nguyên nhân tai nạn
- Tình hình sơ cấp cứu
- Kết quả điều trị
- Một số yếu tố liên quan
- Kiến thức, thái độ bà mẹ/bố về tai nạn thương tích
2.2.5 Nội dung nghiên cứu
2.2.5.1 Tỷ lệ, nguyên nhân, biện pháp sơ cấp cứu và một số yếu tố liên quan tai nạn thương tích cho trẻ em
- Nhóm biến về thông tin tỉ lệ mắc TNTT: Thu thập thông tin về tình trạng tai nạn thương tích của trẻ em tại cộng đồng dân cư
- Nhóm biến về các nguyên nhân gây ra tai nạn thương tích ở trẻ em
- Nhóm biến về tình hình sơ cấp cứu: Thu thập thông tin về thực trạng sơ cấp cứu tai nạn thương tích ở trẻ em
- Nhóm biến về một số yếu tố liên quan đến TNTT ở trẻ em: Thu thập thông tin về các tổn thương do tai nạn thương tích ở trẻ em; thu thập thông tin
về hoàn cảnh xảy ra TNTT ở trẻ em
Trang 222.2.5.2 Kiến thức thực hành của người dân về phòng chống tai nạn thương tích
- Thu thập thông tin về kiến thức và thực hành của người dân về tai nạn thương tích
- Nguồn cung cấp kiến thức về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ
em Kiến thức có thể có được qua những thông tin mà thầy cô, cha mẹ, bạn
bè, sách vở và báo chí cung cấp
- Thực hành đúng hoặc không đúng Trong nghiên cứu về thực hành cần tìm hiểu những thực hành nào có lợi cho sức khỏe cần được phát huy và duy trì, những thực hành xấu, ảnh hưởng đến sức khỏe cần phải thay đổi
2.3 Phương pháp thu thập số liệu
- Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu: Khi bộ câu hỏi phỏng vấn được xây dựng xong, điều tra thử 10 hộ gia đình có trẻ em, chỉnh sửa nội dung của bộ câu hỏi cho phù hợp sau đó in thành bộ phục vụ cho tập huấn và điều tra hộ gia đình (phụ lục)
2.3.2 Thu thập số liệu
Bước 1: Tập huấn thu thập số liệu
- Tổ chức tập huấn cho đối tượng bao gồm: 02 cán bộ giám sát điều tra, mỗi đoàn điều tra có 1 giám sát viên, 6 điều tra viên, 3 người dẫn đường là y
tế thôn tại địa phương
Trang 23- Nội dung tập huấn là: Tập huấn kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phỏng vấn, điều tra và làm việc với cộng đồng Sau đó tiến hành thực hành điều tra 04 hộ gia đình.
- Thời gian, địa điểm: 1/2 ngày, tại Uỷ ban nhân dân phường Hà An - thị xã Quảng Yên
- Tập huấn là nghiên cứu viên
Bước 2: điều tra, giám sát
- Chuẩn bị: Sau khi tập huấn, nghiên cứu viên liên hệ với UBND xã, phường để nhận danh sách trẻ em dưới 16 tuổi, danh sách cộng tác viên trao đổi kế hoạch làm việc
- Điều tra viên: Mỗi địa điểm nghiên cứu có 2 điều tra viên tổng cộng 3 xã/phường là 6 người Điều tra viên được chọn từ những cán bộ của Trung tâm y tế thị xã và trạm Y tế xã/phường tổ chức điều tra đạt những tiêu chuẩn sau: có khả năng giao tiếp tốt, sắp xếp được thời gian công tác tham gia nghiên cứu, bắt buộc phải tham dự lớp tập huấn điều tra do nghiên cứu viên tổ chức và điều tra thử tại thực địa
- Giám sát viên: 02 giám sát viên có khả năng quan sát tốt, sắp xếp được thời gian công tác tham gia nghiên cứu, bắt buộc phải tham dự lớp tập huấn điều tra do nghiên cứu viên tổ chức và điều tra thử tại thực địa
- Người dẫn đường: mỗi xã, phường có 1 người dẫn đường tổng cộng 3 xã/phường là 3 người Người dẫn đường tại địa bàn nghiên cứu đạt những tiêu chuẩn sau: Sắp xếp thời gian tham gia nghiên cứu, thuộc địa bàn điều tra, thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ hướng dẫn điều tra viên tiếp cận đối tượng điều tra
- Tiến hành điều tra: các nhóm nhận biểu mẫu và kế hoạch điều tra Các GSV trực tiếp đi cùng các ĐTV, quan sát phỏng vấn 5 hộ gia đình để hỗ trợ kịp thời những thiếu sót trong quá trình điều tra
Trang 24Bước 3: Thu thập phiếu điều tra
Sau mỗi ngày điều tra các nhóm nộp phiếu cho NCV Nghiên cứu viên
và GSV kiểm tra phiếu điều tra về số lượng, chất lượng bộ câu hỏi và kiểm tra xác suất một số hộ gia đình, nếu không đạt yêu cầu điều tra lại
2.4 Khống chế sai số
Áp dụng các biện pháp khống chế sai số sau:
- Thiết kế nghiên cứu chọn ngẫu nhiên phân tầng nhiều giai đoạn
- Thiết kế bộ câu hỏi điều tra chuẩn
- Tập huấn kỹ bộ câu hỏi cho nhóm nghiên cứu và điều tra viên
- Giám sát chặt chẽ quá trình điều tra
- Kiểm tra từng phiếu, làm sạch số liệu trước khi xử lý
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu được, được phân tích và tính toán theo phần mềm phương pháp thống kê y học EpiInpo 2002
- Tỉ lệ phần trăm (%) giữa các biến số trong nghiên cứu
- So sánh hai tỉ lệ phần trăm bằng test khi bình phương Có sự khác nhau khi p <0,05
2.6 Đạo đức của nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện theo đúng nội dung của đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng đánh giá đề cương của trường Đại học Y-Dược Hải Phòng thông qua
Nghiên cứu không ảnh hưởng tới sức khoẻ cũng như bí mật của
cá nhân người được phỏng vấn Người được phỏng vấn hoàn toàn tự nguyện tham gia nghiên cứu Bất cứ khi nào người tham gia nghiên cứu không đồng ý
Trang 25có thể không tham gia nghiên cứu Kết quả nghiên cứu phục vụ công tác nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu được sự đồng ý của chính quyền địa phương và các trạm Y
tế xã/phường
Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi tới các tổ chức, đơn vị liên quan làm cơ sở để có chiến lược phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả can thiệp cải thiện vấn đề phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em trong tương lai
Trang 26
Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU3.1 Tỉ lệ, nguyên nhân, biện pháp sơ cấp cứu và một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích ở trẻ em tại thị xã Quảng Yên - tỉnh Quảng Ninh
Tỉ lệ
p<0,05Thuần nông (2)
Trang 27Nhận xét:
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số 1921 trẻ được điều tra có 241 trẻ mắc tai nạn, tỉ lệ mắc tai nạn chiếm 12,54 Tỉ lệ mắc tai nạn ở khu vực phường Hà An cao hơn ở khu vực thuần nông, sự khác biệt có ý nghĩa thống
Số TNTT Tỷ lệ
(%)
Số trẻ nghiên cứu
Số TNTT
Tỷ lệ (%)
Trang 28Hình 3.2 Tỷ lệ mắc tại nạn thương tích theo nhóm tuổi
Nhận xét
- Tỉ lệ mắc TNTT trẻ em ở phường Hà An và thuần nông có sự khác biệt, có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Ở phường Hà An là 16,64% và ở khu vực thuần nông là 10,41%
- Tỉ lệ mắc TNTT trẻ em ở các nhóm tuổi 6-10 tuổi là 13,7% và 11-15 tuổi là 25,38% ở phường Hà An, có sự khác biệt với tỉ lệ mắc ở phường Hà
An, có sự khác biệt với tỉ lệ mắc ở khu vực thuần nông lần lượt là 6-10 tuổi tỉ
lệ mắc là 10,75% và 11- 15 tuổi là 12,33% Tỉ lệ mắc TNTT ở nhóm tuổi từ 0- 5 không có sự khác biệt giữa phường Hà An 11,89% và thuần nông 8,01% với p>0,05
Trang 29Bảng 3.4 Tỉ lệ mắc tai nạn thương tích theo giới giữa các khu vực.
n=1015 Số
TNTT
Tỷ lệ (%) n=906
Số TNTT
Tỷ lệ (%) Phường Hà
Trang 30Nhận xét: Tỉ lệ mắc TNTT theo giới có sự khác biệt gữa nam và nữ
(p<0,05), nam là 12,21% cao hơn tỉ lệ mắc ở nũ là 12,8% so với tổng số trẻ được điều tra
Bảng 3.5 Vị trí tổn thương trên cơ thể do tai nạn thương tích gây ra
STT Vị trí
tổn thương
P.Hà An n= 643
Thuần nông n=1278 Tổng số
Hình 3.4 Vị trí tổn thương trên cơ thể do tai nạn thương tích gây ra
Nhận xét: Tổn thương do TNTT trẻ em trong nghiên cứu thường gặp
là tổn thương ở các chi ( chiếm 33,61%) Tổn thương vùng thân ít gặp Tổn
Trang 31thương vùng đầu, mặt cổ gặp tới ¼ số trường hợp Không có sự khác biệt về tỷ
lệ vị trí tổn thương giữa phường Hà An và thuần nông ( p > 0,05)
Bảng 3.6 Loại tổn thương do tai nạn thương tích gây ra
n=643
Thuần nông n=1278
Trang 32Hình 3.5 Loại tổn thương do tai nạn thương tích gây ra
Nhận xét: Tổn thương ở trẻ em thường gặp là các vết thương xây sát
43,98% và sau đó là vết thương bong gân trật khớp, sự khác nhau giữa khu vực phường Hà An và khu vực thuần nông không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Bảng 3.7 Nguyên nhân mắc tai nạn do ngã giữa các khu vực
STT Nguyên nhân Phường Hà An Thuần nông Tổng số Tỉ lệ (%)
Hình 3.6 Nguyên nhân mắc tai nạn do ngã giữa các khu vực
Nhận xét: Nguyên nhân chủ yếu gây tai nạn thương tích trẻ em có tổn
thương là do trượt, vấp, ngã, chiếm 68,67%; Các nguyên nhân khác chiếm tỉ
lệ thấp hơn Hầu hết các nguyên nhân gây TNTT ở trẻ em không có sự khác biệt giữa phường Hà An và khu vực thuần nông với p>0,05
Trang 33Hình 3.6 Nguyên nhân mắc tai nạn do ngã giữa các khu vực
Nhận xét: Nguyên nhân chủ yếu gây tai nạn thương tích trẻ em có tổn
thương là do trượt, vấp, ngã, chiếm 68,67%; Các nguyên nhân khác chiếm tỉ
lệ thấp hơn Hầu hết các nguyên nhân gây TNTT ở trẻ em không có sự khác biệt giữa phường Hà An và khu vực thuần nông với p>0,05
Bảng 3.8 Độ cao khi xảy ra ngã
Nhận xét: Ở cả 2 khu vực, hầu hết tai nạn ngã từ độ cao dưới 1 m (90,36%),
tuy nhiên có gần 10% tai nạn từ độ cao 1-5 m
Trang 34Bảng 3.9 Các nguyên nhân khác gây tai nạn thương tích:
nông Tổng số
Tỉ lệ (%)
Trang 35Nhận xét: Trong các nguyên nhân gây TNTT, nguyên nhân gây hành
hung, đánh nhau chiếm tỉ lệ cao 34,84%; sau đó đến do vật sắc nhọn 18,18%
Trang 36Hình 3.8 Tai nạn thương tích do bỏng
Nhận xét: Nhóm nguyên nhân gây bỏng do chất cứng chiếm tỉ lệ cao
38,60%; nguồn hơi chiếm 27,27% trong các nguyên nhân gây bỏng kể
cả khu vực phường Hà An và thuần nông ( p> 0,05)
Bảng 3.11 Loại phương tiên gây tai nạn giao thông
Trang 374 Ô tô/xe hơi/xe
tải
Hình3.9 Phương tiện gây tại nạn giao thông
Nhận xét Phương tiện gây ra tai nạn giao thông: Trẻ tự lái chiếm
38,10%; do người khác chở chiếm 21,43%; đang bộ hành chiếm 28,57%
Bảng 3.12 Hoàn cảnh xẩy tai nạn giao thông giữa các khu vực
Tỉ lệ (%)
Trang 38Tổng 12 100,00 30 100,00 42 100,00
Hình 3.10 Hoàn cảnh mắc tai nạn giao thông giữa các khu vực
Nhận xét: So sánh hoàn cảnh xảy ra tai nạn giao thông giữa khu vực
phường Hà An và khu vực thuần nông, không có sự khác biệt (p>0,05)
3.1.2 Tình hình sơ cứu tai nạn thương tích trẻ em
Bảng 3.13 Tỉ lệ mắc tai nạn thương tích được sơ cứu
STT Được sơ cứu/
không được sơ cứu P.Hà An
Thuần nông Tổng số Tỉ lệ (%)
Trang 393 Không cần thiết sơ/cấp cứu 3 2 5 2,08
Hình 3.11 Tỉ lệ mắc tai nạn thương tích được sơ cứu
Nhận xét:
- Đa số trường hợp TNTT trẻ em được cấp cứu, chiếm 69,58 %
- Sự khác biệt về sơ cấp cứu ở phường Hà An và thuần nông không có ý nghĩa thống kê ( p> 0,05)
Bảng 3.14 Trình độ chuyên môn của người sơ cứu
Trang 404 Bác sĩ 4 8 12 4,97
Hình 3.12 Trình độ chuyên môn người sơ cứu
Nhận xét Các tai nạn thương tích ở trẻ em, người tiếp xúc đầu tiên
sơ cứu chủ yếu là người không có trình độ chuyên môn chiếm 62,91%
Bảng 3.15 Nơi điều trị sau khi xảy ra tai nạn thương tích
An
Thuần nông Tổng số
Tỉ lệ (%)