MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế xã hội. Bởi vậy, việc phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ dến con người là sự đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn vinh của mỗi quốc gia. Đầu tư cho con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát tiển bền vững. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều nước đã có được sự tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh thông qua quá trình công nghiệp hóa, hay nói cách khác là thông qua việc phát triển khoa học công nghệ gắn liền với việc phát triển nguồn nhân lực. Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh để đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định phải thông qua việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật – nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Phát triển mạnh nguồn lực con người Việt Nam với yêu cầu ngày càng cao” 26, tr.20. Nhằm bảo đảm nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII (2010 22015) đã đề ra nhiệm vụ sau: “Phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực có chất lượng toàn diện, cả về sức khỏe thể chất, trình độ học vấn, nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, đời sống văn hóa tinh thần” 7, tr.19. Nhằm đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế quốc tế của tỉnh nhà. Ở Việt Nam sau cách mạng tháng 8 năm 1945 ngành du lịch đã có lịch sử 50 năm phát triển. Năm 1960 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 26CP, ngày 09071960, thành lập công ty du lịch Việt Nam. Trong suốt 50 năm hình thành và phát triển, ngành du lịch đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, ở mỗi thời kỳ đều xá định vị trí của du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước phù hợp với yêu cầu cách mạng. Ngày nay, du lịch trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà cũng ở cả các nước đang phát triển, trong đó có Quảng Ninh du lịch tạo ra một nguồn lợi nhuận khá lớn, giải quyết công ăn việc làm, đồng thời thúc đẩy các dịch vụ khác phát triển. Song để khai thác tối đa những hiệu quả kinh tế xã hội ma du lịch mang lại thì cầ đầu tư các nguồn lực để phát triển du lịch một cách xứng đáng. Mà một trong những nguồn lực quang trọng nhất đó là nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực ngành du lịch của Quảng Ninh đang ngày càng gia tăng cả về số lượng và chất lượng, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cũng như sự phát triển của ngành. Nhìn chung nguồn nhân lực ngành du lịch Quảng Ninh hiện nay cuãng thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành du lịch Quảng Ninh nói riêng và sự phát triển của ngành du lịch cả nước nói chung, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong những năm gần đây, mặc dù cũng gặp nhiều khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng ngành du lịch Quảng Ninh đã có những bước phát triển vượt bậc, cả về số lượng, chất lượng dịch vụ, trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh với tổng doanh thu gần 3.000 tỷ đồng, bằng tổng GDP của nhiều tỉnh, thành. Hiện tại cùng với Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh đã và đang là một trong ba trung tâm du lịch lớn của cả nước. Chất lượng phục vụ của ngành đó đạt đến đẳng cấp 4 sao theo tiêu chuẩn quốc tế. Theo đánh giá của Tổng cục du lịch Quảng Ninh chỉ xếp sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nguồn nhân lực đối với sự phát triển của ngành du lịch Quảng Ninh, chúng em xin lựa chọn vế đề: “Nguồn nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh trong thời kì hội nhập – Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình, với mong muốn đề tài này có thể phần nào làm rõ thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch Quảng Ninh, tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, để thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế xã hội nói chung của tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển của lịch sử, do đó vấn đề con người, đặc biệt là vấn đề nhân tố con người luôn luôn là đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học. Thực tiễn ngày càng chứng minh, sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia phụ thuộc vào việc đầu tư khai thác, phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người. Từ những nghiên cứu chung về con người, các nhà khoa học Xô Viết trước đây đã nghiên cứu về nhân tố con người và phát huy vai trò của nhân tố con người. Có nhiều đề tài và công trình của các nhà khoa học Xô Viết đi sâu vào nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân tố con người và các nhân tố kinh tế, vật chất kỹ thuật trong cấu trúc nền sản xuất xã hội. Công trình nghiên cứu của nữ viện sĩ Giaxlapxkaia về công bằng xã hội và nhân tố con người những năm 1986 – 1987 là một ví dụ tiêu biểu. Hội nghị khoa học giữa các nhà khoa học Xô Viết và Việt Nam tổ chức tại hà Nội vào năm 1988 đã tập trung trao đổi ý kiến và thảo luận xoay quanh chủ đề về nhân tố con người và phát triển kinh tế xã hội.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội Bởi vậy, việc phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy
đủ dến con người là sự đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn vinh của mỗi quốc gia Đầu
tư cho con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát tiển bền vững Ngay từ những năm
60 của thế kỷ XX, nhiều nước đã có được sự tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh thông qua quá trình công nghiệp hóa, hay nói cách khác là thông qua việc phát triển khoa học công nghệ gắn liền với việc phát triển nguồn nhân lực Lịch sử phát triển kinh tế thế giới
đã chứng minh để đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định phải thông qua việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật – nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ:
“Phát triển mạnh nguồn lực con người Việt Nam với yêu cầu ngày càng cao” [26, tr.20] Nhằm bảo đảm nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII (2010- 22015) đã đề ra nhiệm vụ sau: “Phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực có chất lượng toàn diện, cả về sức khỏe thể chất, trình độ học vấn, nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, đời sống văn hóa tinh thần” [7, tr.19] Nhằm đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế quốc tế của tỉnh nhà
Ở Việt Nam sau cách mạng tháng 8 năm 1945 ngành du lịch đã có lịch sử 50 năm phát triển Năm 1960 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 26/CP, ngày 09/07/1960, thành lập công ty du lịch Việt Nam Trong suốt 50 năm hình thành và phát triển, ngành du lịch đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, ở mỗi thời kỳ đều xá định vị trí
Trang 2của du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước phù hợp với yêu cầu cách mạng
Ngày nay, du lịch trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà cũng ở cả các nước đang phát triển, trong đó có Quảng Ninh du lịch tạo ra một nguồn lợi nhuận khá lớn, giải quyết công ăn việc làm, đồng thời thúc đẩy các dịch vụ khác phát triển Song để khai thác tối đa những hiệu quả kinh tế - xã hội ma
du lịch mang lại thì cầ đầu tư các nguồn lực để phát triển du lịch một cách xứng đáng Mà một trong những nguồn lực quang trọng nhất đó là nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực ngành du lịch của Quảng Ninh đang ngày càng gia tăng cả về số lượng và chất lượng, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cũng như sự phát triển của ngành Nhìn chung nguồn nhân lực ngành du lịch Quảng Ninh hiện nay cuãng thiếu
về số lượng và yếu về chất lượng, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành du lịch Quảng Ninh nói riêng và sự phát triển của ngành du lịch cả nước nói chung, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh
Hồ Chí Minh và Hà Nội
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nguồn nhân lực đối với sự phát triển của ngành du lịch Quảng Ninh, chúng em xin lựa chọn vế đề: “Nguồn nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh trong thời kì hội nhập – Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình, với mong muốn đề tài này có thể phần nào làm rõ thực trạng chất
Trang 3lượng nguồn nhân lực ngành du lịch Quảng Ninh, tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, để thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế - xã hội nói chung của tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển của lịch sử, do đó vấn
đề con người, đặc biệt là vấn đề nhân tố con người luôn luôn là đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học Thực tiễn ngày càng chứng minh, sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia phụ thuộc vào việc đầu tư khai thác, phát huy có hiệu quả vai trò nhân
tố con người
Từ những nghiên cứu chung về con người, các nhà khoa học Xô Viết trước đây đã nghiên cứu về nhân tố con người và phát huy vai trò của nhân tố con người Có nhiều đề tài và công trình của các nhà khoa học Xô Viết đi sâu vào nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân tố con người và các nhân tố kinh tế, vật chất kỹ thuật trong cấu trúc nền sản xuất xã hội Công trình nghiên cứu của nữ viện sĩ Giaxlapxkaia về công bằng xã hội và nhân tố con người những năm 1986 – 1987 là một ví dụ tiêu biểu Hội nghị khoa học giữa các nhà khoa học Xô Viết và Việt Nam tổ chức tại hà Nội vào năm 1988 đã tập trung trao đổi ý kiến và thảo luận xoay quanh chủ đề về nhân tố con người và phát triển kinh tế xã hội
Theo hướng này ở nước ta các nhà khoa học cuãng đã có nhiều hoạt động sôi nổi
về nghiên cứu vấn đề con người Đại hội lần thứ VIII của Đảng, các nhà hoa học đi sâu nghiên cứu vấn đề nguồn lực con người, nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ hội nhập quốc tế, nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều bài viết đã thể hiện quan điểm coi con người là nguồn tài nguyên vô giá và sự cần thiết phải đầu tư vào việc bảo toàn, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên này, lấy nó làm đòn bẩy để phát triển kinh tế, để công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Những bài viết những công trình khoa
Trang 4học đó được đăng trên các báo chí, tạp chí, sách báo, chẳng hạn như: “Xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hóa, tiếp tục thực hiện chiến lược xây dựng và phát triển nguồn lực con người Việt Nam” của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (Tạp chí phát triển giáo dục tháng 04/1998); “Tài nguyên con người trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” của Nguyễn Quang Du (Thông tin lý luận 11/1994); “Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” của GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn(triết học số 2 – 1994); “Nguồn lực con người, nhân tố quyết định của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa” của Phạm Ngọc Anh (Nghiên cứu lý luận số 2 – 1995); công trình nghiên cứu:
“Điều tra, đánh giá trình độ nguồn nhân lực khoa học – Công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Đề xuất giải pháp sử dụng phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2005- 2020” của ông Nguyễn Tiến Thu giám đốc sở nội vụ làm chủ nhiệm đề tài năm 2007
Như vậy hầu hết các đề tài đã tập trung nghiên cứu các phương diện khác nhau của
sự phát triển con người Việt Nam và đề xuất những giải pháp để phát huy nguồn lực con người, từ giáo dục – đào tạo đến giải quyết việc làm, đổi mới cơ chế, chính sách nhằm phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực ở nước ta Ngoài những công trình
đó còn rất nhiều tác giả với những công trình nghiên cứu khác đã dề cập đến vấn đề nguồn nhân lực ở nước ta bằng nhiền cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên những công trình đi sâu, phân tích nguồn nhân lực ngành du lịch trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc
tế ở Quảng Ninh chưa được đề cập đến, đặc biệt là phân tích những điều kiện khả năng cho việc nâng caochất lượng nguồn nhân lực Quảng Ninh Những nội dung được đề cập trong luận văn là cố gắng tìm tòi, nghiên cứu của tác giả trong những lĩnh vực đó
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ tính cấp bách của đề tài và lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi xác định mục đích của đề tài là: Trên cơ sở phân tích thực trạng của nguồn nhân lực ngành du
Trang 5lịch tỉnh Quảng Ninh hiện nay mà đề xuất một số giải pháp cấp bách nhằm xây dựng nguồn nhân lực ngành du lịch Quảng Ninh trong thời kì hội nhập quốc tế
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng của chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch Quảng Ninh hiện nay Rút ra những điểm mạnh, điểm yếu của chất lượng nguồn nhân lực trong ngành du lịch Quảng Ninh
Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của Nguồn nhân lực ngành Du lịch Quảng Ninh trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Về nguồn nhân lực ngành du lịch Quảng Ninh trong thời
- Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử và logic, quy nạp và diễn dịch, phân tích và tổng hợp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt
động quản lý nguồn nhân lực đối với ngành du lịch
- Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp một số giải pháp cụ thể nhằm tăng cường chất lượng
hoạt động quản lý nguồn nhân lực trong ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh
Trang 6Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo có ích cho các doanh nghiệp và cơ quan có chức năng trong việc xây dựng các kế hoạch, định hướng phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch ở Quảng Ninh hiện nay
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 2 chương và 6 tiết
Chương 1: Tổng quan về nguồn nhân lực ngành du lịch
Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch Quảng Ninh trong thời kì hiện nay
Trang 7NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH DU LỊCH 1.1 Nguồn nhân lực
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh
tế như: Tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học – công nghệ, con người trong đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Một nước cho dù tài nguyên thiên nhiên phong phú, khoa học kĩ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ
để khai thác các nguồn lực đó thì khó có thể đạt được sự phát triển như mong muốn
Thuật ngữ nguồn nhân lực (Human resources ) xuất hiện và thập niên 80 của thế kỉ
XX khi mà tính chủ động sáng tạo của người lao động được đề cao Thay vì sử dụng phương thức quản trị nhân viên coi người lao động là lực lượng thụ động, thừa hành – phương thức quản trị nguồn nhân lực (Human resources management ) – coi trọng việc tạo môi trường cho người lao động phát huy hả năng vốn có ở mức cao nhất thông qua quá trình học tập, phát triển và cống hiến cho tổ chức Phương thức quản trị nguồn nhân lực cho thấy tính hiệu quả cao hơn và chính từ đó thuật ngữ nguồn nhân lực được biết đến nhiều hơn Có khá nhiều thuật ngữ khác nhau về nguồn nhân lực, chẳng hạn như:
Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Begg, Fischer và Dornhusch, 2008)
Ngân hàng Thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người (Thể lực, trí lực, kĩ năng, nghề nghiệp, v.v.) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được quá trình sản xuất, kinh doanh, hay trong một hoạt đọng nào đó
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (Với quy mô, loại hình, chức năng hác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ
Trang 8chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức
Đây là những khái niệm thường gặp và chung nhất về nguồn nhân lực Cách hiểu này xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạh phục vụ cho tổ chức nói chung
Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế
- xã hội trong một cộng đồng Nguồn nhân lực là toàn bộ những kĩ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và đát nước Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng nguồn nhân lực Trong quan niệm này, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con người cững là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lí, sử dụng
Ngoài ra một nghiên cứu khác do ngân hàng Thế giới (WB) tiến hành đã có nhận định: Nguồn nhân lực là toàn vộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kĩ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi là nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: Tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên
Ở nước ta nguồn nhân lực theo quy định pháp luật được hiểu là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam (Nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi)
Trên cơ sở đó một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định: nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ Trong đó, lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi lao
Trang 9động có nhu cầu nhưng không có việc làm (Người thất nghiệp) Lao động dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động
Như vậy, mặc dù có những biểu hiện khác nhau nhưng nguồn nhân lực một quốc gia phản ánh khả năng lao động của một xã hội Ngoài ra còn thấy ba điểm chung mà ta
có thể nhận thấy qua các quan niệm trên về nguồn nhân lực là:
- Số lượng nhân lực: Nói đến nguồn nhân của bất kỳ một quốc gia nào, một địa phương, một tổ chức nào đó câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai Đây là những câu hỏi cho việc xác định số lượng nguồn nhân lực Sự phát triển của số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm: Yếu tố bên trong (Nhu cầu mở rộng qui mô, mở rộng sản xuất ), và những yếu tố bên ngoài (sự gia tăng
về dân số hay hiện tượng di dân)
- Chất lượng nhân lực: Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như: trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ của người lao động Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
- Cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá
về nguồn nhân lực Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhaunhuw cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi cơ cấu nguồn nhân lực của một quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đạo tạo, và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỷ lệ nhất định nhân lực Chẳng hạn như cơ cấu nhân lực lao động trong khu vực kinh tế tư nhân của các nước trên thế giói phổ biến là 5- 3- 1 ( 5 công nhân kỹ thuật, 3 trung cấp nghề và 1 kỹ sư), đối với nước ta cơ cấu này có vẻ ngược lại tức là người cps trình độ đại học, trên đại học nhiền hơn số công nhân kỹ thuật, hay cơ cấu nhân lực về giwois tính trong khu vực công ở nước ta cũng có những biểu hiện mất cân đối
Như vậy, nói tới nguồn lực con người là nói đến số lượng, chất lượng, và cơ cấu nguồn nhân lực Số lượng và chất lượng nguồn lực con người có quan hệ với nhau một cách chặt chẽ Nếu số lượng nguồn lực con người quá ít sẽ gây khó khăn cho việc phân
Trang 10công lao động xã hội và do vậy chất lượng lao động cuãng bị hạn chế Chất lượng nguồn lực con người nâng cao sẽ góp phần làm giảm số lượng người hoạt động trong một đơn vị sản xuất, kinh doanh hay giảm số lượng người hoạt động trong một tổ chức xã hội, đồng thời cũng tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của một tập thể người trong lao động sản xuất, hoạt động xã hội
Nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại và tương lai, tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới.Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động, những người lao động phải được đào tạo, phân bổ và sử dụng theo cơ cấu hợp lý, đảm bảo tính hiệu quả cao trong sử dụng Một quốc gia có lực lượng lao động đông đảo, nhưng nếu phân bổ không hợp lý giữa các ngành, các vùng, cơ cấu đạo tạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng thì lực lượng lao động đó không những không trở thành nguồn lực để phát triển, mà nhiều khi còn là gánh nặng cản trở sự phát triển của tổ chức
Nguồn nhân lực xã hội là khái niệm gắn liền với khái niệm dân số và lao động thông qua đó mà người ta có thể xác định được cụ thể nguồn nhân lực toàn xã hội tại thời điểm nhất định, nguồn nhân lực xã hội được coi là bộ phận quan trọng của dân số, là nguồn lao động tiềm tàng của mỗi quốc gia
Nguồn nhân lực trong tổ chức là nguồn lực con người, nhân tố con người trong một tổ chức cụ thể (Cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, trường học, bệnh viện ) “Là tổng
số cán bộ, nhân viên có trong danh sách hoạt động theo các nhiệm vụ của tổ chức và được tổ chức trả lương”
1.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong thời đai ngày nay, con người được coi là một tài nguyên đặc biệt, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực của mỗi
Trang 11quốc gia Vì vậy Đảng và Nhà nước ta xác định: chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phát triển của mỗi quốc gia Đầu tư cho con người là yếu
tố đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững
Để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia được quyết định bởi chất lượng nguồn nhân lực của chính quốc gia ấy Phát tiển kinh tế xã hội dựa trên nhiều nguồn lực (nguồn lực con người), vật lực (nguồn lực vật chất), tài lực (nguồn lực về tài chính, tiền tệ), vv Song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người Bởi chính con người tạo ra những máy móc, thiết bị hiện đại, nếu thiếu sự điều khiển, kiểm tra của con người thì chúng cũng chỉ là những vật vô tri vô giác Chỉ có tác động của con người mới phát động chúng và đưa chúng vào họt động theo mục đích của con người
Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, các nhu cầu cơ bản của con người đã được đáp ứng, lức này con người hướng đến những nhu cầu cao hơn, trong đó có nhu cầu thỏa mãn về tinh thần như: giải trí, du lịch
Khi đó chính con người cũng phải tìm cách để đáp ứng những nhu cầu đó của mình, Vì vậy có thể nói con người nói chung có vai trò quyết định đến moi hoạt động kinh tế - xã hội, trong đó có sự hình thành và phát triển của ngành du lịch
Xuất phát từ nhu cầu được vui chơi, giả trí của con người, và những lý do khách quan mà ngành du lịch ra đời và ngày càng phát triển bởi nhu cầu của con người ngày một cao nên đòi hỏi cần có sự đáp ứng và phục hồi tốt hơn
Để đáp ứng những nhu cầu và yêu cầu đó của con người hay nói cách khác là của khách du lịch thì cần một lực lượng lao động có trình độ, chuyên môn và thái độ phục vụ tốt Đặc biệt trong quá trình hội nhập quốc tế như hiện nay, cộng với quy luật cạnh tranh gay gắt của thị trường thì nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao càng thể hiện
rõ vai trò quyết định của mình đối với sự hình thành và phát triển của ngành du lịch mỗi quốc gia
Trang 12Nếu một quốc gia có những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, những di sản thiên nhiên và văn hóa nổi tiếng, nhưng lực lượng lao động (nguồn nhân lực) của ngành du lịch lại có trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ kém hay tinh thần phục vụ không tốt thì cũng không thu hút được khách đến tham quan, tìm hiểu Hoặc sự quay trở lại lần hai của các khách du lịch là rất thấp nếu chưa nói là không có
Ngược lại một quốc gia tuy không có nhiều điều kiện thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên, các danh lam thắng cảnh Nhưng ở đó có một nền văn hóa tiên tiến, con người văn minh, mến khách, nguồn nhân lực và trình độ có chất lượng cao, luôn tận tình với công việc thì vẫn có thể thu hút khách muôn phương đến thăm quan tìm hiểu về nền văn hóa của đất nước mình Điều này mang lại những lợi ích không nhỏ về kinh tế - xã hội cho
mỗ quốc gia
Hội nghị lần thứ II (khóa VIII) của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra những định hướng chiến lược của Đảng về phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ mới, có vai trò quan trọng đối với việc hình thành quy mô chất lượng nguồn nhân lực của đất nước
Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế - xã hội Nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển hay không, phần lớn đều phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực
Mục tiêu của phát tiển nguồn nhân lực Việt Nam là đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp Đại hội lần thứ X của Đảng đã định hướng cho sự phát triển của nguồn nhân lực Việt Nam: “Người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát triển bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại”
Như vậy, nguồn lực con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển bền vững của xã hội Con người được đào tạo, bồi dưỡng trong một môi trường giáo dục
Trang 13tốt sẽ có khả năng giải quyết tốt công việc một cách sáng tạo và hiệu quả troang sự phát triển của mỗi quốc gia
1.2 Nguồn nhân lực ngành du lịch
1.2.1 Khái niệm du lịch
Thuật ngữ Du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa đi một vòng Thuật ngữ này được La tinh hóa thành tornus và sau đó thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh)
Cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về Du lịch, có những tác giả tập trung giải thích Du lịch như một hiện tượng di chuyển, lưu trú ngoài nơi cư trú thường xuyên; nhóm khác lại tập trung và bản thân du khách và khía cạnh inh tế của Du lịch
Vào đầu thế kỉ XX, Giáo sư, tiến sĩ Hunziker và Giáo sư, tiến sĩ Krapf, hai người được coi là đặt nền móng cho lý thuyết về cung du lịch đưa ra định nghĩa như sau: Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc cư trú đó không thành cư trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kiếm lời
Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), đưa ra định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của người du hành, tạm trú trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cững như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không qua một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng ngoại trừ các du hành mà có mục đích
là làm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”
Trên cơ sở phân tích bản chất và thuộc tính của hoạt động du lịch các học giả Trung Quốc đưa ra định nghĩa: Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội được nảy sinh trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định, là sự tổng hòa các mối quan hệ và hiện tượng do
Trang 14việc các lữ hành tạo nên để thỏa mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí
và văn hóa nhưng lưu động chứ không cố định mà tạm thời cư trú của mọi người dẫn tới
Hội nghị quốc tế về Du lịch và lữ hành được tổ chức ở Ottawa – Canada vào tháng 6/1991 đã thống nhất và đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch bao gồm tất cả những hoạt động của người tu hành, tạm trú với mục đích tham quan, khám phá hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích kinh doanh và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư”
Ngành Du lịch Việt Nam có lịch sử phát triển 50 năm, nhưng chỉ thực sự phát thiển nhanh vào những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ trước Nếu so sánh với các ngành kinh tế khác, Du lịch được xếp vào một trong những ngành mới Do đó hệ thống các thuật ngữ, khái niệm cơ bản của ngành du lịch chỉ mới được chuẩn hóa trong thời gian gần đây
Ở Việt Nam, quan niệm về Du lịch được cụ thể hóa trong Pháp lệnh Du lịch được
Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 08/12/1999 và trong điều 4 Luật Du lịch được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2005, khái niệm “Du lịch” cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy thuộc cách tiếp cận của mỗi tác giả
Tại khoản 1 điều 4 Chương 1 Luật Du lịch năm 2005 nước ta nêu rõ: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [2.tr1]
Đây là một định nghĩa xúc tích, mang tính khái quát, bao hàm được cả hai khía cạnh cơ bản của du lịch là chuyến đi ngoài nơi cư trú với mục đích tham quan nghỉ dưỡng
và các hoạt động liên quan đến chuyến đi đó Do vậy, đề tài chọn cách định nghĩa này của Luật Du lịch
Luật Du lịch cũng giải thích một số thuật ngữ khác liên quan khác của du lịch như sau:
Trang 15- Hoạt động du lịch: là hoạt động của khách du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch
- Tài nguyên du lịch: Là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tụ nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người với các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
- Tham quan: Là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi có tài nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài nguyên du lịch
- Sản phẩm du lịch: Là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi
- Dịch vụ du lịch: Là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giả trí, thông tin hướng dẫn và những dịch vị khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Như vậy, qua các quan niệm khác nhau về du lịch, có thể nói, về bản chất, “Du lịch” là một phạm trù kinh tế, trước tiên phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, trong đó con người thưởng ngoạn vẻ đẹp của tự nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của bản thân Song để đạt được mục đích đó, con người phải rời xa nơi cư trú thường xuyên của mình, từ đó mà làm nảy sinh mối quan hệ lợi ích giữa người sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm du lịch Trong đó người tiêu dùng tối đa hóa lợi ích
về vật chất và tinh thần, con người kinh doanh tối đa hóa lợi nhuận dưới sự điều tiết của các quy luật thị trường
Từ bản chất của hoạt động này với các nhu cầu ngày càng đa dạng của con người, nhất là trong giai đoàn phát triển cá tính trong tiêu dùng hiện nay, các nhà kinh doanh du lịch đã không ngừng đa dạng hóa các loại hình du lịch cho phù hợp với từng lứa tuổi, sở thích, thị hiếu và cá tính của du khách nhằm mục đích tối đa hóa các lợi ích có thể khai thác trong kinh doanh du lịch Có nhiều cách phân loại các loại hình du lịch, mỗi cách
Trang 16phân loại đều có ý nghĩa nhất định, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà có thể sử dụng cách phân loại này hay phân loại khác Dưới đây là một số loại hình chủ yếu:
Một là, căn cứ vào tính chất của sản phẩm du lịch hay tài nguyên du lịch thì có loại
hình du lịch sinh thái và du lịch văn hóa:
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững
Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
Hai là, căn cứ vào nhu cầu và mục đích của chuyến đi, du lịch được phân ra: Du
lịch nghỉ ngơi, du lịch văn hóa, du lịch thể thao, du lịch công vụ, du lịch chữa bệnh, du lịch thăm hỏi, du lịch tín ngưỡng
Ba là, căn cứ vào phạm vi lãnh thổ chuyến đi, du lịch được phân ra thành du lịch
quốc tế và du lịch nội địa Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của du khách ở những quốc gia khác nhau, gồm du lịch quốc tế chủ động và thụ động du lịch quốc tể chủ động là việc nhận du khách quốc tế vào nước mình Du lịch quốc tế thụ động là việc đa du khách nước mình đến các nước khác Còn du lịch nội địa thì ngược lại, khách du lịch nội địa chỉ đi và đến các điểm du lịch trong phạm vi nước mình
Bốn là, căn cứ vào thành phần xã hội của du khách có du lịch cao cấp và du lịch
bình dân Du lịch cao cấp là loại hình du lịch dành cho những người có khả năng thanh toán cao Ở thể loại này, các dịch vụ dành cho khách phải có chất lượng đặc biệt tốt và với mức giá cao Còn du lịch bình dân là loại hình du lịch dành cho những người có khả năng thanh toán hạn chế, và do đó chất lượng dịch vụ ở loại hình này bình thường với mức giá thấp
Năm là, căn cứ vào phương tiện giao thông mà du khách đang sử dụng, du lịch
được phân thành: Du lịch xe đạp, du lịch mô tô, du lịch ô tô, du lịch tàu hỏa, du lịch tàu thủy, du lịch máy bay
Trang 17Sáu là, căn cứ vào thời gian và hình thức đi của khách du lịch có du lịch ngắn hạn,
du lịch dài hạn, du lịch cuối tuần, du lịch theo đoàn, du lịch cá nhân, du lịch gia đình
Bảy là, căn cứ vào phương thức kí kết và thực hiện hợp đồng du lịch có hai loại du
+ Tại điểm đến du lịch:
a) Hoạt động của các doanh nghiệp phục vụ du lịch tuyến trước hay các doanh nghiệp có giao dịch trực tiếp với khách bao gồm: Du lịch lưu trú – khách sạn, nhà nghỉ, khu nghỉ mát; dịch vụ ăn uống – nhà hàng, quầy bar; dịch vụ vui chơi giải trí – các phương tiện thể thao, rạp hát, sòng bạc, công viên giải trí, viện bảo tàng, các sự kiện và hoạt động lễ hội; dịch vụ lễ hội, vận chuyển – các hãng lữ hành, phòng bán vé hàng không, xe tuyến, tàu hỏa, tàu thủy, taxi, xe cho thuê
b) Hoạt động của các doanh nghiệp và dịch vụ hỗ trợ du lịch tuyến sau bao gồm các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và hàng hóa cho các doanh nghiệp phục cụ du lịch tuyến trước như: công ty xây dựng, kiến trúc, công ty quảng cáo, công ty bia rượu, nước
Trang 18giải khát, công ty phát hành thẻ tín dụng, công ty vận tải, thương mại bán buôn, bán lẻ hàng hóa, vệ sinh môi trường, cung cấp điện, nước, kĩ thuật, sức khỏe, y tế
c) Hoạt động của các cơ qian quản lí nhà nước chuyên ngành có liên quan đến hoạch định chính sách, điều hành, kiểm soát, quản lí các dịch vụ phục vụ du lịch như: cơ quan cấp phép, đăng kinh doanh, cơ quan đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, cơ quan quản lý rừng quốc gia, bảo tồn thiên nhiên, cơ quan quản lý văn hóa
d) Hoạt động của cộng đồng dân cư liên quan đến phục vụ du lịch như: Các gia đình, cá nhân, các tổ chức cộng đồng của đan tộc ít người tham gia quá trình phục vụ khách du lịch một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
e) Hoạt động của các đơn vị đào tạo cung cấp nguồn nhân lực cho doanh nghiệp du lịch tuyến trước và tuyến sau
Như vậy, xét một cách tổng quát, nguồn nhân lực ngành du lịch bao gồm toàn bộ lao động trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình phục vụ khách du lịch Do đó, khi
đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực ngành Du lịch thì không chỉ đề cập đến các lao động nghiệp vụ phục vụ khách một cách trực tiếp mà còn cả các lao động ở cấp độ quản
lý, lao động làm công tác đào tạo và các lao động gián tiếp khác phục vụ khách du lịch Căn cứ vào mối liên hệ với đối tượng lao động (khách du lịch), lao động du lịch được chia thành hai nhóm: lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Lao động trực tiếp bao gồm những công việc trực tiếp phục vụ khách du lịch như trong khách sạn, nhà hành, lữ hành, các cửa hàng bán lẻ phục vụ khách du lịch, cơ quan quản lý du lịch Lao động gián tiếp bao gồm những công việc cung ứng, hỗ trợ cho các hoạt động trực tiếp phục vụ khách du lịch như: cung ứng thực phẩm cho khách sạn nhà hàng, cung ứng hàng hóa cho các cửa hàng bán lẻ phục vụ khách du lịch, xây dựng khách sạn nhà hàng, sản xuất máy bay, các trang thiết bị phục vụ khách du lịch Tất nhiên các lao động trực tiếp phục vụ khách du lịch bao giờ cũng có ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất đến chất lượng dịch vụ, từ đó đến chất lượng sản phẩm du lịch
Trang 19Từ những phân tích trên, nguồn nhân lực ngành du lịch được hiểu là lực lượng lao động tham gia vào quá trình phát triển du lịch, bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp
Như vậy nguồn nhân lực trong ngành du lịch được chia thành 3 nhóm với những vai trò và đặc điểm như sau:
- Một là: Nhóm lao động có chức năng quản lý nhà nước về du lịch Nhóm này có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và từng địa phương, tham mưu hoạch định chính sách phát triển du lịch của quốc gia và từng địa phương Họ đại diện cho nhà nước để hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả, kiểm tra giám sát các hoạt động kinh doanh
- Hai là: Nhóm lao động có chức năng sự nghiệp ngành du lịch Đây là bộ phận có trình độ học vấn cao, có kiến thức chuyên sâu về ngành du lịch, có chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học về du lịch và có vai trò to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch hiện tại và trong tương lai
- Ba là: Nhóm lao động có chức năng kinh doanh Nhóm lao động này chiếm số lượng đông đảo nhất trong hoạt động kinh doanh của ngành du lịch và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất
Nhóm lao động chức năng kinh doanh có một số đặc điểm riêng là:
+ Cơ cấu độ tuổi trẻ, tỷ lệ lao động nữ cao hơn lao động nam: Xuất phát từ tính đặc thù của ngành du lịch đòi hỏi phải có năng lực lao động có sức khỏe, trẻ trung và nhanh nhẹn, nên hình thành lực lượng lao động có cơ cấu độ tuổi trẻ Nhiều lĩnh vực phục vụ khách du lịch như lễ tân, bàn, bả, buồng đòi hỏi có sự duyên dáng, cẩn thận và khéo léo của người phụ nữ, vì vậy tỷ lệ lao động dự nữ thường cao hơn lao động nam
+ Không đồng đều về chất lượng và cơ cấu: Có sự phân bố không đồng đều theo lãnh thổ và các nghiệp vụ du lịch Xuất phát từ tính định hướng tài nguyên rõ nét nhất của ngành du lịch, các hoạt động du lịch thường diễn ra tại các khu, các điểm du lịch, những nơi có nhiều tài nguyên du lịch và được đầu tư đồng bộ về hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ
Trang 20thuật ngành, vì vậy phần lớn lao động đã qua đào tạo đều làm việc tại những khu du lịch, trung tâm du lịch lớn, ở những khu vực còn lại thường thiếu lao động
Trong ngành du lịch có nhiều công việc với yêu cầu lao động giản đơn, không đòi hỏi phải đào tạo ở trình độ cao mới thể hiện được, dẫn đến tình trạng lao động chưa tốt nghiêp trung học phổ thông khá cao Ngược lại ở những bộ phận tiếp xúc trực tiếp với khách du lịch, đội ngũ lao động thường được trang bị đầy đủ các kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ, giao tiếp và tỷ lệ thông thạo ngoại ngữ tương đối cao
+ Có sự biến đông về lao động theo thời gian trong năm: Do ảnh hưởng của tính thời vụ du lịch các hoạt động du lịch thường diễn ra sôi dộng trong một thời gian nhất định của năm (Còn gọi là mùa cao điểm) vào thời điểm cao nhất của mùa du lịch các doanh nghiệp du lịch thương tuyển thêm lao động thời vụ dể đáp ứng nhu cầu kinh doanh, phục vụ khách của mình Đến mùa thấp điểm, doanh nghiệp du lịch chấm dứt hợp đồng lao động với những lao động thời vụ Lực lượng lao động làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp du lịch lại được chia thành 4 nhóm cơ bản với vai trò và đặc trưng khác nhau trong quá trình hoạt động kinh doanh du lịch:
a) Nhóm lao động có chức năng quản lý chung: Nhóm này gồm những người đứng đầu những các đơn vị kinh tế cơ sở Lao động của người lãnh đạo trong lĩnh vực kinh doanh du lịch có những điểm riêng biệt, bởi đối tượng, công cụ và sản phẩm lao động của họ có tính đặc thù, thể hiện:
- Là loại lao động trí óc đặc biệt: Trong quá trình ra quyết định và chức thực hiện
rõ nét nhất đặc điểm lao động trí óc của người lãnh đạo trong lĩnh vực kinh doanh du lịch
- Là loại lao động tổng hợp: Với tư cách là một nhà chuyên môn, lao động của lãnh đạo là lao động của người tìm kiếm nhân tài, sử dụng người giỏi, tổ chức và điều hành công việc một cách trôi chảy cho mục đích kinh doanh có hiệu quả cao Với tư cách là nhà hoạt động xã hội, người lãnh đạo trong kinh doanh du lịch còn tham gia các hoạt
Trang 21động kinh tế - xã hội khác trong đơn vị và theo yêu cầu của địa phương, ngành và đất nước
Những đặc điểm trên đoih hỏi người lãnh đạo phải được đào tạo chu đáo, bài bản
lý đồng thời phải có khả năng biết “tổng hợp” vấn đề Bản tổng hợp vấn đề đòi hỏi phải chính xác, có giá trị thực tiễn và có thể dùng để tham mưu cho lãnh đạo Lao động quản
lý chức năng phải được đào tạo theo đúng chuyên ngành và có những kiến thức, hiểu biết
về các lĩnh vực kinh doanh du lịch
c) Nhóm lao đông chức năng đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp du lịch: Lao động thuộc nhóm này gồm nhân viên thường trực bảo vệ; nhân viên làm vệ sinh môi trường; nhân viên phụ trách sửa chữa điện nước; nhân viên cung ứng hàng hóa; nhân viên tạp vụ trong các công ty, khách sạn hoặc các doanh nghiệp kinh doanh du lịch Họ không trực tiếp cung ứng sản phẩm và dịch vụ cho khách Nhiệm vụ chính của họ là cung cấp những nhu yếu phẩm, phương tiện làm việc cho những lao động thuộc các bộ phận khác của doanh nghiệp Doanh nghiệp đòi hỏi bộ phận lao động này pahir luôn trong tình
Trang 22trạng sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ; có những quyết định kịp thời; giải quyết tốt mọi công việc hàng ngày cũng như những việc đột xuất; năng động và linh hoạt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
d) Nhóm lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách: Đây là những lao động trực tiếp tham gia vào quá trình kinh doanh du lịch, trực tiếp cung cấp dịch vụ và phục vụ cho khách Nhóm lao động này rất đông đảo, thuộc nhiều ngành nghề khác nhau và đòi hỏi phải tinh thông nghề nghiệp Trong khách sạn có lao động thuộc nghề lễ tân; nghề buồng; nghề chế biến món ăn; nghề bàn và pha chế đồ uống; trong kinh doanh lữ hành có lao động làm công tác điều hành du lịch; marketing du lịch và đặc biệt có lao động thuộc nghề hướng dẫn du lịch Trong ngành vận chuyển khách du lịch có lao động thuộc nghề điều khiển phương tiện vận chuyển du lịch Các nghề trên lại được chi tiết hóa thành từng việc cụ thể, phân công cho từng chức danh nghề nghiệp khác nhau và số lượng tùy theo quy mô cảu các doanh nghiệp mà có thể thêm bớt lao động ở các vị trí, hoặc bố trí một người kiêm nhiều việc
Kinh doanh du lịch là chủ yếu nhằm cung cấp các dịch vụ và giải quyết các mối quan hệ giữa con người với con người, nên đòi hỏi nhân viên phải có kỹ năng giao tiếp,
sự thân thiện và hình thức hấp dẫn Đặc biệt một số công việc trong ngành khách sạn và nhà hàng tương tự như các hoạt động nội trợ trong gia đình Do các đặc điểm này, lực lượng phụ nữ tham gia lao động trong ngành du lịch thường chiếm tỷ trọng cao
Ngoài ra, kinh doanh du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của du khách về nhiều loại hàng hóa, dịch vụ mang tính chất đơn lẻ hoặc tổng hợp, ở bất cứ địa điểm nào
và bất cứ thời gian nào Các đặc điểm sản phẩm và tiêu dùng du lịch này tạo ra nhiều loại công việc có thể thu hút sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của nhiều loại, nhiều bộ phận lao động trong xã hội Do đó càng làm tăng khả năng cung (về số lượng) lao động du lịch trên thị trường và sự tham gia lao động trong ngành du lịch là rất cao Vấn đề này có ý nghĩa rất lớn đối với các nước kém phát triển, vì các nước này có nguồn lao động dồi dào
và dân số trong độ tuổi lao động nhưng lại có trình độ chuyên môn thấp
Trang 23Tóm lại, con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể của lịch sử, vai trò
sáng tạo ra lịch sử có ý nghĩa vô cùng to lớn Phát huy vai trò chủ thể con người là nhằm phát huy tối đa nguồn lực con người, tạo ra động lực mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay
Ngày nay khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, cộng với quá trình hội nhập quốc tế nên đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch phải ngày càng được nâng cao để phục vụ tốt hơn nhu cầu của du khách Đồng thời chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch phải ngày càng được nâng cao để phục vụ tốt hơn nhu cầu của du khách Đồng thời chất lượng ngành du lịch được nâng cao, chất lượng phục vụ tốt sẽ thu hút được khách du lịch, thu hút được sự đầu tư của nước ngoài
Chính vì vậy mà ở Việt Nam nói chung và Quảng Ninh nói riêng phải đi vào nghiên cứu đánh giá thực trạng nguồn nhân lực ngành du lịch, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn, từ đó làm rõ sự cần thiết và cấp bách về việc nâng cao chất lương nguồn nhân lực ngành du lịch trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Trang 24Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH DU LỊCH QUẢNG NINH HIỆN NAY
2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trên bản đồ Việt Nam, dọc theo dải ven bờ, chuyển tiếp từ đất liền ra biển của bờ Tây Thái Bình Dương, trên Vịnh Bắc Bộ, nằm kề phía Nam Trung Quốc, nổi bật trên một không gian biển bạc là một hệ thống chi chít những đảo xanh – gần 2000 hòn đảo cả có tên và chưa có tên – với mật độ lớn ít gặp ở miền biển Việt Nam đó chính là vùng biển nối liền với phần đất liền thuộc địa giới hành chính của tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh là một tỉnh duyên hải ở đầu phía Đông Bắc Việt Nam, diện tích 6110 đất liền, 619,9 diện tích đảo, 6000 mặt nước biển
Với vị trí từ sang kinh Đông và từ lên vĩ Bắc với chiều ngang
từ Đông sang Tây 195 km và chiều dọc từ Bắc xuống Nam 102 km, có 250 km đường bờ biển Đặc biệt phía bắc tỉnh Quảng Ninh có 132 km đường biên giới Việt – Trung với 3 cửa khẩu quốc tế, tiếp giáp với vùng duyên hải rộng lớn của miền nam Trung Hoa Tỉnh Quảng Ninh trở thành đơn vị hành chính – kinh tế trọng điểm của phía bắc nước ta nằm trên đường giao lưu đường biển – trục hành chính từ Trung Quốc đến vịnh Bắc Bộ, vào các cảng lớn phía bắc của Việt Nam và vào phần phía nam biển Đông đến các quốc gia lân cận vùng Đông Nam Á
Sự hội tụ giữa vị trí địa lý và cấu trúc cảnh quan cả trên đất liền và trên biển tạo cho Quảng Ninh sức thu hút du khách thập phương về đây thưởng ngoạn, tham thú những nét hấp dẫn của thắng cảnh trên một vùng thiên nhiên độc đáo, đưa Quảng Ninh vào vị thế phát triển kinh tế du lịch vào bậc nhất quốc gia cũng như trong khu vực
Khí hậu Quảng Ninh là nhiệt đới gió mùa có hai mùa rõ rệt Mùa khô được được phân định từ tháng 10 đến tháng 4 với nhiệt độ trung bình từ C đến C Vùng núi
Trang 25có xuất hiện sương giá, hướng gió chủ yếu là Bắc và Đông Bắc Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 chiếm tới 80% lượng mưa cả năm, nhiệt độ trung bình từ C đến C (cao nhất C) hướng gió chủ yếu là Tây – Nam Khí hậu Quảng Ninh tương đối thích hợp với khách du lịch biển và các hoạt động phục vụ khách du lịch
Quảng Ninh có nguồn nước ngọt phong phú, trử lượng tĩnh nguồn mặt nước Quảng Ninh (lượng nước trữ trong các sông hồ ứng với mực nước thống nhất) được tính khoảng
350 triệu và tổng trữ lượng tĩnh các sông là 175 Ngoài nguồn nước mặt, Quảng Ninh còn có nguồn nước ngầm với trũ lượng tĩnh khoảng 21.100 /ngày trong toàn tỉnh Đặc biệt Quảng Ninh có nguồn nước khoáng phong phú: Mỏ nước khoáng nóng Tam Hợp (độ sâu 35 – 37 m) và mỏ nước khoáng Quang Hanh (độ sâu 150 – 200m) có nhiệt
độ trung bình từ C đến C, lưu lượng dưới 1000 /ngày là những mỏ nước khoáng
có giá trị hoàn toàn có thể trở thành những trung tâm chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe và phục
- Các di tích kiến trúc nghệ thuật: Chùa Quỳnh Lâm được triều nhà Lý xây dựng vào năm Long Thụy Thái Bình thứ tư (1057), đình Phong Cốc được xây dựng vào cuối thế kỉ XVII xếp hạng di tích quốc gia (1988), chùa Nam Thọ (Trà Cổ - Móng Cái), chùa
Trang 26Xuân Lan, chùa Lưu Khê, chùa Yên Đông, cụm di tích danh thắng chùa Lôi Âm – Hồ Yên Lập, cụm di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Quan Lạn
- Vịnh Hạ Long là vùng biển – đảo được giới hạn trong tọa độ từ đến
22 kinh độ Đông và từ đến độ vĩ Bắc với diện tích 1.553 , gồm 1969 đảo Đó là khu di tích được nhà nước xếp hạng bảo vệ theo quyết định số: 313 – VH/QĐ, ngày 28/04/1962 của bộ Văn hóa với tiêu chuẩn là một danh lam thắng cảnh Ngày 17/12/1994, vịnh Hạ Long được UNESCO (Tổ chức giáo dục, khoa học, văn hóa Liên hợp quốc) cấp bằng di sản thế giới khẳng định giá trị ngoại hạng và giá trị toàn cầu của một di sản thiên nhiên cần thiết phải được bảo vệ Ngày 29/11/2000, Hội đồng di sản thế giới thông qua quyết định công nhận Vịnh Hạ Long là di sản thế giới về địa tầng – địa mạo Hiện nay những giá trị tiềm tàng về sinh thái, về khảo cổ và lịch sử, về văn hóa vật thể và phi vật thể vẫn đang được nghiên cứu, khám phá Bước đầu cho thấy những giá trị nổi bật như: giá trị địa chất học, sinh học, lịch sử, văn hóa
Hạ Long là địa danh hội tụ nhiều tài nguyên nổi trội, đọc đáo của du lịch Việt Nam Ngoài thế mạnh độc tôn của di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long với các giá trị mang tính toàn cầu, Hạ Lonh cũng là nơi tập trung nhiều hệ sinh thái biển nhiệt đới điển hình với tính đa dạng sinh học cao, vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời với dấu ấn
rõ nét của nền văn hóa Hạ Long
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Quảng Ninh là tỉnh công nghiệp, khách du lich đến Quảng Ninh rất muốn đến thăm quan các khu công nghiệp, các nhà máy đóng tàu, đặc biệt là muốn tham quam các mỏ than và Vịnh Hạ Long Trong thực tế, một số công ty du lịch đã mở tour đến mỏ than Hà
Tu, mỏ Đèo Nai, mỏ Cọc sáu
Một đặc điểm rất quan trọng có liên quan mật thiết tới kinh tế du lịch, Quảng Ninh
là tỉnh tiếp giáp với Trung Quốc có môi trường thương mại giao lưu giữa hai nước qua lại nhộ nhịp làm ăn, buôn bán, mua sắm kết hợp với tham quan du lịch qua các cửa khẩu:
Trang 27Móng Cái, Bắc Phong Sinh, Vạn Gia, Hoành Mô, trong đó Móng Cái là của khẩu quan trọng của Việt Nam đón khách du lịch Trung Quốc với lưu lượng lớn Ngoài ra hệ thống cảng biển Quảng Ninh có thể đón tàu du lịch tải trong 3000 khách, như hiện nay, vào thứ
2, 4, 6 hàng tuần, tàu Minh Fai Thượng Hải cập cảng, vào thứ 3 hàng tuần tàu star Leo cập cảng Khách du lịch quốc tế đến Hạ Long có những ngày lên tới 4000 người
Dân số Quảng Ninh tính đến 31/12/2010 có 1.181.365 người; mật độ dân số trung bình 183 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số trung bình 5 năm (2005 – 2010) là 1,12%/năm Quảng Ninh có 6 dân tộc: Kinh chiếm 89,23%; Dao chiếm 4,45%; Tầy chiếm 2,84%; Sán Dìu chiếm 1,8%; Sán Chay chiếm 1,11%; Dao chiếm 0,43% Hiện nay Quảng Ninh có 14 đơn vị hành chính cấp huyện: Trong đó bao gồm 3 thành phố (một thành phố biên giới Việt – Trung), 1 thị xã, 10 huyện (trong đó có 2 huyện đảo, 3 huyện biên giới), toàn tỉnh
có 186 xã, phường, thị trấn (Nguồn: Cục thống kê Quảng Ninh)
Ngoài những tài nguyên thiên nhiên, những lợi thế vượt trội về kinh tế, Quảng Ninh còn có đời sống tinh thần phong phú mang đậm bản sắc văn hóa của các dân tộc vùng Đông Bắc của tổ quốc Nhiều lễ hội nổi tiếng có sức thu hút khách thập phương, có những lễ hội với quy mô lớn đông tới hàng vạn người kéo dài 2 – 3 tháng như lễ hội Yên
Tử diễn ra từ ngày 10 tháng Giêng âm lịch, kéo dài trong cả mùa xuân; lễ hội đền Cửa Ông diễn ra từ ngày 3/2 âm lịch kéo dài đến 3 tháng; lễ hội Quỳnh Lâm diễn ra từ ngày 1 đến ngày 4 tháng Hai âm lịch nhưng không khí lễ hội bao trùm hết cả mùa xuân Lễ hội Thập Cửu Tiên Công tổ chức và hai ngày 6 và 7 tháng Giêng sau tết nguyên đán ở miếu Tiên Công xã Cẩm La – Huyện Yên Hưng, để tỏ lòng nhớ ơn tổ tiên, tôn vinh những người có công trạng với làng nước Lễ hội Trà Cổ diễn ra từ ngày 30/05 đến giữa tháng 6
âm lịch, là sinh hoạt văn hoa dân gian hướng về cội nguồn, tôn thờ những người có công khai thiên lập địa Lễ hội Quan Lạn diễn ra vào ngày 18/06 âm lịch và không khí lễ hội kéo dài suốt tháng, tưởng niệm các vị Tiên Công có công khai phá đảo Quan Lạn và các anh hùng lớn có công chống giặc Nguyên Lễ hội đình Trung Bản diễn ra vào ngày 08/03
âm lịch cũng đông thời là lễ hội yên Giang, đề Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà, đền Trung
Trang 28Cốc và bãi cọc Bạch Đằng kỉ niệm ngày chiến thắng lịch sử vang dội trên sông Bạch Đằng năm 1288 Lễ hội Soóng Cọ của dân tộc Sán Chỉ ở huyện Bình Liêu diễn ra vào dịp tháng 3 âm lịch với các cuộc hát giao duyên của các nam nữ thanh niên dân tộc miền núi rất đặc sắc
Năm 2010 tỉnh Quảng Ninh đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược quy hoạch tổng thể phát triển du lich Việt Nam đến năm 2020 Hiện tại những quy hoạch,
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phát triển du lịch có liên quan đã được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện: Khu vực vịnh Hạ Long – Bái Tử Long – Cát Bà là trọng điểm du lịch quốc gia, là đầu tầu phát triển kinh tế du lịch của địa bàn trọng điểm kinh tế Bắc Bộ với định hướng phát triển thành khu du lịch tổng hợp biển, đảo quốc gia Dự kiến đón 25% tổng số khách du lịch quốc tế và 8% số khách du lịch nội địa; 6,7% tổng số phòng khách sạn, 5,5% tổng thu nhập từ du lịch cả nước
Với những đặc điểm, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội thuận lợi sẽ giúp cho Quảng Ninh đủ điều kiện phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện hiện nay
2.2 Thực trạng nguồn nhân lực ngành du lịch Quảng Ninh
Trang 29vẫn còn một bộ phận làm lao động trực tiếp nghiệp vụ chưa qua đào tạo, số lao động được đào tạo chủ yếu là bồi dưỡng nghiệp vụ tại chỗ, ngắn ngày
Lực lượng lao động gián tiếp trong ngành du lịch: Năm 2004 có 8.310 người, năm
2010 là 1.150 người, chiếm 86,5% tổng số lao động toàn ngành, tốc độ tăng trưởng hàng năm bình quân 1,6%/năm Trên thực tế, trình độ nhận thức về du lịch của lực lượng lao động gián tiếp còn thấp, chưa đồng đều, việc thực hiện nội quy, quy chế khu du lịch, điểm du lịch chưa tốt
2.2.2 Chất lượng và cơ cấu ngành du lịch
a) Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt như thực trạng sức khỏe, trình
độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, năng lực thực hiện nhiệm vụ Hiện tại, do chưa có thống kê, phân tích toàn diện về nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh, đặc biệt là điều tra
về chất lượng chỉ tiêu sức khỏe nên không có cơ sở đánh giá chi tiết Vì vậy, phần này chỉ
đi sau phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực du lịch theo các tiêu chí về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, độ tuổi, giới tính
Công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch đã được quan tâm và đẩy mạnh trên phạm vi cả nước, điển hình đó là việc tiếp nhận và triển khai các dự án VIE/002 “Phát triển du lịch và khách sạn ở Việt Nam” do cộng đồng Châu Âu (EU) do Luxembourg tài
Trang 30trờ và dự án “Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam” do cộng đồng Châu Âu (EU) viện trợ không hoàn lại
Ở Quảng Ninh hiện nay, tổng số lao động trong ngành du lịch khoảng 2.105 người nhưng số lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn về du lịch còn rất ít, chỉ chiếm 11,6% trong tổng số, số còn lại do chuyển từ các ngành khác sang chiếm 9,6% và 78,8% không qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch (do số lao động này chủ yếu là bán chuyên nghiệp, tham gia hoạt động du lịch mang tính mùa vụ nên thường không qua đào tạo mà chỉ sử dụng nghề có liên quan tới sản phẩm từ dịch vụ du lịch
Trong tổng số lao động đã được đào tạo chuyên môn về du lịch, số lao động có trình độ trên đại học chiếm 0,24%, số lao động có trình độ đại học, cao đẳng chiếm 23, 75%, trình độ trung cấp chiếm 30,69%, trình độ sơ cấp chiếm 19%, còn lại qua các lớp đào tạo tại chỗ hoặc nghiệp vụ ngắn hạn là 26,32%
Từ con số trên có thể thấy số lao động đã được đào tạo là rất ít và số lao độn có trình dộ cao lại càng ít so với nhu cầu của toàn ngành Nói cách khác, trình độ đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng lao động trong ngành du lịch chưa phù hợp với những yêu cầu của tình hình mới, cho thấy cần có chiến lược và kế hoạch khẩn trương, kịp thời, thiết thực, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu đặt ra cho 10 – 20 năm tới
Số lao động bán chuyên nghiệp hiện nay chiếm số lượng rất lớn nhưng hầu như chưa qua lớp đào tạo nào nên mức độ đáp ứng nhu cầu công việc có hạn, không đuổi kịp tốc độ phát triển của ngành, làm ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ du lịch
Vì vậy, từ năm 2004, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã kết hợp với chính quyền địa phương nơi có khu du lịch mở những lớp giáo dục cộng đồng nhằm mang lại nhận thức đúng đắn cho bộ phận cư dân về du lịch và làm đúng định hướng của tỉnh
Từ thực trạng trên chúng ta thấy chất lượng lao động tham gia làm du lịch còn rất yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu phục vụ của đông đảo khách đến Quảng Ninh
Trang 31Biểu đồ 1 Cơ cấu trình độ lao động có chuyên môn du lịch của ngành du lịch
Xét về tổng quát, ngành du lịch Quảng Ninh có lực lượng lao động sử dụng được ít nhất một ngoại ngữ chiếm tỷ lệ không cao: 16,83%, trong đó chủ yếu là tiếng Anh, tiếng Trung với tỷ lệ: Trình độ Đại học, Cao đẳng là 4,33%, trình độ phổ thông là 10% Bên cạnh đó, số lượng những người biết các ngoại ngữ khác cũng hạn chế như: Đại học, Cao đẳng chiếm 0,8%, trình độ phổ thông là 1,7% Số lượng người biết hai ngoại ngữ trong ngành du lịch đã tăng đáng kể qua các năm, nhưng so với số lượng lao động trong ngành thì con số này còn rất thấp Vì vậy, tỷ lệ này cần được tiếp tục mở rộng và nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của thực tế
Trên đại học Đại học,Cao đẳng Trung cấp
Sơ cấp Đào tạo ngắn hạn
Trang 32Phân tích trong từng lĩnh vực cho thấy lao đông thực hiện các công việc như hướng dẫn viên du lịch, lễ tân khách sạn, nhân viên lữ hành có tỷ lệ sử dụng ngoại ngữ tương đối cao, đạt khoảng 57,9% Còn lại các nhân viên ngành nghề khác như phục vụ buồng, bàn, chế biến món ăn thì rất thấp, gần như bằng không
Với sự đòi hỏi của môi trường hội nhập quốc tế và khu vực, đòi hỏi nhân viên các ngành nghề du lịch nói chung đều phải tích cực nâng cao trình độ ngoại ngữ để đáp ứng nhu cầu công việc
Biểu đồ 2: Cơ cấu lao động theo trình độ ngoại ngữ trong ngành du lịch
- Lao động khối quản lý hành chính nhà nước về du lịch hiện nay bao gồm:
+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có 3 bộ phận gồm: Bộ phận quản lý về du lịch, biên chế có 15cán bộ (trong đó có 7 thuộc chuyên ngành du lịch, còn lại là các chuyên nghành khác chuyển sang) Bộ phận trung tâm xúc tiến đầu tư phát triển du lịch có 9 cán
Trang 33bộ (trong đó có 1 cán bộ học chuyên ngành du lịch trường Đại học Mở, 2 Đại học Ngoại Ngữ, còn lại học chuyên ngành kinh tế) Bộ phận Ban quản lý phát triển hạ tầng cơ sở du lịch có 6 cán bộ (đều là kỹ sư xây dựng)
+ Ban quản lý Vịnh Hạ Long có 39 cán bộ (trong đó có 14 cán bộ học chuyên ngành về du lịch còn lại học chuyên ngành kinh tế, xã hội)
+ Cấp huyện, thị xã tỉnh Quảng Ninh có 14 huyện, thị, mỗi huyện thị đều thành lập phòng kinh tế, trong đó có 1 cán bộ quản lý theo dõi về du lịch, đã học Khoa Du lịch của các trường Đại học hoặc Cao đẳng
Như vậy, ở Quảng Ninh tính từ năm 2004 đến năm 2010 lực lượng lao động trong
cơ quan QLNN về du lịch chỉ có 63 người, chiếm 0,55% tổng số lao động toàn ngành và 4,06% tổng số lao động trực tiếp trong ngành du lịch (xem bảng 2) Con số này cho thấy,
tỉ lệ lực lượng lao động trong cơ quan QLNN về du lịch so với lao động toàn ngành còn quá ít so với sự phát triển của ngành du lịch Quảng Ninh Mặt khác, cán bộ QLNN về du lịch ở sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch do đại đa số không qua đào tạo về chuyên ngành
du lịch nên năng lực quản lý du lịch phần nào còn hạn chế
Với đội ngũ cán bộ du lich cấp huyện, thị xã, do mới hình thành mô hình quản lý
du lịch ở cấp huyện, thị mà đội ngũ cán bộ phần lớn đều mới ra trường, tuy được đào tạo
về cơ bản nhưng còn ít kinh nghiệm, việc vạn dụng kiến thức nhà trường vào thực tế còn hạn chế, chưa phát huy tốt vai trò QLNN đối với các điểm du lịch, mức độ tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương về du lịch còn yếu, làm cho tốc độ phát triển du lịch trên địa bàn còn hạn chế
Trang 34Bảng 2 Đội ngũ lao động quản lý trong ngành du lịch từ 2004 đến 2010
Nguồn: Sở VH,TT&DL Quảng Ninh
- Lao động trong khối doanh nghiệp du lịch gồm:
+ Lao động quản lý doanh nghiệp (cấp trưởng, phó phòng, bộ phận trở lên) Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 95 cơ sở kinh doanh lưu trú, trong đó, doanh nghiệp nhà nước 7, doanh nghiệp cổ phần 6, công ty TNHH 7, còn lại là doanh nghiệp cá thể và doanh nghiệp tư nhân Các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú đều có giám đốc diều hành doanh nghiệp, tổng số quản lý doanh nghiệp từ cấp trưởng, phó phòng, ban trở lên là 186 người (xem bảng 3), chiếm 2,66% tổng số lao động toàn ngành và 19,7% tổng số lao động trực tiếp trong ngành du lich, trong đó: Doanh nghiệp nhà nước 63 người, doanh nghiệp cổ phần 27 người, doanh nghiệp cá thể 66 người, công ty TNHH 9 người, doanh nghiệp tư nhân 24 người Tại một số doanh nghiệp nhà nước, lực lượng lao động quản lý đã qua các trường đào tạo quản lý kinh tế, nhưng chưa qua các lớp đào tạo du lịch, số lượng này chiếm tỷ lệ 80% Đối với doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH, số không qua các trường lớp chiếm 90%, đại đa số không có nghiệp vụ du lịch, đây là trở ngại lớn trong hoạt động và quản lý du lịch trên địa bàn tỉnh để phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn
Riêng tại các đơn vị quản lý danh lam thắng cảnh tại Quảng Ninh có 2 doanh nghiệp quản lý, khai thác danh lam, thắng cảnh: Công ty cổ phần du lịch Quảng Ninh, Công ty TNHH Tùng Lâm; 02 ban quản lý Vịnh Hạ Long, Ban quản lý các di tích trọng
Trang 35điểm của tỉnh, lựu lượng lao động quản lý tại các đơn vị này đã được chú trọng chiếm tỉ
lệ 90% từ trưởng, phó phòng, ban trở lên đã qua đại học và bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch
Bảng 3 Đội ngũ lao động quản lý doanh nghiệp từ 2004 đến 2010
Lao động quản lý tại các
doanh nghiệp (Cấp trưởng
phòng, phó phòng trở lên)
Nguồn: Sở VH,TT&DL Quảng Ninh
+ Lao động nghiệp vụ: Theo kết quả điều tra, lao động phauc vụ trực tiếp theo chuyên môn trong ngành du lịch Quảng Ninh có cơ cấu như sau: Lễ tân chiếm 8,33%; phục vụ buồng 21,46%; phục vụ bàn, bar 30,42%; nhân viên nấu ăn 12,81%; hướng dẫn viên 23,12% (trong đó tỷ lệ được cấp thẻ là 14,41%, còn lại chưa được cấp thẻ); nhân viên lữ hành 2,8%; nhân viên khác 1,06%
Như vậy, theo số liệu trên có thể thấy nhân viên phục vụ bàn, bar chiếm tỉ lệ cao nhất, tiếp đến là hướng dẫn viên du lịch và nhân viên phục vụ buồng Điều này thể hiện tính đặc thù cần nhiều lao động của hoạt động kinh doanh khách sạn Tuy nhiên tỉ lệ hướng dẫn viên được cấp thẻ còn quá ít Co số này chứng tỏ lực lượng hướng dẫn viên làm tại du lịch Quảng Ninh chưa được đào tạo cơ bản, chất lượng chưa cao Tỉ lệ nhân viên lữ hành cón quá thấp so với tổng số lao động làm du lịch, nhất là nếu xét theo các tiêu chí khác về trình độ đào tạo, khả năng sử dụng ngoại ngữ Đây là vấn đề cần được tập trung giải quyết trước mắt và lâu dài, đáp ứng nhu cầu về tăng trưởng số lượng và tính đa dạng của khách
Trang 36Biểu đồ 3: Cơ cấu lao động phục vụ trực tiếp theo chuyên môn trong ngành du lịch
Quảng Ninh (2010)
d) Theo giới tính và độ tuổi
- Về cơ cấu giới: Là một ngành đặc thù, sản phẩm chủ yếu là dịch vụ, trong đó có nhiều lĩnh vực đòi hỏi có sự khéo léo và vẻ đẹp của con người, đặc biệt là sự khéo léo và
vẻ đẹp của người phụ nữ Theo số liệu điều tra về lao động của ngành du lịch Quảng Ninh cho thấy, tỉ trọng lao động nữ cao hơn so với lao động nam Cụ thể, lao động nữ chiếm tới 55%, trong khi đó lao động nam chỉ là 45% Xu hướng tới đây là lao động nữ tiếp tục tăng lên trong khi lao động nam có xu hướng giảm
Đi sâu vào xem xét cơ cấu giới đối với các nghề đặc thù của du lịch thì thấy rõ vai trò của mỗi giới khác nhau trong mỗi nghề khác nhau Hiện nay, trong các lĩnh vực như hướng dẫn du lịch, lái xe, bảo vệ, nhân viên bếp, sửa chữa kĩ thuật thì tỉ lệ nam chiếm đa
số, do tính chất những công việc này nặng nhọc, đòi hỏi người thực hiện phải có sức khỏe tốt Lái xe hầu như 100% lao động là nam giới, trong khi đó ở lĩnh vực hướng dẫn viên
du lịch và nấu ăn thì tỉ lệ lao động nam giới tương ứng là 60% và 54,6% Đối với công việc như lễ tân, phục vụ buồng, bàn thì lao động nữ chiếm tỉ lệ lớn tương ứng lên tới 61%; 66,6% và 63%, bởi đây là những công việc đòi hỏi sự duyên dáng, cẩn thận và khéo léo của người phụ nữ
Lễ tân Phục vụ buồng Phục vụ bàn, bar Nhân viên nấu ăn Hướng dẫn viên Nhân viên lữ hành Nhân viên khác
Trang 37Biểu đồ 4 Cơ cấu về giới trong ngành du lịch Quảng Ninh (2010)
Nguồn: Sở VH,TT&DL Quảng Ninh Biểu đồ 5 Cơ cấu về giới của một số nghề trong ngành du lịch Quảng Ninh (2010)
Nguồn: Sở VH,TT&DL Quảng Ninh
- Về cơ cấu tuổi: Lực lượng lao động trong độ tuổi dưới 25 chiếm 17%; từ 25 đến
40 chiếm đa phần: 62%; từ 41 – 55 chiếm 20%; trên 55 thuổi chiếm 0,4% Như vậy, xét
về cơ cấu giữa các nhóm tuổi dễ dàng nhận thấy, du lịch Quảng Ninh có một lực lượng lao động trẻ Rõ ràng, ngành du lịch quảng Ninh đang sở hữu một lực lượnlao động đang
ở độ chín để đảm bảo gánh vác nhiệm vụ phát triển ngành
Nữ Nam
Trang 38Xét về từng lĩnh vực hoạt động thì cơ cấu tuổi của lao động trong ngành du lịch có
sự khác biệt như: Ở lĩnh vực QLNN thì độ tuổi trung bình của người lao động cao hơn độ tuổi trung bình của người lao động ở các đơn vị sản xuất kinh doanh Có hiện tượng này
là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng một nguyên nhân quan trọng là
do thời gian làm việc trung bình của người lao động ở cơ quan quản lý cao hơn các lĩnh vực khác, người lao động trong cơ quan quản lý có thể đi làm từ lúc ra trường cho đến lúc nghỉ hưu Nhưng đối với các lĩnh vực khác như hướng dẫn viên du lịch, nhân viên lễ tân khách sạn, nhân viên bar chỉ khoảng 5 – 10 năm
Biểu đồ 6: Cơ cấu về tuổi của một số nghề trong ngành du lịch Quảng Ninh (2010)
Nguồn: Sở VH,TT&DL Quảng Ninh
Qua phân tích trên đã phác họa bức tranh toàn cảnhvề thực trạng đội ngũ lao động trong ngành du lịch Quảng Ninh hiện nay Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực du lịch còn hạn chế về nhiều mặt, cả về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như ngoại ngữ Đặc biệt, lực lượng lao động gián tiếp trong ngành rất động nhưng hầu như không được đào tạo nên không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
Bên cạnh đó, hiện nay, tại nhiều lĩnh vực chuyên môn còn thiếu nhiều lao động nghiệp vụ, thiếu cán bộ và chuyên gia giỏi như cán bộ QLNN, quản lý doanh nghiệp,
Trang 39quản trị kinh doanh Thực tế đó đang đặt ra những yêu cầu đòi hỏi cao và cấp bách đối với công tác đào tạo phát triên nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh
Kinh tế du lịch hay quản trị kinh doanh du lịch Do đó dẫn đến việc xây dựng chương trình và biên soạn giáo trình giảng dạy không đồng nhất, chưa cập nhật kiến thức hiện đại trên cơ sở thực tế yêu cầu mà đôi khi mang tính thử nghiệm hoặc vân dụng khá máy móc các chương trình đào tạo của nước ngoài Cơ cấu đào tạo hiện nay giữa các ngành nghề, loại hình đào tạo còn bất hợp lý, chỉ nghiêng về đào tạo lao động ở dạng rộng mà chưa tập trung đào tạo lao động nghiệp vụ theo nghề chuyên sâu Lao động được đào tạo còn yếu về kỹ năng thực hành và ngoại ngữ, đây là điểm yếu chung ở tất cả các trình độ đào tạo từ sơ cấp đến đại học về du lịch Về phương pháp đào tạo cũng còn nhiều bất cập, mặc dù đã có sự vận động hướng tới áp dụng những phương pháp đào tạo, bồi dưỡng tích cực như phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và tư duy sáng tạo của người học; tăng cường hoạt động đối thoại trao đổi thông tin, kiến thức và kinh nghiệm giữa giảng viên với học viên và giữa học viên với nhau
Mặt khác, chưa tận dụng tốt công nghệ thông tin và công nghệ mới về giáo dục và đào tạo, thể hiện trong phương pháp, phương tiện dạy học Chưa tìm tài trợ quốc tế để củng cố, nâng cấp, phát triển cơ sở vật chất, phương tiện dạy và học hiện đại Vì vậy, sau khi ra trường về làm việc tại các cơ sở kinh doanh du lịch, lực lượng lao động du lịch hầu như còn bỡ ngỡ khi khai thác và sử dụng công nghệ thông tin được áp dụng vào các nghiệp vụ du lịch như: Lập chương trình du lịch, tính giá, điều hành, lập hóa đơn trong doanh nghiệp lữ hành và ứng dụng trong bộ phận lễ tân, đặt phòng, thanh toán trong khách sạn
Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên ở các trường còn thiếu và yếu về năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học, chưa có chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng giáo viên với quy mô, tiêu chuẩn thống nhất đối với đội ngũ giáo viên dạy nghề du lịch và khách sạn ( ngoại trừ sự giúp đỡ của Dự án VIE/002 cho một số trường)
Trang 40Về phía các doanh nghiệp du lịch, hiện nay họ hầu như đứng ngoài lĩnh vực đào tạo Nhiều doanh nghiệp ngại, thậm chí từ chối việc tiếp nhận sinh viên đến thực tập tại
cơ sở mình, không muốn để sinh viên tiếp xúc với thực tế, các doang nghiệp vì sợ bị lộ các bí mật trong kinh doanh; mặt khác, do sinh viên chưa có kinh nghiệm nên họ sợ ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ của doanh nghiệp Vì vậy, việc tổ chức cho học sinh, sinh viên đi thực tập ở các cơ sở kinh doanh du lịch chưa đạt chất lượng yêu cầu Trong khi
đó, đầu ra của đào tạo (sinh viên ra trường) chính là đầu vào của doanh nghiệp Việc sử dụng nguồn nhân lực như thế sẽ tạo cho doanh nghiệp có hiệu quả sử dụng lao động thấp
Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch thời gian qua chưa được chú trọng, chưa có quy hoạch, định hướng đào tạo một cách rõ ràng, các doanh nghiệp hoạt động du lịch mang tính tự phát nhiều hơn so với xây dựng kế hoạch Một số doanh nghiệp, công ty do hạn chế về kinh phí đào tạo và khó bố trí sắp xếp để lao động có điều kiện đi học theo hình thức tập trung nên không cử người tách hẳn khỏi công việc để đi học Có doanh nghiệp thì có nguồn kinh phí nhưng không dám chi cho lao động đi đào tạo mà có tư tưởng trông chờ ỷ lại vào xã hội, dùng những biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, tăng giá tiền cong lao động để có thờ giỏi, cán bộ giỏi Về phía người lao động, một bộ phận còn chưa nhận thức đầy đủ về sự cần thiết phải nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề nên còn thờ ơ, chưa thật sự cố gắng hoặc tận dụng những diều kiện
đã có để học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ của bản thân Một số người có đủ điều kiện
đi học bồi dưỡng nâng cao tay nghề thì đăng kí theo học, nhưng vì kiến thức không thật sát với công việc của họ nên chỉ đăng kí ghi tên, còn kiến thức, nghiệp vụ thu nhận được không nhiều
e) Đào tạo lại và bồi dưỡng
Nguồn nhân lực là một trong ba nhân tố quan trọng nhất của “đầu vào” sản xuất, là chủ thể tác đông vào khách thể làm cho nền kinh tế thay đổi Vì thế, việc quan trọng, cần thiết là nâng cao trình độ và phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực Để làm được điều này, phải xây dựng được tiêu chuẩn con người cho từng công việc Cán bộ quản lý điều