Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá phản ánh lượng hao phí lao động sống và lao động vật hóa đã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu thụ cần phải được bồi hoàn để tái
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Phần 1:Tổng quan về giá thành sản phẩm và các yếu tố ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm ở công ty .2
1 Khái niệm giá thành và phân loại giá thành sản phẩm 2
2 Hạ giá thành và những nhân tố ảnh hưởng đến giá thành 5
3 Chiến lược cạnh tranh về giá của sản phẩm 11
Phần 2: Giá thành sản phẩm máy công cụ ở công ty Cơ khí Hà Nội và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh 12
1.Quá trình hình thành và phát triển của công ty 12
2 Đặc điểm tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất của công ty 13
3 Tình hình giá thành và hạ giá thành sản phẩm máy công cụ ở công ty 16
Phần 3: một số biện pháp nhằm hạ giá thành sản phẩm máy công cụ ở công ty 24
1 Phương hướng phát triển của công ty trong thời gian tới 24
2 Một số biện pháp nhằm hạ giá thành sản phẩm 24
3.Tổng hợp kết quả thực hiện các biện pháp hạ giá thành sản phẩm .33
Kết luận 35
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU Việc chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường là xu hướng tất yếu khách quan bao gồm mở rộng quan hệ hàng hoá, tiền tệ, quan hệ thị trường với các quy luật khắt khe của nó ngày càng chi phối mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội, đến hoạt động mọi mặt của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất nói riêng Thị trường mở rộng cả trong và ngoài nước, các doanh nghiệp phải tự khẳng định mình trong cuộc đấu tranh sinh tồn này bằng lợi thế cạnh tranh về chất lượng, giá cả và hiệu quả.
Việc tối thiểu hoá chi phí sản xuất kinh doanh nhằm hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp Mức hạ giá thành và tỷ lệ hạ giá thành phản ánh trình độ sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, kỹ thuật tiên tiến của mỗi doanh nghiệp Tuỳ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà có những biện pháp hữu hiệu hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh
Công ty Cơ khí Hà Nội là một công ty sản xuất công nghiệp có quy
mô lớn bao gồm nhiều phân xưởng mà quy trình sản xuất vừa mang tính riêng biệt vừa mang tính liên tục Sản phẩm sản xuất ra với chu
kỳ dài, khối lượng lớn đa dạng về chủng loại, mẫu mã, Do đặc điểm công nghệ sản xuất như vậy nên nhiệm vụ hạ giá thành sản phẩm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh là nhiệm vụ cấp bách của công ty Đây là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển
Xuất phát từ vai trò quan trọng của việc hạ giá thành sản phẩm, trong thời gian thực tập tại công ty được sự giúp đỡ nhiệt tình của cô
Trang 4giáo TS Ngô Thị Hoài Lam cùng với các cô chú, anh chị trong công
ty, em mạnh dạn chọn đề tài: “ Biện pháp hạ giá thành sản phẩm
Trang 5Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản
hao phí về lao động sống(V) và lao động vật hoá(C) có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành
Quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất cũng đồng thời là quá trình doanh nghiệp phải chi ra những chi phí sản xuất tương ứng Tương ứng với việc sử dụng tài sản cố định là chi phí về khấu hao tài sản cố định, với việc sử dụng nguyên vật liệu là những chi phí về nguyên nhiên vật liệu, với việc sử dụng lao động là chi phí tiền công, tiền trích BHXH,BHYT, Trong điều kiện kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường mọi chi phí đều được biểu hiện bằng tiền Trong đó, tiền công là biểu hiện bằng tiền của chi phí lao động sống(V), còn chi phí về khấu hao tài sản cố định, nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu là biểu hiện bằng tiền của chi phí lao động vật hoá(C)
Quá trình sản xuất là quá trình thống nhất bao gồm hai mặt: mặt hao phí sản xuất và mặt kết quả sản xuất Tất cả những khoản chi phí phát
Trang 6sinh (phát sinh trong kỳ, kỳ trước chuyển sang) và các chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí
mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành trong kỳ Giá thành được xác định cho từng loại sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể và chỉ tính toán đối với sản phẩm hoặc dịch vụ đã hoàn thành (thành phẩm) hoặc chỉ mới kết thúc một số giai đoạn công nghệ nhất định (nửa thành phẩm)
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá phản ánh lượng hao phí lao động sống và lao động vật hóa đã thực sự chi ra cho sản xuất và tiêu thụ cần phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi phí khác có liên quan đến việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống Mọi cách tính toán chủ quan không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá-tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
b Phân loại giá thành sản phẩm
Giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ, phạm vi tính toán khác nhau
Trang 7 Căn cứ vào số liệu để tính giá thành thì giá thành sản phẩm chia ra: giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.
- Giá thành kế hoạch: được xác định trước khi bước vào kinh
doanh trên cơ sở giá thành thực tế của năm trước và các định mức kinh tế –kỹ thuật của ngành, các chi phí được Nhà nước cho phép Nó được lập ra trên cơ sở hao phí vật chất và giá cả kế hoạch kỳ kinh doanh
- Giá thành định mức: mang đặc trưng của giá thành kế
hoạch,nhưng được xác định không phải trên cơ sở mức khấu hao cho cả kỳ kinh doanh mà trên cơ sở mức hiện hành cho từng giai đoạn trong kỳ kinh doanh (tháng, quý, năm, ) Việc xây dựng giá thành này cho phép các nhà quản lý xác định kịp thời những chênh lệch so với định mức, trên cơ sở đó tìm ra biện pháp thích hợp để hạ giá thành sản phẩm
- Giá thành thực tế: được xác định thường vào cuối kỳ kinh
doanh Nó cũng bao gồm toàn bộ chi phí gắn liền với sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Nhưng được lập ra trên cơ sở quy mô và giá
cả thực tế của các chi phí đã phát sinh, kể cả chi phí do khuyết điểm chủ quan của doanh nghiệp gây ra
Theo phạm vi tính toán và phát sinh chi phí, ta có thể chia ra: giá thành phân xưởng, giá thành công xưởng và giá thành toàn bộ
để quản lý
- Giá thành phân xưởng: bao gồm tất cả những chi phí trực tiếp,
chi phí quản lý phân xưởng và chi phí sử dụng máy móc thiết bị
Trang 8Nói cách khác, nó bao gồm những chi phí của phân xưởng và tất
cả những chi phí khác của phân xưởng nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm tại phân xưởng đó
- Giá thành công xưởng: bao gồm giá thành phân xưởng và chi
phí quản lý doanh nghiệp Có thể nói, giá thành công xưởng (giá thành sản xuất ) bao gồm tất cả những chi phí để sản xuất sản phẩm trong phạm vi toàn doanh nghiệp
- Giá thành toàn bộ: bao gồm giá thành công xưởng và chi phí
tiêu thụ (chi phí ngoài sản xuất)
Giá thành toàn bộ được tính theo công thức:
Giá thành phân xưởng, công xưởng hay toàn bộ đều được tính cho từng đơn vị sản phẩm, loại sản phẩm, loạt sản phẩm và toàn bộ sản lượng hàng hoá tiêu thụ
Chi phí
Chi phí tiêu thụ sản phẩm
Tổng giá th nh à
sản xuất của các
loại sản phẩm
= Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ
+ Tổng chi phí phát sinh trong kỳ
- Giá trị sản phẩm dở
dang cuối kỳ
Trang 9Sơ đồ1: Các loại giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
Chi phí
trực tiếp
Chi phí sử dụng máy móc thiết bị
Sơ đồ 2: Các yếu tố chi phí của sản phẩm
Chi phí sản xuất sản phẩm bao gồm:
1 Nguyên vật liệu trực tiếp
(tổng hợp qua sản xuất chung)
hạch toán v o s à ản phẩm sau khi đã
được tổng hợp th nh s à ản xuất chung
Hạch toán trực tiếp v o s à ản phẩm
Các chi phí sản phẩm nguyên vật liệu trực tiếp
Nguyên liệu gián tiếp Các chi
phí
khác
Tổng hợp qua sản phẩm chung
Các chi phí khác Lao động gián tiếp
Chi phí sản xuất chung
Gián tiếp (tổng hợp qua sản xuất chung)
Lao
động
Trực tiếp Hạch toán trực tiếp
v o s à ản phẩm Lao động gián tiếp
Trang 102- Hạ giá thành sản phẩm và những nhân tố ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm
a-Nhân tố ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm
Trong hoạt động kinh doanh, một yêu cầu khách quan đặt ra cho các doanh nghiệp là phải quan tâm tìm biện pháp giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm Để thực hiện được điều đó trước hết ta phải thấy được những nhân tố ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm
• Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, việc áp dụng nhanh chóng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất là nhân tố cực kỳ quan trọng cho phép doanh nghiệp hạ thấp giá thành sản phẩm và thành công trong kinh doanh Tiến bộ khoa học công nghệ
Trang 11đã làm thay đổi nhiều điều kiện cơ bản của sản xuất như tăng năng suất lao động nhờ sử dụng máy móc thiết bị hiện đại, giảm chi phí nguyên vật liệu nhờ sử dụng vật liệu thay thế.
• Tổ chức lao động và sử dụng con người là một nhân tố quan trọng
để nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong sản xuất Việc tổ chức lao động khoa học sẽ tạo ra sự kết hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý loại trừ tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ máy Có tác dụng to lớn thúc đẩy việc nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ
• Tổ chức quản lý sản xuất và tài chính: tổ chức quản lý tốt sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính là nhân tố tác động mạnh mẽ đến việc hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp Tổ chức quản lý sản xuất đạt trình độ cao có thể giúp cho doanh nghiệp xác định mức tối ưu và phương pháp sản xuất tối ưu làm cho giá thàn sản xuất sản phẩm giảm xuống Việc bố trí hợp lý các khâu sản xuất có hạn chế sử dụng lãng phí nguyên vật liệu, hạ thấp tỷ lệ sản phẩm hỏng Vai trò của quản trị tài chính ngày càng tăng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp và tác động của nó đối với việc hạ giá thành, tăng lợi nhuận ngày càng mạnh mẽ
Tất cả các tác động trên làm giảm bớt chi phí sản xuất, góp phần tích cực đến hạ giá thành sản phẩm
b phương pháp hạ giá thành sản phẩm
+ Phương hướng hạ giá thành sản phẩm
Trang 12Phấn đấu hạ giá thành sản phẩm là biện pháp chủ yếu để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Đây cũng là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay Muốn hạ giá thành sản phẩm phải thực hiện đồng bộ nhiều phương hướng và biện pháp Theo cách phân loại các biện pháp có liên quan đến việc tăng hoặc giảm từng loại chi phí
và ảnh hưởng của nó đến giá thành sản phẩm, có thể tập trung nghiên cứu các phương hướng, các biện pháp và tính toán sự ảnh hưởng của
Đối với khoản chi phí nguyên vật liệu trong giá thành tổng sản lượng có thể xác định theo công thức :
Cv= S * Mi * Gi - F
Trong đó:
Cv : là chi phí nguyên vật liệu trong giá thành tổng sản phẩm
S : là sản lượng sản xuất của một loại sản phẩm
Mi : là mức tiêu hao bình quân của loại vật liệu i cho 1 đơn vị sản phẩm
∑
=
n
i 1
Trang 13Gi : là đơn giá của nguyên vật liệu loại i
F :giá trị phế liệu thu hồi (nếu có)
Từ đó, ta thấy chi phí nguyên vật liệu phụ thuộc vào 4 nhân tố cơ bản sau: số lượng sản xuất, đơn giá nguyên vật liệu, mức tiêu hao bình quân của từng loại nguyên vật liệu và giá trị phế liệu thu hồi Trong
đó, nhân tố sản lượng tăng, giảm thì chi phí nguyên vật liệu đương nhiên tăng, giảm Do vậy, để giảm chi phí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm ta phải thực hiện các biện pháp sau:
Giảm định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm
là yếu tố quan trọng để tiết kiệm vật tư trong quá trình sản xuất Song muốn khai thác triệt để nhân tố này ta phải phân tích nguyên nhân làm tăng, giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu, từ đó đề ra biện pháp nhằm tiết kiệm vật tư cho sản xuất
Mức tiêu hao vật tư trong một đơn vị sản phẩm bị tác động bởi các nhân tố sau:
- Kết cấu sản phẩm
- Quy trình công nghệ
- Chất lượng vật tư
- Tình hình trang bị kỹ thuật cho sản xuất
- Trình độ lành nghề của công nhân
- Phế liệu trong sản xuất
- Trọng lượng thuần tuý của sản phẩm
Để thực hiện vấn đề này doanh nghiệp cần giải quyết các vấn đề như cải tiến kết cấu sản phẩm, cải tiến phương pháp công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, cải thiện kỹ thuật, nâng cao trình độ tay nghề
Trang 14của công nhân, thực hiện đúng chế độ quản lý, sử dụng máy móc thiết bị, coi trọng hạch toán nguyên vật liệu, xây dựng chế độ thưởng phạt thích đáng để kích thích việc sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu Phải xây dựng định mức kinh tế-kỹ thuật như các định mức về tiêu hao vật tư tiên tiến phù hợp với doanh nghiệp và đặc điểm kinh tế –kỹ thuật cho phép.
Sử dụng nguyên vật liệu thay thế và sử dụng tổng hợp nguyên vật liệu
Việc lựa chọn nguyên vật liệu thay thế được tiến hành cả trong khâu cung ứng và khâu thiết kế, chế tạo sản phẩm Đây là phương hướng cơ bản, quan trọng ở nước ta hiện nay, cho phép sử dụng nguyên vật liệu có sẵn trong nước và từ đó làm giảm bớt nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu, tiết kiệm ngoại tệ Việc thay thế nguyên vật liệu ngoại nhập bằng nguyên vật liệu trong nước tuy chất lượng có thể không bằng nhưng đảm bảo được mức sản xuất cao hơn, do vậy năng lực sản xuất của doanh nghiệp cao hơn Tuy nhiên, việc thay thế phải bảo đảm tính hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và đặc biệt là vẫn phải đảm bảo chất lượng và đáp ứng yêu cầu của công nghệ chế biến
Triệt để thu hồi và tận dụng phế liệu, phế phẩm
Thu hồi phế liệu, phế phẩm là một nguyên tắc trong quản lý kinh tế Việc tận dụng phế liệu, phế phẩm không những là yêu cầu trước mắt
mà còn là yêu cầu lâu dài của doanh nghiệp Tận dụng như vậy sẽ góp phần làm giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu Nếu bán phế liệu, phế phẩm cho các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp sẽ mang lại nguồn thu nhập cho doanh nghiệp
Trang 15 Để hạ giá nguyên vật liệu xuất dùng phải nắm bắt kịp thời tình hình cung –cầu các loại nguyên vật liệu mà doanh nghiệp cần trên thị trường Chớp lấy thời cơ mua theo những nguồn khác nhau, mua được nguyên vật liệu với giá thấp mà vẫn bảo đảm chất lượng, phẩm chất, quy cách của nguyên vật liệu đồng thời tổ chức tốt khâu cung ứng nguyên vật liệu của doanh nghiệp.
Do vậy, doanh nghiệp cần có hệ thống, quy chế thưởng, phạt thích đáng, chế độ trách nhiệm trong công tác bảo quản nguyên vật liệu ảnh hưởng của những biện pháp trên đây đến hạ giá thành sản phẩm được tính theo công thức:
Theo công thức này, thì chỉ số hạ giá thành sản phẩm do 3 yếu tố tác động: chỉ số định mức tiêu dùng nguyên vật liệu kỳ kế hoạch so với
kỳ báo cáo, chỉ số giá cả nguyên vật liệu và chỉ số nguyên vật liệu trong giá thành kỳ báo cáo
- Giảm chi phí tiền lương và tiền công trong giá thành sản
*
Chỉ số giá cả của nguyê
n vật liệu
Chỉ số nguyên vật liệu trong giá th nh à sản phẩm
Trang 16Trong giá thành sản phẩm thì chi phí nhân công cũng là một khoản chi phí chiếm tỷ trọng đáng kể, cho nên tiết kiệm chi phí nhân công sẽ tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm.
Chi phí nhân công là các khoản thù lao phải trả cho người lao động như: tiền lương, tiền công, tiền thưởng và các khoản phải trả khác theo
số lượng và chất lượng lao động mà họ đã đóng góp Trong đó, chi phí nhân công trực tiếp (chủ yếu là tiền lương) chiếm tỷ trọng lớn và được xác định như sau:
C l = G ts /N cn *TL
Trong đó:
Cl : là chi phí tiền lương trong tổng giá thành sản phẩm
Gts: là giá trị tổng sản lượng sản phẩm
Ncn : là năng suất lao động bình quân của 1 công nhân
TL: là tiền lương bình quân của 1 công nhân
Từ công thức trên ta thấy tổng chi phí tiền lương phụ thuộc vào giá trị sản lượng sản phẩm, tiền lương bình quân và năng suất lao động bình quân Trong 3 nhân tố đó thì giá trị sản lượng sản phẩm tăng, giảm thì tổng chi phí tiền lương tăng là tất yếu Tiền lương bình quân
tỷ lệ thuận với tổng chi phí tiền lương, phụ thuộc vào chính sách lương bổng đối với người lao động, còn năng suất lao động bình quân
tỷ lệ nghịch với tổng chi phí tiền lương
Cụ thể, để tiết kiệm chi phí nhân công doanh nghiệp phải tự xây dựng đơn giá tiền lương phù hợp, đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động bình quân nhanh hơn tốc độ tăng của tiền lương bình quân
Trang 17Đối với người lao động, năng suất lao động phụ thuộc vào các nhân
tố sau:
+ Các yếu tố gắn với bản thân người lao động như: kỹ năng, kỹ xảo, cường độ lao động, trạng thái sức khoẻ, thái độ và kỷ luật lao động, …+ Các yếu tố về quản lý con người như: phân công lao động, hợp tác lao động, tạo động lực trong lao động(tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp,…), tổ chức phục vụ nơi làm việc, bầu không khí tập thể
+ Các yếu tố gắn với điều kiện lao động như: chiếu sáng, tiếng ồn, bụi, thông gió, chất độc hại, …
Đối với mỗi doanh nghiệp để tăng năng suất lao động các doanh nghiệp phải thực hiện các giải pháp sau:
Tổ chức tốt bộ máy và mạng lưới công tác tổ chức lao động
Trong các doanh nghiệp, trong các bộ phận sản xuất, doanh nghiệp xác định cơ cấu, chức năng và nhiệm vụ, mối quan hệ giữa chúng với các bộ phận chức năng khác nhằm khai thác mọi tiềm năng về sức người, sức của (nguyên vật liệu, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, tiền vốn) để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần lập ra bộ phận chịu trách nhiệm về tổ chức lao động, định mức kỹ thuật lao động nằm trong phòng lao động tiền lương do Giám đốc và phó Giám đốc chịu trách nhiệm Thường xuyên, hoàn thiện tổ chức lao động và quản lý sản xuất, hoàn thiện định mức kinh tế- kỹ thuật trong công nhân và nhân viên, cải thiện các hình thức trả lương, chế độ khuyến khích vật chất trên cơ sở các thành tựu đã đạt được của khoa học Kỹ thuật cũng như kinh nghiệm tiên tiến trong quản lý, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản
Trang 18phẩm Đảm bảo việc phân tích, đánh giá tình hình, trình độ tổ chức lao động nói chung trong doanh nghiệp, trong các bộ phận sản xuất của doanh nghiệp và ở từng nơi làm việc để so sánh thực tế đạt được trong nước và nước ngoài Phát hiện những khâu yếu nhất trong quản lý sản xuất, trên cơ sở đó thiết kế áp dụng các biện pháp cho phép quá trình lao động của người lao động được tiến hành thuận lợi, có hứng thú làm việc, năng suất lao động cao.
Phân tích đánh giá các hình thức phân công và hợp tác lao động nhằm nghiên cứu mức độ hợp lý của công việc, phân chia chức năng giữa những người lao động, trình độ thành thạo, hiệu quả của các phương pháp tổ chức đứng máy, kiêm nhiệm nhiều nghề như nguyên tắc thành lập các tổ, đội sản xuất trong các bộ phận sản xuất
Phân tích, đánh giá các điều kiện lao động nhằm so sánh mức độ của môi trường sản xuất về các yếu tố tâm lý, sinh lý, vệ sinh phòng bệnh, thẩm mỹ lao động với các điều kiện tiêu chuẩn đã được quy định
Phân tích, đánh giá trình độ, định mức lao động nhằm xây dựng phạm vi mức độ mở rộng diện định mức, đánh giá chất lượng định mức hiện hành, so sánh mức độ đã hoàn thành định mức giữa các cá nhân, tổ nhóm hoặc các đơn vị với nhau, phát hiện những nguyên nhân không hoàn thành định mức, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp sửa đổi
Phân tích, đánh giá trình độ kỷ luật lao động để thấy mức độ vi phạm và nguyên nhân, tìm ra những hình thức kỷ luật và biện pháp khắc phục phù hợp
Trang 19Kế hoạch hoá công tác tổ chức lao động trong từng doanh nghiệp, tính hiệu quả của các biện pháp trước và sau khi áp dụng Đối với từng nơi làm việc cần quan tâm đến những vấn đề sau:
→ Thiết kế các phương pháp thao tác lao động hợp lý
→ Bố trí và trang bị hợp lý nơi làm việc
→ Tư thế thuận lợi cho người lao động khi làm việc
Tổ chức kế hoạch hoá lao động phân xưởng cần quan tâm đến những biện pháp trên và mang tính chất chung cho cả phân xưởng như:
→ Cải tiến việc phân công và hợp tác lao động
→ Hoàn thiện việc tổ chức phục vụ nơi làm việc
→ Cải thiện các điều kiện lao động
→ Bố trí hợp lý mặt bằng sản xuất
Tổ chức kế hoạch hoá lao động trong doanh nghiệp bao gồm kế hoạch tổ chức lao động ở các phân xưởng và kế hoạch mang tính chất chung của doanh nghiệp như:
→ Những biện pháp nâng cao trình độ văn hoá, kỹ thuật chuyên môn cho cán bộ, công nhân
→ Hoàn thiện định mức và khuyến khích vật chất
→ Cải thiện tổ chức sản xuất (tăng khối lượng sản phẩm cùng loại, chuyên môn hoá cho các bộ phận sản xuất, cải tiến cơ cấu quản lý)
Áp dụng các tiến bộ khoa học –kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, nâng cao trình độ cơ giới hoá, tự động hoá, xoá bỏ mọi hao phí
vô ích và tổn thất về thời gian lao động,…
Trang 20Đó là chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp đối với người lao động có tác dụng tăng năng suất lao động.
Tốc độ tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân và tiền công cho phép giảm chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm và do đó khoản mục tiền lương trong giá thành sản phẩm sẽ giảm theo tỷ lệ với tỷ trọng tiền lương trong giá thành Ảnh hưởng của việc giảm chi phí tiền lương được tính theo công thức sau:
Trang 21Công thức này cho ta thấy, chỉ số hạ giá thành sản phẩm do 3 nhân
tố tác động: năng suất lao động, tiền lương bình quân và tỷ trọng tiền lương trong giá thành sản phẩm kỳ báo cáo
- Giảm chi phí cố định trong giá thành sản phẩm
Trong giai đoạn hiện nay, do có sự phát triển khoa học- kỹ thuật, trình độ cơ giới hoá và tự động hoá cao chi phí khấu hao tài sản cố định sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm dẫn đến tỷ trọng chi phí sản xuất chung trong giá thành sản phẩm tăng lên Để giảm chi phí chung trong giá thành trước hết ta phải quan tâm đến giảm chi phí khấu hao tài sản cố định
Trong thực tế, chi phí khấu hao tài sản cố định bị ảnh hưởng của sự tăng giảm giá của tài sản cố định trên thị trường, tình hình tăng, giảm nguyên giá của tài sản cố định do mua sắm hoặc thanh lý và phương pháp tính khấu hao của doanh nghiệp Để giảm khoản này chỉ cần thực hiện các biện pháp sau:
Chỉ số lương bình quân
Chỉ số năng suất lao động
Trang 22→ Phấn đấu tăng nhanh và tăng nhiều sản phẩm hàng hóa sản xuất ra, tăng tốc độ quy mô của sản phẩm hàng hoá sẽ làm giảm công ty khấu hao trong giá thành sản phẩm, bởi vì tốc độ tăng chi phí cố định chậm hơn tốc độ tăng và quy mô tăng sản lượng Do đó, phải tăng, giảm quy
mô sản xuất cho phù hợp với yêu cầu sản xuất của doanh nghiệp, tinh giảm bộ máy quản lý, giảm các hao hụt, mất mát
→ Tổ chức tốt định mức thời gian sửa chữa, dự phòng và bảo dưỡng, triệt để triệt tiêu thời gian ngoài ca chế độ của máy móc, thiết bị, thực hiện làm 3 ca dưới tất cả các máy móc thiết bị của doanh nghiệp
→ Giảm bớt đến mức tối thiểu thời gian ngừng máy, ngừng việc, chuẩn bị sản xuất và sản xuất ra phế phẩm, nâng cao thời gian hữu ích của máy móc thiết bị là con đường cơ bản để giảm chi phí khấu hao trong giá thành sản phẩm
→ Đối với các khoản chi phí khác trong chi phí sản xuất chung, doanh nghiệp phải kiểm soát chặt chẽ các khoản chi này, giảm bớt tối đa có thể số nhân viên quản lý phân xưởng, vật liệu xuất dùng cho sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị
Đối với một số doanh nghiệp, chi phí mua ngoài lớn như chi phí điện, nước, … thì doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra để tìm ra nguyên nhân làm tăng, giảm mức tiêu hao Từ đó, có biện pháp khắc phục góp phần làm giảm khoản chi này trong giá thành sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm
Ảnh hưởng của biện pháp này được tính theo công thức:
Trang 23Công thức này cho ta thấy rõ, chỉ số hạ giá thành do sự tác động của
3 nhân tố: chỉ số chi phí cố định, chỉ số sản lượng, chỉ số chi phí cố định trong giá thành sản phẩm kỳ báo cáo
3 chiên lươc canh vê giá thành sản phẩm
Trong cơ chế thị trường, quy luật cạnh tranh vừa là động lực cho sự phát triển, vừa là thách thức gay gắt đối với các doanh nghiệp Quá trình cạnh tranh luôn gắn liền và quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Trong quá trình cọ xát này, mỗi doanh nghiệp muốn giành thắng lợi phải tự trang bị cho mình hai thứ vũ khí cơ bản
đó là chất lượng cao và giá bán hạ Cùng một mức chất lượng, người tiêu dùng luôn có xu hướng chọn sản phẩm có giá bán hạ hơn Đặc biệt khi nền kinh tế còn chưa được phát triển, mức sống, thu nhập của người dân còn thấp thì chỉ tiêu giá cả có ý nghĩa quan trọng tạo nên sức mạnh cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
Chính vì vậy, tìm mọi biện pháp hạ giá thành sản phẩm luôn là yêu cầu bức thiết, là mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp ở nước ta Trong cơ chế thị trường, hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất lớn đối với các doanh nghiệp, điều đó thể hiện ở một số điểm sau:
Chỉ số chi phí cố định
Chỉ số sản lượng
Trang 24 Hạ giá thành sản phẩm là một trong những nhân tố tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện tốt việc tiêu thụ sản phẩm
Hạ giá thành sẽ tạo lợi thế cho doanh nghiệp trong cạnh tranh, có thể
hạ giá bán để tiêu thụ nhiều hơn, thu hồi vốn nhanh hơn
Hạ giá thành sản phẩm là nhân tố quan trọng dể doanh nghiệp tăng lợi nhuận Trong cơ chế thị trường có điều tiết, giá cả sản phẩm được hình thành trên thị trường, nếu giá thành sản phẩm của doanh nghiệp càng thấp so với giá bán trên thị trường thì doanh nghiệp sẽ thu hồi được lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm càng cao Mặt khác, khi giá thành thấp, doanh nghiệp có lợi thế là có thể hạ giá bán để tiêu thụ khối lượng hàng nhiều hơn, thu hồi lợi nhuận lớn hơn Từ đó doanh nghiệp sẽ có tiềm năng trong tái sản xuất, mở rộng để tăng quy mô sản xuất, cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên
Mỗi doanh nghiệp khi nắm chắc giá thành sản phẩm thay đổi như thế nào khi gia tăng khối lượng sản phẩm thì sẽ có cơ sở trực tiếp để tính giá bán, vừa là căn cứ để có thể lựa chọn mức giá cạnh tranh, chiến lược cạnh tranh hiệu quả
4 ý nghĩa của việc hạ giá thành:
Giảm chi phí tối đa chi phí sản xuất nhằm tăng cường sức cạnh
tranh, đưa lợi nhuận ngày càng cao
Tạo ra được bộ máy từ hệ thống quản lý đến sản xuất hoạt động một cách khoa học nhịp nhàng
Tạo ra được sự cạnh tranh lành mạnh trong xã hội
Góp phần xây dựng xã hội công bằng văn minh
Trang 26PHẦN 2 GIÁ THÀNH SẢN PHẨM MÁY CÔNG CỤ Ở CÔNG TY
1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty Cơ khí Hà Nội là một doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính, có
tư cách pháp nhân đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Công nghiệp nặng (nay là Bộ Công nghiệp)
Địa chỉ công ty: 24 Nguyễn Trãi- Quận Thanh Xuân- Hà Nội
Fax : 8448583268
Điện thoại : 8448584416- 8584354- 8584475
Trong những năm đầu giải phóng miền Bắc, trong sự phát triển của
xã hội và do nhu cầu xây dựng của đất nước, ngày 26/11/1955 Đảng
và Chính phủ ta quyết định cho xây dựng một nhà máy cơ khí hiện đại làm nòng cốt cho việc chế tạo máy công cụ sau này Ngày12/4/1958
đã trở thành ngày khai sinh của công ty Cơ khí Hà Nội hiện nay với tên khai sinh là Nhà máy Cơ khí Hà Nội trung quy mô Nhà máy ra đời với sự hợp tác giữa Việt Nam, các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông
Âu và Liên Xô cũ Đây là đứa con đầu tiên của ngành chế tạo máy Việt Nam và là nhà máy duy nhất chế tạo máy công cụ Có thể tóm tắt quá trình phát triển của công ty Cơ khí Hà Nội qua những thời kỳ như sau:
Từ khi thành lập cho đến năm 1986, trải qua nhiều giai đoạn khó khăn, nhà máy đã lớn mạnh vượt bậc cả về đội ngũ cán bộ công nhân viên lẫn trình độ khoa học kỹ thuật Việc sản xuất tương đối ổn định
Trang 27theo chỉ tiêu Nhà nước giao, một năm sản xuất khoảng 600 máy gọt kim loại, đạt 60% công suất thiết kế, có năm sản xuất 1000 máy trên tổng số công nhân là 2700 người
Năm 1960 nhà máy đổi tên thành Nhà máy Cơ khí Hà Nội Sau giải phóng miền Nam năm 1975, nhà máy liên tục thực hiện các kế hoạch
5 năm như kế hoạch 1975-1980, 1980-1985 nên hoạt động sản xuất rất sôi động Sản xuất của nhà máy được sự chỉ đạo của cơ quan chủ quản, từng mặt hàng, từng chỉ tiêu kinh doanh được Nhà nước giao vật tư và bao tiêu toàn bộ sản phẩm Số lượng cán bộ công nhân viên lúc này lên tới 2800 người và có hơn 300 kỹ sư Nhà máy được phong tặng danh hiệu anh hùng và đến năm 1980, nhà máy đổi tên thành nhà máy Công cụ số 1
Từ năm 1986 đến nay, theo yêu cầu đổi mới của đất nước, xoá bỏ bao cấp bước sang kinh tế thị trường, tự hạch toán kinh doanh độc lập, nhà máy đã từng bước chuyển đổi cơ chế sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm để tồn tại Nhưng do đổi mới chậm, thị trường tiêu thụ sản phẩm giảm, cùng với các ngành cơ khí chế tạo nói chung, nhà máy đang đứng trước nhiều khó khăn, sản phẩm máy công cụ chất lượng kém, giá cao, khó chuyển đổi cơ cấu
Cụ thể từ năm 1980 đến 1990, mỗi năm nhà máy tiêu thụ khoảng
100 máy công cụ với giá rẻ, Nhà nước phải bù lỗ, không phát huy được, năng suất lao động thấp (khoảng 30%), lao động phải nghỉ do không có việc làm
Đối mặt với sự khắc nghiệt của kinh tế thị trường, công ty từng bước sắp xếp lại khả năng lao động, tổ chức lại sản xuất, đa dạng hoá
Trang 28sản phẩm, duy trì đội ngũ lao động có kỹ thuật cao, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm Từ năm 1993 trở lại đây, nhà máy đã dần đi vào ổn định và phát triển Đến nay, ngoài việc cung cấp các sản phẩm là máy công cụ nhà máy còn sản xuất các thiết bị phụ tùng công nghiệp như thiết bị xi măng lò đứng, thiết bị chế biến đường,…
Năm 1995 nhà máy đổi tên thành công ty Cơ khí Hà Nội, tên giao dịch quốc tế là HAMECO (Hanoi Mechanical Company)
Để không ngừng củng cố sản xuất và phát triển, tăng sức cạnh tranh trên thị trường đóng góp vào quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước, công ty luôn phấn đấu hoàn thành kế hoạch đặt ra
2 Đặc điểm tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất của công ty Cơ khí Hà Nội
a- Đặc điểm tổ chức quản lý
Do quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu song song, tổ chức sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạt với khối lượng vừa theo đơn đặt hàng và theo lệnh sản xuất Vì vậy, bộ máy sản xuất của công ty được tổ chức như sau:
Công ty Cơ khí Hà Nội thực hiện chế độ quản lý theo mô hình trực tuyến chức năng, trên cơ sở thực hiện quyền làm chủ của người lao động
Dưới ban giám đốc có các phòng chức năng là bộ phận tham mưu giúp việc cho giám đốc trong quản lý, điều hành sản xuất Quan hệ giữa các phòng ban, giữa các giám đốc phân xưởng với giám đốc, phó giám đốc là quan hệ chỉ huy và phục tùng mệnh lệnh
Trang 29Cụ thể, đứng đầu bộ máy quản lý của công ty là giám đốc Giám đốc là đại diện pháp nhân của công ty, chịu trách nhiệm trước cấp trên, trực tiếp quản lý hoạt động của công ty và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của công ty.
Giúp việc cho giám đốc gồm:
+ Phó giám đốc phụ trách sản xuất : Có chức năng tổ chức, diều
hành sản xuất theo đúng tiến độ kế hoạch đặt ra, chịu trách nhiệm trước giám đốc về trách nhiệm của mình trong hoạt động sản xuất giao hàng theo các hợp đồng
+ Phó giám đốc kỹ thuật: Giúp giám đốc quản lý các lĩnh vực khoa
học công nghệ và môi trường, bảo hộ lao động, vệ sinh công nghiệp, quản lý chất lượng sản phẩm Trực tiếp quản lý phòng kỷ thuật, phòng quản lý chất lượng Có quyền đình chỉ sản xuất cũng như xủ lý các hoạt động vi phạm nghiêm trọng các quy định về quy trình quy phạm gây mất an toàn lao động, giảm chất lượng sản phẩm thiết bị trước khi báo cao giám đốc
+ Phó giám đốc kiêm giám đốc xưởng máy công cụ: Trực tiếp điều
hành và kiểm tra công việc sản xuất của xưởng máy công cụ trong phạm vi toàn công ty
+ Phó giám đốc KHKDTM và quan hệ quốc tế: Trực tiệp phụ trách,
chịu trách nhiệm về các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và đối ngoại của công ty Ngoài ra còn chỉ đạo xây dựng các phương án đấu thầu, phương án kinh doanh, các mối quan hệ kinh doanh trong và ngoài nước
Trang 30+ Phó giám đốc nội chính:Trực tiếp điều hành, quản lý phụ trách,
chịu trách nhiệm về các hoạt động nội chính đời sống và xây dựng cơ bản, y tế, bảo vệ Xây dựng đề xuất phương án, tổ chức bộ máy, sắp xếp lao động trong lĩnh vực công tác được phân công phụ trách như: phòng bảo vệ, phòng y tế, văn hoá xã hội
+ Trợ lý giám đốc quản lý sản xuất
Ngoài việc uỷ quyền trách nhiệm cho các phó giám đốc, giám đốc còn trực tiếp chỉ huy thông qua các trưởng phòng hoặc các giám đốc phân xưởng
Các phòng ban chức năng được đặt dưới sự chỉ đạo và giám sát trực tiếp của giám đốc và các phó giám đốc gồm:
+ Phòng Kế toán- Thống kê- Tài chính:Có nhiệm vụ lập kế hoạch tài
chính hàng năm, làm nghĩa vụ đối với nhà nước trong việc khai báo, nộp thuế hay thực hiện các giao dịch thanh toán đúng thời hạn các khoản vay, thu hồi vốn, khai thác nguồn vốn hay ghi chép phản ánh đúng về các hoạt động tài chính
+ Phòng kỹ thuật :Tổ chức điều tra, nghiên cứu, áp dụng các khoa
học kỷ thuật và sủa chũa xhế tạo máy
+ Phòng điều độ sản xuất :Có chức năng phân công lập kế hoạch tác
nghiệp, phương án quản lý, sản xuất kinh doanh của công ty Lập sổ theo dõi tiêu hao vật tư, kỷ thuật phân tích các thuận lợi khó khăn để kịp thời báo cáo giải quyết, xử lý hay có kế hoạch bổ trợ hay thay thế kịp thời
+ Phòng tổ chức tổ chức nhân sự: Là nơi đưa ra các bản dự thảo về
tổ chức nhân sự như việc bổ nhiệm, bãi nhiệm điều động tuyển dụng,
Trang 31nội quy, quy chế về lao động tiền lương cũng như các chế độ, chính sách khác của công nhân viên ở công ty Hay giúp giám đốc trong việc
ra quyết định, quy chế, tiền lương, giải quyết các vấn đề xã hội khác
+ Ban quản lý dự án: có nhiệm vụ nghiên cứu chiến lược phát triển
của ngành do Đảng và Nhà nước định hướng cũng như định hướng phát triển của công ty sao cho phù hợp với quy chế thị trường trong và ngoài nước từ đó xây dựng phương án đầu tư phát triển đảm bảo huy động được hêt tiềm năng của công ty, đồng thời tìm ra những nguồn huy động vốn đầu tư trong cũng như ngoài nước
+ Phòng QLCLSP: có nhiệm vụ nắm vững yêu cầu CLSP, tổ chức
kiểm tra, bám sát các đơn vị từ khâu chuẩn bị đến khâu hoàn thành sản xuất
+ Phòng GDTM: Giao dịch thương mại, maketing Nghgiên cứu, thu
nhập, tổng hợp thông tin, chính sách văn bản pháp quy trong và ngoài nước để tạo dựng các mối quan hệ kinh doanh trước mắt và lâu dài gắn với chiến lược phát triển của công ty
+ Trường THCTM: Là trường do công ty quản lý và điều hành, là nơi
đào tạo công nhân có tay nghề không chỉ cho công ty mà còn cho một
số nhà máy xí nghiệp trong cả nước, trương do BGDĐT quản lý về chương trình giảng dạy, có đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm Học viên khi tốt nghiệp có kinh nghiệm thực tiễn và có khả năng nắm bắt công nghệ hiện đại trong lĩnh vực chuyên môn của mình
+ Và một số phòng ban khác như: Phòng đời sống, phòng thiết kế,
phòng bảo vệ, phòng y tế, phòng giao dịch thương mại,…
Trang 32
Sơ đồ 4: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC HAMECO
Giám đốc
Phó giám đốc thường trực
Phó giám đốc phụ trách MCC
Phó giám đốc phụ trách sx
Phó giá
m đốc
kỹ thu ật
Phó giám đốc KHKDTM
&QHQT
Phó giám đốc nội chính
Trợ lý giám đốc
Đại diện
LĐ chất lượng
VPCT
Phòng KTTKTC
VP GDTM
TTXD&BDHT CSCN P.Bảo vệ P.QTĐS P.Y tế P.VHXH
Xưởn
g MCC
P.TCNS Ban dự án TR.THC NCTM
TT ĐHSX XNSX&KDVTCTM
XNLĐĐT&BDTBCN
TT TĐH Xưởng bánh răng X.Cơ khí lớn X.GCAL-NL Xưởng đúc X.Kết cấu thép
P.Kỹ thuật P.QLCLSP&MT Thư viện
Trang 33Tổ chức của toàn công ty (đường đậm nét)
Hệ thống bảo đảm chất lượng theo ISO 9002 (đường không liền nét)
b- Đặc điểm tổ chức sản xuất của công ty
Trang 34Để tiến hành tổ chức sản xuất, công ty thực hiện tổ chức nhiều bộ phận sản xuất, mỗi bộ phận thực hiện một chức năng riêng, bao gồm
11 xưởng cụ thể như sau:
* Xưởng công cụ: là xưởng sản xuất chính, chuyên gia công và sản xuất mặt hàng máy công cụ, tức là sản xuất ra tất cả các chi tiết để lắp ráp hoàn chỉnh máy công cụ như máy phay, máy tiện, máy bào, máy khoan,…
Xưởng máy công cụ bao gồm các bộ phận sau:
+ Bộ phận cơ khí 4A: có nhiệm vụ gia công các mặt hàng cơ khí và các chi tiết của máy công cụ
+ Bộ phận lắp ráp: làm nhiệm vụ lắp ráp hoàn chỉnh máy công cụ và nhập kho máy
+ Bộ phận dụng cụ: chuyên gia công các loại chi tiết có độ gá, dụng
cụ gia công cơ khí
* Xưởng cơ khí lớn: Đây là phân xưởng chuyên gia công các phụ tùng cơ khí, các chi tiết máy công nghiệp
* Xưởng đúc: làm nhiệm vụ tạo phôi thép, gang đúc và đúc các máy công cụ, phụ tùng cơ khí phục vụ cho phân xưởng máy công cụ, xưởng rèn, xưởng cơ khí
* Xưởng cơ điện: làm nhiệm vụ sửa chữa các loại thiết bị, ngoài ra còn gia công các chi tiết phục vụ cho việc đại tu
* Xưởng thuỷ lực: làm nhiệm vụ chuyên gia công mới và sửa chữa các thiết bị thuỷ lực của máy công cụ và máy công nghiệp
* Xưởng kết cấu: làm nhiệm vụ chuyên gia công hàng thuộc về mía đường
Trang 35* Xưởng cán thép: làm nhiệm vụ cán các loại thép xây dựng
* Xưởng mộc: tạo mẫu đúc cho các phân xưởng đúc gang, thép
* Trung tâm lắp đặt thiết bị: làm nhiệm vụ lắp ráp các bộ phận, chi tiết thành máy công nghiệp hoàn chỉnh nhập kho
* Xưởng gia công áp lực và nhiệt luyện (AL&NL): làm nhiệm vụ gia công các chi tiết phục vụ cho phân xưởng cơ khí như máy tiện, vỏ bao che các thiết bị, nhiệt luyện các chi tiết hoặc gia công các hàng phi tiêu chuẩn
* Xưởng bánh răng: chuyên cung cấp bánh răng, trục răng, mâm cặp cho các phân xưởng
Các phân xưởng trên chịu sự chỉ đạo trực tiếp của phó giám đốc kỹ thuật sản xuất, riêng xưởng máy công cụ do phó giám đốc phụ trách máy công cụ đảm nhiệm
3 Tình hình giá thành sản phẩm máy công cụ ở công ty Cơ khí Hà Nội
a Các biện pháp hạ giá thành sản phẩm đã được thực hiện ở công
Trang 36pháp có liên quan đến việc giảm hoặc tăng từng loại chi phí và ảnh hưởng của nó đến giá thành sản phẩm Cụ thể là:
• Giảm chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng
Để tiết kiệm nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng công ty Cơ khí
Hà Nội đã tiến hành cải tiến kết cấu sản phẩm máy công cụ bằng cách phối hợp các sản phẩm cùng chủng loại tạo thành sản phẩm mới vừa tiết kiệm lại vừa phù hợp với nhu cầu tiêu dùng Thêm vào đó công ty
Cơ khí Hà Nội còn tận dụng triệt để phế liệu của phân xưởng khác cho phân xưởng Đúc và phân xưởng máy công cụ Đặc biệt công ty đã đưa
hệ thống quản lý chất lượng ISO 9002 vào quản lý chất lượng sản phẩm và tỷ lệ phế phẩm chi phí mua sắm, vận chuyển, bảo quản, cấp phát nguyên vật liệu đã giảm và hiệu quả rõ rệt
Những tiết kiệm trên làm cho chi phí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm của công ty đã giảm vì trong kết cấu giá thành tỷ trọng nguyên vật liệu chiếm bộ phận rất lớn đến 80%
• Giảm chi phí tiền lương và tiền công trong giá thành
Về chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm công ty đã thực hiện tăng nhanh năng suất lao động đảm bảo cho năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân và tiền công Công ty đã sắp xếp lại
cơ cấu lao động sao cho quá trình sản xuất được tiến hành cân đối, nhịp nhàng và liên tục
Việc sử dụng đi đôi với việc đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng được yêu cầu mới của cơ chế thị trường Công ty đã hiểu hiện nay lao động trong công ty đang trong tình trạng thừa tuyệt đối do kỹ thuật lạc hậu chưa làm chủ được thị trường, chưa
Trang 37chiếm được lòng tin của khách hàng và lao động được cân đối trên dây chuyền sản xuất và các khâu công tác nhưng không đủ việc làm cho cả ngày, phải ngừng việc do nhiều nguyên nhân khác nhau Giải quyết tình trạng trên doanh nghiệp đã phân loại lao động trên cơ sở đó sắp xếp lại lực lượng lao động, mở rộng hoạt động dịch vụ, giải quyết cho nghỉ hưu, mất sức, cho nghỉ thôi việc được hưởng trợ cấp, cho đi đào tạo lại, bồi dưỡng trình độ chuyên môn đối với người có sức khoẻ, còn ít tuổi và có triển vọng trong nghề nghiệp,…
Thêm vào đó, các biện pháp nhằm tăng năng suất lao động như khuyến khích phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới và công nghệ tiên tiến và tăng thời gian có ích trong ngày
• Giảm chi phí cố định
Công ty đã thực sự cố gắng tăng nhanh và tăng nhiều sản phẩm hàng hoá sản xuất ra Tốc độ tăng và quy mô tăng sản phẩm sẽ làm giảm chi phí cố định trong giá thành Để thực hiện được điều này, công ty đã tăng năng suất lao động, mở rộng quy mô sản xuất, tinh giảm bộ máy quản lý doanh nghiệp, giảm các hao hụt mất mát do ngừng sản xuất gây ra
Đó là một số biện pháp công ty Cơ khí Hà Nội đã thực hiện trong thời gian qua nhằm hạ giá thành sản phẩm máy công cụ Với sự cố gắng nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty thì kết quả cũng đã đạt được một số thành công đáng kể Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần được thực hiện tốt hơn nữa
b Tình hình thực hiện giá thành sản phẩm máy công cụ trong những năm qua
Trang 38Trong những năm vừa qua, công ty Cơ khí Hà Nội đã thực hiện tính giá thành sản phẩm cho máy công cụ K 525A trên cơ sở các khoản mục chi phí
Nhìn vào bảng số liệu năm 1999 ta thấy:
- Bán thành phẩm tự chế tăng so với định mức là 179.520 đồng và tăng so với thực tế năm 1998 là 1,45% nguyên nhân là do đơn giá tăng lên Nhưng công ty đã giảm được nguyên vật liệu xuống 219.267 đồng nhưng vẫn tăng so với năm 1998 là 4,91% Trong
đó, giảm số lượng thép xuống 214.928 đồng và quy chế phụ tùng xuống 5.000 đồng Tiền lương công nhân sản xuất trực tiếp đã giảm so với năm 1998 điều này thể hiện công tác thực hiện nâng cao năng suất lao động đã có hiệu quả phần nào Chi phí quản lý doanh nghiệp đã giảm so với định mức là 120.734 đồng và như vậy giá thành toàn bộ của sản phẩm máy khoan K525A đã giảm
so với định mức 169.977 đồng Mỗi đơn vị sản phẩm máy này công ty chỉ lãi 1.199.688 đồng và chưa đạt so với kế hoạch đề ra
- Nhìn vào bảng phân tích giá thành trên ta thấy định mức thép cho một đơn vị sản phẩm vẫn chưa thực sự sát với thực tế công
ty nên tiến hành định mức lại để tránh những hao hụt không đáng có trong sản xuất từng bước hạ giá thành sản phẩm
- Chi phí cho quản lý doanh nghiệp vẫn còn rất cao Phải chăng do
số lượng sản phẩm sản xuất ít nên mỗi đơn vị sản phẩm phải chịu khoản chi phí này cao hơn Do vậy công ty cần xem xét lại như tăng số lượng sản phẩm sản xuất, giảm chi phí quản lý bằng những biện pháp hiệu quả
Trang 39Nhìn vào số liệu trên ta thấy công ty đã thực hiện định mức lại cho bán thành phẩm, cho thép và một số khoản chi phí khác - Cụ thể là công ty đã không thực hiện được định mức bán thành phẩm vượt so với định mức 43.880 đồng và tăng so với năm 1999 là 3,81% Nguyên vật liệu trực tiếp được tiếp tục giảm so với định mức 68.524 đồng Trong đó chi phí vòng bi giảm được 73.000 đồng Đây là do công ty
đã thực hiện cải tiến sản phẩm máy K525A tiết kiệm số lượng vòng bi cần sử dụng mà lại tăng được chất lượng sản phẩm phù hợp hơn với yêu cầu của người tiêu dùng
- Chi phí nhân công trực tiếp đã giảm so với định mức 170.400 đồng Đây là do công ty đã tăng được năng suất lao động vì đã thực hiện tổ chức lại sản xuất nhằm tiến tới cơ cấu sản xuất tối
- Muốn đạt được thành công trong việc hạ chi phí giá thành thì công ty phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp và cũng phải làm cho người trong công ty hiểu thực chất vấn đề, làm cho họ
tự nguyện thực hiện
Trang 40Hiện nay các khoản chi phí mặc dù đã được định mức nhưng vấn đề đặt ra là phải giảm định mức xuống mức có thể được để tạo lợi thế cạnh tranh trong thị trường khắc nghiệt này Năm 2001, công ty đã thực hiện rất nhiều biện pháp hạ giá thành sản phẩm, mạnh dạn đưa vào sản xuất những dây chuyền thiết bị đắt tiền ngoại nhập nhằm nâng cao hơn nữa năng suất lao động, cải thiện dần dần môi trường làm việc của công nhân Đây là năm tình hình giá cả có nhiều biến động không nằm trong tầm kiểm soát của công ty nên giá thành sản phẩm máy K525A có xu hướng tăng lên, không đạt định mức đề ra Tuy vậy các biện pháp nhằm hạ giá thành sản phẩm vẫn được thực hiện một cách hiệu quả Không những thế việc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm đã được đặt ra và là yêu cầu bức thiết của công ty Việc sản xuất những sản phẩm mới xuất khẩu và đang thực hiện giới thiệu sản phẩm máy công cụ ở nước ngoài Có thể nói đó là những bước tiến đột phá của công ty Em cũng nhận thấy việc phục vụ tinh thần cho người lao động được công ty hết sức quan tâm Bộ phận công nhân thay đổi cơ cấu chuyển sang làm dịch vụ đã thực hiện rất nhanh nhạy tăng doanh thu cho công ty và đời sống của cán bộ công nhân viên cũng được đảm