1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá ở thị xã sầm sơn

101 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 633,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đô thị hoá ở Việt Nam – Một xu thế tất yếu của các nước đang phát triển Một trong những vấn đề nổi bật của sự phát triển thế giới ngàynay là sự gia tăng nhanh chóng số lượng và quy mô cá

Trang 1

LỜI GIỚI THIỆU

1 Tính cấp thiết đề tài

Đồ thị hóa với tốc độ ngày càng cao là xu thế tất yếu của cácquốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Trong sựnghiệp phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của các quốc gia, các đô thịđóng vai trò như những hạt nhân quan trọng Các hoạt động kinh tế,văn hoá chủ yếu của quốc gia đã và diễn ra chủ yếu là ở các đô thị

Trong tương lai, đô thị Việt Nam sẽ phát triển hết sức mạnh vì

đó là xu thế chung của thế giới và với hoàn cảnh thuận lợi hiện nay là

sự hợp tác của các nước trong khu vực và trên thế giới

Đô thị hoá ở Sầm Sơn là xu thế và là tính tất yếu, của quá trình

đô thị hoá đang diễn ra một cách mạnh mẽ ở nước ta hiện nay Tuynhiên, trong quá trình đô thị hoá nó lại bộc lộ những tồn tại cần đượcxem xét như: công tác quản lý, chất lượng phục vụ điều kiện pháttriển…

Chính những nguyên nhân trên đã làm ảnh hưởng ít nhiều đếnquá trình đô thị hoá ở thị xã Sầm Sơn, trong những năm qua

Vì vậy để tìm hiểu, và nghiên cứu sâu hơn về quá trình đô thị

hoá ở thị xã Sầm Sơn Em đã lựa chọn đề tài "Thực trạng và một số giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình

đô thị hoá ở thị xã Sầm Sơn"

Trang 2

3 Mục tiêu đề tài

Thông qua đề tài này em muốn đưa ra một số giải pháp nhằmgiải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá ở thị xãSầm Sơn

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng một số phương pháp như: phương pháp thu nhập

số liệu, phương pháp phân tích số liệu

5 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài trả lời cho câu hỏi

- Đô thị hoá sẽ gặp những khó khăn gì?

- Thực trạng giải quyết việc làm cho nông dân bị mất đất sảnxuất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ra sao?

6 Kết cấu chuyên đề

Ngoài phần giới hiệu đề tài và kết luận, bài viết chia làm 3chương

Chương I Những vấn đề chung về đô thị hoá

Chương II Thực trạng giải quyết việc làm cho nông dân bị mất đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá

Chương III Một số kiến nghị và giải pháp định hướng giải quyết việc làm cho nông dân bị mất đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sầm Sơn

Trang 3

CHƯƠNG I : XU THẾ ĐÔ THỊ HOÁ Ở SẦM SƠN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ

Trong khái niệm này cần lưu ý một số điểm sau đây:

- Trung tâm tổng hợp: Những đô thị là những trung tâm tổnghợp, khi chúng có vai trò và chức năng nhiều mặt về chính trị, kinh

tế , văn hoá, xã hội.v.v…

- Trung tâm chuyên ngành: Những đô thị là trung tâm chuyênngành, khi chúng có vai trò chức năng chủ yếu về một mặt nào đónhư: Công nghiệp cảng, du lịch, nghỉ dưỡng, đầu mối giao thôngv.v…

- Một đô thị là trung tâm tổng hợp của một vùng hay của mộttỉnh có thể cũng là trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnhhoặc toàn quốc Do đó, việc xác định một trung tâm tổng hợp haychuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trí của đô thị đó trong một vùnglãnh thổ nhất định

Trang 4

- lãnh thổ đô thị gồm : Nội thành hoặc nội thị ( gọi chung là nộithị) và ngoại ô các đơn vị hành chính của nội thị gồm: Quận vàphường, còn các đơn vị hành chính của ngoại ô gồm: Huyện và xã

- Cơ sở hạ tầng đô thị: Cơ sở hạ tầng đô thị gồm hạ tầng kỹ thuật( giao thông, thông tin - liên tục, cấp nước, cấp năng lượng, thoátnước, xử lý rác thải, vệ sinh môi trường) và hạ tầng xã hội ( nhà ở, cáccông trình thương nghiệp, dịch vụ công cộng, ăn uống, nghỉ dưỡng, y

tế, văn hoá, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao,công viên cây xanh và các công trình phục vụ lợi ích công cộng khác)

Cơ sở hạ tầng đô thị phản ánh trình độ phát triển, mức tiện nghisinh hoạt của người đô thị và được xác định theo các chỉ tiêu cơ bảnsau:

- Quy mô dân số: Quy mô dân số tối thiểu của một đơn vị khôngnhỏ hơn 4.000 người Riêng ở miền núi, quy mô dân số tối thiểu củamột đô thị không nhỏ hơn 2.000 ngườ Quy mô này chỉ tính trong nội

bộ

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp: Tỷ lệ lao động phi nôngnghiệp của một đô thị không nhỏ hơn 60% Tỷ lệ này chỉ tính trongnội thị Các đơn vị hành chính của nội thị gồm: Quận và phường, còncác đơn vị hành chính của ngoại ô gồm: Huyện và xã

1.2 Khái niệm đô thị hoá

Đô thị hoá chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện dưới nhiềuhình thức khác nhau, vì vậy có thể nêu khái niệm dưới nhiều góc độ

Trên quan điểm một vùng: Đô thị hoá là một quá trình hìnhthành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị.Trong ngôn ngữ báo chí hàng ngày, chúng ta thường gặp cácc cụm từgốc độ đô thị hoá, trình độ đô thị hoá nhằm mô tả diễn biến, tình trạngcủa quá trình ví dụ: " Đô thị hoá ở Nhật Bản đạt trình độ rất cao", "đôthị hóa ở Hàn Quốc có tốc độ nhanh" Tốc độ đô thị hoá có thể có hai

Trang 5

về mặt dân số, kinh tế giữa các thời kỳ để xác định quy mô tăng thêmtrong một thời kỳ nhất định Trên gốc đô thị kinh tế - xã hội ta có théhiểu nó như là tỷ lệ dân số đô thị trong tổng sổ ở một thời điểm nhấtđịnh

Trên quan điểm kinh tế quốc dân: Đô thị hoá là một quá trìnhbiến đổi về sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất, bố trí dân cưnhững vùng không phải đô thị thành đô thị

Đô thị hoá có những đặc điểm sau đây:

Đô thị hoá mang tính xã hội và lịch sử và là sự phát triển về quy

mô, số lượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thànhcác chùm đô thị

Đô thị hoá gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hộicủa đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thôngvận tải, xây dựng, dịch vụ Do vậy, đô thị hoá không thể tách rời mộtchế độ kinh tế - xã hội

Phương hướng và điều kiện phát triển của quá trình đô thị hoáphụ thuộc vào trình độ phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất

ở các nước phát triển, đô thị hoá đặc trưng cho sự phát triển cácnhân tố chiều sâu ( điều tiết và khai thác tối đa các ích lợi, hạn chế bấtlợi của quá trình đô thị hoá) đô thị hoá nâng cao điều kiện sống vàlàm việc…công bằng xã hội, xoá bỏ khoảng cách thành thị và nôngthôn

ở nước đang phát triển, như Việt Nam, đô thị hóa đặc trưng cho

sự bùng nổ về dân số, còn sự phát triển công nghiệp tỏ ra yếu kém Sựgia tăng dân số không dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp và pháttriển kinh tế Mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trở nên sâu sắc

do sự mất cân đối, do độc quyền trong kinh tế

Tiền đề cơ bản của đô thị hoà là sự phát triển công nghiệp haycông nghiệp hoá là cơ sở phát triển của đô thị hóa Đô thị hoá trên thế

Trang 6

giới bắt đầu từ cách mạng công nghiệp ( tượng trương là máy hơinước) đã thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc với năngsuất lao động cao hơn và đã làm thay đổi về cơ cấu lao động xã hộitrên cơ sở phân công lao động xã hội Đồng thời, cách mạng côngnghiệp đã tập trung hoá lực lượng sản xuất ở mức độ cao dẫn đến hìnhthành đô thị mới, mở rộng quy mô đô thị cũ Ngày nay, với cuộc cáchmạng khoa học - kỹ thuật mà tượng trưng cho nó là những cỗ máy vitính, những siêu xa lộ đã và sẽ mạnh mẽ hơn bao giờ hết Như vậy,mỗi nền văn minh đều tạo ra một phong cách sống, làm việc thíchhợp, một hình thái phân bố dân cư, một cấu trúc đô thị thích hợp

Đô thi hoá nông thôn: là xu hướng bền vững có tính quy luật Làquá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sóng thành phố chonông thôn (cách sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt…).Thực chất đó cũng là tăng trưởng đô thị theo xu hướng bền vững…

Đô thị hóa ngoại vi: là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vicủa thành phố do kết quả phát triển công nghiệp, và cơ hạ tầng…tạo racác cụm đô thị, liên đô thị góp phần đẩy nhanh đô thị hoá nông thôn

1.3 Đô thị hoá ở Việt Nam – Một xu thế tất yếu của các nước đang phát triển

Một trong những vấn đề nổi bật của sự phát triển thế giới ngàynay là sự gia tăng nhanh chóng số lượng và quy mô các thành phố,trong đó tập trung các hoạt động chủ yếu của con người, nơi diễn racuộc sống vật chất, văn hoá và tinh thần của một bộ phận dân số Cácthành phố chiếm một vị trí ngày càng to lớn trong quá trình phát triển

Trang 7

đã tạo nên các vùng đô thị Thông thường vùng đô thị bao gồm mộtvài thành phố lớn và xung quanh là các thành phố nhỏ, vệ tinh.

Hai là, quy mô dân số tập trung trong mỗi thành phố ngày càng

lớn, số lượng các thành phố có số dân trên một triệu người ngày càng

nhiều chứng tỏ mức độ tập trung dân cư cao trên một đơn vị diện tích

Ba là, việc hình thành và mở rộng quy mô đô thị với hạ tầng kĩ

thuật hiện đại dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ

Bốn là, dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh do cường độ

cao của quá trình di dân từ nông thôn ra thành thị đang làm thay đổitương quan dân số thành thị và nông thôn Lối sống của thành thị cũngđược phổ biến rộng rãi ở nông thôn,văn hoá làng xã chuyển dần sangvăn hoá đô thị, văn minh nông nghiệp chuyển dần sang văn minh côngnghiệp

Năm là, mức độ đô thị hoá biểu thị trình độ phát triển xã hội nói chung song có đặc thù riêng cho mỗi quốc gia.

Đô thị hoá được coi là kết quả của sự phát triển nói chung, cũngnhư quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng, là quá trìnhbiến đổi xã hội nông nghiệp nông thôn thành xã hội đô thị, công

nghiệp.Thực chất của quá trình đô thị hoá là quá trình chuyển dịch cơ

cấu kinh tế và cơ cấu xã hội Đối với các nước đang phát triển như

nước ta hiện nay, đang trong giai đoạn thực hiện nhiệm vụ côngnghiệp hoá hiện đại hoá đất nước thì quá trình đô thị hoá diễn ra vớitốc độ nhanh là một điều tất yếu

Đối với các nước phát triển, đô thị hoá diễn ra chủ yếu theo chiều sâu, chất lượng cuộc sống đô thị ngày càng hoàn thiện Còn đối với các nước đang phát triển, đô thị hoá tượng trưng cho sự bùng nổ

về dân số Sự gia tăng dân số không dựa trên sự phát triển công

nghiệp và sự phát triển kinh tế.Trong thời gian gần đây tốc độ đô thị

hoá ở các nước đang phát triển là rất cao, đồng thời , quá trình đô thị

Trang 8

hoá diễn ra theo chiều rộng cũng đang đặt ra nhiều vấn đề khó khăn

cần giải quyết như tỉ lệ thất nghiệp, hình thành vành đai nghèo đói vàbất bình đẳng, ô nhiễm môi trường và các tệ nạn xã hội Những vấn đề

đó đã gây ảnh hưởng xấu đến điều kiện sống ở thành thị và cản trởtiến trình phát triển xã hội

Ở Việt nam, quá trình đô thị hoá nông thôn trong những nămgần đây diễn ra với tốc độ khá nhanh, làm biến đổi bộ mặt kinh tế, vănhoá, xã hội và kiến trúc trên cả nước

Có thể nói lịch sử hình thành đô thị nước ta diễn ra sớm hơn một

số nước trên thế giới, song trong giai đoạn trước những năm 90 của

thế kỉ XX tốc độ đô thị hoá ở nước ta diễn ra rất chậm chạp và còn

thấp so với các nước trên thế giới,mà nguyên nhân chính là do sức cảncủa chế độ phong kiến, chiến tranh kéo dài, nền kinh tế nông nghiệplạc hậu, còn mang nặng tính bao cấp

Cũng trong thời kì này, dân cư đô thị nước ta trải qua nhiều biếnđộng Chiến tranh kéo dài do đó việc di chuyển dân cư giữa thành thị

và nông thôn thường xuyên xảy ra dẫn tới việc dân số đô thị không ổnđịnh trong một thời gian dài

Sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế từ bao cấp sang nền kinh tế

thị trường , quá trình đô thị hoá đã có những chuyển biến nhanh hơn,

đặc biệt trong những năm gần đây khi tình hình công nghiệp hoá đangdiễn ra mạnh mẽ Tốc độ đô thị hoá (so với số dân) ở Việt Nam khánhanh : 18,5%(năm 1989) : 20,5%(1997); 23,6%(1999) và nay là 25%

Mạng lưới đô thị nước ta phân bố khá đều trên lãnh thổ nhưng

phần lớn quy mô còn nhỏ và đa dạng về loại hình.Năm 1999, cả nước

có khoảng 400 thị trấn, nay tăng lên khoảng 651 thị trấn Cuối nhữngnăm 90 của thế kỉ XX, dân số của các thị trấn dao động từ 2000 –

30000 người thì nay dao động này từ 2000 – 50000 người Tỉ lệ dân

số phi nông nghiệp của thị trấn phổ biến ở mức 30 – 40% vào cuối

Trang 9

những năm 90, nay đã lên mức 50 – 60% Năm 1998 có khoảng 60 đôthị loại 4 nay tăng lên 84 đô thị.

Đô thị hoá nông thôn là một quá trình phát triển tất yếu của mộtquốc gia, đặc biệt đối với nước ta là nước đang trong giai đoạn đầucủa công cuộc công nghiệp hoá đất nước.Kinh tế càng phát triển, tốc

độ đô thị hoá diễn ra càng nhanh

Quá trình đô thị hoá đã làm biến đổi bộ mặt kinh tế xã hội và

điều chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy được là nông thôn đang xíchlại gần hơn với thành thị Quá trình đô thị hoá nông thôn đã biến nềnsản xuất nông nghiệp độc canh trở thành nền sản xuất hàng hoá đangành nghề Lối sống thành phố du nhập vào nông thôn rất nhanh, tácđộng lớn tới cuộc sống, phong tục, tập quán thôn quê Việt Nam vànhững giá trị văn hoá truyền thống lâu đời Đời sống vật chất củangười dân ngày một nâng cao, nhà cửa khang trang, sạch đẹp hơn,đường sá được mở rộng, nâng cấp giúp đi lại thuận tiện hơn Ngườinông dân trước kia chỉ quanh quẩn trong thôn làng, giờ mở rộng quan

hệ ra bên ngoài.Quá trình đô thị hoá thực sự là một công cuộc vậnđộng xã hội sâu xa và đồng bộ.Đó là một quá trình tiến tới sự ngangbằng dần các tiêu chuẩn sống, tiện nghi sống giữa thôn quê và đô thị

Bên cạnh những mặt tích cực thì quá trình đô thị hoá cũng làm

nảy sinh những mặt tiêu cực như thu hẹp đất đai canh tác nông nghiệp,

gây nguy cơ ô nhiềm môi trường Quá trình đô thị hoá nông thôn hiệnnay tập trung mạnh tại các đô thị lớn và diễn ra không đồng đều giữacác vùng trong cả nước Chất lượng và trình độ đô thị hoá nông thôncòn thấp Cơ sở hạ tầng xã hội và kĩ thuật đô thị còn yếu kém về chấtlượng phục vụ so với yêu cầu Quy hoạch và kiến trúc các đô thị cònmang tính tự phát Định hướng phát triển không gian khu vực đô thịhoá chưa rõ nét, đặc biệt còn phát triển một cách tuỳ tiện, mang nặng

Trang 10

tính hình thức đô thị, chưa thực sự giải quyết vấn đề cốt lõi của đô thịhoá đối với khu vực dân cư hiện có : chưa gắn kết chất lượng đô thịvới giữ gìn bản sắc ,kiến trúc truyền thống trên cơ sở đảm bảo tiệnnghi cuộc sống đô thị cho người dân và đảm bảo phù hợp về cảnhquan đô thị Mặt trái của quá trình đô thị hoá cũng biểu hiện rõ ngaytrong mối quan hệ giữa con người với con người , những nét đẹptruyền thống trong gia đình họ hàng, làng xóm, láng giềng cũng cóphần bị tổn hại Mâu thuẫn giữa người già trong vệc cố giữ những giátrị truyền thống với thế hệ trẻ sống theo xu thế hiện đại ngày một tăng,quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình xa dần Tất cả nhữngđiều đó đều là hệ quả tất yếu của quá trình đô thị hoá theo chiều rộng

ở các nước đang phát triển nói chung và ở Việt nam nói riêng

2 Xu thế đô thị hoá ở Việt Nam

2.1 Các hình thái biểu hiện của quá trình đô thị hoá ở Việt Nam

hình thành các quận mới, phường mới, các khu đô thị mới

Đây được coi là hình thức đô thị hoá theo chiều rộng và là hìnhthức phổ biến đối với các đô thị ở Việt nam Việc mở rộng các đô thịkhiến cho diện tích đất đô thị và quy mô dân số gia tăng một cáchnhanh chóng.Sự hình thành các đô thị mới sẽ giúp cho các khu vựcphát triển một cách đồng đều hơn Khu đô thị mới là khu đô thị đangđược phát triển tập trung theo dự án đầu tư xây dựng hoàn chỉnh, đồng

bộ các công trình kết cấu hạ tầng, các công trình sản xuất, các côngtrình phúc lợi và nhà ở Việc xây dựng các khu đô thị mới là kết quảcủa việc thực hiện chương trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đôthị hoá xuất phát từ yêu cầu thực tế cải thiện chất lượng cuộc sốngcũng như nhằm giải quyết sự quá tải về dân số trong điều kiện quá tảicủa thành phố Công việc này đòi hỏi có sự đầu tư lớn của Nhà nướctrên cơ sở quy hoạch cụ thể

Trang 11

- Hiện đại hoá và nâng cao trình độ các đô thị hiện có

Đây là quá trình thường xuyên và tất yếu của quá trình tăngtrưởng và phát triển.Các nhà quản lí đô thị và các thành phần kinh tếtrên địa bàn đô thị thường xuyên vận động nhằm làm giàu thêm cho

đô thị của mình quá trình đó đòi hỏi nhà quản lí cần phải có năng lựcđiều tiết và sử dụng hiệu quả tối đa các nguồn lực có trên địa bàn trên

cơ sở hiện đại hoá trên mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội ở đô thị Ngàynay, tính bền vững của chiến lược phát triển đô thị phụ thuộc rất lớnvào nội lực của mỗi thành phố

2.2 Xu hướng đô thị hoá ở Việt nam

- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ

trong các đô thị lớn

Sự hình thành các trung tâm có tính chất chuyên ngành trongnhững đô thị lớn là xu thế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đôthị, là biểu hiện của chuyên môn hoá cao trong sản xuất.Đây cũng làmột trong những biểu hiện của quá trình đô thị hoá theo chiều sâu Tất

cả các hoạt động có cùng đặc điểm, tính chất được tập trung vào mộtkhu vực tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu tốt hơn, sản xuất với năngsuất và hiệu quả cao hơn, đồng thời nâng cao được sức cạnh tranh củasản phẩm đô thị Bên cạnh đó cũng tạo ra được một khối lượng việclàm nhất định giải quyết được một phần nạn thất nghiệp, một trongnhững vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá

vụ ở các vùng ngoại ô

Sự hình thành các trung tâm của mỗi vùng có tính khách quannhằm đáp ứng các nhu cầu sản xuất và đời sống ngày càng tăng củavùng đó Các trung tâm này có thể coi là điểm nối giữa các đô thị lớn,giúp cho các đô thị hoạt động có hiệu quả hơn Trong quá trình đô thịhoá, các trung tâm này sẽ trở thành những đô thị vệ tinh của các đô thịlớn

Trang 12

- Chuyển một vùng nông thôn thành đô thị

Đây là một xu hướng hiện đại và cũng mới xuất hiện ở nước ta ,bởi để thực hiện được xu hướng này đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn củaNhà nước Vấn đề cơ bản khi thực hiện xu hướng này là tạo nguồn tàichính để cải tạo đất, xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại

3 Những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá ở Việt Nam

- Vấn đề thu hẹp diện tích đất nông nghiệp

Dù quá trình đô thị hoá diễn ra theo hình thức mở rộng quy môdiện tích đô thị hay hiện đại hoá và nâng cao trình độ các đô thị hiện

có thì đều dẫn đến sự chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất Hình thức pháttriển theo chiều rộng đưa đến tình trạng thu hẹp đất canh tác nôngnghiệp nhanh chóng do Nhà nước thu hồi để phục vụ cho việc pháttriển đô thị, phát triển cơ sở hạ tầng, các khu công nghiệp, xây dựngcác công trình công cộng Thực chất của quá trình này là thay đổimụcđích sử dụng đất : Từ đất nông nghiệp chuyển sang đất sản xuấtcông nghiệp, thương mại, dịch vụ, đất ở Quá trình này góp phần làmtăng hiệu quả sử dụng đất nói chung nhưng cũng gây ra không ít vấn

đề xã hội

- Vấn đề dân số, lao động và việc làm

Trong quá trình đô thị hoá, dân số và lao động các đô thị tănglên nhanh chóng do nhiều lí do như hiện tượng di dân từ các vùngkhác đến, sự dôi dư lao động nông nghiệp do bị thu hẹp diện tích đất

Trang 13

dân số tự nhiên ở các đô thị lớn nói chung là rất thấp nhưng tỉ lệ tăngdân số cơ học lại rất cao Điều này gây ra áp lực giải quyết việc làmrất lớn đối với các đô thị, đặc biệt là trong giai đoạn đô thị hoá diễn ramạnh mẽ như hiện nay.

Trong quá trình đô thị hoá nói chung và đô thị hoá theo chiềurộng nói riêng, cơ cấu dân cư theo tuổi, giới tính, tầng lớp xã hội,nghề nghiệp thay đổi một cách nhanh chóng Thu nhập của mỗi nhómdân cư, mỗi ngành nghề là rất khác nhau Sự phân hoá giàu nghèo giatăng Điều này đòi hỏi phải có những giải pháp phối hợp tổng thểxuyên suốt nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều thành phần trong xãhội

- Vấn đề ô nhiễm môi trường

Cùng với tốc độ đô thị hoá ngày một nhanh thì tốc độ xây dựng,tốc độ gia tăng dân số, quy mô sản xuất cũng tăng lên nhanhchóng.Sự gia tăng dân số làm cho vấn đề ô nhiễm rác thải , ô nhiễmnguồn nước trở nên trầm trọng hơn Bên cạnh đó, mật độ giao thôngtrong các đô thị gia tăng, các kết cấu hạ tầng xuống cấp chưa được tusửa và các công trình xây dựng mới tràn lan khiến cho môi trườngkhông khí bị ô nhiễm nghiêm trọng Ngoài ra ở các vùng giáp ranh đôthị, do chính sách di chuyển các nhà máy, xí nghiệp, các trungtâm,các cụm công nghiệp ra các vùng ngoại ô của thành phố, nếukhông có chính sách kịp thời sẽ khiến môi trường khu vực này bị đedoạ

- Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong quá trình đô thị hoá, cơ cấu ngành kinh tế sẽ chuyển dịchtheo xu hướng chung là tăng dần tỉ trọng giá trị sản xuất ở khu vực II

và khu vực III, đồng thời giảm dần tỉ trọng của khu vực I

Đối với các khu đô thị mới, nhờ có sự tập trung lực lượng sảnxuất có trình độ chuyên môn, có tổ chức sẽ làm cho năng suất lao

Trang 14

động tăng , thu nhập của người lao động nhờ đó cũng tăng theo và cơcấu kinh tế chuyển dịch theo chiều sâu.

Còn đối với khu vực giáp ranh giữa đô thị và nông thôn ,cơ cấukinh tế thay đổi theo hướng khu vực I giảm dần và khu vực II tăngdần Nguyên nhân là do diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, nhiềunông dân phải chuyển đổi nghề nghiệp;các khu công nghiệp, thươngmại, dịch vụ được xây dựng nhằm phục vụ quá trình đô thị hoá Nhìnchung sự thay đổi cơ cấu kinh tế được thấy rõ nhất ở những vùng ven

đô, ngoại thành là nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình đô thịhoá

- Vấn đề văn hoá xã hội

Đô thị hoá góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần chonhân dân, hình thành lối sống công nghiệp, hiện đại.Tuy nhiên do quy

mô dân số tăng nhanh, tiền Nhà nước đền bù đất để hỗ trợ nôngchuyển đổi nghề không được sử dụng đúng mục đích sẽ làm cho tỉ lệthất nghiệp gia tăng nhanh chóng kéo theo một loạt các vấn đề xã hộikhác

Bên cạnh đó, sự thay đổi lối sống, phong tục, tập quán, sự phânhoá giàu nghèo diễn ra nhanh chóng, nhu cầu giáo dục, ytế gia tăng,các vấn đề về tệ nạn xã hội và nghèo đói được đặt ra và là nhữngthách thức lớn đối với các đô thị trong quá trình phát triển kinh tế xãhội

- Vấn đề phát triển hạ tầng kĩ thuật

Quá trình đô thị hoá là quá trình hình thành nhanh chóng kết cấu

hạ tầng kĩ thuật như : hệ thống điện, nước, giao thông vận tải,thôngtin liên lạc, hệ thống chợ, các khu chung cư mới, hệ thống trường học,bệnh viện, công viên Các yếu tố này không phải lúc nào cũng pháttriển kết hợp với các nhu cầu thực tế ở các đô thị Bên cạnh đó, cùngvới sự gia tăng dân số, nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hoá làm cho

Trang 15

nghẽn giao thông ở các đô thị trong cả nước luôn là vấn đề bức xúccần giải quyết

II ĐÔ THỊ HOÁ Ở SẦM SƠN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT SINH

1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế,xã hội của Thị Xã Sầm Sơn

* Về khí hậu thuỷ văn: Sầm Sơn có sắc thái đặc trưng của khíhậu nhiệt đới ẩm, gió mùa nhiệt độ trung bình năm đạt 24-250C, độ ẩmtương đối cao, dao động từ 80-90% lượng mưa trung bình năm đạtkhoảng 1700 -1900mm

1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Về dân số và lao động: Từ khi thành lập đến nay, thị xã có 3phường, 2 xã dân số trung bình năm 2005 là 510.000người, có mật độdân số khu vực nội thị 44050 người/km2, tỷ lệ tăng dân số tự nhiênlà1,19% năm, tỷ lệ tăng cơ học là 1,21%

Trong tổng số dân cư toàn thị xã thì số người ở độ tuổi có khảnăng lao động là 261.000 người, chiếm 52,4% dân cư

Trang 16

2 Quá trình đô thị hoá ở Sầm Sơn và những kết quả đạt được

2.1 Quá trình đô thị hoá ở Sầm Sơn

2.1.1 Mục tiêu đô thị hoá

2.1.2 Quá trình đô thị hoá ở Sầm Sơn

Năm 1997, sau khi mất đi phần lớn những khu đô thị , địa bàncông nghiệp thương mại, dịch vụ hoạt động sôi động nhất, thị xã cònlại 1 thị trấn và 15 xã phần lớn còn mang nặng tính chất thuần nông.Kinh tế của thị xã thực sự chỉ khởi sắc trở lại sau năm 2000, khi màquá trình đô thị hoá trên địa bàn diễn ra một cách mạnh mẽ

Quá trình đô thị hoá ở Sầm Sơn gắn liền với việc thực hiện cácchương trình, dự án lớn của thành phố trên địa bàn huyện Trong giaiđoạn đầu của quá trình đô thị hoá ( 2001 – 2005 ), các dự án lớn như :Trung tâm thể dục thể thao quốc gia, các trung tâm thương mại, tàichính , các khu đô thị mới, khu công nghiệp tập trung vừa và nhỏ, khungoại giao đoàn đã tạo ra cho thị xã một bộ mặt không gian mới.Việc xây dựng các chương trình dự án lớn của quốc gia, thành phố vàcủa thị xã trong thời kì này đã làm giảm mạnh diện tích đất nôngnghiệp trên địa bàn, tất yếu dẫn đến cơ cấu ngành nông nghiệp có sựthay đổi

Quá trình hình thành khu công nghiệp tập trung vừa và nhỏ đãthu hút các doanh nghiệp vào hoạt động, thêm vào đó là các doanhnghiệp mới thành lập và doanh nghiệp từ nơi khác chuyển đến đã tạo

ra sự tăng trưởng khá nhanh ngành công nghiệp của huyện

Cơ cấu kinh tế của thị xã nhờ đó đã có sự chuyển dịch

Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự chuyển dịch cơcấu lao động Tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp giảm dần

Tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng dần

Ngoài ra, sự hình thành các khu đô thị mới cùng với việc ngày

Trang 17

theo một lượng dân cư lớn từ nơi khác chuyển đến, làm cho cơ cấu xãhội thay đổi.

Quá trình đô thị hoá ở thị xã Sầm Sơn trong những năm tới còntiếp tục diễn ra mạnh mẽ Theo quy hoạch phát triển của huyện, đếnnăm 2010, toàn bộ thị xã Sầm Sơn sẽ tách thành 2 quận lấy đường 32làm ranh giới :

2.2.1 Không gian đô thị được mở rộng

Quá trình đô thị hoá nhanh trong những năm qua đã tạo điềukiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và hệ thống hạ tầng kĩ thuật củahuyện Nhiều khu đô thị mới được hình thành, nhiều trung tâm côngnghiệp, thương mại, dịch vụ được xây dựng đã góp phần làm thayđổi bộ mặt kinh tế xã hội của huyện

Sự hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ :

Sự phát triển hạ tầng kĩ thuật

Quá trình đô thị hoá tạo đã điều kiện thuận lợi để phát triển hệthống hạ tầng kĩ thuật trên địa bàn huyện Cơ sở vật chất hạ tầng kĩthuật nông nghiệp nông thôn từng bước được hiện đại hoá

Về giao thông : Trong giai đoạn 2001 – 2004, thị xã đã tập trungđầu tư nâng cấp cải tạo được 112,5 km đường giao thông liên thôn,liên xã; xây mới được một tuyến đường theo quy hoạch.Toàn thị xã

đã có trên 250 km đường giao thông thôn, xóm trong đó đã bê tông,nhựa gạch hoá được 96,5% tăng 41,6% so với năm 2000 với sự pháttriển của mạng lưới giao thông sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho pháttriển sản xuất và lưu thông hàng hoá

Về hệ thống điện :

Trang 18

Đến năm 2003 thị xã đã hoàn thành đề án điện nông thôn với100% xã có mạng lưới điện được nâng cấp, cải tạo Chất lượng điệnnhờ đó cũng được tăng lên, tổn thất điện năng giảm từ 5 – 7%, giá bánđiện dưới mức giá trần của nhà nước, góp phần đáp ứng nhu cầu điệnsản xuất và sinh hoạt cho nhân dân Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 100%.

Về nước sạch

Nhu cầu sử dụng nước sạch trong địa bàn thị xã là rất lớn vàquan trọng Trong giai đoạn 2001 – 2004, thị xã dã xây dựng được 9trạm cấp nước tập trung và 32,2 km đường ống tại 8 xã, góp phầnnâng tỷ lệ dân được sử dụng nước sạch lên con số 99%

2.2.2 Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch nhanh chóng

Nhận thức được vị trí quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tếđối với nền kinh tế của huyện, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lầnthứ X đã xác định nhiệm vụ bao trùm của thị xã trong 5 năm 2001 –

2005 là : “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế gắn với chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, kết hợp chặt chẽ giữa hiệu quả kinh tế với giải quyếtnhững vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường ” trong giai đoạn 2001–2004, cơ cấu kinh tế do thị xã quản lí có xu hướng chuyển dịch tíchcực Kết quả đó được thể hiện rõ trong bảng số liệu dưới đây :

Trang 19

Biểu 1 : Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thị xã Sầm Sơn

giai đoạn 2001 – 2004

GTS

X (triệuđ)

TL(%)

GTSX( triệuđ)

TL(%)

GTS

X (triệuđ)

TL(%)

GTSX(triệu

đ )

TL(%)

( giá trị sản xuất được tính theo giá hiện hành)

Qua bảng trên, ta có thể thấy cơ cấu kinh tế của thị xã chuyểndịch theo hướng Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – thương mại,dịch vụ – nông , lâm, thuỷ sản Tỉ trọng giá trị sản xuất ngành nôngnghiệp giảm dần từ 27,7 (năm 2001 ) xuống còn 20% (năm 2004) Trong khi đó tỷ trọng giá trị sản xuất ngành công nghiệp, xây dựngtăng dần từ 47,2% ( năm 2001) lên tới 55,5% (năm 2004) Tỷ trọngcác ngành thương mại, dịch vụ giữ mức giao động từ 24,2 – 26,6%

Sự chuyển biến cơ cấu kinh tế theo xu hướng trên có tác độngrất lớn bởi quá trình đô thị hoá đang diễn ra với tốc độ khá nhanh trênđịa bàn huyện

Về phát triển các ngành công nghiệp xây dựng

Trong giai đoạn 2001 – 2004,tốc độ gia tăng giá trị sản xuấtbình quân ngành công nghiệp xây dựng trên địa bàn xấp xỉ 25%

Trang 20

Biểu 2 :Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp

-xây dựng thị xã Sầm Sơn giai đoạn 2000 - 2004

( giá trị sản xuất được tính theo giá cố định năm 1994)

Về phát triển thương mại - dịch vụ – vận tải

Giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ vận tải năm 2004 của thị xãđạt 354.115 triệu đồng ( tính theo giá cố định năm 1994) bình quântăng 18,2%/năm trong đó giá trị sản xuất ngành thương mại dịch vụtăng bình quân 18% / năm

Ngành thương mại dịch vụ, vận tải có tốc độ tăng trưởng khácao nhưng do tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp cao hơn nên

cơ cấu kinh tế ngành thương mại chỉ đạt 25,8% (trong khi chỉ tiêu củathị xã đặt ra là đạt 29%)

Biểu 3 : Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành thương mại - dịch vụ - vận tải thị xã Sầm Sơn giai đoạn

( Giá trị sản xuất được tính theo giá cố định năm 1994)

Về phát triển nông nghiệp

Trang 21

Trong giai đoạn 2001 – 2004, do tốc độ đô thị hoá nhanh nêndiện tích đất nông nghiệp giảm 962 ha, do đó giá trị sản xuất ngànhnông nghiệp ( theo giá cố định năm 1994), tăng 2,7% so với năm

2000, tăng bình quân 0,45%/ năm ( chỉ tiêu đặt ra là 1-2%)

Biểu 4 : Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp thị xã Sầm Sơn giai đoạn 2000 - 2004

(giá trị sản xuất được tính theo giá cố định năm 1994)

Biểu 5 : Xu hướng chuyển dịch cơ cấu nội bộ

ngành nông nghiệp

Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004

GTSX(triệu đ)

Tỷ lệ( % )

GTSX(triệu đ)

Tỷ lệ( % )

GTSX(triệu đ)

Tỷ lệ( % )

GTSX(triệu đ)

Tỷ lệ( % )

Trồng trọt 165798 70,1 173127 70,4182117 70,6 217576 76Chăn nuôi 59197 25,0 61191 24,9 61771 23,9 56402 19,7Thuỷ sản 11600 4,9 11702 4,7 14071 5,5 12360 4,3

Nguồn : Phòng kinh tế - kế hoạch và phát triển nông thôn thị xã Sầm Sơn

(giá trị sản xuất được tính theo giá hiện hành)

Trong giai đoạn 2001 – 2004, tỷ trọng ngành trồng trọt ở thị xãvẫn ở mức cao và có xu hướng tăng lên Do ảnh hưởng của quá trình

đô thị hoá ngành trồng trọt với đặc điểm cơ bản là sản xuất gắn liềnvới đất đai trên cả phương diện số lượng, chất lượng nên khi diện tích

Trang 22

đất nông nghiệp giảm thì sẽ tất yếu dẫn đến giảm giá trị sản xuất củangành Do trong thời gian gần đây, thị xã thực hiện chuyển đổi mạnh

cơ cấu cây trồng theo hướng giảm diện tích trồng lúa, tăng diện tíchtrồng hoa và ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật rộng rãi nên mặc dùdiện tích đất nông nghiệp có giảm song giá trị sản xuất ngành trồngtrọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị ngành nông nghiệp, và

có xu hướng tăng trong một vài năm gần đây Ngay trong nội bộngành trồng trọt cũng có sự thay đổi Tỷ trọng giá trị sản xuất cây ănquả và cây hoa tăng dần lên và giảm dần tỷ trọng giá trị sản xuất câylương thực

Trong khi đó tỷ trọng ngành chăn nuôi lại giảm đi Sở dĩ xảy ratình trạng bất hợp lí này là do trong giai đoạn này, kinh tế chăn nuôicủa thị xã chịu ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm trong 2 năm 2003,

2004 Giá trị sản xuất cuả ngành chăn nuôi theo giá cố định năm 1994ước đạt 5.100 triệu đồng bằng 65% so với năm 2000

2.2.3 Sự phát triển văn hoá xã hội

Đô thị hoá là một hiện tượng dân số kinh tế, xã hội, được coi làkết quả của sự phát triển nói chung cũng như quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá nói riêng, là quá trình biến đổi xã hội nông nghiệpnông thôn thành xã hội đô thị, công nghiệp

Xét về khía cạnh tích cực, quá trình đô thị hoá làm biến đổi đời

sống nhân dân trong khu vực theo chiều hướng tốt đẹp hơn.

Quá trình đô thị hoá trước hết có tác động lớn tới sự nghiệp

giáo dục trên địa bàn.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế ,người

dân nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của giáo dục đối vớicông việc và đời sống

Cho đến cuối năm 2000, toàn thị xã đã hoàn thành việc phổ cậpcấp II cho toàn bộ 16 xã và thị trấn

Năm 2005, số học sinh theo học trên toàn thị xã là khoảng

Trang 23

trẻ đạt 33,5% (năm 2005) tăng 5% so với năm 2000.;Tỷ lệ trẻ em đimẫu giáo ước đạt 84% tăng 9% so với năm 2000 Tỷ lệ học sinh tốtnghiệp tiểu học và trung học cũng tăng dần theo các năm Năm 2004

tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học đạt 100% Tỷ lệ học sinh tốt nghiệptrung học cơ sở năm 2004 đạt 94,83%

Trang 24

Biểu 6 : Một số chỉ tiêu giáo dục của thị xã Sầm Sơn

giai o n 2000 2004 đoạn 2000 – 2004 ạn 2000 – 2004 – 2004

Đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004Tổng số trường học

TrườngTrườngTrườngTrườngTrường

6529

0200160

6529

0200160

6529

0205160

6528

0205170

6427

0207171

h/sinhh/sinh

32.00915.41212.1474.450

3.471979

33.33714.43112.3456.561

5.2511.310

32.52513.66512.4166.444

4.8791.565

31.69213.34912.1586.185

4.7361.449

31.87512.78212.1936.900

5.5001.400

%

13.63410000

14.43110000

13.66510000

13.34910000

12.7821004.68338,4

2.4873.3561.207

6.742

2.4592.8871.396

6.594

2.3572.8061.431

Trang 25

32,58010097,3

32,58110097,7

3382,610094,83

Nguồn: Phòng Kinh tế - Kế hoạch và phát triển nông thôn thị xã Sầm Sơn

Về cơ sở vật chất:

Cho đến nay 100% được đầu tư kiên cố khang trang, sạch đẹp trong giai đoạn này thị xã cũng đã tập trung vốn đầu tư thực hiện việc xoá bỏ phòng học cấp 4 khôí trường học Số trường chuẩn quốc gia trên toàn thị xã hiện nay là 8 trường

Hệ thống đào tạo nghề hiện nay trên địa bàn thị xã gồm có 5 trường cao đẳng và trung cấp dạy nghề, ngoài ra còn có hai trung tâm dạy nghề của thị xã nhằm đáp ứng nhu cầu học nghề của nhân dân trên địa bàn

Khía cạnh thứ hai mà đô thị hoá tác động tới đời sống nhân dân

đó là về y tế.

Trong giai đoạn 2000 – 2004, thị xã đã đầu tư vốn để cải tạo các trạm y tế và trang bị các phương tiện khám chữa bệnh cho phòng khám đa khoa của khu vực Đã xây dựng một trung tâm y tế của

huyện Tính đến năm 2005, 100% các trạm y tế trên địa bàn thị xã đạttiêu chuẩn quốc gia

Biểu 7 : Một số chỉ tiêu về y tế của thị xã Sầm Sơn

giai đoạn 2000 – 2004

Đơn 2000 2001 2002 2003 2004

Trang 26

1000

1000

1004

Về Văn hoá - Xã hội - Thể dục thể thao: Hưởng ứng cuộc vận

động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá mới Tỷ lệ hộ đạttiêu chuẩn gia đình văn hoá năm 2004 là 80,5%, tăng 6,5% so vớinăm 2000 Đời sống văn hoá của nhân dân không ngừng được nângcao Tỷ lệ hộ được xem truyền hình đạt 100%; Tỷ lệ hộ có điện thoại

là 34% Cho đến nay, thị xã đã nhận danh hiệu 10 làng văn hoá cấpthành phố

Phong trào thể dục thể thao trong thị xã được phát triển sâu rộngtrong nhân dân Tỷ lệ số người tham gia hoạt động thể dục thể thaođạt 23% tăng 11%; Gia đình thể thao đạt 17%, tăng 7,0% so với năm2000

Biểu 8 : Một số chỉ tiêu văn hoá xã hội thị xã Sầm Sơn

giai đoạn 2000 - 2004

Đơnvị

Trang 27

%

88931797922.7761215

88,1931797930.3671515,5

88,388,71798136.36017,316

88,4901798344.6421916,5

80,584,51798455.4482317

- Đối tượng nghiện

ma tuý được chữa trị

0,8

243

118274,8

4,26

364

13727,55,4

2,83

475

15627,86,2

1,28

607

19126,56,8

0,56

612

322277,2

3 Số xã đạt tiêu chuẩn

nông thôn hiện đại

hoặc du lịch sinh thái

Trang 28

lần so với năm 2000 Tỷ lệ hộ có nhà kiên cố đạt 65%, tăng 15% sovới năm 2000

3 Những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá ở Sầm Sơn

3.1 Biến động đất đai trên địa bàn thị xã Sầm Sơn

Trong những năm qua, do tốc độ đô thị hoá nhanh nên việcchuyển đổi mục đich sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất xâydựng và phát triển các ngành, các lĩnh vực khác nhau cũng diễn ra hếtsức mạnh mẽ Và hệ quả tất yếu của quá trình chuyển đổi trên là diệntích đất nông nghiệp trên địa bàn giảm dần :

Biểu 9 : Biến động đất đai thị xã Sầm Sơn thời kì 2000 - 2004

Loại đất Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004

DT (ha) TL

(%)

DT(ha)

TL(%)

DT(ha)

TL(%)

DT(ha)

TL(%)

DT(ha)

TL(%)Tổng diện

Trang 29

Nguồn: Phòng Kinh tế - Kế hoạch và phát triển nông thôn thị xã Sầm Sơn

Đất nông nghiệp : Nhìn chung thời kì 2000 – 2004, đất nông

nghiệp trên địa bàn thị xã giảm mạnh Diện tích đất nông nghiệp năm

2004 giảm 727,3 ha so với năm 2000, tức giảm đi khoảng 16,95% sovới năm 2000 ước thực hiện trong năm 2005, diện tích đất nôngnghiệp sẽ giảm 300,4 ha so với năm 2004 tức giảm 8,43 % , và so vớinăm 2000 diện tích đất nông nghiệp sẽ giảm 1027,7 ha tức giảm23,96% Đất nông nghiệp giảm chủ yếu là chuyển đổi mục đích sửdụng từ đất nông nghiệp sang đất ở và đất chuyên dùng Trong nhữngnăm tới diện tích đất nông nghiệp sẽ tiếp tục giảm Đó là hệ quả tấtyếu của quá trình đô thị hoá

Đất chuyên dùng : Thời kì 2000 –2004, diện tích đất

chuyên dùng của thị xã tăng lên tương đối đồng đều, chủ yếu là đấtxây dựng tăng và đất giao thông tăng và đất an ninh quốc phòng

Đất ở : Diện tích đất ở nhìn chung vẫn tăng lên qua các

năm, đặc biệt là đất ở nông thôn để đáp ứng sự gia tăng về dân số.Quá trình đô thị hoá đã kéo theo hiện tượng di dân từ nới khác đến.Trong thời gian qua tốc độ tăng dân số cơ học của thị xã là khá nhanh

so với các khu vực khác do đó,diện tích đất ở cũng tăng lên

Đất chưa sử dụng : Đất chưa sử dụng ở thị xã nhìn chung

có giảm song mức giảm không đáng kể qua các năm Thời kì 2000 –

2004 diện tích đất chưa sử dụng giảm 7,58 ha Trong thời điểm diệntích đất nông nghiệp giảm mạnh, quỹ đất cho phát triển kinh tế xã hộicũng ngày càng hạn hẹp thì việc tận dụng có hiệu quả diện tích đấtchưa sử dụng sẽ mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực

Với việc mất đi một diện tích đất nông nghiệp lớn trongmột thời gian ngắn gây khó khăn không nhỏ cho một bộ phận nông

Trang 30

dân mất đất sản xuất trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm địabàn kinh doanh mới và việc làm mới Theo thống kê từ năm 2001 –

2003 thị xã Sầm Sơn đã đã thực hiện việc chuyển đổi 968,6 ha đấttrong đó trên 80% là diện tích đất nông nghiệp sang các mục đíchkinh tế khác Với 12.375 hộ bị thu hồi đất thì số lao động phải chuyểnđổi việc làm vì lí do trên là 32.362 người, trong đó có 13000 lao độngtrực tiếp mất việc làm và 19.362 người thiếu việc làm Điều đó gâyảnh hưởng lớn tới đời sống của người nông dân và đặt ra yêu cầu phải

có các giải pháp tạo việc làm mới và hỗ trợ việc làm cho người laođộng trên địa bàn thị xã nhất là trong hoàn cảnh trình độ học vấn cũngnhư trình độ tay nghề của nhóm dân cư này còn hạn chế nếu khôngnói là còn yếu kém Giải quyết việc làm cho những người nông dân bịthu hồi đất không chỉ mang lại những lợi ích về kinh tế, cải thiện đờisống cho người dân đồng thời hạn chế những tiêu cực trong đời sốngvăn hoá - xã hội của nhân dân

3.2 Biến động về dân số và lao động

3.2.1 Biến động về dân số

Về quy mô dân số :

Nhìn chung trong giai đoạn 2000 – 2005, dân số trung bình củatoàn thị xã có tăng và đặc biệt tăng mạnh từ năm 2003 trở lại đây.Cùng với việc diện tích đất không tăng do đó đã làm tăng nhanh mật

độ dân số của huyện

Biểu10 : Dân s và m t ố và mật độ dân số thị xã Sầm Sơn giai đoạn 2000 - ật độ dân số thị xã Sầm Sơn giai đoạn 2000 - độ dân số thị xã Sầm Sơn giai đoạn 2000 - dân s th xã S m S n giai o n 2000 - ố và mật độ dân số thị xã Sầm Sơn giai đoạn 2000 - ị xã Sầm Sơn giai đoạn 2000 - ầm Sơn giai đoạn 2000 - ơn giai đoạn 2000 - đ ạn 2000

-2004Năm

2000

Năm2001

Năm 2002 Năm

2003

Năm2004

Năm 2005( ước)

2 Diện tích 75.314 75.314 75.314 75.314 75.314 75.314

Trang 31

Xu hướng biến động dân số

Sự thay đổi quy mô dân số của một khu vực phụ thuộc vào tốc

độ tăng dân số chung của khu vực đó bao gồm cả tốc độ tăng dân số

tự nhiên và tốc độ tăng dân số cơ học

Trong giai đoạn 2000 – 2005, tỷ lệ tăng dân số trung bình củatoàn thị xã nhìn chung là có xu hướng tăng lên và còn ở mức cao

Biểu11 : Tỷ lệ tăng dân số trung bình thị xã Sầm Sơn giai đoạn 2000-2005

Năm2000

Năm2001

Năm2002

Năm2003

Năm2004

Năm2005Dân số trung

bình

195.623 202.448 210.392 234.85

8248.649 262.339

Trang 32

Qua số liệu trên cho thấy tốc độ tăng dân số trung bình của thị

xã trong thời gian qua là khá cao Tốc độ tăng dân số chung được cấuthành từ hai bộ phận : tốc độ tăng dân số tự nhiên và tốc độ tăng dân

số cơ học.Khi mà nền kinh tế càng ngày càng phát triển thì tốc độtăng dân số tự nhiên có xu hướng giảm , nhưng do tốc độ đô thị hoátrên địa bàn thị xã Sầm Sơn trong thời gian qua diễn ra khá mạnh mẽ ,dân số từ nơi khác chuyển đến với số lượng lớn nên làm tốc độ tăngdân số cơ học ở mức cao dẫn đến tốc độ tăng dân số chung trên địabàn thị xã còn ở mức cao

Về biến động dân số tự nhiên :

Biến động tự nhiên dân số là hiệu số giữa số sinh và số chết.Biến động tự nhiên dân số là biến động duy nhất dẫn đến tăng hoặcgiảm dân số

Trong thời kì 2000 – 2004 và ước thực hiện trong năm 2005,tỷ

lệ tăng dân số tự nhiên nhìn chung có xu hướng giảm Tuy nhiêntrong hai năm 2003 – 2004 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên tăng do ngườidân chưa nhận thức một cách đúng đắn về các chương trình dân số

Biểu 12: Biến động tự nhiên dân số thị xã Sầm Sơn thời kì

2000 – 2004

n v : % Đơn giai đoạn 2000 - ị xã Sầm Sơn giai đoạn 2000 -Năm

2000

Năm2001

Năm2002

Năm2003

Năm2004

Năm2005

Tỷ lệ tăng dân 1,11 1,08 1,08 1,15 1,19 1,05

Trang 33

5,340,02

1,47

5,10,02

1,51

5,3+0,04

1,503

5,40,007

1,4

4,50,103

Về tốc độ tăng dân số cơ học

Tốc độ tăng dân số cơ học phản ánh mức độ lưu chuyển của dân

cư từ vùng này đến vùng khác, là chênh lệch giữa số người đến và sốngười đi Đối với các nước đang phát triển nói chung, di dân đến cácthành phố lớn luôn là vấn đề bức xúc Còn đối với nước ta, phần lớndân số sống ở nông thôn, trong khi đó quá trình công nghiệp hoá, đôthị hoá lại đang diễn ra mạnh mẽ và phức tạp Do đó trong thời giantới dân số ở các khu vực đô thị nhìn chung sẽ còn tăng mạnh

Là một thị xã ngoại thành có tốc độ đô thị hoá cao, Sầm Sơncũng chịu ảnh hưởng của quá trình di dân như một hệ quả tất yếu củaquá trình đô thị hoá Trong những năm qua, tỷ lệ tăng dân số cơ họccủa Sầm Sơn tăng khá nhanh song với tốc độ không đều Bảng số liệudưới đây cho thấy rõ điều đó

Trang 34

Biểu 13 : Biến động dân số cơ học thị xã Sầm Sơn thời kì

2000 – 2004

Năm2000

Năm2001

Năm2002

Năm2003

Năm2004

3.2.2 Biến động về lao động việc làm

Một trong những tiêu thức đánh giá mức độ đô thị hoá của mộtvùng là hoạt động phi nông nghiệp ngày càng chiếm ưu thế trong toàn

bộ hoạt động sản xuất kinh tế quốc dân, nó được biểu hiện rất rõ qua

tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tham gia vàohoạt động kinh tế quốc dân Điều đó cũng tất yếu cho thấy lao độngnông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm dần

Về số lượng lao động

Trong giai đoạn 2000 – 2005, số lượng lao động nông nghiệp

Trang 35

hợp với quy luật phát triển kinh tế của đất nước Năm 2000, lao độngnông nghiệp tham gia hoạt động kinh tế quốc dân là 37,5%, đến 2004,lao động nông nghiệp giảm xuống còn 22,5% Trong khi đó, lao độngtrong các ngành công nghiệp, dịch vụ có xu hướng tăng lên, nhằm đápứng sự phát triển nhanh của hai ngành này

Biểu 14 : : Cơ cấu lao động của thị xã Sầm Sơn thời kì 2000

Số laođộng(người)

Tỷlệ(%

)

Số laođộng ( người)

tỷlệ(%

)

Sốlaođộng ( người)

tỷ lệ(%)

Nông

nghiệp

33.000

37,5 33.00

0

26,0

lao động

88.000

tế thị trường

Trang 36

Biểu 15 :Một số chỉ tiêu về lao động của thị xã Sầm Sơn thời kì 2002 - 2005

lao động chưa qua

đào tạo (người)

Đô thị hoá một mặt tạo điều kiện cho người lao động chuyển đổi

cơ cấu việc làm từ thuần nông sang các ngành nghề khác, giúp họ có

cơ hội nâng cao thu nhập của mình, tuy nhiên ở một khía cạnh khác,việc làm giảm một diện tích đất nông nghiệp trong một thời gian ngắnnhư vậy sẽ gây bị động cho người nông dân,nhất là khi trình độ vănhoá, chuyên môn kĩ thuật còn nhiều hạn chế Xét trên phương diệnnày thì đô thị hoá đã không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới việc làmcủa người dân mà còn gián tiếp ảnh hưởng tới đời sống xã hội củanhân dân trên địa bàn

3.3 Vấn đề ô nhiễm môi trường

Quá trình đô thị hoá nhanh trên địa bàn thị xã đã kéo theo sựphát triển của ngành công nghiệp xây dựng Việc xây dựng các côngtrình công cộng phục vụ cho sự phát triển của đất nước, các khu đô thịmới, các cụm công nghiệp đã góp phần không nhỏ vào sự pháttriển của khu vực thị xã Sầm Sơn nói riêng và thành phố Hà Nội nóichung, tuy nhiên nó cũng có không ít các mặt trái Ô nhiễm môitrường sống cũng chính là một trong các mặt trái đó

Trang 37

Việc cùng lúc xây dựng nhiều công trình lớn và trọng điểm trênđịa bàn thị xã chính là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễmkhông khí.Do trong quá trình vận chuyển nguyên vật liệu cho cáccông trình xây dựng, các thiết bị vận chuyển không che chắn cẩn thận

đã gây bụi trên các tuyến đường lớn Ngoài ra ngay tại các công trìnhxây dựng, chất thải rắn do xây dựng như kim loại, vữa, gạch, đá cũng là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm

Tại các khu tập trung dân cư, các chợ, các bến xe tình trạng ônhiễm môi trường cũng rất cao

Bên cạnh đó mật độ giao thông trên địa bàn thị xã ngày mộttăng, các phương tiện tham gia giao thông cũng tăng mạnh cũng lànguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn

Ô nhiễm môi trường nước

Trên địa bàn thị xã hiện nay, phần lớn các gia đình là sử dụngnước giếng khoan Với việc khai thác nước ngầm bừa bãi như hiệnnay, thì nguy cơ cạn kiệt nguồn nước ngầm là rất lớn.Ngoài ra dolượng nước thải bề mặt nhiều như hiện nay thì ô nhiễm nguồn nướcngầm đang là vấn đề đáng lo ngại

Ô nhiễm rác thải : Quá trình đô thị hoá tăng nhanh cùng với gia

tăng dân số trên địa bàn làm cho tổng lượng rác thải là rất lớn, nhất lànhững nơi có hạ tầng thấp kém Mặc dù trong những năm qua, thị xã

đã thực hiện chỉ đạo xã hội hoá công tác thu gom rác thải, song việcthực hiện vẫn còn nhiều bất cập

III KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho nông dân bị mất đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá của thành phố Hà Nội.

Trang 38

Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hoá theo chiều rộngcũng như

theo chiều sâu ở thành phố Hà Nội diễn ra với tốc độ ngày càngcao Những biến động đột ngột về quy mô dân số, về số lượng cácquận nội thành, về diện tích đất đô thị là kết quả của sự vận động lâudài của quá trình đô thị hoá

1.1 Một số giải pháp tạo việc làm cho người lao động

Để từng bước tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho bộ phận nôngdan và alo động không có việc làm, các cấp chính quyền thành phố đãthực hiện một số giải pháp chủ yếu sau :

Một là, tăng cường quản lí nguồn lao động ở khu vực ngoại thành và xác định nhu cầu nghề nghiệp và việc làm

Hàng năm thành phố đều tổ chức điều tra về lao động, việc làm

ở khu vực ngoại thành Trên cơ sở đó nắm bắt được số lượng lao độngchưa có việc làm và có nhu cầu tìm việc Việc đánh giá về sự chuyểndịch lao động, trình độ nghề nghiệp, chuyên môn kĩ thuật, nhu cầu vàkhả năng học nghề tạo cơ sở cho việc thực hiện các chương trình việclàm và phối hợp có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế- xãhội trên địa bàn thành phố

Hai là, trong quá trình đô thị hoá, thành phố chủ trương thực hiện các giải pháp sau nhằm tạo việc làm cho người lao động :

- Tổ chức đào tạo nghề gắn với bố trí việc làm theo cácngành nghề mới phát triển ở nông thôn, các khu công nghiệp mớiTrong cùng thời gian này, thành phố đã đầu tư xây dựng mớithêm nhiều cơ sở dạy nghề, bên cạnh đó cũng nâng cấp các trườngdạy nghề hệ dài hạn giúp người lao động có nhiều cơ hội tiếp cận cáccông việc mới hơn, nhất là đối với lực lượng lao động là thanh niêntrên địa bàn

Các cơ sở dạy nghề ở ngoại thành thành phố Hà Nội có khả

Trang 39

hàng năm có thể thu hút 6.000 – 8.000 lao động ở khu vực nông thônvào các nghề : sửa chữa xe máy, ô tô, lái xe, may công nghiệp, maygia dụng, cơ khí, điện tử, điện công nghiệp, sơn mài, mộc, mỹ nghệ,các nghề thủ công, vv

- Gắn hoạt động dạy nghề với tổ chức hướng nghiệp, thôngtin lao động, tư vấn và giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn

- Ở hầu hết các thị xã ngoại thành, đã hình thành và pháttriển hầu hết các loại hình văn phòng, chi nhánh, trung tâm giới thiệuviệc làm Mỗi năm các cơ sở này tìm việc làm cho khoảng 30.000 laođộng, trong đó có trên 10.000 lao động ở khu vực nông thôncó việclàm trong các doanh nghiệp, khu chế xuất

- Gắn đào tạo nghề ở khu vực ngoại thành với chương trìnhxuất khẩu lao động

- Giải quyết việc làm cho khu vực ngoại thành theo dự ánnhỏ, vay vốn từ quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm

Ngoài ra, thành phố đã hình thành các nguồn hỗ trợ việc làm ởkhu vực ngoại thành như quỹ xoá đói giảm nghèo, quỹ CEP của Liênđoàn lao động thành phố, quỹ của Hội Liên hiệp phj nữ thành phố,quỹ hỗ trợ đào tạo nghề của các hội, tổ chức đoàn thể ( Hội nông dân,Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh )

1.2 Một số bài học kinh nghiệm của thành phố Hà Nội về giải quyết việc làm ở khu vực ngoại thành:

- Thứ nhất, đó là không ngừng hoàn thiện cơ chế chính sách tậptrung giải

quyết việc làm ở khu vực ngoại thành, coi đó là một trongnhững nhiệm vụ trọng tâm cấp bách của thành phố

- Thứ hai, thúc đẩy các hoạt động phi nông nghiệp tạo việclàm mới tại chỗ ở khu vực nông thôn

- Thứ ba là tăng cường đầu tư xây dựng các cơ sở đào tạonghề, đặc biệt chú trọng lao động trẻ ở khu vực nông thôn

Trang 40

- Thứ tư là xây dựng cơ chế phối hợp đồng bộ giữa đào tạonghề với thông tin, tư vấn giới thiệu việc làm

- Thứ năm là, thực hiện đồng bộ cơ chế phối hợp giữadoanh nghiệp, các khu công nghiệp, khu chế xuất với chính quyền địaphương trong việc ưu tiên tuyển dụng lao động ở địa phương do thuhồi đất sản xuất nông nghiệp

2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở một số nước trên thế giới

2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất trên thế giới,tốc độ độ thịhoá cũng đang diễn ra rất nhanh chóng.Diện tích đất canh tác hạn chếtrong khi dân số đông làm cho tỷ lệ thất nghiệp ở các vùng nông thônngày càng tăng Hiện nay, ước tính Trung Quốc có từ 100-120 triệulao động nông thôn không có việc làm, hàng năm lại tăng thêm từ 6-7triệu người

Với lực lượng lao động nông thôn dư thừa này, hàng năm có đếnhàng triệu người nhập cư vào các vùng thành thị Thực trạng này đãgây ra rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý đô thị về mặt: quản lýdân cư, lao động việc làm, an ninh, sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình,giáo dục và rất nhiều vấn đề xã hội khác

Vấn đề dư thừa lao động tại các đô thị, nhất là các đô thị lớntrong quá trình đô thị hoá luôn là vấn đề nhức nhối cần giải quyết củacác nhà quản lý Trong những năm vừa qua, mặc dù vẫn còn tình trạng

di cư đến các đô thị lớn, nhưng với các biện pháp hữu hiệu, TrungQuốc đã đạt đựơc những thành công trong việc hạn chế sức ép về việclàm đô thị trong quá trình đô thị hoá Hai giải pháp quan trọng màTrung Quốc áp dụng nhằm giảm sức ép về việc làm đô thị đó là :

2.1.1 Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút việc làm,

Ngày đăng: 21/04/2016, 15:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w