15 M ARCH 2001 T H O R N C R O F T A N D H O D G E S African Easterly Wave Variability and Its Relationship to Atlantic Tropical Cyclone Activity SỰ BIẾN ĐỔI CỦA SÓNG ĐÔNG VÀ MỐI QUAN H
Trang 115 M ARCH 2001 T H O R N C R O F T A N D H O D G E S
African Easterly Wave Variability and Its Relationship to Atlantic
Tropical Cyclone Activity
SỰ BIẾN ĐỔI CỦA SÓNG ĐÔNG VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA BÃO NHIỆT ĐỚI ĐẠI TÂY DƯƠNG
CHRIS THORNCROFT
Department of Meteorology, University of Reading, Reading, United
Kingdom
KEVIN HODGES
Environmental Systems Science Centre, University of Reading,
Reading, United Kingdom
(Manuscript received 30 November 1999, infinal form 23 May 2000) ABSTRACT TÓM
TẮT
Chế độ theo dõi tự động các trung tâm xoáy của trung tâm khí tượng Châu
Âu phân tích đã được sử dụng để phát triển hoạt động sóng đông trong hệthống khí hậu 20 năm Các số liệu thống kê theo dõi ở mực 600 và 850 mbxác nhận cấu trúc phức tạp của sóng trên lục địa châu Phi Các vùng mưa vềphía xích đạo khoảng 15 ° N bị chi phối bởi hoạt động ở mực 600mb, và Cácvùng khô về phía cực Sahara ở khoảng 15 ° N bị chi phối bởi hoạt động ởmực 850mb Trên Đại Tây Dương chỉ có một dấu vết bão với các hoạt động
sóng ở mực 600 và 850-mb collocated Căn cứ vào tốc độ phát triển / tan rã
và nguồn gốc số liệu thống kê, xuất hiện với những con sóng ở mực 850mb
về phía cực ở 15 ° N trên đất liền thường bao hàm với dấu vết bão về phíaxích đạo trên đại dương Thay vào đó, có vẻ như sự phát triển quan trọng củahoạt động ở mực 850-mb ở bờ biển Tây Phi trong vùng mưa khoảng (10 ° N,
10 ° W), trong đó, nó được đề xuất, kết hợp với giải phóng nhiệt ẩn
Dựa trên các số liệu theo dõi thống kê, nó đã chỉ ra rằng có biến trình năm
rõ rệt trong hoạt động của sóng đông (AEW) Nó đặc biệt rõ rệt là ở mực850mb ở bờ biển Tây Phi từ 10 ° đến 15 ° N, nơi mà các hệ số biến đổi là0,29 Trong thời kỳ 1985 - 1998, một mối tương quan đáng chú ý được nhìnthấy giữa hoạt động của AEW và hoạt động của bõa nhiệt đới Đại TâyDương Mối tương quan này là đặc biệt mạnh mẽ trong giai đoạnpostreanalysis từ năm 1994 - 1998 Kết quả này cho thấy rằng hoạt động củaxoáy thuận nhiệt đới Đại Tây Dương có thể bị ảnh hưởng bởi số lượng
Trang 22 J O U R N A L O F C L I M A T E V OLUME 14
AEWs dịch ra khỏi bờ biển Tây Phi, có biên độ ở mức thấp đáng kể, và
không chỉ đơn giản bằng tổng số các AEWs
1 Introduction TỔNG QUAN
Sóng đông châu Phi (AEWs) là một phần
quan trọng của vùng Tây Phi và khí hậu nhiệt
đới ĐTD Chúng được biết vừa là điều chỉnh
lượng mưa hàng ngày ở Tây Phi (ví dụ, Reed
et al 1977) và là nguồn gốc của các cơn bão
nhiệt đới Đại Tây Dương (ví dụ, Landsea et
al 1998) Mặc dù chúng có vai trò rất quan
trọng, nhưng lại rất ít được biết về các khía
cạnh chi tiết của vòng tuần hoản của chúng,
bao gồm cả nguồn gốc, sự phát triển, sự phát
triển trong cấu trúc dọc theo các dấu vết và sự
tan rã
Mục đích chính của bài nghiên cứu này là
để trình bày một hệ thống khí hậu khi có
hoạt động của AEW trong vòng 20 năm dựa
trên khoảng thời gian từ 1979-1998, bao
gồm mô tả các chu kỳ theo mùa và biến
trình năm của hoạt động AEW Việc phân
tích dựa trên số liệu tái phân tích của trung
tâm khí tượng Châu Âu (có sẵn từ năm 1979
to1993) cùng với ECMWF phân tích hoạt
động (từ năm 1994 - 1998) Chúng tôi sẽ
phân tích khách quan AEWs sử dụng kỹ
thuật theo dõi được phát triển bởi Hodges
(1995) Chúng tôi đã từng sử dụng kỹ thuật
này để theo dõi hệ thống đối lưu mesoscale
qua Tây Phi (Hodges và Thorncroft 1997)
Những phép phân tích trước đây về sóng
Đông sử dụng phép phân tích toán tử chủ yếu
sử dụng kỹ thuật thống kê để xác định hoạt
động của sóng Đông Những bài nghiên cứu
đã xác định những khía cạnh khác nhau về
hoạt động của sóng Đông, bao gồm sự khác
nhau những vùng hoạt động của sóng Đông
ở bắc và nam của dòng xiết Đông Phi
Ngược lại, có một ý kiến khác về hoạt động
tự nhiên của sóng Đông thu được bởi Reed et
al, người điều khiển sự theo dõi sóng Đông
từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1985 Phân tích này có thể chỉ ra những dấu vết củanhững hệ thống riêng biệt hoạt động ở ChâuPhi, ở vùng biển Đại Tây Dương và trong mộtvài trường hợp, như bão nhiệt đới Phân tíchxuất hiện trong bài nghiên cứu này được khaitriển trong phân tích của Reed at al Bằng việc
sử dụng phương pháp theo dõi tự động, từ bâygiờ có thể xác định những dấu vết của sóngĐông trong nhiều năm và lập được nhữngthống kế quan trọng của sóng Đông liên quanđến nguồn gốc, sự phát triển và tan rã Nó nênđược công nhận rằng những kết quả sử dụng
kỹ thuật theo dõi cung cấp một cái nhìn khácnhưng miễn phí với những kết quả sử dụng kỹ
là dấu vết sóng Đông Một động cơ quan trọng của nghiên cứu về sựbiến đổi sóng Đông có liên quan đến dấu vếtbiến trình năm sự thay đổi của lượng mưa ở TâyPhi Khi sóng Đông là các hệ thống synop lớntrong khu vực, điều quan trọng là tìm ra cácsóng Đông có vai trò quan trọng trong việc xácđịnh sự thay đổi của lượng mưa Quả thực, vẫnchưa rõ sóng Đông có vai trò chủ động hay thụ
Trang 315 M ARCH 2001 T H O R N C R O F T A N D H O D G E S
Một động lực nữa để xem xét… về biến trình
năm của sóng Đông liên quan đến mối quan
hệ giữa sóng Đông và bão nhiệt đới ở Đại Tây
Dương Một vài tác giả cho rằng, mối tương
quan giữa hoạt động của bão nhiệt đới và
lượng mưa ở vùng Sahel Tây Phi đều dựa vào
sự thay đổi của sóng Đông Hai khía cạnh về
sự thay đổi của sóng Đông được đề cập đến
đó là tần số và cường độ
Reed (1988) có lẽ là người đầu tiên đề xuất
rằng, thay vì biến đổi trong tần số, biến đổi
trong cường độ AEW có thể là quan trọng
hơn trong việc xác định sự biến đổi của cơn
bão nhiệt đới Đây cũng là một giả thuyết
hợp lý và phù hợp với các yêu cầu được biết
đến
Tuy nhiên, cần cần thận khi định nghĩa thế
nào là cường độ của một sóng Đông vì cấu
trúc phức tạp của nó Gần đây, Pytharoulis
và Thorncroft đã xác nhận rằng, các sóng
Đông có thể multicentered, với maxima
trong xoáy gần dòng xiết Đông Phi ở mực
600-700 mb trong vùng mưa và ở mực 850
mb và thấp hơn, phía bắc của vùng mưa
Trong bất kỳ kiểm tra về sự biến đổi của
sóng Đông trong cấu trúc phức tạp của sóng
Đông đều được xem xét Do đó, cũng như sự
biến đổi về số lượng và cường độ, biến đổi
trong cấu trúc cũng có thể quan trọng trong
việc xác định biến đổi của cơn bão nhiệt đới
Bài nghiên cứu này sẽ trình bày sự biến đổi
của sóng Đông cùng với việc đánh giá mối
quan hệ giữa những con sóng và bão nhiệt
đới.Bài nghiên cứu say này sẽ kiểm tra chặt
chẽ hơn mối quan hệ về sự biến đổi giữa sóng
Đông và gió mùa Tây Phi, bao gồm cả sự biến
đổi về lượng mưa và dòng xiết Đông Phi
Bài nghiên cứu gồm các phần như sau:
Phần 2 sẽ nêu lên các phương pháp nghiên
cứu, Phần 3 sẽ đưa ra một số ví dụ về những
dấu vết thu nhận được ở trong các mùa ở
năm 1994 và 1995 Trong phần 4 hệ thống
khí hậu của sóng Đông được trình bày dựa
trên các số liệu thống kê theo dõi từ
1979-1998, bao gồm mô tả các chu kỳ theo mùa.Trong phần 5, chúng tôi tập trung vào biếntrình năm của hoạt động AEW và một số kếtluận về mối liên quan của nó đến hoạt độngbão nhiệt đới Các kết quả được tóm tắt và thảoluận thêm trong phần 6
2 Tracking technique Kỹ thuật theo dõi
Reed et al (1988b) nhấn mạnh tính hữu íchcủa việc sử dụng xoáy để tự xác định và theodõi AEWs ở trung tâm khí tượng châuâu(ECMWF) để phân tích hoạt động Ở đâychúng tôi áp dụng kết hợp phương pháp nhậndạng và theo dõi các AEWs để thu dữ liệu Các
dữ liệu được sử dụng cho nghiên cứu này là sốliệu tại phân tích của ECMWF trong thời kỳ từ1979-1993 (Gibson et al 1997) được mở rộngvới các phân tích hoạt động đến năm 1998.Chúng tôi chỉ xem xét giai đoạn tháng 5 đếntháng 10, để tập trung vào mùa mưa trong thời
kỳ gió mùa Tây Phi, và sử dụng 6 giờ khởi tạo
Các kết quả sẽ chỉ trình bày ở mực 600 và850mb, vì đây là những mực có khả năng phânbiệt rõ ràng các hoạt động của AEW ở mựcdòng xiết trong vùng mưa ở các mực thấp vềphía cực của khu vực mưa chính Độ phân giảiquang phổ của T42 đã được sử dụng, khá phùhợp để giải quyết về quy mô synop của AEWs,
là mối quan tâm chính ở đây Ngoài ra, không
có điều khả quan nào được tìm thấy bằng cách
sử dụng độ phân giải phân tích cao hơn Nóichung, độ phân giải phân tích cao hơn dườngnhư là '' ồn ào hơn '' phiên bản của phân tíchT42, có thể phù hợp với sự thiếu quan sát có
độ phân giải cao đủ để đồng hóa.Các phương pháp được sử dụng để xác định vàtheo dõi những con sóng là của Hodges (1995).Phương pháp này xác định những con sóngnhư maxima trong ngưỡng liên quan đếntrường xoáy (một ngưỡng 0,5 × 10-5 s-1 được
sử dụng) và theo dõi chúng bằng cách sử dụngmột phương pháp giảm thiểu một hàm chi phícho các đối tượng chuyển động gắn kết vớinhững ràng buộc của chuyển động Hàm chiphí được xác định theo những thay đổi của địa
Trang 44 J O U R N A L O F C L I M A T E V OLUME 14phương theo hướng và tốc độ.
Điều này dẫn đến việc thiết lập tối thiểu dấu
vết phẳng của sóng Các ràng buộc đối với
các khoảng cách dịch chuyển tối đa trong
một bước thời gian và các dấu vết phẳng ở
địa phương và được áp dụng (Hodges, 1999)
Cần lưu ý rằng chúng tôi chỉ đưa ra những hệ
thống đã khép kín các đường viền xoáy với
giá trị ít nhất là 0,5 × 10-5 s-1 với phương
pháp này Trong một ý nghĩa theo dõi nào
đó, vì nó được áp dụng ở đây, nó đóng vai
trò như một bộ lọc trên sóng bằng cách loại
trừ các sóng yếu hơn không hỗ trợ các trung
tâm xoáy ở trên cao
Toàn bộ dấu vết cũng sẽ được lọc để loại bỏ
tất cả các hệ thống với thời gian sống ít hơn 2
ngày và quãng đường dịch chuyển ít hơn 10 °
(~ 1000 km) chỉ để lại những hệ thống phù
hợp được giữ lại để phân tích thống kê Thống
kê được tính toán từ kết hợp 20 năm theo dõi
toàn bộ dấu vết sử dụng các phương pháp
kernel mô tả bởi Hodges (1996) để theo dõi và
genesis mật độ và tốc độ tăng trưởng /tan rã
trung bình Mật độ được tính bằng mật độ trên
một đơn vị diện tích từ phân bố mật độ xác
suất, nơi mà các đơn vị diện tích tương đương
với 5 ° nắp hình cầu (~ 106 km2) Cần lưu ý
rằng mật độ genesis có thể bao gồm các vị trí
mà các hệ thống giảm xuống dưới ngưỡng
cường độ và sau đó reintensify Ví dụ, khi các
AEWs suy yếu đủ để gây ra khó khăn để phát
hiện trong midocean nhưng sau đó có thể xuất
hiện ở hạ lưu Ngoài ra, thống kê trung bình
tốc độ tăng trưởng / tan rã cần được diễn giải
kết hợp với mật độ theo dõi, vì các giá trị sẽ
được tin cậy hơn, nơi mật độ cao
Một ví dụ về dấu vết đơn lẻ được thể hiện
trong hình 1a của cơn bão Luis từ mùa bão
năm 1995 Dáu vết của cơn bão Luis từ khi nó
xuất hiện đến qhas trình trở thành một cơn
bão nhiệt đới, được phân tích bởi Trung tâm
Bão quốc gia (NHC, bây giờ được gọi là
Trung tâm dự báo nhiệt đới) được bao gồm
(vòng tròn màu xám) cùng với các dấu vết
được xác định bằng cách sử dụng trung tâmxoáy ở mực 850mb từ dữ liệu ECMWF ( vòngtròn màu đen) Nhìn chung, dấu vết của cơn bãonhiệt đới xuất hiện nhiều trong các dữ liệu củaECMWF Tuy nhiên, điều quan trọng là phảinhận thấy rằng các hệ thống theo dõi xác địnhAEW liên quan với cơn bão xa hơn về phíaĐông được xác định bởi NHC, phù hợp với cáccơn bão nhiệt đới phát triển từ một hệ thốngAEW yếu Cũng trong hình 1b là một số dấuvết đặc trưng từ năm 1995 dựa trên các trungtâm xoáy ở mực 600 mb, nơi mà các hệ thống
đó đã không phát triển bão nhiệt đới Lưu ý rằngtrong khi các hệ thống này được theo dõi từ lụcđịa châu Phi vào trung tâm Đại Tây Dươngchúng có thể không được theo dõi vào vùngCaribbean, cho thấy rằng các hệ thống này suyyếu khi chúng di chuyển về phía tây
3.African easterly wave tracks for 1994 and 1995 Các dấu vết sóng Đông trong năm 1994 và 1995
Theo Thorn cho rằng các AEWs có thể có cấutrúc khá phức tạp trên vùng Châu Phi, với biên
độ tối đa thường thấy trong hai vùng: ở mực
600 mb về phía xích đạo khoảng 15 ° N và ởmực thấp về phía cực của 15 ° N Điều này phùhợp với các AEWs phát triển thông qua một cơchế bất ổn barotropic-baroclinic kết hợp vớigradients kinh tuyến âm trong tiềm ẩn xoáy ởmực dòng xiết và gradient kinh tuyến dươngvới nhiệt độ ở bề mặt (ví dụ, Burpee 1972) Đểnhận ra điều này, chúng tôi sẽ trình bày dấu vếtcủa AEW ở mực 600 và 850 mb để chẩn đoáncác cấu trúc AEW ở cả hai miền.1Lưu ý rằng trong Hodges và Thorncroft(1997) mật độ theo dõi phần giới đã được tínhtoán một cách khác nhau và không phải là mộtphân bố mật độ xác suất Ở đây, mật độ đườngđua được tính như một pdf và sau đó thu nhỏlại như mật độ số lượng và do đó tích hợp với
Trang 515 M ARCH 2001 T H O R N C R O F T A N D H O D G E S
động và cũng để so sánh các tính chất của
AEWs ngược nhau trong hai năm của bão
nhiệt đới ở ĐTD Năm 1995 là một năm
hoạt động nhiều với 19 cơn bão được đặt tên
(Landsea et al 1998) Năm 1994, thì
ngược lại, là một năm hoạt động rất ít với chỉ
bảy cơn bão được đặt tên
Năm 1995 các dấu vết của AEW có thể nhìn
thấy được rõ ràng ở mực 600 mb qua phía
tây châu Phi về phía xích đọa khoảng 15 °
N.Các dấu vết này dẫn vào một khu vực có
dấu vết các cơn bão hoạt động nhiều hơn trên
Đại Tây Dương, với nhiều dấu vết sau đó
recurving về phía cực trước khi đến vùng
biển Caribbean Tại mực 850 mb các dấu vết
trên các đại dương cũng tương tự như ở 600
mb, tuy nhiên có ít hơn, và các cơn bão nhiệt
đới recurving là thể hiện rõ ràng hơn phù hợp
với biên độ lớn của chúng và các cấu trúc lõi
ấm Sự khác biệt lớn xảy ra trên lục địa, nơi
mà các dấu vết chính của bão AEW xuất hiện
ở về phía cực khoảng 15 ° N Thật vậy, ở 850
mb rất ít dấu vết tồn tại về phía xích đạo ở
Hình 2 và 3 cho thấy phân tích các dấu vếttương ứng từ tháng 5-10 cho năm 1995 và
1994 Đây là để minh hoạ thêm cho các thôngtin từ các phân tích theo dõi tự động và cũng
để so sánh các tính chất của AEWs ngược nhautrong hai năm của bão nhiệt đới ở ĐTD Năm
1995 là một năm hoạt động nhiều với 19 cơnbão được đặt tên (Landsea et al 1998) Năm
1994, thì ngược lại, là một năm hoạt động rất ít với chỉbảy cơn bão được đặt tên
Trang 66 J O U R N A L O F C L I M A T E V OLUME 14
Fig 2 Positive relative vorticity tracks for May–Oct 1995 at 600 and
850 mb
Các dấu vết xoáy từ tháng 5-10 năm 1995 ở mực 600mb và 800mb
Điều này phù hợp với phân tích trước đây về
AEWs trong khu vực này (ví dụ, Reed et al
1977), nơi mà có xu hướng có biên độ tối đa
gần mực của dòng xiết Đông Phi, ở mực 600
mb với biên độ yếu ở vị trí thấp hơn Điều này
cũng tiếp tục khẳng định sự thống trị của các
cấu trúc ở mực thấp về phía cực trong khu vực
của dòng xiết có gradient nhiệt độ ở mực thấp
bên rìa sa mạc Sahara (cf PT)
Năm 1994, các dấu vết của AEW ở 600 mb
tương tự như
năm 1995 ở vùng Châu Phi và Đại Tây
Dương, mặc dù phù hợp với các hoạt động
xoáy thuận nhiệt đới suy yếu đi trong năm đó,
nhưng có các dấu vết ít recurving gần vùng
biển Caribê Sự khác nhau lớn hơn giữa hai
năm được thể hiện rõ ở mực 850 mb Phù hợp
với các hoạt động suy yếu đi của bão nhiệt đới,
có ít hơn và yếu hơn các dấu vết ở vùng nhiệtđới Đại Tây Dương
Điều này khá là thú vị, tuy nhiên, sự suy yếu đi
về hoạt động ở mực 850mb cũng là điều hiểnnhiên ở bờ biển Tây Phi Điều này cho thấy rằng
có lẽ là một sự khác biệt quan trọng giữa hainăm là ở các mực khác nhau của hoạt độngAEW dịch chuyển ra xa châu Phi, đặc biệt ở cácmực thấp Phân tích việc lọc gió của máy thămgiò tại Dakar (15 ° N, 17 ° W) vào năm 1994 và
1995 (Hình 4) có lẽ là phù hợp với điều này,mặc dù Dakar thiên 1 chút về phía cực nơi màhầu hết các dấu vết ở mực 850-mb dịch chuyển
ra khỏi bờ biển Tây Phi Ý tưởng cho rằng mựcthấp biên độ AEW có thể quan trọng ảnh hưởngđến hoạt động của bão nhiệt đới phù hợp vớiyêu cầu được biết đến với một biên độ hữu hạn
Trang 715 M ARCH 2001 T H O R N C R O F T A N D H O D G E S
là tiền thân cho cyclogenesis nhiệt đới (ví dụ,
Gray 1979; Eman- uel 1989) Giả thuyết này sẽ
được tiếp tục trong phần tiếp theo, chúng tôi sẽ
trình bày số liệu thống kê theo dõi AEW dựatrên tất cả các năm trong nghiên cứu này
Fig 3 Positive relative vorticity tracks for
May–Oct 1994 at 600 and 850 mb
Các dấu vết xoáy từ tháng 5-10 năm 1994 ở
mực 600 và 850mb
FIG 4 Vertical profile of the Jun–Sep mean
r '2 /2 for Dakar (15°N, 17°W), where r ' is
the 2.5–6-day bandpass-filtered meridional
wind The solid line is for 1995 and the
dashed line is for 1994 The figure
was provided by Pytharoulis and is based on
analysis presented in Pytharoulis (1999)
Hình 4 Cấu trúc thằng đứng từ tháng 7 -9 dọc
của nghĩa r '2 /2 cho Dakar (15 ° N, 17 ° W),
nơi r' là 2,5-6 ngày bandpass-lọc gió kinh tuyến
Đường nét liền là cho năm 1995 và nét đứt là
cho năm 1994 Con số này được cung cấp bởi Pytharoulis và dựa trên phân tích trình bày trong Pytharoulis (1999)
2 African easterly wave tracking statistics climatology (1979–98)
Số liệu thống kê theo dõi khí hậu sóng Đông
a Động lựcDưới đây chúng tôi trình bày một sự mô tả vàgiải thích về các thống kê theo dõi khí hậu củaAEW trong vòng 20 năm Từ đây chúng ta cóthể có một cái nhìn tốt hơn về chu kỳ sống củamột AEW điển hình, bao gồm cả khởi đầu, sựphát triển và tan rã, và thông tin cơ bản theo dõicơn bão Khi cung cấp điểm nhìn khí hậu này,
nó sẽ cho chúng ta những nền tảng cần thiết đểxem xét các biến trình năm của hoạt động AEWtrong phần 5
a 600 mb
Mật độ dấu vết ở mực 600-mb (Fig 5) chothấy một dấu vết bão rất rõ ràng ở khoảng 10 °-15 ° N, có nguồn gốc từ phía đông châu Phi
và kéo dài ra phía tây qua Đại Tây Dương.Ngoài ra còn có một gợi ý rằng nó nối với dấuvết bão nhìn thấy ở phía đông Thái BìnhDương Kiểm tra chặt chẽ hơn các dấu vếtriêng lẻ cũng xác nhận rằng một số dấu vết bắtđầu ở bờ biển Caribbean sau đó đi qua đất liền
và vào Thái Bình Dương theo Molinari et al.(1997) Chỉ ở phía đông của vùng biểnCaribbean có một số bằng chứng cho bãorecurving, nhưng kể từ khi recurving bão nhiệtđới chỉ chiếm một tỷ lệ phần trăm nhỏ của tất
cả các hệ thống được theo dõi và không phảilúc nào recurve ở cùng vĩ độ, đặc tính này yếuhơn
Đỉnh đáng chú ý xuất hiện phía hạ lưu bờ biểnTây Phi khoảng 20 ° W và ở hạ lưu của Trung
Mỹ ở phía đông Thái Bình Dương Hoạt độngyếu tồn tại trên lục địa châu Phi Điều này phù
Trang 88 J O U R N A L O F C L I M A T E V OLUME 14hợp với những sóng yếu hơn vào đầu vong
tuần hoàn của chúng và phân tích trước đó
của máy thăm dò dữ liệu bởi Albignat và
Reed (1980), người đã tìm thấy AEW hoạt
đông yếu ở khoảng 10 ° E Cũng nên nhớ mặc
dù, rằng các hệ thống theo dõi dấu vết chỉ làm
với các đường xoáy khép kín lớn hơn hoặc
bằng 0,5 × 10-5 s-1 Điều này có nghĩa rằng
AEWs nhanh chóng bị suy yếu trong vòng
tuần hoàn của chúng khi không được theo dõi
bằng cách sử dụng chương trình này và có thể
đóng góp cho các hoạt động yếu hơn được
phân tích trên đất liền Đỉnh trong hoạt động
của AEW ở phía hạ lưu của lục địa châu Phi
là phù hợp với các nghiên cứu trước đây dựa
trên quan sát phương sai gió lọc (ví dụ, nat
Albig- và Reed 1980) Những gì phân tích
này cho thấy rõ ràng hơn dù là việc tiếp tục
theo dõi bão AEW vào trung tâm Đại Tây
Dương và vào các cơn bão nhiệt đới là '' khu
vực phát triển chính '' (cf Goldenberg and
Shapiro 1996)
1) GENESIS DENSITY NGUỒN GỐC
MẬT ĐỘ
Câu hỏi về nguồn gốc của AEW đã được đưa
ra bởi một số tác giả trước đây Trong khi đó
sự đồng thuận chung tồn tại liên quan đến sự
tăng trưởng của AEWs qua một cơ chế bất ổn
định barotropic-baroclinic, sự đồng thuận ở
vùng mà AEWs khởi nguồn đã không đạt
được Carlson (1969) cho rằng AEWs có thể
được bắt nguồn càng xa về phía đông như là
vùng cao nguyên Ethiopia (~ 40 ° E) Tuy
nhiên, Burpee (1972) chỉ có thể tìm thấy hoạt
động AEW trong máy thăm dò dữ liệu như xa
về phía đông ở khoảng 15 ° E Một phân tích
chi tiết về việc nguồn gốc của AEWs trong
giai đoạn III của thí nghiệm GARP nhiệt đới
Đại Tây Dương đã được trình bày bởi
Albignat và Reed (1980) Họ cho rằng AEWs
có thể bắt nguồn từ những nơi xa về phía
đông như là Biển Đỏ (khoảng 40 ° E) Theo
ghi nhận của Albignat và Reed (1980), một
trong những vấn đề với cách so sánh nghiên
cứu khác nhau là họ đã coi thời kỳ khác nhau,
và do đó, sự khác nhau chỉ có thể có nghĩa làhoạt động AEW chỉ dao động trong các khuvực này
Một lý do khác, nó sẽ không dễ đang vượtqua trong thời gian ngắn, là sự thưa thớt của dữliệu trong vùng khả năng của sự khởi nguồngenesis Ở đây, chúng tôi có thể khắc phục vấn
đề dữ liệu đồng nhất nhưng vẫn có thể bị mộtvấn đề phát sinh từ dữ liệu thưa thớt
Trang 915 M ARCH 2001 T H O R N C R O F T A N D H O D G E S
FIG 5 Climatological tracking statistics at 600 mb based on the ERA data (1979–93) and theECMWF analyses (1994–98) (a) Track density scaled to number density per unit area (~106km2 ) per season (MJJASO), shading for values greater than 6 (b) Genesis density per unit
Trang 1010 J O U R N A L O F C L I M A T E V OLUME 14area (~106 km2 ) per season (MJJASO), shading for values greater than 5 (c) Growth anddecay rates in units of per day, shading for values greater than 0.05 and less than —0.1.
Vì lý do này, chúng tôi muốn xem xét các số
liệu thống kê trung bình của các hoạt động
AEW hơn là một phân tích chi tiết của AEWs
cá nhân
Mật độ genesis ở mực 600-mb dựa trên
khoảng thời gian 1979-1998 trong hình5b cho
thấy những khu vực mà các hệ thống theo dõi
được xác định đầu tiên Các vùng genesis có
đường phù hợp với dấu vết mật độ cơn bão
như mong đợi, nhưng có một vài đỉnh nổi bật
Bắt đầu ở phía đông, có một đỉnh nằm xung
quanh (10 ° N, 35 ° E) ở phía tây của vùng cao
nguyên Ethiopia cho thấy rằng ít nhất một số
AEWs được bắt đầu ở đó Một số dấu vết có
thể được nhìn thấy bắt đầu từ khu vực này
trong các hình 2a và 3a Phía tây của khu vực
này mật độ genesis yếu đi và sau đó bắt đầu
tăng trở lại về phía tây khoảng 20 ° E Albignat
và Reed (1980) đều có cùng một kết quả giống
nhau và cho rằng điều này là phù hợp với sự
tăng lên của AEJ Điều này cũng được thể hiện
bởi PT là một khu vực nơi mà đảo ngược các
gradients xoáy tiềm ẩn bắt đầu, phù hợp với
một sự tăng lên của độ bất ổn định động lực
Khu vực genesis rõ rệt nhất nằm ở bờ biển
Tây Phi, với đỉnh thực tế ở biển Đặc tính này
là mâu thuẫn với các mô hình khái niệm của
một AEW, được bắt đầu trên lục địa và phát
triển khi nó di chuyển dọc theo dòng
xiết(AEJ) Đỉnh trong genesis tại bờ biển có
thể được liên kết với một thực tế là tiêu chuẩn
theo dõi có vai trò lọc ra các hệ thống yếu và
không có tổ chức Thực tế là có một đỉnhgenesis tại bờ biển có thể do thực tế rằng cónhiều AEWs không đạt được một biên độ đủlớn để được theo dõi cho đến khi chúng đạt
Ngoài ra, các khu vực ven biển có thể là mộtkhu vực nơi mà AEWs sự phát triển thêm kinhnghiệm, kết hợp với giải phóng ẩn nhiệt đốilưu ẩm sâu, ví dụ Điều này sẽ được đề cập đến
ở bên dưới trong phần nói về sự phát triển vàsuy tàn
2) GROWTH AND DECAY RATES TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG VÀ TAN
RÃ
Tốc độ tăng trưởng và tan rã ở 600 mb được hiển thị trong hình5c Các đặc điểm nổi bật ở đây là
sự phát triển chủ yếu trên đất liền và tan rã trên đại dương Sự tăng trưởng trên đất đó phù hợp vớiAEWs ở trong AEJ Sự tan rã phía hạ lưu bờ biển Tây Phi cũng đã được ghi nhận bởi Carlson(1969), người cho rằng sự tan rã có liên quan đến đối lưu tron sóng trở nên không tổ chức hơn, có
lẽ gắn với SSTs tương đối mát mẻ Một thay thế khác, lời giải thích động lực là trong khi AEWstrên đất có thể tận dụng các AEJ không ổn định và các dấu hiệu đảo chiều xoáy tiềm năng mà tồn
Trang 11ấm có thể thúc đấy các cơn bão nhiệt đới.
Trang 1212 J O U R N A L O F C L I M A T E V OLUME 14
FIG 6 Climatological tracking statistics at 850 mb based on the ERA data (1979–93) and theECMWF analyses (1994–98) (a) Track density scaled to number density per unit area (~106km2 ) per season (MJJASO), shading for values greater than 3.6 (b) Genesis density perunit area (~106 km2 ) per season (MJJASO), shading for values greater than 5 (c) Growth anddecay rates in units of per day, shading for values greater than 0.1 and less than —0.1
b 850 mb
1) TRACK DENSITY DẤU VẾT MẬT
ĐỘ
Dấu vết mật độ ở mực 850 mb (Hình 6a.)
Cũng tương tự như ở mực 600 mb trên đại
dương, nhưng yếu hơn, nhưng có sự khác biệt
lớn so với lục địa châu Phi Phù hợp với PT
dấu vết chính là về phía cực khoảng 15 ° N và
bắt đầu xa hơn về phía tây so với dấu vết bão
ở mực 600 mb Được chỉ ra bởi PT, những
sóng ở mực thấp thường có sự liên kết với
các sóng ở mực 600mb về phía xích đạo, chothấy một cấu trúc multicentered phức tạp củaAEW
Có thể nhìn thấy rằng dấu vết bão ở 850mbtrên đất liền ở khoảng 10 ° về phía cực của dấuvết bão biển ở mực 850 mb Điều này đặt racâu hỏi là liệu những sóng đã phân tích ở mực
850 mb trên đất liền trong dấu vết bão về phíacực có giống như những gì đã được nhìn thấytrong dấu vết bão ở vùng hạ lưu trên biển hay,khi chỉ có hoạt động AEW suy yếu đi ở mực850mb trên đất liền, các hoạt động ở mực850-