1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn lớp 9 ở trường THCS Buôn Trấp

32 413 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. PHẦN MỞ ĐẦUI.1. Lý do chọn đề tàiNgữ văn là một môn học rất quan trọng trong hệ thống các môn học ở cấp THCS. Mục tiêu của môn Ngữ văn là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục nói chung, chú trọng dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp. Cụ thể, môn học Ngữ văn nhấn mạnh ba mục tiêu chính sau: Thứ nhất rang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ và văn học – trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam – phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thứ hai, hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống. Thứ ba, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại”. Việc dạy học môn Ngữ Ngữ văn còn là giúp cho học sinh có được những những kỹ năng giao tiếp, sự tự tin trình bày trước đông người; giúp các em có bản lĩnh vững vàng, dám bày tỏ ý kiến, suy nghĩ của mình. Do vậy, việc nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn là vô cùng quan trọng. Tuy vậy, trong việc học môn Ngữ văn hiện nay nói chung, nhiều em rất rụt rè trong giao tiếp, không dám bày tỏ ý kiến, suy nghĩ … của mình trước lớp, thiếu chủ động, tích cực trong việc tiếp thu kiến thức bài học. Chất lượng học tập ở những lớp đại trà chưa được như mong muốn. Vậy làm thế nào để phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập là câu hỏi mà các thầy cô giáo trong đó có bản thân chúng tôi luôn trăn trở và tìm hướng trả lời.Xuất phát từ nhu cầu và mong muốn của bản thân chúng tôi trong quá trình dạy học là nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn trong chương trình dạy học môn Ngữ văn lớp 9 ở trường phổ thông, do đó chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn lớp 9 ở trường THCS Buôn Trấp.I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tàia. Mục tiêu của đề tàiChia sẻ cùng các thầy cô giáo một số kinh nghiệm nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thông qua việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy phân môn Đọc – Hiểu văn bản thuộc môn Ngữ văn cấp THCS, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, tạo niềm say mê, hứng thú cho các em trong học tập.b. Nhiệm vụ của đề tàiTrình bày cụ thể những việc cần làm và làm như thế nào để tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo, phát huy tính chủ động, tích cực trong học tập.I.3. Đối tượng nghiên cứuTừ thực tế việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh trường THCS Buôn Trấp. Đặc biệt là việc dạy và học môn Ngữ văn ở học sinh lớp 9, chúng tôi tiến hành nghiên cứu những biện pháp dạy học tích, việc áp dụng biện pháp dạy học này trong việc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh.I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứuPhương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy phần Đọc – Hiểu văn bản của môn Ngữ văn lớp 9.I.5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tài liệu: các tài liệu viết về các phương pháp dạy học tích cực, giáo án Ngữ văn của giáo viên. Phương pháp điều tra thực tế: thông qua thực tế giảng dạy và các tiết dự giờ của đồng nghiệp. Phương pháp thu thập thông tin: thu thập thông tin từ đồng nghiệp, từ học sinh. Phương pháp xử lý thông tin thông qua đối chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp.II. PHẦN NỘI DUNG1. Cơ sở lí luậnTrong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục nói chung và vấn đề đổi mới PPDH trong trường trung học nói riêng. Vấn đề này đã được đề cập nhiều lần trong các văn kiện Đại hội Đảng, trong Luật Giáo dục. Đặc biệt, trong thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 đã chỉ rõ “ Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều. Phát huy PPDH tích cực, sáng tạo, hợp tác, giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, giáo viên; gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống”.Thực tế cho thấy: hoạt động đổi mới PPDH chỉ có thể thành công khi giáo viên có động lực hành động và chuyển hóa được từ ý chí trở thành tình cảm và tinh thần trách nhiệm đối với học sinh, đối với nghề dạy học.Các chuyên đề về đổi mới PPDH được đưa ra tập huấn luôn là cơ sở cho giáo viên nghiên cứu, vận dụng một cách chủ động, tích cực, sáng tạo phù hợp với đặc trưng bộ môn, phù hợp với yêu cầu của từng bài học, giúp học sinh phát triển và rèn luyện các kỹ năng cần thiết như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lý thông tin, giải quyết các tình huống, kỹ năng thực hành …2. Thực trạng1.2. Thuận lợi, khó khăna) Thuận lợi: Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu nhà trường rất tích cực trong việc chỉ đạo đổi mới PPDH. Trường THCS Buôn Trấp có 13 giáo viên được đào tạo chuyên ngành Ngữ văn (trong đó có 11 giáo viên đứng lớp và 02 cán bộ quản lý), được biên chế thành một tổ chuyên môn nên dễ có điều kiện trao đổi, học hỏi nhau về kiến thức cũng như kinh nghiệm giảng dạy bộ môn

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU I.1 Lý do chọn đề tài

Ngữ văn là một môn học rất quan trọng trong hệ thống các môn học ở cấpTHCS Mục tiêu của môn Ngữ văn là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục nói chung, chútrọng dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp Cụ thể, môn học Ngữ văn nhấn mạnh bamục tiêu chính sau: Thứ nhất rang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, cótính hệ thống về ngôn ngữ và văn học – trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam– phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thứ hai, hình thành và phát triển ở họcsinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phươngpháp học tập tư duy, đặc biệt là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều

đã học vào cuộc sống Thứ ba, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học,văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tựcường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho học sinhtrách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và pháthuy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại” Việc dạy học môn Ngữ Ngữ văncòn là giúp cho học sinh có được những những kỹ năng giao tiếp, sự tự tin trình bàytrước đông người; giúp các em có bản lĩnh vững vàng, dám bày tỏ ý kiến, suy nghĩcủa mình Do vậy, việc nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn là vô cùng quantrọng

Tuy vậy, trong việc học môn Ngữ văn hiện nay nói chung, nhiều em rất rụt rètrong giao tiếp, không dám bày tỏ ý kiến, suy nghĩ … của mình trước lớp, thiếu chủđộng, tích cực trong việc tiếp thu kiến thức bài học Chất lượng học tập ở những lớpđại trà chưa được như mong muốn Vậy làm thế nào để phát huy tính tích cực chủđộng của học sinh trong học tập là câu hỏi mà các thầy cô giáo trong đó có bản thânchúng tôi luôn trăn trở và tìm hướng trả lời

Xuất phát từ nhu cầu và mong muốn của bản thân chúng tôi trong quá trình dạyhọc là nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn trong chương trình dạy học môn

Ngữ văn lớp 9 ở trường phổ thông, do đó chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài "Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn lớp 9 ở trường THCS Buôn Trấp"

I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

a Mục tiêu của đề tài

Chia sẻ cùng các thầy cô giáo một số kinh nghiệm nhằm phát huy tính tích cực,chủ động của học sinh thông qua việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực trong

Trang 2

giảng dạy phân môn Đọc – Hiểu văn bản thuộc môn Ngữ văn cấp THCS, góp phầnnâng cao chất lượng bộ môn, tạo niềm say mê, hứng thú cho các em trong học tập.

b Nhiệm vụ của đề tài

Trình bày cụ thể những việc cần làm và làm như thế nào để tạo điều kiện chohọc sinh phát triển tư duy sáng tạo, phát huy tính chủ động, tích cực trong học tập

I.3 Đối tượng nghiên cứu

Từ thực tế việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh trường THCS BuônTrấp Đặc biệt là việc dạy và học môn Ngữ văn ở học sinh lớp 9, chúng tôi tiến hànhnghiên cứu những biện pháp dạy học tích, việc áp dụng biện pháp dạy học này trongviệc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh

I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy phần Đọc – Hiểu văn bản củamôn Ngữ văn lớp 9

I.5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: các tài liệu viết về các phương pháp dạy

học tích cực, giáo án Ngữ văn của giáo viên

- Phương pháp điều tra thực tế: thông qua thực tế giảng dạy và các tiết dự giờcủa đồng nghiệp

- Phương pháp thu thập thông tin: thu thập thông tin từ đồng nghiệp, từ họcsinh

- Phương pháp xử lý thông tin thông qua đối chiếu, so sánh, phân tích, tổnghợp

II PHẦN NỘI DUNG

chỉ rõ “ Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều Phát huy PPDH tích cực, sáng tạo, hợp tác, giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, giáo viên; gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống”.

Trang 3

Thực tế cho thấy: hoạt động đổi mới PPDH chỉ có thể thành công khi giáo viên

có động lực hành động và chuyển hóa được từ ý chí trở thành tình cảm và tinh thầntrách nhiệm đối với học sinh, đối với nghề dạy học

Các chuyên đề về đổi mới PPDH được đưa ra tập huấn luôn là cơ sở cho giáoviên nghiên cứu, vận dụng một cách chủ động, tích cực, sáng tạo phù hợp với đặctrưng bộ môn, phù hợp với yêu cầu của từng bài học, giúp học sinh phát triển và rènluyện các kỹ năng cần thiết như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lý thông tin, giảiquyết các tình huống, kỹ năng thực hành …

- Sinh hoạt của tổ chuyên môn đã dần đi vào chiều sâu và đạt hiệu cao (tổ đãgiành nhiều thời gian cho việc bàn bạc, thảo luận cách dạy các bài (nội dung) dài, khó

…), năng lực chuyên môn của giáo viên ngày càng được khẳng định

- Công nghệ thông tin phát triển cùng với sự bùng nổ của Internet nên việc tìmhiểu, khai thác thông tin về lĩnh vực bộ môn, phân môn, bài dạy trên mạng ngày càng

- Thói quen sử dụng PPDH truyền thống ở một số giáo viên còn nặng nề

- Một số bài học, tiết học, nội dung kiến thức còn nặng so với thời gian quyđịnh tại PPCT

- Cơ sở vật chất chưa thực sự đáp ứng yêu cầu dạy và học

- Một số học sinh chưa thật hứng thú với môn học, còn có thói quen ỉ lại, dựadẫm vào bạn; thiếu mạnh dạn, chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập

Trang 4

2.2 Thành công, hạn chế

a) Thành công:

Thông qua đàm thoại, sự quan tâm hướng dẫn của giáo viên, kỹ năng nói củahọc sinh đã được nâng lên rõ rệt, học sinh tự tin và mạnh dạn hơn trong giao tiếp; tíchcực, chủ động hơn trong học tập Một số học sinh yếu trong lớp đã chủ động giơ tayphát biểu, bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình trước thầy cô và các bạn trong lớp

b) Hạn chế:

- Khó kiểm soát quá trình học tập của học sinh (có nhiều tình huống bất ngờnảy sinh từ câu trả lời của học sinh), nếu giáo viên không chú ý, giờ học dễ bị chệchhướng

- Giáo viên cần phải có sự chuẩn bị công phu, mất nhiều thời gian

2.3 Mặt mạnh, mặt yếu

a) Mặt mạnh: Có thể áp dụng cho nhiều cấp học, lớp học với nhiều đối tượnghọc sinh

Đây là PPDH tích cực đã được nhiều giáo viên áp dụng thành công

b) Mặt yếu: Giờ học sẽ bị nhàm chán nếu giáo viên không biết kết hợp cácphương pháp, hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lý

2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động

a) Nguyên nhân thành công:

- Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu nhà trường rất tích cực trong việcchỉ đạo đổi mới PPDH

- Bản thân chúng tôi được tham gia nhiều đợt tập huấn về đổi mới PPDH do ngành tổ chức, đã từng tham gia giảng dạy ở các khối lớp, được làm quen với nhiềuđối tượng học sinh, được nghe rất nhiều tâm sự từ phía CMHS, học sinh … về bộmôn

- Đề tài này đã được áp dụng trong nhiều năm học nên trong quá trình vậndụng đã có sự ghi nhận, đúc rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho phù hợp với học sinh

- Có sự cộng lực của các giáo viên dạy Ngữ văn tại trường

b) Nguyên nhân hạn chế:

- Thời gian đầu tư cho bài soạn còn hạn chế (do quá nhiều công việc cùng phảilàm trong cùng một thời điểm)

- Sử dụng phương pháp này rất cần đến nghệ thuật giao tiếp của giáo viên

- Một số học sinh chưa thực sự cố gắng trong học tập, thiếu mạnh dạn trong

Trang 5

giao tiếp, nhiều khi tỏ ra e dè, không tự tin, ít đầu tư thời gian cho việc chuẩn bị bài ởnhà.

2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng mà đề tài đã đặt ra.

Thực tế giảng dạy cho chúng ta thấy: trong một lớp học đại trà, số học sinh họckhá, giỏi môn Ngữ văn, tích cực tham gia vào các hoạt động học tập còn chiếm tỷ lệrất khiêm tốn Bên cạnh đó, còn nhiều học sinh thiếu cố gắng trong học tập, thụ độngtrong việc tiếp thu kiến thức, hạn chế về khả năng diễn đạt, thậm chí có những họcsinh thuộc vào diện “hết thuốc chữa”, giáo viên đành cho “ngủ yên” để khỏi ảnh

hưởng lớp Phương pháp tổ chức hoạt động học tập của học sinh theo hướng học sinh – đối tượng của hoạt động “dạy” trở thành chủ thể của hoạt động “học là

một PPDH tích cực – “phương thuốc” khá hữu hiệu nhằm kích thích tư duy độc lậpcủa học sinh, dạy học sinh cách tự suy nghĩ, lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học,làm cho không khí lớp học sôi nổi, sinh động, kích thích hứng thú học tập, lòng tự tincủa các em, rèn cho các em năng lực diễn đạt, mạnh dạn bày tỏ sự hiểu biết của mình,biết chú ý lắng nghe và hiểu ý diễn đạt của người khác Tạo môi trường học tập thânthiện để học sinh có điều kiện giúp đỡ lẫn nhau Học sinh kém có điều kiện học tậpcác bạn trong nhóm, cùng các bạn trong nhóm hoàn thành nhiệm vụ được giao.Thông qua đàm thoại, dạy học tích cực, giáo viên sẽ nhanh chóng thu thập đượcthông tin phản hồi từ phía người học, duy trì và kiểm soát được hành vi của học sinh.Học sinh sẽ có được niềm vui khi mình được trực tiếp tham gia khám phá, tìm hiểu

và nắm bắt kiến thức mới thông qua sự hướng dẫn của thầy cô giáo

3 Giải pháp, biện pháp

3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

Giúp các thầy cô giáo cùng dạy môn Ngữ văn hiểu rõ hơn về mục đích củaviệc dạy học tích cực; có thêm kinh nghiệm trong việc thiết kế hệ thống câu hỏi vàđặt câu hỏi cũng như tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủđộng của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, tạo niềm say mê, hứng thúcho các em trong học tập

3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

Từ ý thức về tầm quan trọng của việc phát huy tính tích cực chủ động của họcsinh trong học tập và từ thực trạng của việc dạy học môn Ngữ văn lớp 9 ở trườngTHCS THCS Buôn Trấp, những năm qua chúng tôi đã cố gắng tìm tòi, vận dụng

Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn và bước đầu đã thấy hiệu quả Cúng tôi xin trình bày cách nội dung và cáchthức thực hiện giải pháp, biện pháp như sau:

Trang 6

1 Biện pháp tổ chức hoạt động học tập của học sinh theo hướng học sinh – đối tượng của hoạt động “dạy” trở thành chủ thể của hoạt động “học”

- Trước hết, cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy và học Giáo viên phải chútrọng đến phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm Trong đó học sinh dưới

sự tổ chức, gợi mở, dẫn dắt của giáo viên tự mình chiếm lĩnh tác phẩm, tự rút ranhững kết luận, những bài học cần thiết cho mình với sự chủ động tối đa

Theo chúng tôi, trong giờ dạy văn bản, giáo viên cần tổ chức, dẫn dắt cho họcsinh theo bốn cấp độ sau đây:

Thứ nhất, giúp học sinh tri giác, cảm thụ văn bản, hiểu ngôn ngữ, tình tiết, cốttruyện, thể loại để có thể cảm nhận được hình tượng nghệ thuật trong sự toàn vẹncủa các chi tiết, các liên hệ

Thứ hai, giúp học sinh tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của nghệ sĩ, thâm nhập vào

hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc của tư tưởng, tình cảm tác giả

Thứ ba, giúp học sinh đưa hình tượng nghệ thuật vào văn cảnh đời sống vàkinh nghiệm sống của mình để thể nghiệm, đồng cảm

Thứ tư, giúp học sinh nâng cấp lý giải tác phẩm lên cấp quan niệm và tính hệthống, hiểu được vị trí của tác phẩm trong lịch sử văn hóa, tư tưởng, đời sống vàtruyền thống nghệ thuật

Có như vậy, học sinh mới thấy hứng thú và cảm thấy mình cũng là người

“đồng sáng tạo” với tác giả, như quan điểm của mỹ học tiếp nhận

Ví dụ: Khi dạy văn bản Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, giáo viên phải giúp học sinh tri giác, cảm thụ được: văn bản Lặng lẽ Sa Pa có cốt truyện rất đơn

giản, xoay quanh một cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ và anhthanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn thuộc Sa Pa Nhân vật Chính –anh thanh niên – chỉ xuất hiện trong chốc lát nhưng đã để lại cho các nhân vật khác

và đọc giả những tình cảm tốt đẹp Nhân vật anh thanh niên trở thành một hình tượngnghệ thuật kết tinh sâu sắc tư tưởng, tình cảm của nhà văn Hình ảnh anh thanh niên

đã và đang là tấm gương sáng về tinh thần lao động, về suy nghĩ và lối sống cao đẹp

để thế hệ trẻ mọi thời đại noi theo

- Với những yêu cầu cao trong công việc đổi mới phương pháp, người giáo viênphải nâng cao trình độ và bản lĩnh Truyền thụ tri thức, rèn luyện kĩ năng đã khó,hướng dẫn cách cảm thụ, lối tư duy cho học sinh còn khó bội phần Sự cập nhật trithức phải luôn đi đôi với nâng cao trình độ sư phạm Một khi đã quán triệt tinh thần

Trang 7

coi học sinh là chủ thể tiếp nhận, tất yếu giáo viên sẽ phải đối diện với sự đa dạng,phức tạp trong tư duy, trong cách phát ngôn của các em

2 Biện pháp tổ chức hoạt động tự học của học sinh: rèn luyện cho học sinh

có được phương pháp, kĩ năng: đọc, tóm tắt, phân tích tác phẩm, viết bài…

- Dựa vào các mục biên soạn trong SGK để hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài

Với người dạy và người học hiện nay ở nước ta, SGK là công cụ có tính chấtpháp lí Nội dung kiểm tra, thi cử bắt đầu và xuất phát từ chương trình và Sách giáokhoa Nói cách khác dạy và học không thể thoát li chương trình và Sách giáo khoa.Phần Đọc văn trong SGK ở chương trình THCS hiện nay thường được biên soạn theomột cấu trúc cố định với những mục rõ ràng, với trình tự gồm các mục: Tên bài – Kếtquả cần đạt – Tên văn bản – Chú thích – Đọc – Hiểu văn bản – Ghi nhớ- Luyên tập

Để chuẩn bị bài, nhất thiết học sinh phải có trong tay quyển SGK và tự làm việc vớisách theo hướng dẫn của thầy cô giáo Trang bị SGK đầy đủ, học sinh thường xuyênđọc sách, bám sát tất cả các mục ở trong SGK, mỗi mục có một vai trò cụ thể Đặcbiệt, HS phải chú trọng đến mục Đọc – hiểu văn bản sau mỗi văn bản Đây là mụcquan trọng có tác dụng định hướng tìm hiểu văn bản cho cả người học và người dạy

Ở mục hướng dẫn học bài này có nhiều câu hỏi được sắp xếp theo hệ thống Dựa vào

hệ thống câu hỏi này để giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài một cách phù hợp,thiết thực và có hiệu quả Bắt đầu từ SGK là một định hướng khoa học trong việchướng dẫn học sinh chuẩn bị bài cho giờ Đọc văn Chẳng hạn

- Gắn với từng bài học cụ thể phù hợp với đặc trưng thể loại để hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài

Mỗi bài học, mỗi văn bản được phân bố với một số lượng thời gian nhất địnhtrong bảng phân phối chương trình Vì thế, giáo viên nhất thiết phải gắn với từng bàihọc, từng văn bản với số tiết quy định cụ thể để hướng dẫn học sinh cách thức nộidung, mức độ soạn bài phù hợp Chẳng hạn với những bài học trong một tiết thì cócách hướng dẫn chuẩn bị bài gọn, nhẹ hơn so với bài hai tiết Giáo viên cũng cần phảixem xét đặc điểm, tính chất của từng văn bản cụ thể để yêu cầu học sinh chuẩn bị:Thơ khác với văn xuôi Mặt khác, hiện nay định hướng giảng dạy phần Văn theophương pháp mới đặc biệt chú trọng yêu cầu tích hợp và đặc trưng thể loại Xuất phát

từ yêu cầu tích hợp cũng như ý thức về việc bám sát đặc trưng thể loại là định hướngđúng đắn cung cấp tri thức đọc hiểu cho học sinh, mà trước hết là ở khâu giúp các em

chuẩn bị tốt bài ở nhà Chẳng hạn khi dạy văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ

mới (Ngữ văn 9) giáo viên phải hướng dẫn cho các em nắm vững đặc trưng của văn

nghị luận để học sinh dễ tiếp xúc với văn bản Bên cạnh đó khi dạy giáo viên nhất

Trang 8

thiết phải tích hợp với hoàn cảnh đất nước và bản chất của con người Việt Nam đểlàm rõ những mặt mạnh, mặt yếu của con người Việt Nam ta Từ đó giáo dục cho thế

hệ trẻ biết cần phải làm gì để góp phần xây đất nước

- Giáo viên nắm chắc ý đồ của người soạn SGK ở phần hướng dẫn học bài sau mỗi văn bản.

Ở mỗi văn bản, mỗi bài học cụ thể có những mục đích khác nhau Trong Sáchgiáo khoa Ngữ văn sau tên mỗi văn bản là mục kết quả cần đạt Đây là phạm vi kiếnthức trọng tâm bài học mà học sinh cần nắm được Để đạt được kết quả đó ngườisoạn sách đã có những định hướng đọc- hiểu cho cả người dạy và người học ở mụchướng dẫn học bài Để tổ chức cho học sinh đọc hiểu văn bản sát hợp, một yêu cầu

vô cùng quan trọng là giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà đúng

trọng tâm như yêu cầu ở mục kết quả cần đạt Ví dụ, khi học đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, để học sinh hiểu và cảm nhận sâu sắc tâm trạng buồn - nhớ, lo lắng, đau

khổ của Thúy Kiều, giáo viên yêu cầu học sinh khi soạn bài cần đọc kĩ đoạn thơ nói

về nỗi nhớ về người thân; đoạn thơ nói về tâm trạng buồn, lo lắng, đau khổ của ThúyKiều khi ở lầu Ngưng Bích Hiểu được mục đích của người soạn Sách giáo khoa ởphần hướng dẫn học bài sau mỗi văn bản sẽ giúp giáo viên xác định phương pháp dạyhọc phù hợp từng bài học cụ thể Chẳng hạn, với mục đích đồng sáng tạo ở bạn đọc,

trong phần hướng dẫn học bài của văn bản Chuyện người con gái Nam Xương, sách

giáo khoa Ngữ văn 9 có nêu câu hỏi:

Vì sao Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất?( Nỗi oan khuất của Vũ Nương có nhiều nguyên nhân: Do cuộc hôn nhân giữa TS và VN có phần không bình đẳng;

Do trương sinh đa nghi, hồ đồ, độc đoán dẫn đến cái chết oan nghiệt của VN)

Từ đó em cảm nhận được điều gì về thân phận của người phụ nữ dưới chế độ phong

kiến?( Người phụ nữ đức hạnh trong xã hội cũ không được bênh vực, che chở, họ luôn bị đối xử bất công và chịu nhiều oan trái) Từ câu hỏi hướng dẫn này, giáo viên

có thể lồng phương pháp vấn đáp, đàm thoại bên cạnh các phương pháp khác Tấtnhiên để đàm thoại được ở trên lớp thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh chuẩn bịbài trước ở nhà

- Hướng dẫn học sinh đọc Sách giáo khoa và trả lời câu hỏi trong Sách giáo khoa

Để giúp học sinh có sự chuẩn bị hiệu quả trước khi bước vào giờ học văn bản,giáo viên cần có những định hướng cho học sinh trong các hoạt động tiếp xúc vớiSách giáo khoa, tập cho các em biết gia công tìm tòi, sáng tạo trong quá trình lĩnh hộitri thức Hướng dẫn học sinh soạn bài ở nhà trước hết và quan trọng nhất vẫn là yêu

Trang 9

cầu các em trả lời các câu hỏi ở phần Hướng dẫn học bài Việc đọc Sách giáo khoanhư đã nói trên trước hết là để trả lời được các câu hỏi này Tuy vậy, muốn công việcnày của các em đạt hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải có những cách thức, biện phápphù hợp Giáo viên vừa yêu cầu vừa khuyến khích, động viên các em tự trả lời cáccâu hỏi trong phần hướng dẫn theo cách hiểu của mình, tránh viêc ghi lại, chép lạitheo sách giải một cách đối phó, thụ động Trong quá trình soạn bài chỗ nào các emchưa hiểu hay còn thắc mắc, giáo viên yêu cầu các em chú ý ghi lại hoặc gạch chân,đánh dấu để có thể trao đổi trong quá trình đọc hiểu văn bản trên lớp Một điều nữakhông kém phần quan trọng là khi hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi trong Sáchgiáo khoa, giáo viên cần hướng các em vào những ý trọng tâm, câu hỏi trọng tâm,điều này rất có ích cho việc đọc hiểu văn bản ở trên lớp Muốn làm được điều nàygiáo viên phải có đầu tư suy nghĩ trước một bước Và như vậy, việc hướng dẫn học

sinh chuẩn bị bài ở nhà sẽ mang lại hiệu quả hơn Chẳng hạn khi soạn bài Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) giáo viên yêu cầu các em chú ý và trả lời kỹ những vấn đề sau:

Cảm xúc của tác giả trước vẻ đẹp và sức sống về mùa xuân của thiên nhiên và mùa xuân của đất nước như thế nào? Đoạn thơ “Ta làm con chim hót…Dù là khi tóc

bạc” gợi cho em những cảm nghĩ gì về ý nghĩa cuộc sống của mỗi con người? (Với câu hỏi 1 giáo viên đã giúp học sinh tìm hiểu nội dung đoạn thơ 1 và 2 của bài thơ, câu hỏi 2 giúp học sinh tìm hiểu nội dung khổ thơ thứ 3 trong bài; Nếu học sinh

về nhà chuẩn bị tốt theo các câu hỏi mà giáo viên đã cho khi lên lớp các em sẽ tiếp thu bài rất nhanh)

Như vậy, việc hướng dẫn học sinh đọc Sách giáo khoa và trả lời câu hỏi là việclàm vô cùng quan trọng, bởi đây là một bước chuẩn bị trước làm cơ sở cho việc đọctác phẩm trên lớp Nếu giáo viên làm tốt bước này thì khâu lên lớp sẽ nhẹ nhàng hơn,giờ học sôi nổi hơn và tất nhiên hiệu quả giờ học sẽ cao hơn

- Hướng dẫn học sinh lập dàn ý khái quát sơ đồ tư duy cho bài học

Từ những hiểu biết của bản thân, học sinh tự lập thành sơ đồ, thành những dàn

ý theo suy nghĩ của mình Điều ấy có nghĩa rằng sau khi đọc phân tích, học sinh cầnphải tổng hợp, tái tạo lại cấu trúc của bài học Ghi chép tóm tắt những gì và như thếnào là phụ thuộc vào hiểu biết và kinh nghiệm của từng người Điều quan trọng làngười học phải tự mình nêu lại được các thông tin quan trọng đã tiếp nhận bằng từngữ riêng theo cách của mình

- Tổ chức phân công từng vấn đề cụ thể cho từng nhóm học sinh

Sau khi kết thúc một giờ học công việc thường thấy từ trước tới nay là giáo

Trang 10

viên dặn dò học sinh về nhà học bài và chuẩn bị bài mới cho giờ học tiếp theo Đâythường là việc làm lấy lệ máy móc, qua loa, làm cho xong Vì thế tính hiệu quả thấp.Kinh nghiệm cho thấy đối với học sinh THCS giao việc càng cụ thể thì tính hiệu quảcàng cao Vì vậy, tổ chức phân công vấn đề cho học sinh chuẩn bị trước là bước đệmrất quan trọng cho bài học mới đạt kết quả Để việc làm này có chất lượng giáo viênphải thực hiện những bước sau:

+ Chuẩn bị trước các vấn đề

+ Chia nhóm

+ Phân công vấn đề cụ thể cho từng nhóm

Chẳng hạn khi dạy văn bản “Đồng chí” (Ngữ văn 9) của Chính Hữu ngoài việc

học sinh chuẩn bài theo phần hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa, giáo viên cóthể chuẩn bị trước các vấn đề sau để giao cho học sinh và yêu cầu mỗi nhóm phảichuẩn bị kĩ phần việc của nhóm mình Giáo viên chia lớp làm ba nhóm mỗi nhómphải có nhóm trưởng, nhóm phó để đôn đốc các thành viên và chịu trách nhiệm

chung cho cả nhóm Phần việc giao cho mỗi nhóm như sau: Nhận xét về cơ sở của tình đồng chí (Nhóm 1) Tìm những hiện biểu hiện của tình đồng chí (Nhóm 2) Tình đồng chí có những vẻ đẹp tiêu biểu nào?(Nhóm 3) Khi đã phân công học sinh về nhà

chuẩn bị như trên thì khi lên lớp, giáo viên giảng bài học sinh sẽ dễ tiếp thu và sautiết học các em sẽ dễ dàng thành lập được sơ đồ tư duy như sau:

Sơ đồ tư duy về bài thơ “Đồng chí”:

Có thể khẳng định rằng, nếu công việc này được giáo viên làm một cách đềuđặn và tâm huyết thì giờ học văn bản sẽ đạt được kết quả như mong đợi Ưu điểm củacách làm này là tiết kiệm được thời gian khi lên lớp, phát huy được cách học hợp tác,vấn đề trọng tâm của bài học sẽ được mổ xẻ một cách sâu sắc hơn

Trang 11

- Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở một số tiết học tác phẩm văn chương cụ thể:

Bài 1 : Chuyện người con gái Nam Xương

+ Giáo viên lưu ý học sinh khi chuẩn bị bài cần soan kỹ câu số 2,3,4 và 5 trongphần hướng dẫn học bài để cùng thảo luận, tranh luận ở trên lớp

+ Tưởng tượng cảnh Vũ Nương sau khi chết xuống thủy cung và được giảioan…

+ Tìm một số bài thơ, truyện viết về số phận người phụ nữ trong xã hôi cũ

Bài 2: Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) Giáo viên hướng dẫn HS chuẩn bị kĩ

vấn đề sau khi soạn bài này để trao đổi trên lớp:

+ Suy nghĩ về quan niệm sống của nhà thơ được thể hiện trong bài thơ

+ Mỗi người bày tỏ quan niệm sống của mình trong thời đại hiện nay

3 Biện pháp tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.

* Đối với giáo viên:

- Phải nắm vững nội dung bài giảng và trọng tâm bài dạy để đặt câu hỏi hướngvào nội dung bài học Việc đặt câu hỏi phải phù hợp với từng đối tượng học sinh cụthể, từng lớp học, từng điều kiện có thể có Tránh đặt câu hỏi máy móc, hỏi cho có,tránh lạm dụng trong việc đặt câu hỏi để rơi vào tình trạng dạy học hỏi đáp máy mọcđơn điệu

- Việc đặt câu hỏi phải phù hợp với phương pháp giảng dạy mà mình đã lựachọn: Nêu vấn đề, đàm thoại, giảng bình…và lượng câu hỏi phải hết sức hợp lí Nộidung câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu về cung cấp kiến thức; rèn luyện kĩ năng;giáo dục tư tưởng, nhân cách ở học sinh

- Điều quan trọng nhất đối với giáo viên là khâu soạn giáo án Để giáo án cóchất lượng phải có hệ thống câu hỏi chuẩn, hợp lí Các câu hỏi trọng tâm của bàigiảng phải cho học sinh nắm trước trong câu hỏi chuẩn bị bài ở nhà

* Đối với học sinh:

- Khâu soạn bài: Học sinh đọc văn bản, chuẩn bị bài theo câu hỏi mà giáo viên

đã cho, đã hướng dẫn Tuỳ loại câu hỏi giáo viên phân công học sinh chuẩn bị theo

tổ, nhóm, hoặc theo cá nhân

- Tham gia xây dựng bài: Động viên khích lệ học sinh bằng điểm số khi các emtham gia xây dựng bài Tạo không khí đối thoại thoải mái trong tiết học giữa thầy vàtrò, giữa học sinh với học sinh, tranh luận giữa các nhóm học sinh với nhau để phát

Trang 12

huy tư duy sáng tạo của học sinh, tránh việc áp đặt kiến thức mang tính chủ quan củangười dạy, cần trân trọng khen ngợi, động viên những khám phá phát hiện độc đáomới lạ của các em trong quá trình tìm hiểu tác phẩm văn học.

Hứng thú học tập là ngọn nguồn giúp cho học sinh cảm thụ sâu sắc giá trị củađời sống văn hoá nhân loại Phát huy trí lực, chú trọng tới hứng thú học tập của họcsinh là hướng đi tích cực của phương pháp dạy học văn hiện nay Tuy nhiên, để biếnnhững lý luận trên thành hiện thực đòi hỏi người thầy ngoài tri thức khoa học cầnphải có lòng yêu nghề, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục và đào tạo và phải có thêmniềm tin vào học sinh, những chủ nhân tương lai của đất nước

Từ mục tiêu trên, chúng tôi mạnh dạn đưa ra những biện pháp trong việc lựa

chọn hệ thống câu hỏi nhằm tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác, phát huy tư duy, sáng tạo của học sinh như sau:

a Yêu cầu của các loại câu hỏi:

- Câu hỏi phải gợi mở để tìm tòi vấn đề, phải đạt được mục đích kích thích

sự cảm thụ của học sinh với tác phẩm, phải gây được những phản ứng bên trong của học sinh

Không nên đưa những dạng câu hỏi mà chỉ yêu cầu học sinh trả lời có hoặc

không Ví dụ: Khi giảng văn bản Bố của Xi-mông (Ngữ văn 9) chúng ta không nên

đặt những câu hỏi như: Đọc xong văn bản, em thấy chị Blăng- sốt có phải là một người phụ nữ hư hỏng không? Mà chúng ta phải đặt những câu hỏi nhằm giúp các em tìm kiếm, phát hiện: Qua hình ảnh ngôi nhà của chị Blăng -sốt, thái độ của chị đối với khách và nỗi lòng của chị khi nghe con nói em cảm nhận chị là người như thế

nào?(Chị Blăng –sốt là người phụ nữ một thời lầm lỡ khiến Xi – mông trở thành đứa con không có bố Nhưng thực ra chị là người phụ nữ đức hạnh, đứng đắn, nghiêm túc)

- Câu hỏi phải tác động đến cảm xúc và rung động thẩm mỹ, đặc biệt là tác động đến trực giác của học sinh

Ở dạng câu hỏi này giáo viên phải biết chọn lựa những chi tiết nghệ thuật đặc

sắc, có tác dụng thẫm mỹ cao Ví dụ: Cách sử dụng các từ “Ta làm” ở 3 câu thơ

trong khổ thơ thứ 3 trong bài “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải gợi tả được điều gì? (Điệp ngữ “ta làm”diễn tả một cách tha thiết khát vọng được hòa nhập vào cuộc sống của đất nước, được cống hiến phần tốt đẹp – dù nhỏ bé- của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước.)

Hình ảnh “con chim, cành hoa, nốt trầm” trong đoạn thơ có ý nghĩa gì?

Trang 13

(Hình ảnh con chim, nhành hoa, nốt trầm đó là những hình ảnh đẹp, giản dị nhưng có một ý nghĩa lớn lao: Tác giả muốn nói lên ước nguyện phải đóng góp những gì tươi đẹp nhất cho cuộc đời, cho đất nước, dù đó là sự cống hiến khiêm nhường, giản dị Điều đó không chỉ ước muốn của riêng tác giả mà là của tất cả mọi người, tất cả chúng ta Thông qua việc chuyển đổi đại từ “tôi’ sang “ta”, nguyện ước riêng đã trở thành nguyện ước chung)

- Câu hỏi phải hướng vào thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, khái quát

Chẳng hạn khi củng cố bài hay kiểm tra bài cũ học sinh cần tránh những câuhỏi như sau: Em hãy đọc thuộc lòng bài thơ và cho biết nội dung, nghệ thuật của bài.Dạng câu hỏi này không có tác dụng phát huy sự sáng tạo, tính tích cực của học sinh

vì chỉ cần chăm chỉ học thuộc phần ghi nhớ cuối sách giáo khoa chứ không cần tưduy nhiều là học sinh trả lời được Hơn nữa, câu hỏi này sẽ gây cho học sinh thóiquen có hại đó là thói quen học thuộc một cách máy móc

Có thể thay dạng câu hỏi này bằng một câu hỏi có sức gợi hơn Ví dụ: Để kiểm

tra kiến thức cũ bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu trong chương trình Ngữ văn lớp 9thì giáo viên có thể hỏi như sau:

1 Qua bài thơ “Nói với con”, em thích nhất đoạn thơ nào? Vì sao? Hãy đọc đoạn thơ đó với ngữ điệu sao cho phù hợp với những điều mà em vừa giải thích? ( Học sinh có thể trả lời em thích khổ thơ nào trong bài thơ cũng được Miễn là các em giải thích được lí do mình thích và đọc thuộc lòng đúng đoạn thơ đó)

2 Em có nhận xét gì về cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh của tác giả trong bài thơ? Cách viết đó có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung bài? Từ đó, em hãy

khái quát tư tưởng chủ đề của bài thơ (Qua bài thơ “Nói với con”, bằng từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi cảm, Y Phương đã thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân tộc mình Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống)

Với những câu hỏi này, đòi hỏi học sinh phải có sự hiểu biết, cảm thụ sâu sắc

về tác phẩm đồng thời phải có cách trả lời sao cho đáp ứng được yêu cầu của câuhỏi Loại câu hỏi này vừa giúp giáo viên đánh giá được kiến thức, sự cảm thụ vừarèn luyện kĩ năng diễn đạt trong môn Ngữ văn đồng thời cũng phát huy được tưduy sáng tạo, tính tích cực, chủ động của học sinh Sở dĩ như vậy vì học sinh phảidựa vào quá trình phân tích tác phẩm để nhận biết những chi tiết nghệ thuật mà tác

Trang 14

giả sử dụng (đây là yêu cầu nhận biết) Sau khi nhận biết, học sinh phải lí giảiđược tác dụng của những chi tiết nghệ thuật ấy tức là phải lí giải được câu hỏi viết

để làm gì? (đây là yêu cầu tư duy, cảm thụ) Cuối cùng học sinh phải chủ độngtổng hợp khái quát những vấn đề do chính học sinh đã phân tích ở trên

- Phải có câu hỏi then chốt, trọng tâm với mục đích yêu cầu của bài, tránh đưa ra những câu hỏi chung chung mơ hồ, vụn vặt không có sự tư duy, sáng tạo

Ví dụ: Khi dạy bài “Cố Hương” (Ngữ văn 9- Lỗ Tấn) chúng ta có thể đặt câuhỏi: Qua sự thay đổi của nhân vật Nhuận Thổ và hình ảnh Cố hương đã phản ánhđiều gì? Với câu hỏi này giáo viên giúp học sinh cảm nhận được bức tranh hiện thựccủa xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ thật thê lương ảm đạm; Con người sa sút cả vềtâm hồn lẫn tính cách Đó chính là tinh thần phê phán xã hội phong kiến một cách sâusắc của Lỗ Tấn

- Hệ thống câu hỏi phải được sắp đặt hợp lý, được xác định phù hợp với đối tượng và phân loại đối tượng.

Kiểm tra bài cũ ở các đối tượng học sinh giáo viên tổ chức như sau:

Tổ chức trò chơi ai nhanh hơn:

Giáo viên phổ biến luật chơi: Cô sẽ cho các em xem một số hình ảnh và sau đóchúng ta sẽ trả lời các câu hỏi phía dưới Ai có câu trả lời đúng, nhanh nhất sẽ đượccộng thêm điểm

Để tổ chức kiểm tra bài cũ theo phương pháp này giáo viên sưu tầm nhữnghình ảnh phục vụ tốt cho kiến thức cần kiểm tra, sau đó trình chiếu cho học sinh xemrồi đặt câu hỏi Ví dụ: Để kiểm tra bài “Những ngôi sao xa xôi” trong chương trìnhNgữ văn lớp 9, giáo viên cho các em xem hình ảnh sau:

Trang 15

Từ đó hãy giới thiệu những phẩm chất đáng quý nhất về họ mà em biết

Qua những vẻ đẹp đó của họ em học tập được điều gì ?

(Hình ảnh trên đại diện cho những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mĩ, qua văn bản “Những ngôi sao xa xôi” của nữ nhà văn Lê Minh Khuê Họ là những cô gái xinh xắn, đáng yêu, tuổi đời mười tám, đôi mươi Họ sống lạc quan, hồn nhiên, yêu đời, yêu quê hương, đất nước sâu sắc Giàu tình yêu thương đồng đội và rất dũng cảm Họ sẵn sàng hy sinh cuộc đời mình để cứu nước Đó là những phẩm chất đáng quý của các cô gái thanh niên xung phong thời chống Mĩ mà chúng ta phải học tập).

Với cách tổ chức và sử dụng các câu hỏi trên, giáo viên sẽ rất dễ dàng kiểm trađược các đối tượng học sinh Hai câu đầu dành cho học sinh yếu, trung bình; hai câusau dành cho đối tượng học sinh khá, giỏi

Tóm lại, yêu cầu của câu hỏi trong giờ giảng văn phải vừa tạo ra sự kích thích,vừa tác động đến nhận thức, tư duy của học sinh Việc đưa ra câu hỏi phải căn cứ vàonội dung bài học, vào đối tượng học sinh, vào điều kiện khách quan… để có cách đặtcâu hỏi, cách lựa chọn hình thức câu hỏi và sử dụng lượng câu hỏi thích hợp giúp các

em lĩnh hội tác phẩm văn chương một cách hiệu quả nhất

4 Các dạng câu hỏi sử dụng trong giờ học văn bản

Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức của học sinh, kết hợp phương phápdạy học, có thể phân ra các loại câu hỏi sau:

Trang 16

(1) Câu hỏi tái hiện : Giáo viên đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ

lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Loại câu hỏi nàygiúp học sinh tái hiện thế giới nghệ thuật của tác phẩm như: Các hình ảnh, hìnhtượng, chi tiết nghệ thuật, nhân vật, bức tranh đời sống qua sự phản ảnh…Các câuhỏi này có khả năng khơi dậy sự liên tưởng, tưởng tượng trong quá trình tiếp nhận ởhọc sinh Đó là một biện pháp được sử dụng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức đãhọc với kiến thức sắp học, hoặc củng cố kiến thức vừa mới học

Ví dụ: Khi dạy văn bản Làng của Kim Lân (văn 9 tập 1), giáo viên có thể hỏi:

Trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, tâm trạng của ông Hai như thế nào? Tâm trạng đó được thể hiện qua những hành động nào ?

+ HS điểm qua một vài chi tiết như:

- Ông khoe làng ông giàu đẹp

- Không khí cách mạng của làng sôi nổi

- Ông buộc phải tản cư, ở nơi tản cư ông luôn khoe về làng mình

- Khi kể , ông kể say sưa, 2 con mắt sáng, cái mặt biến chuyển

- Khi đi tản cư ông nhớ làng, nhớ hoạt động kháng chiến

- Ông nghe được nhiều tin hay tin chiến thắng của quân ta, ruột gan ông múalên vui quá

+ HS cảm nhận: Tất cả thể hiện tâm trạng vui sướng, tự hào, hãnh diện ôngHai về làng quê của mình khi tham gia hoạt động kháng chiến

(2) Câu hỏi yêu cầu giải thích, minh hoạ: Loại câu hỏi này nhằm mục đích

làm sáng tỏ một khái niệm, đề tài nào đó Giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏikèm theo những ví dụ minh hoạ để giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp nàyđược áp dụng có hiệu quả trong một số trường hợp như khi Giáo viên biểu diễnphương tiện trực quan (băng ghi hình, máy chiếu)

Ví dụ: Em hãy quan sát các bức tranh và đọc lại bài thơ “Sang thu” của HữuThỉnh?

Ngày đăng: 21/04/2016, 12:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tư duy về bài thơ “Đồng chí”: - Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn lớp 9 ở trường THCS Buôn Trấp
Sơ đồ t ư duy về bài thơ “Đồng chí”: (Trang 10)
Hình ảnh các em vừa xem đại diện cho thế hệ nào trong cuộc kháng chiến   chống Mĩ cứu nước? - Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn lớp 9 ở trường THCS Buôn Trấp
nh ảnh các em vừa xem đại diện cho thế hệ nào trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước? (Trang 15)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w