Đối với môn hóa học, đây là môn học “vỡ lòng”, hoàn toàn mới lạ đối với các em, sự tiếp xúc môn học này ít nhiều làm cho các em bỡ ngỡ, một số ít các em có năng khiếu còn tìm tòi thích thú đối với môn học mới này, còn đa số các em đều cảm thấy xa lạ và ngán ngại, nếu không có biện pháp thích hợp các em rất dễ chán nản, bỏ học. Các em xem môn học này là một trong những môn học khó khăn nhất giống như các môn học tiếng nước ngoài. Vì thực tế đối với các em, khi học môn học này phải học thuộc lòng các kí hiệu hóa học, tên gọi, hóa trị,…các em còn lúng túng , mù mờ việc dự đoán các sản phẩm tạo thành trong một phương trình phản ứng hóa học, việc củng cố rèn luyện các em đối với môn học này ở bậc THCS giúp cho học sinh có kiến thức cơ bản để làm nền tảng cho bậc học tiếp theo.Quán triệt quan điểm “dạy thật , học thật”, chống lại “bệnh thành tích” trong giáo dục, đang là căn bệnh nhức nhối mà riêng tôi cảm thấy bức xúc Trong khuôn khổ chia sẻ “ kinh nghiệm rèn luyện học sinh yếu, kém môn hóa học”, bản thân công tác trong nghành luôn trăn trở và luôn tìm giải pháp nâng cao chất lượng học sinh nói chung trong đó quan tâm nhiều đến học sinh yếu kém nói riêng2. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI: Qua nội dung của đề tài giáo viên có phương pháp truyền thụ kiến thức cơ bản cho học sinh, học sinh nhận biết, thông hiểu, vận dụng kiến thức làm các bài tập ở nhà, bài tập ở lớp, bài kiểm tra. Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Là động lực thúc đẩy các học sinh yếu kém có ý thức hơn trong học tập Là cơ sở kiến thức cho học sinh tiếp thu chương trình cấp trung học sơ sở Nêu ra các bước ngắn gọn với các ví dụ minh họa và có những ví dụ thông qua một vài nội dung học ở môn hóa học 8, 9 để từng bước tạo hứng thú cho các em trong các bài học3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Rèn luyện học sinh yếu kém môn hóa học 8,9 cho học sinh Nội dung vài bài học trong chương trình SGK Hóa học THCS Hiện tượng liên quan đến kiến thức hóa học THCS4. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:Học sinh lớp 8A6 năm học 2013 2014, 9A6 năm học 2014 2015 ở trường THCS Nguyễn Trãi – Huyện KrôngAna Tỉnh ĐăkLăk5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:Khi nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau: Quan sát Nghiên cứu sản phẩm của đối tượng Khái quát lý luận, phân tích lý luận Thực nghiệm khoa họcVận dụng kiến thức đã học trong trường Cao Đẳng và Đại Học, kiến thức sách giáo khoa hóa học lớp 8,9 của Bộ Giáo dục và phương pháp cải cách bộ môn hóa học lớp 8,9
Trang 1I.MỞ ĐẦU:
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đối với môn hóa học, đây là môn học “vỡ lòng”, hoàn toàn mới lạ đối với các
em, sự tiếp xúc môn học này ít nhiều làm cho các em bỡ ngỡ, một số ít các em
có năng khiếu còn tìm tòi thích thú đối với môn học mới này, còn đa số các emđều cảm thấy xa lạ và ngán ngại, nếu không có biện pháp thích hợp các em rất
dễ chán nản, bỏ học Các em xem môn học này là một trong những môn học khókhăn nhất giống như các môn học tiếng nước ngoài Vì thực tế đối với các em,khi học môn học này phải học thuộc lòng các kí hiệu hóa học, tên gọi, hóa trị,…các em còn lúng túng , mù mờ việc dự đoán các sản phẩm tạo thành trong mộtphương trình phản ứng hóa học, việc củng cố rèn luyện các em đối với môn họcnày ở bậc THCS giúp cho học sinh có kiến thức cơ bản để làm nền tảng cho bậchọc tiếp theo
Quán triệt quan điểm “dạy thật , học thật”, chống lại “bệnh thành tích” trong
giáo dục, đang là căn bệnh nhức nhối mà riêng tôi cảm thấy bức xúc! Trong
khuôn khổ chia sẻ “ kinh nghiệm rèn luyện học sinh yếu, kém môn hóa học”,
bản thân công tác trong nghành luôn trăn trở và luôn tìm giải pháp nâng cao chấtlượng học sinh nói chung trong đó quan tâm nhiều đến học sinh yếu kém nóiriêng
2 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
- Qua nội dung của đề tài giáo viên có phương pháp truyền thụ kiến thức cơ bản
cho học sinh, học sinh nhận biết, thông hiểu, vận dụng kiến thức làm các bài tập
ở nhà, bài tập ở lớp, bài kiểm tra
- Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
- Là động lực thúc đẩy các học sinh yếu kém có ý thức hơn trong học tập
- Là cơ sở kiến thức cho học sinh tiếp thu chương trình cấp trung học sơ sở
- Nêu ra các bước ngắn gọn với các ví dụ minh họa và có những ví dụ thông quamột vài nội dung học ở môn hóa học 8, 9 để từng bước tạo hứng thú cho các emtrong các bài học
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Trang 2- Rèn luyện học sinh yếu kém môn hóa học 8,9 cho học sinh
- Nội dung vài bài học trong chương trình SGK Hóa học THCS
- Hiện tượng liên quan đến kiến thức hóa học THCS
4 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Học sinh lớp 8A6 năm học 2013- 2014, 9A6 năm học 2014 - 2015 ở trườngTHCS Nguyễn Trãi – Huyện KrôngAna - Tỉnh ĐăkLăk
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Khi nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
- Quan sát
- Nghiên cứu sản phẩm của đối tượng
- Khái quát lý luận, phân tích lý luận
- Thực nghiệm khoa học
Vận dụng kiến thức đã học trong trường Cao Đẳng và Đại Học, kiến thức sáchgiáo khoa hóa học lớp 8,9 của Bộ Giáo dục và phương pháp cải cách bộ mônhóa học lớp 8,9
II NỘI DUNG
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
Cùng với quan điểm của Đảng luôn xem giáo dục đào tạo là quốc sách hang đầu
có tác dụng to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong cương lĩnhxây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội(bổ sung và phát
triển năm 2011), khẳng định “ giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí,
phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào taọ cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hang đầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội… đẩy mạnh xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời”1
Hưởng ứng cuộc vận động của Bộ Giáo dục và đào tạo: “Mỗi thầy cô giáo có ít
nhất một sáng kiến kinh nghiệm” và phong trào “ trường học thân thiện, học
Trang 3sinh tích cực” nhằm phát huy tích cực và tiềm năng sáng tạo của giáo viên trong
nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện!
“Lâu nay chúng ta chỉ khen thưởng cho học sinh khá, giỏi, xuất sắc mà quên đi những học sinh yếu kém có tiến bộ Bên cạnh đó phải nghiên cứu phương pháp phụ đạo, bồi dưỡng cho học sinh yếu kém”2 Thật vậy, việc khen thưởng kịp thờinhững học sinh có thành tích xuất sắc trong học tập, động viên, khích lệ học sinhyếu kém có tiến bộ kịp thời mới khuyến khích được phong trào dạy và học trongnhà trường sự đổi mới trong giảng dạy là một yêu cầu thực tế của xã hội
2 THỰC TRẠNG:
2.1 Thuận lợi – khó khăn:
Thuận lợi: Nhà nước và bộ giáo dục, sở giáo dục, phòng giáo dục, nhà trường
quan tâm đến công tác bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho giáo viên Cơ sởvật chất trường học và đồ dùng phục vụ công tác dạy và học tương đối tốt Côngnghệ thông tin được cập nhật là điều kiện để giáo viên dạy tốt và học sinh họctốt
Khó khăn:
*Từ học sinh:
- Học sinh không hứng thú học tập bộ môn: Khác với các môn khác, môn
Hóa Học có nhiều khái niệm trừu tượng, khó, học sinh hạn chế kiến thức cơ bản, do đó học sinh tiếp thu kiến thức ngày càng khó khăn và thiếu hụt.
- Chất lượng đầu vào thấp, học sinh học yếu môn Toán, Lý khó có khả năng tiếp
thu kiến thức môn Hóa học do đó sợ môn Hóa và không ham thích họcHóa
- Một số em lười học, thiếu sự chuẩn bị chu đáo dụng cụ học tập dẫn tới không
nắm được các kĩ năng cần thiết trong việc học và vận dụng vào việc giảiquyết các dạng bài tập Hóa học
Trang 4- Một số em thiếu tìm tòi, sáng tạo trong học tập, không có sự phấn đấu vươn
lên, có thói quen chờ đợi lười suy nghĩ hay dựa vào giáo viên, bạn bèhoặc xem lời giải sẵn trong sách giải một cách thụ động
* Từ giáo viên:
- Chưa thực sự quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh trong cả lớp mà chỉ
chú trọng một số em học khá, giỏi; giáo viên chưa thật tâm lý, chưa độngviên khéo léo kịp thời đối với những tiến bộ của học sinh dù nhỏ
- Chưa cân đối giữa việc truyền thụ kiến thức với rèn luyện kỹ năng thực hành
Hóa Học
- Không nắm chắc đối tượng dẫn tới đề quá cao hoặc quá thấp đối với học sinh.
- Chưa tạo được không khí học tập thân thiện Giáo viên bộ môn chưa phối kết
hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh
- Phương pháp dạy học chậm đổi mới: Nhiều giáo viên chưa chú ý đến phương
pháp dạy học đặc trưng của bộ môn: không có thí nghiệm trên lớp, bỏ giờthực hành thí nghiệm, phương tiện dạy học nghèo nàn, lạc hậu
- Việc kiểm tra, đánh giá chưa nghiêm túc, chưa có tác dụng khích lệ học sinh
trong học tập, thậm chí còn tạo điều kiện cho học sinh chây lười
- Chưa tổ chức được các buổi ngoại khóa, những hoạt động ngoài giờ lên lớp
cho học sinh tham gia
* Từ phụ huynh học sinh và xã hội:
- Học sinh là con em nhân dân lao động, nghèo ít có điều kiện đầu tư việc học
cho con cái
- Một số phụ huynh không quan tâm đến việc học của con em, khoán trắng việc
học tập của con em họ cho nhà trường
- Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với internet với các dịch
vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn đã lôi cuốn các em
2.2 Thành công – Hạn chế:
Trang 5Thành công: Khi áp dụng đề tài này phần lớn học sinh có hứng thú với môn học,
siêng năng và có ý thức tự học Các em học sinh luôn tích cực qua việc hoànthành bài tập ở nhà và nắm được tương đối kiến thức trọng tâm của từng bài học
Hạn chế: Thời lượng phân phối chương trình lên lớp chưa đủ để cho các em làm
bài tập và trực quan bằng thí nghiệm biểu diễn, một số học sinh chưa có tinh thần
tự giác học tập, không có thói quen tự học ở nhà; một bộ phận phụ huynh chưathực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình
2.3 Mặt mạnh, mặt yếu:
- Đề tài là tài liệu tham khảo cho giáo viên đang giảng dạy môn hóa học ởtrường THCS cũng như giáo viên đang giảng dạy ở nhiều môn học khác tạođộng lực cho học sinh học tập tốt hơn môn học của mình Học sinh ý thức hơnviệc tự học, nhận thấy rằng việc tự học là rất cần thiết để nâng cao kiến thức chobản thân cũng như giúp học tốt hơn các môn học trong nhà trường đặc biệt làmôn hóa học
- Với đối tượng học sinh yếu, để các em phát huy tốt khả năng của mình cần có
sự phối hợp thường xuyên hơn giữa gia đình với nhà trường và giáo viên giảngdạy bộ môn vì với đối tượng học sinh này kỹ năng tự học ở nhà là chưa tốt
2.4 Nguyên nhân, các yếu tố tác động:
Từ thực tế giảng dạy tôi nhận thấy rằng việc các em học yếu kém môn hóahọc là do nhiều nguyên nhân như: Do đặc điểm lứa tuổi, do hoàn cảnh sống vàmôi trường tác động, ở đây vì nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên số họcsinh bỏ học giữa chừng để làm kinh tế phụ giúp gia đình khá phổ biến, các emthấy bạn cùng lứa tuổi mình đã có thể kiếm được tiền mà không cần học tậpnhiều cộng với việc tiếp thu các môn học gặp nhiều khó khăn cũng góp phần làmcác em lơ là việc học nên tự bản thân học sinh chưa có động lực để học tập.Ngoài những nguyên nhân khách quan trên cũng còn một phần là do kiến thứcmôn hóa học trừu tượng, khó tiếp thu đối với một số học sinh, số lượng bài tậpnhiều và khó cũng góp phần tạo nên sự chán nản nơi học sinh
2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Trang 6- Từ các vấn đề mà thực trạng học sinh yếu kém môn Hóa Học đã nêu ở đây có
2 nguyên nhân chủ yếu:
+ Là yếu tố ngoại cảnh, do môi trường sống, bạn bè và gia đình tác động đến sự
tự học của học sinh nói chung Với nguyên nhân này giải pháp khắc phục là cầntăng cường sự phối hợp tốt hơn nữa giữa nhà trường và gia đình học sinh, đặcbiệt là những em mà gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn, sự động viên khích
lệ của giáo viên dành cho bản thân các em là cần thiết
-+ Là do đặc điểm môn học và phương pháp giảng dạy của giáo viên Tâm lýchung của học sinh là dễ chán nản nếu như các em không hiểu bài Chẳng hạntrong chương trình lớp 8 nếu các em không học thuộc bảng 1 – Một số nguyên
tố hóa học SGK/ 42 và bảng 2 – Hóa trị của một số nhóm nguyên tử SGK/ 43,những công thức chuyển đổi giữa khối lượng, thể tích và lượng chất thì các emkhó có thể có những kiến thức kỹ năng cơ bản để giải bài tập Đây là nhữngcông thức căn bản có thể áp dụng vào cho cả chương trình hóa học mà nếu các
em ngay từ đầu không nắm vững thì sẽ rất khó vận dụng vào làm bài tập ởnhững bài học tiếp theo dẫn đến chán nản dẫn đến kết quả học tập giảm sút
Từ những khó khăn nêu trên mà học sinh khi học môn hóa học 8, 9 mắc phải,với những kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm môn hóa học lớp 8 và 9 tôi mạnhdạn đề xuất một vài giải pháp nhằm giúp các em khắc phục những khó khăn trênđồng thời thông qua việc các em nắm được các kiến thức áp dụng vào làm bàitập để từng bước các em biết cách học để nâng cao kiến thức của mình
3 GIẢI PHÁP – BIỆN PHÁP:
3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Viết lại những kinh nghiệm đã có trong quá trình giảng dạy nhằm giúp họcsinh từng bước nắm được những kiến thức cơ bản để cải thiện kết quả học tậpcác môn học nói chung và môn hóa học nói riêng cũng như tạo tiền đề tốt đểphát triển thêm nhiều kỹ năng khác trong môn hóa học như kỹ năng làm thínghiệm, kỹ năng viết báo cáo thực hành, kỹ năng giải bài tập……
Trang 73.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp trên:
Từ thực tiễn giảng dạy tôi nhận thấy rằng để học sinh không còn yếu kém đối
với môn học này cũng như từng bước tạo hứng thú say mê với môn học của các
em, để ngày càng nâng cao chất lượng môn học thì cần phải trải qua nhữngbước làm cụ thể sau:
Phân loại học sinh, giúp đỡ, động viên kịp thời:
Kiểm tra kiến thức chung của các em từ đầu năm học từ đó phân loại học sinhyếu kém, trao đổi với giáo viên Chủ nhiệm,giáo viên bộ môn của năm học trước
để có thể nắm rõ tính cách, hoàn cảnh học lực của những môn học liên quan.Giáo viên không chỉ truyền đạt kiến thức mà quan trọng hơn là tổ chức nhữngtình huống kích thích sự tò mò, đòi học của các em, hướng dẫn các em khắc phụckhó khan mà học tập để tiến bộ trang bị cho các em học sinh yếu kém nhữngkiến thức cơ bản đã học qua mà các em quên hoặc cưa biết cần thiết ghi tóm tắt,cách nhớ, mẹo nhớ…giúp cho các em biết cách học, có phương pháp học tập phùhợp với bộ môn
- Thiết nghĩ làm giáo dục và đào tạo không chỉ dạy các em kiến thức cơ bảntrong từng môn học mà còn phải kết hợp giáo dục đạo đức, hiểu rõ tâm lý đốitượng nghiên cứu để có biên pháp thích hợp và kịp thời tùy theo từng học sinh
và từng nguyên nhân cụ thể dẫn đến học yếu, kém Hóa học là môn tự nhiên liênquan mật thiết với môn Toán, Lý nếu các em hỏng kiến thức, thiếu kỹ năng làmtoán thì các em dễ chán nản môn Hóa học
- Điều này bắt nguồn từ bệnh thành tích của nhiều năm trước, có những em đãhọc lớp 9 mà tìm ẩn x hay áp dụng quy tắc tam suất để tìm số mol trên phươngtrình còn chưa nắm vững Giúp các em lấy lại tự tin, đòi hỏi giáo viên phải ôn lạinhững kiến thức căn bản về toán học
Ví dụ: Tìm hóa trị của một nguyên tố chưa biết, ta cần đặt ẩn x( là hóa trị của
nguyên tố cần tìm), sau đó áp dụng quy tắc hóa trị để tìm x chẳng hạn ta được 2x
= 6 => x = 6/2 =3.Hay, cứ 1 mol sắt tác dụng với 2 mol HCl Vậy 0,05 mol sắt
Trang 8tác dụng thì cần bao nhiêu mol HCl phản ứng, mà các em còn lung túng chưa giảiquyết được.
- Thường xuyên kiểm tra bài, làm những bài tập đơn giản để động viên, khích lệtinh thần,khen tặng những tiến bộ qua từng bài tập nhỏ Chẳng hạn: “ Hôn nay
em rất tiến bộ, cố gắng thêm” Ngoài những khen tặng động viên khi các em tựhoàn thành một bài tập hay đã nắm vững một vấn đề nào đó còn phải tìm nhữngđiểm tôt khác của các em để khen ngợi Chẳng hạn, tính cẩn thận, cách trình bày
rõ ràng Khen tặng, khích lệ tinh thần là một nghệ thuật dẫn dụ con người mà từxưa đến nay các nhà khoa học lừng danh đã làm nên lịch sử cững từ đó
- Để hỗ trợ các em trong học tập, cần hướng dẫn các em suy đoán đơn giản vềsản phẩm tạo thành cho một phản ứng hóa học vô cơ thông thường: phản ứngtrung hòa, phản ứng trao đổi, phản ứng hóa hợp, phản ứng thế, phản ứng nhiệtphân và kể cả phản ứng oxi hóa khử thông thường…
- Đầu tiên phải kiểm tra và giúp cho các em học thuộc kí hiệu và hóa trị của một
số nguyên tố thường gặp một cách thành thạo
- Hướng dẫn lại cách viết đúng công thức hóa học:
Công thức hóa học dạng chung:
a b
A x B y
Trong đó: A, B là KHHH của nguyên tố ( B có thể là nhóm nguyên tử)
a, b là hóa trị của A,B
Trang 9* Cho các em viết công thức hóa học từ dễ đến khó như sau :
- Viết công thức các chất tham gia phản ứng
- Dự đoán phản ứng xảy ra ( dự đoán sản phẩm tạo thành) của oxit bazơ với axit :
để viết đúng sản phẩm của phản ứng giữa axit với oxit bazơ, ta có cách nhớ nhưsau : ‘‘Kim loại trong oxit sẽ kết hợp với gốc axit tạo thành muối, hidro kết hợpvới oxi tạo thành nước’’ hay dễ nhớ nhất là ‘‘ gần với gần, xa với xa’’
Trước tiên phải ôn tập cho học sinh một số công thức cần vận dụng khi giải toántính theo PTHH:
* Công thức chuyển đổi giữa khối lượng và lượng chất:
m = n M n = m : M M = m : n
m: Khối lượng chất( g) , n là số mol chất( mol) M là khối lượng mol( g)
* Công thức chuyển đổi giữa lượng chất và thể tích chất khí:
Trang 10m: là khối lượng dung dịch ( g)
D là khối lượng riêng
V là thể tích dung dịch
* Công thức tính nồng độ mol và nồng độ % của dung dịch:
Công thức tính nồng độ mol : CM =
V n
- mct là khối lượng chất tan, biểu thị bằng gam
- mdd làkhối lượng dung dịch, biểu thị bằng gam
mdd = mct + mdm
Từ những công thức trên, học sinh đã vận dụng vào bài tập tính theo PTHH
Dạng cơ bản : Dựa vào lượng 1 chất tính lượng các chất khác theo phản ứng Phương pháp giải :
Bước 1 : Đổi khối lượng hoặc thể tích chất khí ra số mol :
+ Nếu đề bài cho khối lượng : n= m/M
+ Nếu đề bài cho thể tích chất khí( đktc): n= V/22.4
Bước 2 : Lập PTHH của phản ứng
Bước 3 : Dựa vào PTHH để tìm số mol chất tham gia hoặc tạo thành
Trang 11Bước 4 : Đổi số mol thành khối lượng hoặc thể tích ( m = n.M, V = n.22,4)
a.Tính khối lượng của axit clohiđric đã dùng?
b.Tính thể tích khí hiđro thoát ra( đk tc)
Hướng dẫn:
) ( 05 , 0 65
25 3
mol M
mol
n HCl = =
g M
b Tính thể tích khi thu được ( đktc)
c Tính khối lượng dung dịch axit cần dùng ?
d Tính nồng độ phần trăm của dung dịch thu được sau phản ứng
Trang 12Hoặc là, để nhận dạng một bài toán, chẳng hạn dạng toán dư thường gặp ở bậc
THCS.Các em chú ý đến dữ kiện đề bài (bài cho đồng thời cả 2 lượng chất thamgia phản ứng và yêu cầu tính lượng chất tạo thành Trong số hai chất tham giaphản ứng sẽ có một chất phản ứng hết, chất kia có thể phản ứng hết hoặc dư.Lượng chất tạo thành tính theo lượng chất nào phản ứng hết, do đó phải tìm xemtrong hai chất cho biết, chất nào phản ứng hết
Phương pháp giải: Tìm chất dư, chất hết → Tính theo chất hết.
- Bước 1: Tính số mol mỗi chất.
- Bước 2: Viết phương trình phản ứng:
Tỉ số nào lớn hơn chất đó dư, chất kia hết → Tính theo chất hết
Ví dụ: Cho 32,5 gam kẽm tác dụng với 47,45 gam axit clohiđric.