Bản thân tôi là một người Hiệu trưởng của trường mầm non Cư Pang, quản lý với tổng số CBVC là 33 người và số cháu là 259 cháu. Trong đó số trẻ dân tộc thiểu số chiếm 90%. Hầu hết trẻ dân tộc Êđê đến trường đều nói bằng tiếng mẹ đẻ, không nghe được tiếng Việt, bố mẹ trẻ lại ít quan tâm đến việc động viên trẻ đến lớp. Là người quản lý tôi đã trăn trở để xây dựng kế hoạch từ đầu năm học, phân công giáo viên trực tiếp đến nhà trẻ để huy động trẻ ra lớp. Đầy cũng là một điều khó khăn rồi nhưng còn vấn đề gian nan hơn nữa là trẻ ngồi trong lớp hay chọc nghẹo, không tích cực tham gia vào các hoạt động, cô nói điều gì trẻ cũng không hiểu cứ nhìn cô và không trả lời khi cô giáo hỏi trẻ. Cô nói trẻ không hiểu, khi cô hỏi cháu trả lời câu hỏi lặp lại của cô ví dụ : Con tên gì ? trẻ trả lời lặp lại con tên gì ?; ví dụ: Cô nói con “Cò” thì trẻ nói là con “co”. Đối với trẻ dân tộc thiểu số chịu rất nhiều thiệt thòi. Điều kiện tiếp xúc với môi trường xung quanh, xã hội còn ít, tầm nhìn của trẻ còn hạn chế, tất cả đồ dùng học tập đối với trẻ cũng thật là xa lạ, nên khi trẻ tiếp xúc còn bỡ ngỡ. Bởi vì trẻ không hiểu hết ngôn ngữ tiếng Việt của cô. Với tình hình thực tế của trường đa số là người đồng bào DTTS, bản thân tôi luôn trăn trở, suy nghĩ nhiều lúc thấy vô cùng lo lắng, phải dùng phương pháp gì? để giúp trẻ dễ hiểu và nói được Tiếng việt một cách trôi chảy. Với tầm quan trọng đó bản thân tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp hướng dẫn giáo viên dạy lồng ghép Tiếng Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS” với hy vọng đề tài này sẽ góp phần không nhỏ vào công tác giảng dạy của giáo viên ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiếu số như hiện nay. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Trang 1MỤC LỤC
I PHẦN MỞ ĐẦU: 2
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Mục tiêu và nhiệm vụ.: 3
3 Đối tượng nghiên cứu: 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu: 4
II PHẦN NỘI DUNG 4
1.Cơ sở lí luận: 4
2 Thực trạng……… 5
3 Giải pháp, biện pháp……… 8
4 Kết quả……… 16
III PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… 17
1 Kết luận:……… 17
2 Kiến nghị:……… 18
* Nhận xét của hội đồng sáng kiến ……… 19
* Tài liệu tham khảo 20
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN SỬ DỤNG LỒNG GHÉP TIẾNG
VIỆT CHO TRẺ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Trang 2I PHẦN MỞ ĐẦU:
1 Lý do chon đề tài.
Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ giáo dục Mầm non là khâu đầu tiên của
hệ thống giáo dục Quốc dân Giáo viên Mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa, tuỳ theo mỗi độ tuổi mà giáo dục khác nhau Tuổi Mẫu giáo trẻ mới bắt đầu trong quá trình học nói, chính vì vậy mà cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ, đặc biệt là Dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng Bởi vì các cháu dân tộc thiểu
số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ của trẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận Tiếng việt, dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ Tiếng việt Chính vì vậy việc cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ Dân tộc thiểu số là vấn đề cần được quan tâm, nhằm hình thành và phát triển những kỷ năng cần thiết cho việc học Tiếng việt ở lớp một phổ thông
Trong những năm gần đây Bộ giáo dục và đào tạo rất quan tâm đến việc dạy Tiếng Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS Vì vậy việc chăm sóc cũng như tạo điều kiện để trẻ phát triển một cách toàn diện là một vấn đề mà toàn xã hội cần phải quan tâm Việc kết hợp giữa trường lớp mầm non với gia đình trong quá trình dạy Tiếng Việt cho trẻ đó là hành trang để trẻ bước vào lớp 1 Khi trẻ đến trường trẻ sẽ không bị hẫng hụt về tâm lý, cũng như có đầy đủ nghị lực sẵn sàng cho việc học, mà ta áp dụng trong các tiết dạy, giờ học, giờ chơi, sinh hoạt cho phù hợp
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta sử dụng lời nói để trò chuyện, đàm thoại, thảo luận, trình bày những hiểu biết, suy nghĩ, giải thích một vấn đề nào
đó trong cuộc sống như: Kể lại được sự việc, câu chuyện đã được nghe, được chứng kiến, hay tự mình nghĩ ra, sáng tạo ra Trẻ cần tập nghe, hiểu lời nói của
cô của những người xung quanh Sau đó tập trình bày suy nghĩ và sự hiểu biết của mình theo ngôn ngữ Tiếng việt Muốn phát triển ở trẻ kỷ năng, hiểu và nói được ngôn ngữ Tiếng việt theo cô, theo tôi trước hết phải cuốn hút trẻ tham gia vào hoạt động phát triển ngôn ngữ qua trò chuyện, đàm thoại, kể chuyện, đọc cho trẻ nghe, cho trẻ làm quen với chữ cái và thông qua các môn học khác, hoặc
ở mọi lúc mọi nơi Là vô cùng quan trọng đối với trẻ
Bản thân tôi là một người Hiệu trưởng của trường mầm non Cư Pang, quản lý với tổng số CBVC là 33 người và số cháu là 259 cháu Trong đó số trẻ dân tộc thiểu số chiếm 90% Hầu hết trẻ dân tộc Êđê đến trường đều nói bằng tiếng mẹ đẻ, không nghe được tiếng Việt, bố mẹ trẻ lại ít quan tâm đến việc động viên trẻ đến lớp Là người quản lý tôi đã trăn trở để xây dựng kế hoạch từ đầu năm học, phân công giáo viên trực tiếp đến nhà trẻ để huy động trẻ ra lớp
Đầy cũng là một điều khó khăn rồi nhưng còn vấn đề gian nan hơn nữa là trẻ ngồi trong lớp hay chọc nghẹo, không tích cực tham gia vào các hoạt động,
Trang 3cô nói điều gì trẻ cũng không hiểu cứ nhìn cô và không trả lời khi cô giáo hỏi trẻ Cô nói trẻ không hiểu, khi cô hỏi cháu trả lời câu hỏi lặp lại của cô ví dụ : Con tên gì ? trẻ trả lời lặp lại con tên gì ?; ví dụ: Cô nói con “Cò” thì trẻ nói là con “co” Đối với trẻ dân tộc thiểu số chịu rất nhiều thiệt thòi Điều kiện tiếp xúc với môi trường xung quanh, xã hội còn ít, tầm nhìn của trẻ còn hạn chế, tất cả đồ dùng học tập đối với trẻ cũng thật là xa lạ, nên khi trẻ tiếp xúc còn bỡ ngỡ Bởi
vì trẻ không hiểu hết ngôn ngữ tiếng Việt của cô
Với tình hình thực tế của trường đa số là người đồng bào DTTS, bản thân tôi luôn trăn trở, suy nghĩ nhiều lúc thấy vô cùng lo lắng, phải dùng phương pháp gì? để giúp trẻ dễ hiểu và nói được Tiếng việt một cách trôi chảy Với tầm
quan trọng đó bản thân tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp hướng dẫn giáo viên
dạy lồng ghép Tiếng Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS” với hy vọng đề tài này
sẽ góp phần không nhỏ vào công tác giảng dạy của giáo viên ở vùng sâu vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc thiếu số như hiện nay
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Nhằm giúp trẻ nắm vững Tiết Việt một cách vững vàng khi bước vào lớp
Mục đích nghiên cứu của đề tài: Giúp giáo viên nghiên cứu phương pháp giảng dạy một cách tốt nhất để trẻ dẽ tiếp thu và nắm vững Tiếng Việt
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Nhiệm vụ mà đề tài đặt ra nhằm cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ, giáo viên cần nghiên cứu một số biện pháp mà đề tài đặt ra thông qua các hoạt động dạy học, qua các tiết dạy lồng ghép chương trình theo quy định của trường lớp Mầm non
Sau khi vận dụng đề tài sẽ góp phần đắc lực đối với giáo viên trong quá trình dạy Tiếng Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
3 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiếng Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
4 Phạm vi nghiên cứu:
Khuôn khổ nghiên cứu một số biện pháp chỉ đạo giáo viên dạy lồng ghép Tiếng Việt cho trẻ vùng đồng bào DTTS
Đối tượng khảo sát học sinh trường mầm non Cư Pang
Thời gian nghiên cứu từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 01 năm 2016
5.Phương pháp nghiên cứu:
Sáng kiến này được thực hiện với những phương pháp sau
Trang 4Phương pháp tham khảo tài liệu: Phương pháp này giúp cho sự định
hướng của sáng kiến
Phương pháp kiểm tra, đánh giá: Tôi kiểm tra tiếng Việt của trẻ trong
một năm học 2015-2016, trẻ ở nhà so sánh với trẻ đến lớp học hàng ngày
Phương pháp thực nghiệm: Đây là phương pháp chính, để kiểm nghiệm
những phương pháp và biện pháp nêu ra có liên quan đến sáng kiến kinh nghiệm Sáng kiến này được thực hiện trên điều kiện thực tế của trường mầm non Cư Pang năm học 2015-2016
1.Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài
Tiếng Việt rất quan trọng đối với trẻ em Đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu
số Thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa vùng dân tộc thiểu số, trước khi đến trường chỉ sống trong gia đình, ở các thôn buôn, trong môi trường tiếng mẹ
đẻ Do vậy trẻ em dân tộc thiểu số chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ Trẻ biết rất ít hoặc thậm trí không biết tiếng Việt Trong khi đó tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong trường và cơ sở giáo dục khác Trên thực tế tiếng nói các dân tộc thiểu số, hầu như chưa có vai trò rõ rệt trong việc hỗ trợ tiếng Việt trong giáo dục Vì vậy, cho đến nay nhìn chung việc dạy tiếng Việt cho trẻ em vùng đồng bào DTTS đạt kết quả thấp Đặc biệt ở trường mầm non Cư Pang chúng tôi đa
số các cháu dân tộc Êđê nghe và nói tiếng Việt rất kém, mặc dù giáo viên đã dạy lồng ghép và nói bằng hai thứ tiếng nhưng trẻ hiểu còn chậm Khi trẻ ở gia đình thường tiếp xúc tiếng mẹ đẻ do vậy tiếng Việt không phải là một phương tiện sử dụng dễ dàng đối với học sinh dân tộc thiểu số Ở đây học sinh chỉ dùng tiếng Việt nói với giáo viên khi cần thiết, còn ngoài ra trẻ vẫn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình Đa phần giáo viên phản ánh tình trạng người dạy và người học không hiểu nhau Chính vì vậy dẫn đến chất lượng chăm sóc Giáo Dục trẻ không thể đạt được kết quả như mong muốn Vì vậy là người quản
lý một trường mầm non vùng sâu, vùng xa với 90% các cháu là dân tộc thiểu số Tôi nhận thấy cần có những biện pháp cần bổ sung, tăng cường tiếng Việt cho trẻ ngay từ độ tuổi mầm non
Là người lãnh đạo nhà trường cần tích cực tham mưu với cấp uỷ chính quyền địa phương, kịp thời và bài bản, có hiệu quả, tập chung chỉ đạo sâu sát cơ
sở, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, giải quyết khó khăn, đảm bảo kết quả dù rất nhỏ nhưng nhìn thấy rõ do yếu tố khách quan để cha mẹ học sinh và cộng đồng tin tưởng, đồng thuận ủng hộ Thêm vào đó phải có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng
để xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán là người đồng bào DTTS Tạo điều kiện cho giáo viên đi học tiếng Êđê để triển khai thành công một số mô hình thích hợp và khả thi về tăng cường tiếng Việt cho trẻ
2 Thực trạng.
Trang 52.1 Thuận lợi, khó khăn:
* Thuận lợi:
Trường mầm non Cư Pang là một trường vùng sâu, vùng xa và đặc biệt khó khăn Nhưng được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng ủy chính quyền địa phương và sự phối hợp giúp đỡ của hệ thống chính trị từ xã đến thôn, buôn
Đặc biệt là có sự cần cù chịu khó và tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của tập thể cán bộ, giáo viên trong nhà trường và sự hỗ trợ của nhà tài trợ công ty cà phê Dăk Man Đã xây dựng CSVC, tạo cảnh quan môi trường xanh – sạch – đẹp
để cha mẹ học sinh yên tâm cho trẻ đến trường
Đội ngũ giáo viên là người địa phương, đã thực sự yên tâm trong công tác giảng dạy Và thực hiện tốt chuyên đề về tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số
* Khó khăn:
Một số điểm lẻ còn học nhờ ở nhà cộng đồng và trường Tiểu học nên bất cập trong việc giảng dạy Giáo viên dạy trẻ DTTS hiểu biết tiếng DT còn hạn chế nên trong quá trình giao tiếp đối với trẻ gặp nhiều khó khăn
Mặt bằng kinh tế của người dân còn thấp, chủ yếu làm ruộng, làm nương, một số cha mẹ học sinh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy tiếng Việt cho trẻ có tác dụng như thế nào trong việc nhận thức và hình thành nhân cách của trẻ
Tài liệu dạy dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số chưa có 2.2 Thành công, hạn chế:
* Thành công:
Cha mẹ học sinh đa số đã quan tâm đến việc học của con em mình nên số trẻ ra trường lớp mầm non tương đối tăng so với các năm học trước như: Năm học 2014-2015 tổng số học sinh 227 cháu; năm học 2015-2016 tổng số học sinh
259 cháu
* Hạn chế:
Đa số giáo viên trẻ, mới ra trường nên kinh nghiệm chưa cao trong việc dạy lồng ghép Tiếng Việt để dạy cho trẻ
90 % học sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số tâm lí nhút nhát, hay sợ hãi, ngại giao tiếp với người lạ nên gặp nhiều khó khăn trong công tác dạy Tiếng Việt cho trẻ
Trẻ chưa có tâm lí sẵn sàng cho một môi trường học tập mới
Trang 6Một số cha mẹ học sinh chưa quan tâm đến con em mình, phó mặc cho nhà trường, cho nên việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường còn gặp nhiều khó khăn
2.3 Mặt mạnh, mặt yếu :
* Mặt mạnh:
Được sự quan tâm tạo điều kiện từ các cấp Lãnh đạo, nhà tài trợ công ty Dăk Man đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học Hiện nay trường chúng tôi đã có môi trường thoáng mát, xanh – sạch – đẹp đầy đủ tiện nghi và đảm bảo
an toàn cho trẻ
Ban giám hiệu nhà trường dành nhiều thời gian đầu tư cho công tác chuyên môn hoạt động dạy và học
Trường có đội ngũ giáo viên trẻ, khỏe, nhiệt tình, tận tụy với nghề, có trình độ chuẩn, trên chuẩn về chuyên môn, thường xuyên được ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện cho đi tham gia các lớp tập huấn về chuyên đề về tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trẻ được học theo đúng độ tuổi và thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới của Bộ GD&ĐT
* Mặt yếu :
Phân hiệu lẻ ở 3 buôn còn thiếu CSVC lớp học, nên ảnh hưởng không nhỏ đến công tác dạy và học của trẻ
2.4 Các nguyên nhân,các yếu tố tác động
* Nguyên nhân dẫn đến thành công của đề tài này là
Hiệu trưởng có trách nhiệm cao trong toàn bộ các công việc, các mặt hoạt động của nhà trường Đã chỉ đạo kịp thời cho chuyên môn tiến hành khảo sát năng lực giáo viên trong trường vào đầu năm, theo dõi các hoạt động để tìm ra nguyên nhân, có biện pháp giúp đỡ cho phù hợp
Luôn bám sát và thực hiện tốt nhiệm vụ năm học mà ngành đã triển khai một cách chủ động, sáng tạo dựa trên thực tế trường lớp, địa phương
Giáo viên nhiệt tình, chịu khó học hỏi kinh nghiệm để không ngừng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ
Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp đặc biệt là những đồng nghiệp công tác lâu năm trong trường
* Hạn chế, yếu kém.
Trang 7Trẻ chưa tự tin, còn nhút nhát trong các hoạt động giao tiếp Trẻ chưa có tâm lí sẵn sàng cho một môi trường học tập mới
Một số cha mẹ chưa thực sự quan tâm tới việc học tập dẫn đến khi tiếp xúc với người khác trẻ còn dùng tiếng mẹ đẻ
2.5 Phân tích, đánh giá thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Vào đầu năm học khi nhà trường chưa có kế hoạch đưa các biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thì chúng ta thấy kết quả được thể hiện qua bảng kiểm tra đầu năm như sau:
Lĩnh vực GD trẻ Trẻ không hiểu Trẻ hiểu Trẻ rất hiểu
Phát triển ngôn ngữ 102/209=48,8% 68/209=32,5% 39/209=18,6% Phát triển nhận thức 105/209=50,2% 70/209=33,4% 34/209=16,2% Phát triển TC-XH 103/209=49,2% 72/209=34,4% 34/209=16,2% Phát triển thể chất 80/209=38,2% 76/209=36,3% 53/209=25,3% Phát triển thẩm mỹ 70/209=33,4% 72/209=34,4% 67/209=32,0%
* Mặt mạnh:
Giáo viên đã tham gia tích cực trong công tác dạy Tiếng Việt cho trẻ em vùng đồng bào DTTS, đã tuyên truyền tới các bậc cha mẹ học sinh biết được tầm quan trọng của việc sử dụng Tiếng Việt trong trường Mầm non
Luôn học hỏi trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, biết lắng nghe, biết sửa sai, không bảo thủ nên chuyên môn nghiệp vụ tương đối vững vàng
Các đồng chí giáo viên được bố trí 02 cô / lớp, 01 giáo viên người kinh,
01 giáo viên người đồng bào DTTS để tiện trong việc tiếp xúc với trẻ
Được sự quan tâm của các cấp nhất là công ty cà phê Dăk Man Việt Nam trang bị về cơ sở vật chất cho nên thuận tiện trong việc giảng dạy và vui chơi học tập của trẻ
* Hạn chế
Do một số giáo viên người kinh ít tiếp xúc với trẻ em người đồng bào DTTS cho nên bất đồng ngôn ngữ trong giao tiếp
Tài liệu dùng cho giáo viên giảng dạy vùng đồng bào DTTS chưa có, giáo viên phải tự tìm tòi, học hỏi cho nên còn bất cập trong công tác giảng dạy
3 Giải pháp, biện pháp:
Trang 83.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Tìm ra các giải pháp, biện pháp giúp giáo viên nắm vững phương pháp sử dụng lồng ghép dạy Tiếng Việt một cách có hiệu quả đối với trẻ
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
a Giúp trẻ phát triển toàn diện các lĩnh vực như: phát triển về thể chất, tình cảm, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ Hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách con người mới, hình thành ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở những lớp tiếp theo
Giúp cho cha mẹ học sinh nhận thức được tầm quan trọng trong việc học Tiếng Việt của trẻ
* Hướng dẫn giáo viên dạy trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái Tiếng Việt:
Cung cấp Tiếng Việt cho trẻ qua môn làm quen chữ cái
Nội dung chủ yếu của việc dạy này là giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng chữ cái Chúng ta có thể coi việc giúp trẻ làm quen với chữ cái là cốt lõi của việc làm quen với Tiếng việt có nghĩa là việc cho trẻ làm quen với chữ cái chưa phải
là tất cả những nội dung công việc giúp trẻ làm quen với Tiếng việt Cách gọi làm quen với Tiếng việt thường gợi ra một phạm vi nội dung rộng rãi hơn so với cách gọi làm quen với chữ cái Do đó có thể thấy nội dung dạy trẻ làm quen với Tiếng việt không chỉ là dạy trẻ phát âm ,dạy trẻ tập tô 29 chữ cái mà còn dạy trẻ đọc đúng các từ, hiểu được nội dung của từ và biết dùng từ để diễn đạt thành câu, muốn được như vậy trước hết ta phải giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chư cái trong Tiếng việt
Có một số ít trẻ nói được Tiếng việt nhưng chưa biết các chữ cái hay từ ngữ của Tiếng việt Vì vậy ,việc dạy trẻ làm quen với chữ cái giúp trẻ nhận biết chính xác cấu tạo của chữ cái, cách phát âm để từ đó trẻ nghe cô phát âm để tìm được chữ cái tương ứng, nhìn chữ cái phát âm được chữ cái tương ứng
Ví dụ : Hôm nay cô cho trẻ nhận biết chữ h - k chẳng hạn :
Cô cho trẻ xem tranh " Hoa loa kèn" cho trẻ đọc từ : Hoa loa kèn
Trẻ nhận biết trong từ Hoa loa kèn có bao nhiêu tiếng ? Có mấy con chữ cái ?
Rồi cô ghép thẻ từ rời cho cháu nhận biết dấu thanh tìm chữ đã học rồi phát âm lại những chữ đó Còn lại cô giới thiệu cho trẻ làm quen h- k, tôi phân tích các nét cơ bản cấu tạo nên chữ cái H-K, cho trẻ phát âm chữ h-k nhiều lần
Trang 9giúp trẻ khắc sâu cấu tạo của chữ cái và trẻ nhận biết một cách chính xác từng
chữ cái
Cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ thông qua các trò chơi chữ cái :
Sau khi giúp trẻ làm quen và nắm được 29 chữ cái trong Tiếng việt tôi tiến hành cho giáo viên thực hiện tiếp thông qua các trò chơi chữ cái
Điều đáng chú ý là trẻ Mẫu giáo Làng yều rất ham thích được học qua hình ảnh trực quan, tổ chức hoạt động học thông qua các trò chơi Mỗi khi được nhìn thấy đồ dùng, đồ chơi trẻ rất vui, thích tìm hiểu sờ mó và cùng nhau khám phá nắm bắt được đặc điểm này tôi đã không ngừng học sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng chủ điểm
Ví dụ: Trò chơi tìm chữ cái H-K trong bài thơ " Hoa kết trái"
Thông qua các trò chơi trẻ được phát triển ngôn ngữ qua các chữ cái đã học như chữ H-K, phát âm đúng các chữ cái đã học qua trò chơi , " Xếp chữ cái bằng hột hạt" " Xếp các nét cơ bản tạo thành chữ cái"
Bên cạnh đó tôi luôn hướng dẫn giáo viên làm thêm một số đồ dùng tự tạo
có gắn chữ cái đã học ở các góc trong lớp, ngoài lớp học Từ đó cũng góp phần không nhỏ vào việc cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ
Cung cấp Tiếng việt thông qua tập tô :
Thông qua môn tập tô nhằm cung cấp cho trẻ những kiến thức cơ bản về cách tô nét cơ bản và tô đúng mẫu quy trình chữ cái đối với trẻ buôn đồng bào DTTS lại càng khó khăn Vì trẻ chưa biết cầm bút, chưa có ý thức học tập Bên cạnh đó tính cách của trẻ rất hiếu động, ít chịu ngồi im và lắng nghe cô dạy Vì trẻ từ nhỏ đã quá tự do, ít được sự quan tâm dạy dỗ của ba mẹ Vì vậy trẻ rất cần
sự uốn nén dìu dắt của cô giáo ngay từ những buổi học đầu tiên Bản thân tôi làm công tác quản lý luôn trăn trở, suy nghĩ để tìm ra những biện pháp phù hợp
áp dụng vào dạy trẻ, giúp cháu tô đúng quy trình, nét tô mạch lạc, cầm bút đúng cách và ham thích học Tôi hướng dãn tập tô các nét cơ bản của chữ cái ( ở một
số tuần đầu ) các nét thẳng, nét cong, nét móc trên, nét mọc dưới, nét khuyết trên , nét khuyết dưới sau tập tô dần các chữ cái viết thường, in thường Cô luyện cho trẻ tập tô chữ theo từng bước như sau: Nhận dạng mẫu chữ, tìm hiểu cấu tạo chữ gồm những nét cơ bản nào
Ví dụ : Chữ h in thường gồm có nét thẳng đứng kết hợp nét móc trên
Chữ h viết thường gồm có nét khuyết trên kết hợp nét móc hai đầu
Tôi hướng dấn cho giáo viên cách thực hiện trẻ tập tô như sau: Điểm đặt bút trên một ô li nhỏ đưa bút lên sang phải một nét xiên đến ô li thứ 5 đưa bút cong sang trái sổ thẳng cho trẻ tô viết được nét khuyết trên, tiếp theo trẻ đưa bút lên đến đường ngang ô li thứ 2( từ dưới lên) đưa bút sang phải rồi sổ thẳng xuống đá hất ra, điểm kết thúc là gần hết 1 ô li cuối cùng, qua nhiều lần tôi
Trang 10hướng dẫn trẻ tỉ mỹ cho giáo viên tô đúng quy trình, vì vậy trẻ không còn tô ngược và nhất là nhiều trẻ tô đẹp, đúng hàng
Ngoài ra tôi còn cho giáo viên tập cho trẻ tập tô vào bảng con, vào vở tập
tô in sẳn, vào vở ở nhà của trẻ, lần nào cũng vậy tôi đều hướng dẫn cụ thể, rõ ràng cho trẻ dễ hiểu vì đặc điểm của trẻ dân tộc thiểu số tiếp thu rất chậm nhưng lại quên rất nhanh, kết hợp cho trẻ tô viết các nét cơ bản hay tô viết các chữ cái tôi đều cho trẻ luyện phát âm theo cô nhiều lần Dần dần tôi thấy trẻ có phần tiến
bộ hơn ham thích được tô viết, tô viết mạch lạc, nhiều trẻ tô đúng quy trình và phát âm chuẩn các chữ cái Tôi rất vui vì đã áp dụng ngôn ngữ Tiếng Việt vào môn học này
Cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ thông qua môn văn học:
Qua một số bài thơ, câu chuyện mà giáo viên dạy trẻ, sau khi được tiếp xúc với đề tài nhằm giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng việt trong học tập cũng như trong cuộc sống nội dung câu chuyện, và thể hiện giọng điệu, tính cách của từng nhân vật trong chuyện một cách phù hợp nhằm giúp trẻ khắc sâu hơn nội dung cũng như tính cách của các nhân vật trong chuyện, Chính nhờ như trẻ em vùng đồng bào càng ngày càng ham thích học thơ, kể chuyện, nhiều cháu thuộc thơ, kể lại câu chuyện một cách hoàn chỉnh, như vậy việc cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số của tôi gặt hái được nhiều thành công hơn so với trước, tôi vô cùng phấn khởi và tiếp tục áp dụng một số biện pháp để nâng cao vốn Tiếng Việt cho trẻ thông qua môn văn học
Cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi :
Thực tế như trường chúng tôi cho ta thấy rằng giáo viên người kinh dạy cho trẻ vùng đồng bào DTTS bất đồng ngôn ngữ rất khó khăn trong giao tiếp, vì vậy ngoài những biện pháp nêu trên tôi còn cho giáo viên tham gia học lớp tiếng Êđê, sau khi giáo viên áp dụng trong công tác giảng dạy càng ngày có hiệu quả hơn trong cung cấp vốn tiếng việt cho trẻ thông qua hoạt động ở mọi lúc mọi nơi
Như chúng ta đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi đã nhớ được thì lại nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn tiếng việt bằng phương châm " Học nữa, học mãi" cho nên việc cung cấp ngôn ngữ Tiếng việc ở mọi lúc, mọi nơi vô cùng quan trọng
Trong giờ đón trẻ tôi hướng dẫn cho giáo viên luôn thân thiện với trẻ, gọi trẻ ân cần vui vẻ, thương yêu trẻ, sửa sang quần áo, chãi tóc cho trẻ và hỏi những câu hỏi như: Ai mua áo quần đẹp cho con Nhà con gồm có những ai ? Nhà con có mấy anh chị em?; bố con làm việc gì ?; mẹ con có thương con không? .Qua trò chuyện với trẻ như vậy giáo viên nắm được khả năng phát âm của mỗi trẻ để có biện pháp và giành nhiều thời giờ hơn giúp trẻ phát âm đúng, phát âm chuẩn
Giờ chơi tự do tôi cho giáo viên dẫn trẻ đi xung quanh trường, trò chuyện với trẻ về vườn rau, cây cảnh, hỏi trẻ về một số loại cây có gắn các chữ cái đã