- Hoàng Anh Cường, "Nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp nông thôn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế", luận văn thạc sĩ - Trường Đại
Trang 1Lời Cảm Ơn
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể, các cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh Tế Chính Trị – Trường Đại học Kinh tế Huế đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy
giáo T.S Hà Xuân Vấn, đã tận tình hướng dẫn tôi trong
suốt thời gian thực tập tốt nghiệp
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Chi cục thống kê và các Phòng ban khác của huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị đã giúp đỡ tôi nhiệt tình trong thời gian tôi thực tập tại địa phương.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã khích lệ, cổ vũ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Sinh viên
Trang 2Đường Gia Công
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa
ILO Tổ chức lao động quốc tế
LĐ – TB&XH Lao động – Thương binh và Xã hội
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân có vị trí đặc biệt quan trọng trong
sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội của đất nước Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, trong đó lĩnh vực nông nghiệp là một trong những lĩnh vực đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển Theo thống kê năm 2013, trong tổng số 89,7 triệu người dân Việt Nam có 60,7 triệu người sống ở khu vực nông thôn (chiếm hơn 2/3 tổng dân số) Thời gian qua, mặc dù đã có sự di chuyển mạnh
mẽ về dân cư và lao động từ nông thôn ra thành thị, từ khu vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp song trong tổng số 51,7 triệu lao động (năm 2013) vẫn còn tới gần 24,5 triệu lao động làm việc trong khu vực nông lâm thuỷ sản (chiếm 47,4%) Theo dự báo, lao động nông nghiệp nước ta sẽ còn khoảng 40% lao động xã hội vào năm 2015 và 30% vào năm 2020.
Năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, nền kinh tế nói chung và sản xuất nông nghiệp của Việt Nam nói riêng đang phải đương đầu với một cuộc cạnh tranh quyết liệt, trong đó có nhiều cơ hội để phát triển nhưng những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt cũng không nhỏ Chất lượng của nguồn nhân lực vốn được xem là khâu then chốt để nâng cao tính bền vững của nền kinh tế, của phát triển xã hội thì vẫn còn nhiều hạn chế hay nói đúng hơn là vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập
Trên thực tế, lao động nói chung và LĐNN vẫn hạn chế về kiến thức, trình
độ chuyên môn, kĩ năng, phương pháp làm việc hiện đại Bên cạnh đó, lao động chất lượng cao đang thiếu hụt nhưng lại có xu hướng rời khu vực nông nghiệp nông thôn, tìm đến thành thị để mang lại thu nhập cao hơn Chính vì vậy, nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp là nhằm bổ sung lượng nhân lực mất đi do
Trang 7di chuyển qua các ngành kinh tế khác đồng thời đưa mặt bằng chất lượng lao động của khu vực này lên.
Như vậy, có thể thấy rằng, chất lượng lao động nông nghiệp còn ở mức thấp là vấn đề chung của nhiều tỉnh thành nước ta Làm thế nào để nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp đã trở thành mối quan tâm của nhiều địa phương, nhất là trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
Huyện Triệu Phong là một trong 10 huyện, thị, thành phố của tỉnh Quảng Trị Với lợi thế về điều kiện tự nhiên mà huyện Triệu Phong là huyện sản xuất nông nghiệp lớn nhất của tỉnh, phần lớn người dân đều sinh sống bằng nghề nông Tuy vậy, thực tế đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề đáng quan tâm, đó là tỷ
lệ lao động qua đào tạo thấp, lao động chất lượng cao chưa nhiều và lao động này thường không muốn ở lại địa phương để làm việc Bên cạnh đó, chính sách về nâng cao chất lượng nguồn lao động chưa cụ thể, chưa có những cuộc điều tra thống kê thực trạng lao động trên địa bàn huyện Triệu Phong một cách sâu sắc
Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài: "Nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị" để nghiên cứu làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chính sách phát triển nhân lực là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, chính vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu ở các cấp độ từ trung ương đến địa phương về vấn đề trên Cụ thể như:
- Nguyễn Thị Thu Thủy, "Nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thị xã Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên Huế ", luận văn Thạc sỹ - Trường Đại học kinh tế-Đại học Huế, 2011.
- Nguyễn Văn Thuynh, “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam”, khóa luận tốt nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2011.
- Lê Hoàng Thuyên, “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Hà Nam”, luận văn Thạc sỹ - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2010.
Trang 8- Hoàng Anh Cường, "Nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp nông thôn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế", luận văn thạc sĩ - Trường Đại học Kinh tế-Đại học Huế, 2011.
- Đề tài: " Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực trẻ cho CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở thành phố Huế hiện nay", của tác giả Lê Quang Diên, đề tài nghiên cứu khoa học Trường Đại học Kinh tế Huế năm 2006.
- Và một số đề tài cấp bộ, luận văn thạc sỹ, khóa luận tốt nghiệp khác ở trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế cũng có đề cập đến vấn đề này.
Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu trên địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị hiện nay, tôi nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu
về nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp một cách tổng quát với tư cách là một khóa luận tốt nghiệp Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu trước, ứng dụng vào địa bàn nghiên cứu cụ thể, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:
" Nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị".
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích của đề tài
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, khóa luận đánh giá về thực trạng chất lượng lao động nông nghiệp ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp để đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của huyện.
* Nhiệm vụ của đề tài
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp
Phân tích thực trạng chất lượng lao động nông nghiệp ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Nghiên cứu và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 9* Đối tượng nghiên cứu: quá trình nâng cao chất lượng lao động nông
nghiệp ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: địa bàn huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
- Thời gian: giai đoạn 2010 - 2014 và đề xuất giải pháp đến năm 2020.
- Nội dung nghiên cứu:
Tập trung nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
5 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ đối tượng nghiên cứu, trong đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp luận xuyên suốt là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét, phân tích vấn đề một cách khoa học, khách quan.
Phương pháp điều tra, chọn mẫu: đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, phân theo 3 vùng kinh tế: vùng gò đồi, vùng đồng bằng và vùng đầm phá ven biển Trên cơ sở đó chia ra theo địa bàn các xã để chọn số lượng hộ gia đình điều tra Với quy mô mẫu là 120 hộ gia đình, đề tài phân ra như sau: huyện Triệu Phong gồm 19 xã và 1 thị trấn Đề tài chọn điều tra 6 xã gồm: xã Triệu Thượng: 20 hộ, xã Triệu Ái: 20 hộ, xã Triệu Đông: 20 hộ, xã Triệu Trạch: 20 hộ, xã Triệu An: 20 hộ, xã Triệu Vân: 20 hộ.
Phương pháp phân tích, tổng hợp.
Phương pháp thống kê.
6 Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu.
- Giúp chính quyền địa phương có cái nhìn rõ nét hơn về quá trình nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp, từ đó có những chính sách khả thi hơn nhằm đẩy nhanh sự phát triển về chất lượng của lao động.
7 Kết cấu đề tài
Trang 10Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng lao động trong nông
nghiệp
Chương 2: Thực trạng chất lượng lao động nông nghiệp ở huyện Triệu
Phong, tỉnh Quảng Trị.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng lao động
nông nghiệp ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG NÔNG NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng lao động trong nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm lao động nông nghiệp
Theo C.Mác: “ Lao động là hoạt động cơ bản của con người Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục
vụ các nhu cầu của đời sống con người.”[12 ]
Theo khái niệm của Liên hợp quốc thì : “Lao động là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người vào của cải tự nhiên và của cải xã hội” [Tr7, 20]
Trang 11Hay theo tổ chức Lao động thế giới (ILO) thì “LLLĐ là bộ phận dân số trong
độ tuổi quy định thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm”[ Tr7, 20]
Tóm lại, lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là
cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào Như vậy động lực của quá trình triến kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển KT-XH Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người Vai trò của người lao động đối với phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng là rất quan trọng.
Lao động nông nghiệp: LĐNN là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc
ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến
60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động.
Lực lượng LĐNN là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.
Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình.Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính
là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn.
Việc nghiên cứu lao động trong nông nghiệp có ý nghĩa rất to lớn đối với
sự phát triển nông nghiệp cũng như đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh
tế quốc dân nói chung.
1.1.1.2 Đặc điểm lao động nông nghiệp
Trang 12LĐNN là bộ phận quan trọng trong cơ cấu lao động của nền kinh tế quốc dân Vì đây là bộ phận lao động đáp ứng các nhu cầu về lương thực, thực phẩm
và các nhu cầu cơ bản khác của xã hội Do tính chất đặc biệt của nền sản xuất nông nghiệp nên LĐNN có một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, lao động mang tính chất thời vụ cao, là đặc trưng điển hình tuyệt đối không thể xóa bỏ, điều này làm gia tăng tính phức tạp trong sử dụng lao động Đặc điểm này do tính chất tự nhiên, khí hậu và đặc tính của cây trồng vật nuôi quy định.
Thứ hai, LĐNN mang tính tất yếu, xu hướng có tính quy luật là không ngừng thu hẹp về số lượng và được chuyển một bộ phận sang các ngành khác
Vì thế số lao động ở lại trong khu vực nông nghiệp là những người có độ tuổi trung bình cao và tỉ lệ này có xu hường tăng lên.
Thứ ba, nơi cư trú của lao động phải ở khu vực nông thôn Có nhiều lao động cư trú ở khu vực thành thị nhưng lại làm việc ở khu việc nông thôn, những lao động này nằm trong LLLĐ xã hội nhưng không nằm trong lực lượng LĐNN Thứ tư, LĐNN sử dụng phương thức lao động thủ công là chính Điều này cũng xuất phát từ việc sử dụng các thiết bị thì cần vốn lớn và trình độ nắm bắt
kĩ thuật; bên cạnh đó, do điều kiện tự nhiên như địa hình, thời tiết không cho phép áp dụng rộng rãi các thiết bị hiện có, cũng như hiệu quả áp dụng chưa cao.
1.1.2 Vai trò của việc nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp
Với khoảng 70 % dân số là nông dân, Việt Nam luôn coi trọng những vấn
đề liên quan đến nông dân, nông nghiệp và nông thôn.
Nền kinh tế Việt Nam trong gần 30 năm đổi mới vừa qua (1986-2014) đã đạt được nhiều thành tựu phát triển khả quan Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản lượng các loại nông sản đều tăng, nổi bật nhất là sản lượng lương thực đều tăng với tốc độ cao từ năm 1989 đến nay Năm 1989 là năm đầu tiên sản lượng lương thực vượt qua con số 20 triệu tấn, xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 310 triệu USD Đến năm 2014 vừa qua sản lượng lương thực đã đạt đến
Trang 13con số kỷ lục 39 triệu tấn và đã xuất khẩu 3,9 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 817 triệu USD.
Từ một nước thường xuyên thiếu và đói, hàng năm phải nhập hàng triệu tấn lương thực của nước ngoài, hơn thập niên qua đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan), bộ mặt nông thôn thay đổi theo hướng văn minh; trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật của nhiều nông dân được nâng lên cao hơn trước.
Để làm được những điều này, ngoài sự chỉ đạo sáng suất của Đảng, Nhà nước thì chúng ta còn cần rất nhiều yếu tố cấu thành mà quan trọng nhất là LĐNN Phát triển nông nghiệp có đạt hiệu quả cao hay không là đều nhờ vào nông dân, LĐNN, ta có thể thấy được vai trò rất to lớn của LĐNN.
Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước, các địa phương đều đặt quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng LĐNN Để có thể áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất nông nghiệp thì cần có một lực lượng LĐNN chất lượng cao Trên thực
tế, lực lượng lao động nông nghiệp nông thôn thường có trình độ chuyên môn kĩ thuật thấp, không bắt kịp với những tiến bộ tiên tiến của trang thiết bị, máy móc Việc đào tạo đội ngũ LĐNN chất lượng cao thực sự là rất cần thiết.
Nông nghiệp ngày càng có nhiều đóng góp tích cực hơn vào tiến trình phát triển, hội nhập của kinh tế cả nước vào nền kinh tế toàn cầu Năm 1986, kim ngạch xuất khẩu nông-lâm-thuỷ sản mới đạt 400 triệu USD Đến năm 2014 ước đạt tới 30,8 tỷ USD, tăng gấp 77 lần Nhờ có những thành tựu, kết quả đó, nông nghiệp không chỉ đã góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị-xã hội nông thôn và nâng cao đời sống nông dân trên phạm vi cả nước, mà nông nghiệp đã ngày càng tạo ra nhiều hơn nữa những tiền đề vật chất cần thiết, góp phần tích cực vào sự đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong những năm qua Chính vì thế việc nâng cao chất lượng LĐNN sẽ tạo đòn bẩy cho quá trình phát triển nông nghiệp thêm mạnh mẽ hơn, đồng bộ hơn và hiện đại hơn.
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng lao động nông nghiệp
Trang 141.1.3.1 Tình trạng sức khỏe
Sức khỏe là điều kiện quan trọng để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện chủ yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn Một điều kiện bắt buộc đối với nguồn lực lao động là phải có sức khỏe tốt, phù hợp với điều kiện làm việc Sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất, về tinh thần chứ không phải đơn thuần là không có bệnh Người lao động dù lao động trí óc hay lao động
cơ bắp đều phải có sức khỏe Sức khỏe cơ thể là điều kiện đầu tiên đối với người lao động dùng để duy trì và phát triển trí tuệ, là điều kiện quan trọng để biến tri thức thành sức mạnh vật chất Đồng thời phải có tâm hồn lành mạnh, đây chính
là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là sức mạnh của niềm tin, ý chí, sức sáng tạo của trí lực… Khi đề cập đến phát triển nguồn lực con người trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng ta khẳng định “sự cường tráng về thể chất
là nhu cầu của bản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ
và vật chất cho xã hội”.
Quá trình CNH, HĐH trong điều kiện cách mạng - khoa học - công nghệ bùng nổ như hiện nay, hàm lượng trí tuệ chất xám trong sản phẩm lao động chiếm tỉ trọng lớn nhất thì yêu cầu về sức khỏe tâm hồn càng cao Để có sức khỏe tinh thần tốt người lao động phải có sức khỏe cơ thể tốt Mặt khác, người lao động còn phải được giáo dục và đào tạo kỹ lưỡng, nhất là được sống và làm việc trong môi trường xã hội thuận lợi, có văn hóa đạo đức.
Như vậy, chỉ có những người khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần mới có thể nâng cao sức mạnh của bản thân, hòa nhịp với cuộc sống hiện tại Họ làm việc dẻo dai, có khả năng tập trung về trí tuệ khi làm việc, tạo ra năng suất lao động cao.
1.1.3.2 Trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ
Bên cạnh yếu tố thể lực thì yếu tố trí lực cũng là nội dung quan trọng phản ánh chất lượng lao động Yếu tố này tác động cả trực tiếp lẫn gián tiếp đến quá trình lao động.
Trang 15Khi đánh giá yếu tố trí lực của LLLĐ điều cần quan tâm đầu tiên là trình độ văn hóa Trình độ văn hóa là tiêu chí về mức độ hoàn thành các cấp học cơ bản của một nền giáo dục, ở Việt Nam có 3 cấp và 12 lớp học từ lớp 1 đến lớp 12 Trong nội dung này, để đánh giá được sâu hơn về trình độ văn hóa, cần đánh giá thêm về mức độ mức độ đào tạo Mức độ đào tạo phản ánh mức độ học tập của người dân, ngoài việc đánh giá trình độ văn hóa thì đánh giá thêm về quá trình theo học các chương trình cao hơn như trung cấp, cao đẳng, đại học và trên đại học Điều này phản ánh chất lượng ở mức cao của lao động.
Tiếp theo là trình độ chuyên môn kĩ thuật, nội dung này cho thấy kiến thức
và kĩ năng của lao động trong những ngành nghề cụ thể, đây là nội dung quan trọng phản ánh năng lực hoạt động thực tiễn của lao động.
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó, nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhất định Do đó, trình độ chuyên môn của lao động được đo bằng: Tỉ lệ cán bộ quản lý trên số dân, tỉ lệ cán bộ cao đẳng, đại học, tỉ lệ cán bộ trên đại học.
Trong mỗi chuyên môn có thể phân chia thành những chuyên môn nhỏ lại như Đại học bao gồm: Kỹ thuật, kinh tế, ngoại ngữ, thậm chí trong từng chuyên môn lại chia ra những chuyên môn nhỏ nữa.
Trình độ kĩ thuật của người lao động thường dùng để chỉ trình độ của người được đào tạo ở các trường kĩ thuật, được trang bị kiến thức nhất định, những kỹ năng thực hành về công việc nhất định Để đánh giá trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động, người ta thường dung các chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo so với LLLĐ đang làm việc (hay tỉ lệ số người
từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế đã qua đào tạo trong tổng số người từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế): là % số lao động đã qua đào tạo (từ sơ cấp, công nhân kỹ thuật, đến sau đại học) so với LLLĐ đang làm việc.
Trang 16Tỷ lệ lao động được đào tạo theo cấp bậc: là % số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật ( sơ cấp, công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và trên đại học) so với tổng số lao động đang làm việc.
Cơ cấu lao động đã qua đào tạo theo trình độ chuyên môn kỹ thuật và các cấp bậc đào tạo: thể hiện cơ cấu số lao động có trình độ Đại học và cao đẳng/ số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp/ số lao động là công nhân kỹ thuật.
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có việc làm: là % số lao động đã qua đào tạo đang làm việc so với số lao động đã qua đào tạo.
1.1.3.3 Ý thức tổ chức, tinh thần trách nhiệm
Đối với mỗi lĩnh vực, mỗi ngành nghề thì ý thức tổ chức, tinh thần trách nhiệm là vô cùng quan trọng Trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình Ai cũng có trách nhiệm bởi mỗi người đều có một vị trí nhất định trong các mối quan hệ xã hội, như gia đình, dòng họ, địa phương, tập thể, tổ chức chính trị - xã hội, công dân của một nước, thành viên của cộng đồng dân tộc và rộng nhất là của nhân loại Trong các mối quan hệ đó, trách nhiệm được hình thành trên cơ sở những quy định của luật pháp, quy chế, thỏa thuận của tập thể, tổ chức, địa phương Trách nhiệm còn được hình thành do dư luận
xã hội và bị chi phối bởi dư luận xã hội.
Tinh thần trách nhiệm khác với ý thức trách nhiệm Tinh thần trách nhiệm
là kết quả nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của con người, từ đó chi phối hành động tích cực, tự giác của họ Những người có nhận thức và hành động như thế gọi là có tinh thần trách nhiệm cao Mức độ ý thức trách nhiệm của một người quyết định mức độ, thái độ của người đó làm việc, đồng thời cũng quyết định thành tích công việc của họ
Khi có được ý thức trách nhiệm cao trong công việc, con người ta có thể học được từ công việc nhiều kiến thức mới, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm và cũng từ đó tìm thấy niềm vui.
1.1.3.4 Năng suất lao động
Trang 17Năng suất lao động là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động sống, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) và một chỉ tiêu đầu vào (lao động làm việc) Đây là một chỉ tiêu khá tổng hợp nói lên năng lực sản xuất của một đơn vị hay cả nên KT - XH.
Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra với lao động để sản xuất ra
nó Năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới sức cạnh tranh, đặc biệt, năng suất lao động lại phản ánh yếu tố chất lượng người lao động – yếu tố cốt lõi của sự phát triển trong sự cạnh tranh toàn cầu, sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức hiện nay.
Năng suất lao động được tính theo công thức sau:
Năng suất lao động = Giá trị gia tăng (hoặc GDP) / Số lượng lao động
Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm, lượng giá trị sử dụng (hay lượng giá trị) được tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay đo bằng lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị thành phẩm Năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, một đơn vị sản xuất, hay của một phương thức sản xuất Năng suất lao động được quyết định bởi nhiều nhân tố, như trình độ thành thạo của người lao động, trình độ phát triển khoa học và áp dụng công nghệ, sự kết hợp
xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và tính hiệu quả của các tư liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên.
Như vậy, cả bốn nội dung trên phản ánh một cách trực tiếp và gián tiếp về mặt chất lượng của lao động Nghiên cứu chất lượng lao động của một địa phương cần nghiên cứu đi sâu vào bốn nội dung này để làm sáng tỏ chất lượng thực sự của lao động tại đó Ngoài bốn nội dung này còn có nhiều nội dung khác dung để đánh giá chất lượng lao động, tuy nhiên đây là bốn nội dung quan trọng nhất cần được làm rõ trong quá trình nghiên cứu.
1.1.3.5 Các chỉ tiêu phản ánh mức sống
Trang 18Đây là chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập, mức hao phí các nhu cầu tối cơ bản cho sự sống của các thành viên xã hội Các chỉ tiêu phản ánh mức sống bao gồm:
GNI/người: đây là thước đo chính thể hiện việc đảm bảo nhu cầu hao phí vật chất cho công dân mỗi quốc gia Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng lớn để nâng cao mức sống vật chất cho con người.
Lượng lương thực bình quân: phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu tối thiểu về mức sống cho con người, được tính từ tổng giá trị sản lượng sản xuất lương thực trong nước chia cho toàn bộ dân số.
Tỷ lệ cung cấp calo bình quân đầu người một ngày đêm so với nhu cầu tối thiểu: là số calo thực tế được cung cấp bình quân đầu người 1 ngày đêm so với
số calo cần thiết ở mức bình thường để đảm bảo cho làm việc, sức khỏe, có xét tới cơ cấu nam nữ, trọng lượng cơ thể cũng như môi trường sống.
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động nông nghiệp
1.1.4.1 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm thời tiết, khí hậu, địa hình, nguồn nước, nguồn tài nguyên Sự ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến chất lượng nguồn lao động trên hai phương diện trực tiếp và gián tiếp:
Thứ nhất, điều kiện tự nhiên tác động trực tiếp đến người lao động làm ảnh hưởng đến sức khỏe của họ.
Các yếu tố thuận lợi về thời tiết, khí hậu, địa hình, nguồn nước có sự ảnh hưởng tốt tới sức khỏe của người lao động, làm cho chất lượng lao động được đảm bảo và có điều kiện được nâng lên Ngược lại, các điều kiện về tự nhiên bất lợi sẽ ảnh hưởng tới thể lực, tới sức khỏe của con người và của tất cả nguồn lao động.
Thứ hai, điều kiện tự nhiên với tư cách là nguồn lực của mỗi quốc gia, mỗi địa phương, mỗi đơn vị sản xuất, là cơ sở cho sự phát triển kinh tế, tạo ra những điều kiện vật chất để nâng cao chất lượng nguồn lao động về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghề nghiệp và ngược lại Ở đây, các điều kiện tự nhiên tác
Trang 19động đến chất lượng nguồn lao động được biểu hiện ở dạng tiềm năng, sự tác động được thể hiện còn tùy thuộc vào trình độ khai thác các tiềm năng đó.
1.1.4.2 Điều kiện kinh tế
Các nhân tố kinh tế bao gồm tiềm lực kinh tế và trình độ phát triển kinh tế Các tiềm lực kinh tế bao gồm: Quỹ đất đai, tài chính, tiền tệ, dự trữ, cơ sở
hạ tầng sản xuất và hạ tầng xã hội Tiềm lực kinh tế cũng là nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng nguồn lao động:
Thứ nhất, các yếu tố kinh tế tác động đến sự phát triển kinh tế, từ đó tạo ra các điều kiện về vật chất nâng cao chất lượng nguồn lao động Một tiềm lực kinh tế yếu kém chẳng hạn nguồn lực ngân sách Nhà nước ít ỏi, ít có cơ hội đầu
tư thích đáng cho giáo dục, đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn lao động nói chung, mỗi ngành, lĩnh vực nói riêng
Thứ hai, các yếu tố kinh tế ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng nguồn lao động Bởi vì, các yếu tố kinh tế vừa là các điều kiện cho sự phát triển kinh tế của đất nước, địa phương, vùng, vừa ảnh hưởng tới khả năng đầu tư học tập của người lao động và chất lượng nguồn lao động Nói cách khác các nhân tố kinh
tế ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng lao động Sự tác động của các nhân tố đến chất lượng nguồn lao động theo hướng thuận chiều của sự phát triển kinh tế Trong đó, các cơ sở hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội có sự chi phối mạnh mẽ nhất.
Có thể nói, trình độ phát triển kinh tế, xã hội vừa là nguyên nhân vừa là chất lượng của nguồn nhân lực Vì vậy, xem xét sự phát triển kinh tế của một đất nước, một địa phương, có thể đánh giá sự tác động của nó đến chất lượng nguồn lao động, đồng thời cũng thấy rõ sự tác động của chất lượng lao động đến sự phát triển của nền kinh tế.
1.1.4.3 Tình hình xã hội
Phong tục tập quán, thể chế chính trị, cũng là những nhân tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực Trong đó, phong tục tập quán ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động ở mức độ đầu tư cho hoạt động văn hóa, học tập chuyên môn trong từng gia đình và hình thành nên ý thức trong lao động sản xuất,
Trang 20trong chấp hành pháp Trên thực tế, do tác động của phong tục tập quán và truyền thống đã hình thành những vùng “đất học” đua tranh trong học tập văn hóa và kỹ thuật đã làm cho chất lượng nguồn lao động ở đó hơn hẳn các vùng khác.
Về thể chế chính trị: Sự tác động của nó tới chất lượng nguồn lao động chủ yếu thể hiện sự ưu tiên đầu tư của Chính phủ tới vệc nâng cao trình độ dân trí đào tạo nhân tài và chất lượng nguồn nhân lực trên các phương diện khác nhau như: Đầu tư các yếu tố vật chất, sử dụng hợp lý nguồn lao động và có cính sách khuyến khích nâng cao chất lượng nguồn lao động.
1.1.4.4 Công tác giáo dục - đào tạo
Giáo dục - đào tạo ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động thông qua việc nâng cao trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng tay nghề của người lao động Sự ảnh hưởng của giáo dục đào tạo đến chất lượng nguồn lao động thể hiện ở hai khía cạnh.
Thông thường, ở các nước đang phát triển, có nền giáo dục thuộc mức trung bình so với thế giới, họ định hướng theo xu thế “nâng cao dân trí” làm chủ đạo rồi mới dần dần chú trọng đến những chương trình đào tạo cao hơn Hệ thống đào tao đầu tiên là hệ thống đào tạo văn hóa, đây là hệ thống đào tạo cơ bản của một nền giáo dục Sau đó là đến hệ thống đào tạo nghề nghiệp nhằm đào tạo những con người có hiểu biết cụ thể trong một ngành nghề của nền kinh
Tuy nhiên nhân tố giáo dục, đào tạo tác động đến chất lượng nguồn lao động không chỉ trực tiếp trước mắt (ngắn hạn) mà còn tác động lâu dài Vì vậy,
Trang 21để nâng cao chất lượng nguồn lao động hầu hết các quốc gia đều phải có chiến lược giáo dục đào tạo cơ bản, dài hạn, tổng thế Chiến lược đó bao gồm cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu kiến thức , cơ cấu lao động cần đào tạo, hệ thống cơ sở cần thiết cho đào tạo nhân lực từ đó xác định nguồn vốn tài chính cần thiết theo tỷ
lệ phần ngân sách Nhà nước hay phần trăm GDP đầu tư cho giáo dục-đào tạo 1.1.4.5 Cơ sở vật chất và các trang thiết bị
Tư liệu lao động là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng trong quá trình lao động để tác động vào đối tượng lao động Chính vì thế, nó có ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động một cách trực tiếp Trong điều kiện tư liệu lao động ngày càng được cải thiện theo hướng giảm lao động chân tay tăng cường lao động trí óc Hoạt động lao động ngày càng phức tạp, buộc người lao động muốn tham gia vào quá trình lao động phải không ngừng tự bồi dưỡng và nâng cao năng lực của bản thân.
Bên cạnh đó, sự phát triển của tư liệu lao động làm cho một lượng lớn lao động không sẽ không còn được sử dụng, do nhiều công đoạn sản xuất được thay thế bằng các trang thiết bị tự động Những lao động này sẽ tự chuyển qua các ngành lao động khác trong nền kinh tế hoặc trở thành lao động thất nghiệp Sự thay đổi cơ cấu lao động đi kèm với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế tạo ra những nguồn lực lao động mới bổ sung cho những ngành càng phát triển như dịch vụ Như vậy, nhân tố trang thiết bị lao động có tác động cả trực tiếp đến chất lượng lao động thông qua cải thiện năng suất lao động và gián tiếp thông qua đào thải, sàng lọc cơ cấu lao động trong nền kinh tế Với sự phát triển của khoa học công nghệ nhanh chóng như hiện nay, thì nâng cao chất lượng lao động đã trở thành yêu cầu bức thiết.
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp
1.2.1 Kinh nghiệm ở một số quốc gia trên thế giới
1.2.1.1 Kinh nghiệm Trung Quốc
Trung Quốc là một nước có nền kinh tế lớn mạnh nhưng có những đặc điểm kinh tế - xã hội – chính trị tương đồng với Việt Nam Quá trình phát triển
Trang 22hơn 30 năm theo con đường kinh tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc, chính sách nhân lực của nước này có nhiều nội dung phù hợp để ứng dụng vào Việt Nam.
Năm 1979, theo con số của Ủy ban giáo dục quốc gia Trung Quốc, “ trình độ văn hóa của đa số công nhân và nông dân được coi là quá thấp, có khoảng 30% người lớn mù chữ và 80% công nhân chưa tốt nghiệp sơ trung, 2/3 công nhân công nhân chỉ ở bậc 1-3 (trong tám bậc kỹ thuật), có 3% là kĩ thuật viên (trong tổng số công nhân là 100 triệu)” Mặt khác, đó là sự không cân đối trong giáo dục phổ thông: có quá nhiều trường phổ thông và quá ít trường kĩ thuật, trường dạy nghề (Thông báo của hội nghị công tác giáo dục Trung Quốc, 1979) Tuy vậy, trong gần 30 năm qua, nền giáo dục Trung Quốc đã đạt được những thành tựu đáng kể: Năm 2012, số người trong độ tuổi đi học đến trường đạt 370 triệu, tăng 6,7% so với năm 1978 Số người bị mù chữ trong tổng số dân
đã giảm từ 23,5% xuống còn 12,1%, trong đó số người trong độ tuổi giảm từ 15-40 giảm xuống từ 15,8% xuống còn 6% Chính vì vậy, đến năm 2012 Trung Quốc đã có 728 đơn vị đào tạo nghiên cứu sinh, trong đó có 408 trường đại học,
302 cơ sở nghiên cứu khoa học Năm 2012, số nghiên cứu sinh học trong các cơ
sở đào tạo là 501.000 người, trong đó có 108.700 nghiên cứu sinh và 392.300 học viên cao học Ngoài ra, kể từ khi có chế độ đào tạo sau đại học, Trung Quốc
đã có 16.000 thạc sĩ và 14.000 tiến sĩ tham gia các khóa đào tạo tập trung 2 năm.
Trung Quốc đi theo những quan điểm riêng của mình, quan điểm về chức năng và giá trị của phát triển nguồn nhân lực là: Làm cho các nguồn lực tiềm năng của con người trở nên có ích; biến đổi năng lượng của con người trở nên
có hiệu suất cao; nâng cao hiệu quả làm việc; tạo ra những tài năng thật sự; tăng cường trình độ năng lực của họ; và cuối cùng đưa nước Trung Quốc từ một nước có nguồn nhân lực quy mô lớn thành nguồn nhân lực có chất lượng.
Cụ thể, những giá trị để phát triển nguồn nhân lực của chính phủ Trung Quốc biểu hiện ở các mặt sau:
Trang 23Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực là vấn đề cốt yếu của chiến lược “ Khoa học và Giáo dục tiếp sức cho Trung Quốc”.
Năm 2012, chính phủ Trung Quốc đã thông qua quỹ giáo dục trị giá khoảng 198 tỉ nhân dân tệ (21,19 tỉ USD) Khoảng 28,7 triệu trẻ em từ các gia đình nghèo đã được nhận hỗ trợ tài chính và học tập Trung Quốc có kế hoạch gia tăng tỷ lệ chi phí giáo dục so với GDP lên 4% vào năm 2012 thay vì 3,48% năm 2008.
“Khoa học và Giáo dục tiếp sức cho Trung Quốc” là mộ chính sách quốc gia
cơ bản Nếu như khoa học và giáo dục là hai bánh xe cho quá trình tiến vào thế
kỉ mới của Trung Quốc thì nhân tài là trục của bánh xe và phát triển nguồn nhân lực sẽ quyết định tốc độ của những bánh xe đó Vì thế, việc thực hiện chiến lược này tạo ra nhiều không gian cho phát triển nguồn nhân lực.
Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp là vấn đề thiết yếu cho chiến lược “ Phát triển không ngừng”.
Điều cốt lõi của chiến lược “Phát triển không ngừng” là sự thống nhất lâu dài của ba yếu tố: môi trường, kinh tế và xã hội Sự thống nhất lâu dài đó lại phụ thuộc vào nhân tố chính của các hoạt động xã hội – đó chính là con người, là thái độ của con người đối với sự phát triển không ngừng Trung Quốc đang thiếu các nguồn lực ở mức độ trung bình và tình trạng căng thẳng về nguồn lực
sẽ còn kéo dài, vì vậy nên theo phương thức tiết kiệm để sử dụng, phát triển các nguồn lực đó Một mặt, ta nâng cao mức sử dụng để tiết kiệm các nguồn lực, mặt khác, thay đổi từ phương thức rộng đến hẹp để tăng cường hiệu quả của các nguồn lực Trên thực tế, sự hủy hoại lãng phí các nguồn lực là khá nghiêm trọng và phổ biến Một lí do quan trọng nữa là chất lượng của lao động không tương ứng với sự phát triển của các nguồn lực tự nhiên Theo đó củng cố việc phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng của người lao động là vấn đề quan trọng.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực dựa trên những điều kiện của đất nước Trung Quốc.
Trang 24Trung Quốc có nguồn lực con người dồi dào, nhưng chính điều này lại làm cho sự thiếu hụt các nguồn lực khác trầm trọng hơn Trung Quốc có nhiều sản phẩm rừng, mỏ và các nguồn nước nhưng nếu những nguồn lực này được phân chia cho con số hơn 1,3 tỷ người thì cũng chỉ còn lại rất ít cho mỗi người Những nguồn lực tự nhiên chủ yếu, hàng hóa và tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc là rất đáng kể, song tính riêng cho mỗi thành phố thì Trung Quốc đứng dưới bảng xếp hạng của thế giới Ở chừng mực nào đó, nguồn nhân lực trở thành nguồn lực cần thiết và đảm bảo chắc chắn cho sự phát triển hiện tại của Trung Quốc.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực là nền tảng cho sự phát triển của miền Tây Trung Quốc và tạo dựng xã hội thịnh vượng.
Miền tây Trung Quốc có những nguồn nguyên liệu giàu có, nhưng thiếu nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn nhân lực có tính quyết định cho sự cải thiện các điều kiện môi trường, vì vậy phát triển nguồn nhân lực là cần thiết để phát triển miền tây Trung Quốc và điều đó có mối quan hệ mật thiết với việc tạo dựng xã hội thịnh vượng hiện tại.
Thứ năm, nguồn nhân lực là cơ sở để giải quyết vấn đề “tam nông”
Ở nông thôn Trung Quốc, những nguồn lực tự nhiên như đất nông nghiệp là tương đối khan hiếm Các vùng nông thôn có số dân đông nhưng chất lượng thấp,
có nguồn nhân lực tiềm năng thực sự dồi dào, chứa đựng sức sản xuất tiềm năng rất lớn.
Phát triển nguồn nhân lực nông thôn có thể giải quyết hiệu quả vấn đề tam nông tại Trung Quốc Nông dân là vấn đề cốt lõi của “tam nông” và giải pháp là việc làm của họ Theo thống kê, dân số nông thôn cần việc làm vào khoảng nửa
tỷ Tuy nhiên, ở nông thôn, toàn bộ gia đình sống dựa vào nông nghiệp và họ là tới già, không nghĩ tới nghĩ hưu Những người này cộng với lực lượng lao động,
kể cả dưới 18 tuổi và trên 60 tuổi đều vẫn đang làm việc Thêm một nửa lực lượng lao động này thì số người ở nông thôn có khả năng lao động đạt tới con
số 600 triệu người Với tỉ lệ tự nhiên giữa lực lượng lao động và đất nông nghiệp thì chỉ 100 triệu người là đủ cho nông nghiệp và vì thế gần 500 triệu
Trang 25người trong lực lượng lao động ở nông thôn chuyển sang làm phi nông nghiệp Những năm gần đây, gần 150 triệu người đã làm việc trong các doanh nghiệp thị trấn, làng, xã hoặc làm việc ở thành phố, nhưng vẫn còn hơn 300 triệu người đang xếp hàng chờ việc vì rất nhiều lí do, chủ yếu là vì khả năng làm việc kém và
ít được giáo dục Do đó, phát triển nguồn nhân lực nông thôn là giải pháp cuối cùng quyết định để giải quyết vấn đề “tam nông” tại Trung Quốc.
1.2.1.2 Kinh nghiệm Nhật Bản
Nhật Bản là một nước có diện tích nhỏ hẹp, điều kiện tự nhiên còn nhiều hạn chế và thường xuyên gánh chịu những hậu quả của thiên tai Thế nhưng, Nhật Bản lại là một trong những cường quốc đứng hàng đầu thế giới.
Nhận thức được đất nước nghèo tài nguyên, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, vì vậy mục tiêu đầu tư hàng đầu của Nhật Bản là khai thác tiềm năng và phát huy năng lực con người một cách tích cực và có hiệu quả, luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển Kinh nghiệm này đã được nhiều quốc gia trên thế giới học hỏi Chính sách phát triển nguồn nhân lực ở Nhật Bản
có những nét riêng không lẫn với quốc gia nào, đồng thời nó phù hợp với xu thế phất triển của thời đại hội nhập và phát triển Điều này thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, Chính phủ Nhật Bản luôn khuyến khích hình thành một xã hội học tập và chế độ học tập suốt đời, rèn luyện cho mỗi người lao động tinh thần học hỏi cao, linh động và thích nghi với mọi điều kiện làm việc.
Có một nét trong đường lối dạy và học riêng của Nhật Bản là: dù sự thật Nhật Bản là quốc gia phát triển bậc nhất thế giới nhưng trong mọi bậc học giáo viên vẫn luôn dạy cho học sinh mình rằng: “ Nước ta là một nước nghèo, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và thường xuyên gánh chịu những hậu quả khắc nghiệt của thiên tai, vì thế các em phải luôn luôn phấn đấu học tập và không ngừng cống hiến để đưa đất nước đi lên” Điều này chứng tỏ người Nhật rất khiêm tốn và không bao giờ ngủ quên trên chiến thắng.
Thứ hai, điểm nổi bật trong chính sách phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản là hệ thống kích thích lao động có hiệu quả Điều này làm động lực để mọi
Trang 26cá nhân và cộng đồng có thể cống hiến hết mình những tri thức, kinh nghiệm và
kĩ năng nghề nghiệp trong công việc.
Thứ ba, các công ty và xí nghiệp ở Nhật Bản luôn tạo cho người lao động một niềm tin rằng họ có thể nâng cao thu nhập và giàu lên từ công việc chuyên môn của mình Điều này đã kích thích người lao động không ngừng phấn đấu và luôn trung thành với nơi làm việc Có thể nói rằng, các doanh nghiệp Nhật đánh giá rất cao thâm niên của người lao động, do đó người lao động làm việc rất ổn định, hiếm khi đặt doanh nghiệp vào tình trạng hụt hẫng vì thiếu những lao động chủ chốt.
Thứ tư, để hỗ trợ các khu vực khó khăn, chính quyền Nhật đã thực hiện xã hội hóa giáo dục, tập trung vay vốn ở các vùng khó, đặc biệt là xây dựng các khu
kí túc xá cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn yên tâm học hành.
1.2.1.3 Kinh nghiệm Thái Lan
Hiện nay tổng dân số Thái Lan là hơn 63,389 triệu người Tỷ lệ người trên
60 tuổi 11,5% Tỷ lệ dân số nông thôn là 63,9% Mật độ dân số 129 người/km² Tổng tỷ suất sinh của Thái Lan là 1,5 con Tuổi thọ bình quân khoảng 73 tuổi Tỷ
lệ chết 12,5 phần nghìn Căn cứ vào thực trạng các chỉ báo nhân khẩu học thì chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Thái Lan thành công sớm hơn Việt Nam khoảng 10-15 năm Những thành tựu về kinh tế trong những năm qua phần nào khẳng định hiệu quả của chính sách phát triển nhân lực của Thái Lan.
Thứ nhất, dân số Thái Lan đang già hóa nhanh, do vậy đã xây dựng chiến lược thích ứng với già hóa dân số để đối phó với dân số già Bên cạnh đó, Thái Lan đã không để xảy ra vấn đề mất cân bằng giới tính, trong thời gian qua tỷ lệ giới tính khi sinh vẫn ở mức cho phép.
Thứ hai, Thái Lan đã bỏ lỡ mất cơ hội cơ cấu dân số vàng do không chuẩn
bị tốt nhất nguồn nhân lực Bài học kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy do chuẩn bị sớm được chất lượng nguồn nhân lực tốt nên đã tận dụng được hiệu quả cơ hội cơ cấu dân số vàng Việt Nam hiện nay đã bước vào cửa sổ cơ hội dân
Trang 27số, cần chú trọng kinh nghiệm từ bài học của Thái Lan để tận dụng tốt cơ hội này.
Thứ ba, việc đào tạo và phát triển công chức được chính phủ Thái Lan ưu tiên hàng đầu trong phát triển quốc gia, đồng thời ngân sách chi cho các hoạt động đào tạo và phát triển là các khoản đầu tư của Nhà nước Năm 1980, thành lập học viện đào tạo công vụ Với tư cách là cơ sở đào tạo của Ban Công vụ, học viện có nhiệm vụ nâng cao công tác xây dựng chính sách đào tạo và phát triển, nắm vai trò lãnh đạo về đào tạo và điều phối các hoạt động đào tạo của từng bộ Thứ tư, đầu tư phát triển hệ thống trường đại học chuẩn quốc tế đã nâng tầm chất lượng giáo dục lên một bước tiến mới, tạo điều kiện nâng chất lượng nguồn nhân lực lên tầm thế giới.
1.2.2 Kinh nghiệm ở một số địa phương trong nước
1.2.2.1 Kinh nghiệm thành phố Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương có nền kinh tế phát triển trong khu vực miền trung Tây Nguyên Trong thời gian vừa qua, Đà Nẵng đã được cả nước chú ý bởi những chính sách về nhân lực khá đặc biệt so với nhiều tỉnh thành khác Qua nhiều năm áp dụng những biện pháp mới, Đà Nẵng đã đạt được những kết quả khả quan, chính vì thế những kinh nghiệm quý giá này cần được nghiên cứu để ứng dụng những nội dung phù hợp vào tình hình huyện Triệu Phong hoặc tham khảo để ứng dụng sau này.
Chính sách nhân lực của thành phố Đà Nẵng tập trung trước hết đó là vào khu vực công Thể hiện hàng loạt chính sách quan trọng đều nhắm vào điều chỉnh và phát triển hệ thống nhân lực trong cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội liên quan.
Các chính sách đào tạo và phát triển nhân lực khu vực công quan trọng của thành phố gồm:
Thứ nhất, chính sách đào tạo, bồi dưỡng công vụ hàng năm cho cán bộ, công chức khu vực công Hàng năm thành phố đào tạo công vụ cho khoảng 30% cán bộ, công chức, viên chức thành phố Đối với các ngành dịch vụ công, tỷ lệ bồi dưỡng công vụ hàng năm của một số ngành:
Trang 28Dịch vụ công về y tế: 37%
Dịch vụ công về giáo dục: 81%
Dịch vụ công về môi trường: 70%
Dịch vụ công về giao thông vận tải: 35%
Dịch vụ công về văn hóa, thể thao, du lịch: 70%
Dịch vụ công về khoa học và công nghệ: 22%
Thứ hai, chính sách đào tạo chuyên gia quản lý khu vực công Chính quyền
Đà Nẵng đã triển khai nhiều chương trình đào tạo năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức:
Chương trình đào tạo chuyên gia sau đại học tại nước ngoài: từ 2006-2010 thành phố đã cử đào tạo 78 thạc sĩ , tiến sĩ tại nước ngoài Trong đó, có 09 người đang học cao học tại các trường đại học ở Pháp.
Chương trình đào tạo tiền công vụ: Thành phố đã chọn 259 công chức dự nguồn và cử đi học đại học trong và ngoài nước Trong đó, có 35 sinh viên đang học tập tại các trường Đại học ở Pháp.
Lĩnh vực đào tạo: Y tế, giáo dục, kiến trúc, quản lý đô thị, quản lý giao thông đô thị, quản lý môi trường, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, quản
lý dự án, quản lý kinh tế, tài chính,tiền tệ, quản lý hành chính, luật.
Thứ ba, tuyển dụng cán bộ khu vực dịch vụ công theo năng lực và cạnh tranh.
Bên cạnh phát huy nội lực, thành phố đã có chính sách thu hút nguồn nhân lực có chất lượng từ bên ngoài dựa trên quy trình tuyển chọn cạnh tranh theo thực tài với nhiều cơ chế ưu đãi để tuyển dụng người có chất lượng, bố trí làm việc tại các cơ quan hành chính (34%) và đơn vị dịch vụ công của thành phố (66%), đặc biệt là trong các ngành dịch vụ về giáo dục (21,7%) và y tế (27,6%) Đây là chính sách mang tính đặc thù trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của thành phố.
Thi tuyển cạnh tranh các vị trí chức danh lãnh đạo các đơn vị dịch vụ công: Đây là cách làm mới, đặc thù của thành phố so với các chính sách, cơ chế tuyển dụng cán bộ các vị trí lãnh đạo hiện nay ở Việt Nam Các ngành dịch vụ công có
Trang 29nhiều người tham gia thi tuyển cạnh tranh các vị trí chức danh lãnh đạo: dịch
vụ giáo dục, dịch vụ đô thị, giao thông vận tải…
1.2.2.2 Kinh nghiệm thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Thị xã Hương Trà có điều kiện tự nhiên và xã hội khá tương đồng với huyện Triệu Phong Trong thị xã cũng được phân theo 3 vùng kinh tế: vùng gò đồi, vùng đồng bằng, vùng đầm phá ven biển Mặt khác, Hương Trà có trình độ phát triển KT-XH khá tương đồng với huyện Triệu Phong Những điều này khiến cho việc học tập kinh nghiệm phát triển sẽ giúp có nhiều ứng dụng vào điều kiện của huyện Triệu Phong.
Trong chủ trương của thị xã Hương Trà, chú trọng vào các nội dung sau: Đổi mới chính sách tổ chức, thông qua công việc để lựa chọn, bố trí, sử dụng phát huy tốt năng lực nội tại của đội ngũ cán bộ, chuyên viên, lao động trong bộ máy Nhà nước và trong xã hội.
Coi trọng công tác giáo dục đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ và nhân tài trong hàng ngũ cán bộ, nhân viên công tác quản lý Nhà nước và quản lý kỹ thuật Có quy hoạch, đào tạo để từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quản lý doanh nghiệp.
Chú trọng đào tạo LLLĐ một cách thiết thực và cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế hội nhập quốc tế Dành phần đầu tư thích đáng
để tăng cường đào tạo lực lượng lao động cao cấp cho tổ chức sản xuất kinh doanh, lao động kỹ thuật bằng kết hợp đào tạo kiến thức quản lý kinh tế, kỹ năng nghiệp vụ với bồi dưỡng nhận thức pháp luật, tri thức đạo đức xã hội, kỷ luật lao động.
Thu hút lao động đến phục vụ các vùng khó khăn thông qua các chương trình ưu đãi.
Phối hợp với các trường đại học, trung tâm dạy nghề, các cơ sở sản xuất xây dựng chương trình đào tạo và khuyến khích, thu hút người lao động trên địa bàn tham gia vào các chương trình đào tạo, nâng cao kỹ năng lao động đối với những ngành nghề mà địa phương đang cần hoặc có khả năng phát triển.
Trang 30Điều đáng chú ý ở thị xã Hương Trà đó là sự xuất hiện của các trường đào tạo ở mức độ trên phổ thông, dù chỉ là mới quy mô ban đầu Đây là điều bổ ích
để huyện Triệu Phong xem xét trong chính sách của mình.
1.2.2.3 Kinh nghiệm huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
Hướng Hóa là huyện biên giới quan trọng của tỉnh Quảng Trị bởi đây là cửa khẩu quan trọng với khu thương mại đặc biệt Lao Bảo Hàng năm đóng góp xấp xỉ 20% giá trị sản xuất của tỉnh Quảng Trị Thu nhập bình quân đầu người năm 2010: 11,9 triệu/người/năm, tốc độ tăng trưởng sản xuất 9,2% Tổng giá trị sản xuất năm 2010 là 2178 tỷ đồng (giá so sánh năm 2004).
Chính vì thế, đây là địa bàn nhận được nhiều sự quan tâm và đầu tư nhiều mặt Nhận thức được tầm quan trọng của nhân lực đối với sự phát triển của huyện Hướng Hóa, đảng bộ huyện có những chủ trương ưu tiên để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên địa bàn huyện Nhìn chung, đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Hướng Hóa nhiều mặt vượt trội so với huyện Triệu Phong, những tiến bộ trong nhiều năm qua đã mang lại nhiều bài học bổ ích cho công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên địa bàn huyện Triệu Phong.
Tăng cường việc thu hút và đào tạo nguồn nhân lực bằng các chính sách
ưu đãi như nâng cao mức phụ cấp cho nguồn nhân lực đến làm việc tại huyện Hướng Hóa cao hơn so với các vùng, miền khác trên địa bàn tỉnh Quảng Trị Đào tạo nâng cao trình độ cán bộ quản lý một cách thường xuyên nhằm đáp ứng kịp thời tình hình mới.
Lựa chọn những thanh niên có trình độ bố trí làm việc trong cơ quan Nhà nước.
Đầu tư hệ thống bệnh viện tuyến xã và huyện ngày càng chỉnh thể để chăm sóc đời sống nhân dân, nâng cao chất lượng sống.
Tạo điều kiện cho thanh niên lập nghiệp bằng các dự án kinh tế mới, làng thanh niên lập nghiệp góp phần tăng gia đời sống và phát huy năng lực của một
bộ phận thanh niên tiên tiến và phát triển kinh tế.
Phát triển Lao Bảo trở thành trung tâm kinh tế trọng điểm của huyện, làm đòn bẩy kinh tế cho huyện và tạo việc làm cho phần lớn lao động trong huyện.
Trang 31Chú trọng phát triển các mô hình kinh tế trồng rừng ở vùng sâu, vùng xa của huyện nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập.
1.2.3 Kinh nghiệm rút ra vận dụng cho huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị
Qua khảo sát cơ sở thực tiễn của các nước trên thế giới và nhiều tỉnh thành ở Việt Nam, cùng với hệ thống chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước, có thể rút ra một số kinh nghiệm nhất định nhằm vận dụng cho việc nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp nông thôn tại địa bàn huyện Triệu Phong như sau:
Thứ nhất, hệ thống giải pháp phải thực hiện một cách đồng bộ, có quy hoạch, nhất quán từ trên xuống dưới, bao trùm trong nhiều lĩnh vực liên quan không chỉ đơn thuần áp dụng trong ngành nông nghiệp và khu vực nông thôn
Ưu tiên phát triển kinh tế tại khu vực trung tâm làm sức kéo cho các vùng lân cận; từ đó, làm đòn bẩy cho quá trình đổi mới và phát triển kinh tế nông nghiệp Thứ hai, thu hút tối đa nguồn lực bên trong và bên ngoài, không chỉ nguồn lực về vốn mà còn cả nhân lực, công nghệ, để làm được vấn đề này cần có sự chỉ đạo sâu sát từ tỉnh nhà và có những chính sách hỗ trợ tích cực Đặc biệt, cần có những dự án, chương trình dạy nghề, đào tạo nghề cho lao động, mà chủ yếu tập trung vào khu vực nông nghiệp nông thôn Ngoài ra, cần chú trọng vào sự đầu tư của các doanh nghiệp và địa bàn để tạo ra công ăn việc làm cho dân cư, tạo sự yên tâm cho lao động khi quyết định theo học các lớp đào tạo chuyên môn kỹ thuật.
Thứ ba, hoàn chỉnh và nâng cấp hệ thống chăm sóc sức khỏe dân cư, từng bước cải thiện chất lượng sống của người dân, tạo ra nền tảng sức khỏe lâu dài Hạn chế các nguyên nhân gây suy giảm sức khỏe do điều kiện tự nhiên của huyện gây ra Đảm bảo sức khỏe cho LĐNN có thể chịu đựng được những công việc nặng nhọc của nông nghiệp, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động hơn nữa.
Trang 32Thứ tư, sự nhất trí và đồng lòng của các bộ ngành cũng như nhân dân địa phương là yếu tố tinh thần căn bản ủng hộ tiến trình cải biến toàn diện của huyện nhà.
Tóm lại, từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây cho thấy việc nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp trên địa bàn huyện Triệu Phong là yêu cầu bức thiết có ý nghĩa chiến lược lâu dài của huyện.
Trang 33CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP
Ở HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
Huyện Triệu Phong là một trong 10 huyện, thị, thành phố của tỉnh Quảng Trị Huyện nằm về phía Đông Nam của tỉnh và trãi ngang như một tấm khăn chùng từ nơi giáp giới với hai huyện Cam Lộ, Đakrông ra đến biển đông; chiều dài trên đất liền từ Tây sang Đông hơn 30 km, chiều rộng ở vùng đồng bằng từ
10 đến 13km Diện tích tự nhiên của huyện là 354,92 km 2 , dân số của huyện là 108.657 người.
Phía Bắc giáp huyện Gio Linh và thành phố Đông Hà;
Phía Nam giáp huyện Hải Lăng và thị xã Quảng Trị;
Phía Đông giáp biển đông;
Phía Tây Nam giáp huyện Đakrông và huyện Cam Lộ.
Địa hình huyện Triệu Phong nghiêng từ Tây sang Đông, được chia 3 vùng
rõ rệt: gò đồi, đồng bằng và vùng cát ven biển.
Vùng gò đồi chiếm 51,08% diện tích đất tự nhiên của huyện gồm các xã Triệu Thượng, Triệu Ái và một phần của xã Triệu Giang Đây là nơi phát triển các loại cây công nghiệp, cây lấy gỗ kết hợp trồng cây hoa màu, cây lương thực
và phát triển kinh tế trang trại.
Vùng đồng bằng rộng từ 7 đến 8 km với diện tích chiếm 38,39% diện tích đất tự nhiên gồm các xã: Triệu Thành, Triệu Long, Triệu Đông, Triệu Hòa, Triệu Đại, Triệu Độ, Triệu Thuận, Triệu Phước, Triệu Trạch, Triệu Sơn, Triệu Trung, Triệu Tài, Thị trấn Ái Tử và một phần của xã Triệu Giang.
Phía Đông huyện là một dãi cát dài chạy theo bờ biển suốt từ Bắc chí Nam dài trên 15 km, rộng từ 4 đến 4,5 km với diện tích chiếm 10,53% đất tự nhiên của huyện gồm các xã Triệu Lăng, Triệu Vân, Triệu An Đây là một phần của dãi
Trang 34tiểu Trường Sa Có bờ biển dài 18 km Ngư trường đánh bắt tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như mực, ghẹ, tôm, các loài cá phục vụ xuất khẩu Triệu Phong có Quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt đi qua Ngoài 2 tuyến đường quan trọng nói trên, Triệu Phong có 3 tỉnh lộ, đó là tỉnh lộ 64 thị xã Quảng Trị đi Cửa Việt, tỉnh lộ 68 thị xã Quảng Trị đi Xuân Viên và Tỉnh lộ 6 thị trấn Ái Tử đi Thượng Phước lên đến Cùa (Cam Lộ).
Từ các tỉnh lộ, nhiều tuyến đường huyết mạch nội huyện đã được đầu tư nâng cấp như đường Ba Bến – Triệu Lăng, đường Triệu Tài – thị trấn Ái Tử, đường Đại – Độ - Thuận – Phước, đường Chợ Cạn – Bồ Bản, đường Cửa Việt –
Mỹ Thủy…
Với vị trí địa lý, địa hình như vậy Triệu Phong rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội, giao lưu văn hóa, chuyển giao khoa học – kỹ thuật.
2.1.1.2 Khí hậu, thủy văn
Huyện Triệu Phong nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa được phân thành 2 mùa: Mùa mưa rét và mùa khô nóng.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25 đến 25 o c, nhưng lại có biên độ dao động khá lớn (tháng cao nhất 35 – 39 o c, tháng thấp nhất 12 – 13 o c).
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2500 – 2700mm, cao hơn mức trung bình của cả nước và phân bố không đều, tập trung chủ yếu là từ tháng 9 đến tháng 12.
Trên địa bàn huyện có con sông lớn chảy qua là sông Thạch Hãn, có con sông đào Vĩnh Định và hai con sông khác là sông Vĩnh Phước và sông Ái Tử Đất đai, khí hậu, sông ngòi, đường sá ở Triệu Phong là điều kiện thuận lợi
để Huyện tiếp tục đưa nền kinh tế phát triển toàn diện.
Là yếu tố khá thuận lợi để các nhà đầu tư yên tâm làm ăn lâu dài với Triệu Phong.
2.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên
Thứ nhất, tài nguyên đất Triệu Phong có 3 loại đất chính sau:
Nhóm đất phù sa được bồi và không được bồi: 10.498 ha, chiếm 30% diện tích tự nhiên (DTTN), do hệ thống sông Thạch Hãn và sông Vĩnh Định bồi đắp,
Trang 35chúng được phân bố ở 12 xã vùng đồng bằng bao gồm: Triệu Thành, Triệu Long, Triệu Đông, Triệu Hòa, Triệu Đại, Triệu Độ, Triệu Thuận, Triệu Phước, Triệu Trạch, Triệu Sơn, Triệu Trung, Triệu Tài Đất có thành phần cơ giới thịt nặng, ít chua, hàm lượng đạm, mùn trên tầng mặt ở mức trung bình khá Hướng sử dụng các loại đất này là trồng các cây lương thực, thực phẩm như lúa, ngô, khoai và các loại cây công nghiệp ngắn ngày.
Nhóm đất sa phiến thạch: 17.689,32 ha, chiếm 50% DTTN, chủ yếu nằm ở vùng gò đồi, ở phía Tây quốc lộ 1A, bao gồm các xã: Triệu Thượng, Triệu Ái, Triệu Giang Thành phần cơ bản chủ yếu là vỏ phong hoá mác-ma, ba-giơ trên
vỏ phong hoá trầm tích, sa phiến thạch Khu vực này có thể phát triển trồng trọt hoặc mô hình trồng rừng kết hợp chăn nuôi.
Nhóm đất cát và cồn cát ven biển: 6.904 ha, chiếm 20% DTTN, chủ yếu tập trung ở các xã ven biển như: Triệu An, Triệu Vân, Triệu Lăng, Triệu Trạch, Triệu Sơn Hướng phát triển của vùng này là trồng rừng và trồng một số loại cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày như: rau, khoai, lạc, đỗ, vừng, dâu, tằm Thứ hai, tài nguyên rừng:
Theo thống kê năm 2013, diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 14.575,2
ha, chiếm 41,3% diện tích đất tự nhiên Triệu Phong là một trong số huyện có diện tích đất lâm nghiệp lớn nhất của tỉnh Quảng Trị Diện tích rừng trồng chiếm tỷ lệ lớn (chiếm 95.9% với 13.982 ha) Đáng chú ý là diện tích rừng trồng đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Rừng trồng đang được phát triển mạnh ở các xã: Triệu Ái, Triệu Thượng, Triệu Sơn, Triệu An, Triệu Trạch, Triệu Vân, Triệu Lăng với các loại cây chủ yếu là thông, bạch đàn, keo lai Đây là vùng nguyên liệu lớn cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, nhựa thông phát triển trong thời gian tới Rừng tự nhiên, hiện nay đang được huyện đưa vào khoanh nuôi, bảo vệ phục hồi một cách tích cực.
Thứ ba, tài nguyên biển và ven biển:
Triệu Phong có chiều dài bờ biển 18 km, chạy dọc theo 3 xã Triệu An, Triệu Vân và Triệu Lăng Vùng biển Quảng Trị nói chung và biển Triệu Lăng nói riêng
Trang 36là nơi trú ngụ của nhiều loại hải sản quý như: Các loại tôm, cua, cá hồng, cá mú,
cá thu, cá nục, cá ngừ, mực ống, mực nang
Tiềm năng phát triển ngành nuôi trồng thủy sản của địa phương là khá lớn, với diện tích đất, mặt nước có khả năng sử dụng nuôi trồng thủy, hải sản lên đến 5.640 ha, có thể nuôi được các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như: tôm sú, tôm càng xanh, tôm he chân trắng, cua xanh và một số loại cá là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến.
Ngoài tiềm năng biển nói trên, Huyện còn có lợi thế so sánh đặc biệt, đó là
có cảng Cửa Việt, bãi tắm Triệu Lăng và đặc biệt là có trục đường ven biển nối với các tỉnh miền Trung mở ra những cơ hội phát triển rất lớn về du lịch, kinh tế biển và các ngành dịch vụ khác.
Thứ tư, tài nguyên nước:
Triệu Phong có hệ thống sông, ngòi, ao, hồ, nguồn nước ngầm khá đa dạng: Sông ngòi: Hệ thống sông Thạch Hãn với tổng chiều dài 150km đóng vai trò hết sức quan trọng đối với hệ thống thủy lợi cũng như giao thông vận tải thủy của địa phương, ngoài sông Thạch Hãn còn có sông Vĩnh Định, Vĩnh Phước
Nguồn nước ao hồ: Trên địa bàn có một số hồ, đập quan trọng có ý nghĩa trữ nước phục vụ cho phát triển sản xuất và đời sống dân sinh đồng thời góp phần cải tạo môi trường như: Đập dâng Nam Thạch Hãn; đập ngăn mặn Việt Yên; hồ Triệu Thượng I, Triệu Thượng II, đập dâng Bà Huyện, hồ Ái Tử
Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm khá phong phú, chất lượng khá tốt, riêng vùng ven biển nhiều nơi bị nhiễm mặn, một số vùng bị phân hoá.
Với trữ lượng nước mặt và nước ngầm như trên, nguồn nước của Triệu Phong hoàn toàn có thể đáp ứng các điều kiện để sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân trên địa bàn huyện.
Thứ năm, tài nguyên khoáng sản:
Theo báo cáo kết quả thực hiện dự án quy hoạch khai thác khoáng sản tỉnh Quảng Trị đến năm 2010 và dự báo đến năm 2020, trên địa bàn huyện Triệu Phong nguồn khoáng sản chủ yếu là khoáng sản thuộc nhóm phi kim loại như:
Trang 37Silicat: Trữ lượng cấp P² 91 triệu tấn, phân bố chủ yếu tại 2 xã Triệu Vân
và Triệu Trạch, có trữ lượng tài nguyên dự tính 90.921.849 tấn, có độ mịn hạt 0,1-1mm, thành phần chủ yếu SiO2 chiếm trên 99%, làm nguyên liệu sản xuất thuỷ tinh dân dụng và kỹ thuật.
Cát, cuội, sỏi, đá khí: Mỏ (cát, cuội, sỏi) phân bố dọc theo khu vực sông Thạch Hãn khu vực các xã Triệu Long, Triệu Giang, Triệu Thuận Ngoài ra còn
có một số điểm Lập Thạch, Trà Liên Đông chưa được tìm kiếm đánh giá Mỏ đá Thượng Phước, mỏ khí CO2 ở Triệu Đại cũng là một trong những tài nguyên rất
có giá trị của Triệu Phong.
Sét gạch ngói: Trữ lượng nhỏ, phân bố rãi rác (các mỏ Nhan Biều dự tính là 5,41 m 3 , Triệu Đại được đánh giá là có triển vọng).
Ngoài ra, theo nhận định của đoàn khảo sát địa chất thì điểm Titan (ziricon) Nam Cửa Việt tuy chưa được đánh giá nhưng trên cơ sở phân tích đặc điểm của vùng các chuyên gia cho rằng là điểm Titan có triển vọng.
Theo đánh giá của các chuyên gia, tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện có trữ lượng không lớn, song đó cũng là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp phục vụ nhu cầu xây dựng tại huyện và cả tỉnh Quảng Trị.
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Đặc điểm kinh tế
Cùng với xu thế phát triển chung của cả nước và tỉnh Quảng Trị, kinh tế của huyện Triệu Phong cũng đang trên đà phát triển mạnh mẽ, thể hiện trên các lĩnh vực và ngành nghề cụ thể sau:
Về nông – lâm – thủy sản:
Nông nghiệp: Tính đến hết năm 2014, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 15.567,2 ha, tăng 22,3 ha Trong đó: lúa 10.928,8 ha, giảm 7,9 ha, năng suất lúa bình quân cả năm đạt 53,4 tạ/ha, tăng 6,5 tạ/ha; sản lượng lương thực
có hạt đạt 59.711,4 tấn, tăng 7.133,5 tấn; trong đó: thóc đạt 58.375,7 tấn, tăng 7.063,5 tấn, tăng 13,8%, ngô đạt 1.335,7 tấn, tăng 70 tấn, năng suất đạt 45,7 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha Trồng trọt đã chú trọng việc đẩy mạnh thâm canh, áp dụng tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất, chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ
Trang 38và đạt kết quả tốt Diện tích gieo trồng các loại cây có giá trị kinh tế, năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh ngày càng tăng, từng bước tạo đà cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.
Chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện luôn được đẩy mạnh Những năm gần đâynhiều chương trình, dự án chăn nuôi được triển khai trên địa bàn Các mô hình chăn nuôi trang trại, chăn nuôi tập trung phát triển mạnh; Việc phòng chống dịch bênh trên đàn gia súc, gia cầm luôn được chú trong theo dõi và giải quyết một cách triệt để Quy mô đàn gia súc, gia cầm tương đối ổn định Theo thống kê tại thời điểm 01/10/2014, tổng đàn gia súc đạt 64.434 con, cụ thể: đàn trâu: 1.961 con, đàn bò: 7.705 con, đàn lợn: 54.768 con Tổng đàn gia cầm đạt 435.100 con.
Lâm nghiệp: Những năm qua, huyện đã tập trung trồng rừng phòng hộ kết hợp với phát triển diện tích rừng sản xuất Việc triển khai tốt các chương trình trồng rừng như Chương trình trồng 5 triệu ha rừng của Chính phủ; Chương trình trồng rừng sản xuất đã làm cho diện tích rừng tăng lên, góp phần nâng cao tỷ lệ che phủ rừng Tổng diện tích đất có rừng là 15.233,7 ha; trong đó: đất rừng tự nhiên 809,9 ha, đất có rừng trồng 14.423,8 ha Diện tích trồng mới đạt 800 ha, chăm sóc rừng trồng 2.512 ha Sản xuất gỗ khai thác đạt 54.660m³tăng 3.949m³
so với cùng kỳ năm trước
Thủy sản: Ngành thủy sản đã có bước phát triển toàn diện trên các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá Trại tôm giống Triệu Lăng đã đi vào hoạt động, bước đầu giúp cho người dân trên địa bàn chủ động một phần về con giống Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2014 đạt 790 ha, tăng 41,1 ha Sản lượng thu hoạch ước đạt 1.816 tấn, tăng 54 tấn Diện tích nuôi tôm ước đạt 487 ha, tăng 17,5 ha Sản lượng tôm thu hoạch đạt 1.400 tấn Nuôi trồng thủy sản nước ngọt được đẩy mạnh, đến nay đã thả nuôi 290 ha, tăng 14,7
ha, đối tượng chủ yếu là cá trắm cỏ, chép, rô phi, trê lai với lượng giống thả 35 vạn con Chương trình cải hoán tàu thuyền, mua sắm, đầu tư, nâng cấp phương tiện, trang thiết bị ngư lưới cụ tiếp tục được nâng cao Số lượng tàu thuyền cơ giới khai thác thủy hải sản là 623 chiếc; trong đó khai thác hải sản là 354 chiếc
Trang 39Tổng sản lượng khai thác thủy hải sản đạt 3.490 tấn; trong đó: khai thác hải sản đạt 3.224 tấn, khai thác thủy sản nước ngọt là 266 tấn Có thể nói, ngành thủy sản đang dần khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế của huyện.
Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Trong những năm qua, mặc dù có những khó khăn chung do biến động về giá cả sản xuất đầu ra cũng như đầu vào và sự cạnh tranh gay gắt trong cơ chế thị trường nhưng sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định Một số sản phẩm chính đạt và vượt
kế hoạch sản xuất đề ra như: gạch nung, xay xát lương thực, sản xuất bún bánh, góp phần tăng giá trị sản xuất ngành Tổng giá trị sản xuất ngành đạt 341,815 tỷ đồng.
Cụm Công nghiệp đông Ái Tử đang trong giai đoạn đầu tư cơ sở hạ tầng; tiếp tục thẩm định, rà soát các dự án đủ điều kiện để xem xét chấp thuận đầu tư vào cụm công nghiệp.
Từng bước hoàn thành các hạng mục của cơ sở hạ tầng điểm công nghiệp làng nghề sản xuất bún Thượng Trạch (Triệu Sơn) Tiếp tục thực hiện đề án khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Công tác khuyến công tiếp tục được quan tâm, tích cực hỗ trợ đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, chuyển giao công nghệ để các cơ sở, cụm điểm công nghiệp làng nghề đẩy mạnh sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn ngày càng phát triển.
Về thương mại – dịch vụ:
Hoạt động thương mại – dịch vụ trên địa bàn huyện có nhiều chuyển biến tích cực, đạt tốc độ tăng trưởng khá Tổng giá trị ngành đạt 906,053 tỷ đồng, tăng 17,4%.
Trong năm 2014, huyện đã đầu tư xây dựng hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng Chợ Chùa xã Triệu Phước Nhìn chung hệ thống chợ, các đại lý kinh doanh thương mại, dịch vụ trên địa bàn hoạt động sôi động với nhiều chủng loại hàng hóa đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Trang 40Năm 2014, đã diễn ra Hội chợ thương mại huyện Triệu Phong với quy mô
138 gian hàng của trên 90 đơn vị, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tham gia, góp phần quảng bá giới thiệu các sản phẩm của quê hương đến với người tiêu dùng của các địa phương trong cả nước.
Các dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông tiếp tục phát triển Về dịch vụ bưu chính: đến nay toàn huyện có 6 bưu cục hoạt động khá hiệu quả, đáp ứng cơ bản nhu cầu sử dụng dịch vụ bưu chính của nhân dân và các cơ quan, tổ chức trên địa bàn Huyện Hệ thống chuyển phát các dịch vụ bưu chính đã đến được tất cả các xã trong Huyện Về dịch vụ viễn thông: với sự tham gia của 3 hãng điện thoại lớn là Vinaphone, Mobifone, Viettel… phạm vi phủ sóng điện thoại đã được
mở rộng ra toàn địa bàn huyện, chất lượng phục vụ của các hãng điện thoại ngày một tốt hơn
Về hiện trạng kết cấu hạ tầng:
Mạng lưới giao thông đường bộ được đầu tư xây phát triển khá đồng bộ gồm quốc lộ, tỉnh lộ, đường đô thị, đường giao thông nông thôn và đường chuyên dùng với tổng chiều dài 284 km.
Quốc lộ: Trên địa bàn Triệu Phong có tuyến quốc lộ 1A đi qua với tổng chiều dài 7,4 km, đây là các tuyến giao thông quan trọng của huyện Tuyến đường này đã được đầu tư nâng cấp trải nhựa chất lượng khá.
Đường tỉnh lộ: Trên địa bàn huyện có 03 tuyến, tuyến đường 64, đường 68
và tỉnh lộ Ái Tử - Trừ Lấu có tổng chiều dài là 39,2 km Các tuyến đường tỉnh cùng phối hợp với hệ thống quốc lộ tạo thành các trục giao thông Bắc - Nam và trục ngang Đông-Tây thuận tiện trong việc lưu thông hàng hoá, phát triển kinh
tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng - an ninh trên địa bàn.
Tuyến đường quốc phòng ven biển dài 18 km
Giao thông nông thôn (gồm đường huyện, đường xã, thôn):
Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số chiều dài các tuyến đường huyện, xã, thôn, đô thị của Triệu Phong là 1372,3 km Trong đó, đường huyện là 179 km; Đường liên thôn 227,3 km; Đường đô thị là 41,6 km; Đường thôn 600 km Một