1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

31 426 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 827,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc thì mục đích chính của bảo hiểm thất nghiệp là thông qua các hoạt động đào

Trang 1

MỤC LỤC

Lời nói đầu 2

I Cơ sở lý luận 3

1 Thất nghiệp 3

2 Bảo hiểm thất nghiệp 4

II Bảo hiểm thất nghiệp ở một số quốc gia 5

1 Bảo hiểm thất nghiệp ở Đức 6

2 Bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ 8

3 Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc 10

III Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 12

1 Khái quát BHXH ở Việt Nam 12

2 Luật và chính sách điều chỉnh vấn đề BHTN 16

3 Tình hình thực hiện BHTN 19

4 Tính hiệu quả của BHTN Việt Nam 25

Kết luận 28

Tài liệu tham khảo 29

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Thất nghiệp luôn là mối quan tâm của toàn xã hội Hầu hết các quốc gia đều cố gắng xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô để thúc đấy tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, cải thiện việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp Thất nghiệp cũng là mối lo chung của mọi người dân lao động, bởi vì nó gắn liền với đời sống vật chất và tinh thần của họ Bảo hiểm thất nghiệp ra đời sẽ góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề

và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc Bên cạnh đó bảo hiểm thất nghiệp còn giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và doanh nghiệp Có thể khẳng định, bảo hiểm thất nghiệp là một biện pháp hỗ trợ người lao động trong nền kinh tế thị trường Bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc thì mục đích chính của bảo hiểm thất nghiệp là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm được một việc làm mới thích hợp và ổn định

Đối với Việt Nam, Chính sách bảo hiểm thất nghiệp được triển khai từ 1/1/2009, khi Luật Bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực Sau 2 năm thực hiện, chúng ta đã đạt được những gì và còn tồn tại những điều gì, người dân lao động phản ứng thế nào với chính sách này ? với

mong muốn tìm hiểu thêm về những điều này, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài : “ Bảo

hiểm thất nghiệp ở Việt Nam”

Trang 3

- Thất nghiệp thường được chia thành hai chủ đề lớn : thất nghiệp tự nhiên và thất nghiệp chu kỳ Thất nghiệp tự nhiên biểu thị mức thất nghiệp bình thường mà nền kinh tế phải chịu, còn thất nghiệp chu kỳ biểu thì những dao động ngắn hạn của thất nghiệp xung quanh mức tự nhiên

1.2 Nguyên nhân của thất nghiệp

- Nguyên nhân thứ nhất là thời gian cần thiết để công nhân tìm được việc làm thích hợp với sở thích và kĩ năng của họ trợ cấp thất nghiệp chính là chính sách của chính phủ

có tác động làm ổn định thu nhập cho công nhân

- Nguyên nhân thứ 2 là sự không ăn khớp với nhau giữa cung và cầu lao động trên các thị trường lao động cụ thể Các chương trình đào tạo lại của chính phủ sẽ giúp công nhân dễ dàng chuyển đổi từ ngành bị suy giảm sang các ngành đang mở rộng

- Nguyên nhân thứ 3 lý giải vì sao nền kinh tế của chúng ta luôn có 1 số thất nghiệp

là luật tiền lương tối thiểu Thông qua việc làm tăng tiền lương của công nhân không có tay nghề và kinh nghiệm lên cao hơn mức sản lượng cân bằng, luật tiền lương tối thiểu làm tăng lượng cung về lao động và giảm lượng cầu Mức dư cung biểu thị thất nghiệp bổ sung

- Nguyên nhân thứ 4 gây nêu thất nghiệp là sức mạnh của công đoàn Khi công đoàn đẩy tiền lương trong các ngành có công đoàn cao hơn mức cân bằng , họ tạo ra tình trạng dư cung về lao động

- Thất nghiệp chu kì phát sinh khi nền kinh tế lâm vào suy thoái

1.3 Tác động của thất nghiệp

Thất nghiệp gây ra những chi phí đáng kể đối với xã hội, nhưng điều quan trọng là cần hiểu các chi phí này một cách chính xác để giúp các nhà hoạch định chính sách có những cách điều chỉnh thích hợp

Trang 4

Đối với cá nhân, thất nghiệp là một gánh nặng Khi bị mất việc thu nhập bị giảm, ảnh hưởng xấu đến mức sống, đồng thời họ cũng dễ bị tổn thương về tâm lý Nếu thất nghiệp kéo dài, các kỹ năng lao động của công nhân cũng bị mai một Mối quan hệ gia đình có thể trở nên căng thẳng khi người trụ cột trong gia đình bị thất nghiệp

2 Bảo hiểm thất nghiệp

1.1 Một số định nghĩa

- Bảo hiểm xã hội (BHXH) : Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp

một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản,tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ

sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội

- Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) : Bảo hiểm thất nghiệp là khoản hỗ trợ tài chính

tạm thời dành cho những người bị mất việc mà đáp ứng đủ yêu cầu theo Luật định Đối tượng được nhận bảo hiểm thất nghiệp là những người bị mất việc không do lỗi của cá nhân họ Người lao động vẫn đang cố gắng tìm kiếm việc làm, sẵn sàng nhận công việc mới và luôn nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng thất nghiệp Những người lao động này sẽ được hỗ trợ một khoản tiền theo tỉ lệ nhất định Ngoài ra, chính sách BHTN còn hỗ trợ học nghề và tìm việc làm đối với người lao động tham gia BHTN

1.2 Mục tiêu cơ bản của BHTN

- Hỗ trợ về thu nhập cho người lao động bị thất nghiệp chu kì tùy theo loại hình thất

nghiệp với mục tiêu này hệ thống bảo hiểm thất nghiệp sẽ hỗ trợ thu nhập cho người lao động bị thất nghiệp ở dạng này hay dạng khác nhằm thay thế thu nhập bị mất do mất việc làm, hỗ trợ người thất nghiệp có nguồn lực để tồn tại và có khả năng tìm kiếm công việc mới, góp phần ổn định đời sống của người thất nghiệp và gia đình họ

- Ổn định kinh tế trong thời kì suy thoái thông qua duy trì sức mua của lực lượng

lao động bị mất việc làm Với mục tiêu ổn định nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái thông qua duy trì sức mua của lực lượng lao động bị mất việc làm, quỹ bảo hiểm thất nghiệp sẽ

là khoản dự phòng trong trường hợp kinh tế suy thoái để chi trả trợ cấp cho người thất nghiệp nhằm thay thế thu nhập do bị mất việc làm Khoản trợ cấp thay thế này một mặt

hỗ trợ thu nhập cho người thất nghiệp như ở nêu trên mặt khác không làm suy giảm một cách bất ngờ sức mua của lực lượng lao động dẫn đến đình đốn sản xuất Như vậy khoản trợ cấp này sẽ giúp tránh được sự suy giảm kinh tế theo kiểu dây chuyền

Trang 5

- Hỗ trợ cải cách doanh nghiệp : Với mục tiêu ổn định nền kinh tế, các hệ thống

bảo hiểm thất nghiệp thường chi trả trợ cấp tương đối hào phóng và đối tượng của hệ thống cũng sẽ được quy định tương đối rộng Khi xem xét khía cạnh hỗ trợ cải cách doanh nghiệp, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp sẽ tạo điều kiện thuận lời cho áp dụng công nghệ mới và cơ cấu lại các quy trình kém hiệu quả Vì được đảm bảo bằng một khoản trợ cấp thay thế thu nhập bị mất đi cũng như được hỗ trợ đào tạo nâng cao tay nghề hoặc đào tạo lại để chuyển đổi nghề, những người lao động bị mất việc do những lý do cải cách doanh nghiệp sẽ không có những phản ứng quá tiêu cực dẫn đến bất ổn về chính trị xã hội Bảo hiểm thất nghiệp góp phần làm giảm thiểu sự phản đối việc cải cách luật lao động của người lao động do lo sợ bị mất việc làm

- Duy trì kĩ năng nghề của lao động bị mất việc làm : với mục tiêu duy trì kĩ năng

nghề của lao động bị mất việc làm, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp cho phép người lao động có tay nghề có thời gian tìm kiếm việc làm mới phù hợp hơn với tay nghề đã có của

họ Như vậy sẽ duy trì các kỹ năng sẵn có và không xảy ra tình trạng mai một kỹ năng nghề do phải chấp nhận bất cứ công việc nào, mặc dù không phù hợp với tay nghề của mình để có thu nhập Điều này dẫn đến việc duy trì được đầu tư của quốc gia trong phát triển giáo dục và kỹ năng nghề của lực lượng lao động quốc gia

- Nâng cao kỹ năng tìm kiếm việc làm cho những người lao động có nhu cầu việc

làm Đây là một mục tiêu tương đối quan trọng, Một hệ thống bảo hiểm thất nghiệp gắn kết với các biện pháp thị trường lao động tích cực sẽ góp phần xay dựng mạng lưới tư vấn về việc làm và thông tin thị trường lao động, như vậy sẽ kết nối người lao động bị thất nghiệp với các chuyên gia tư vấn tìm việc làm , qua đó giúp người lao động nâng cao được kỹ năng tìm kiếm việc làm của mình

- Khuyến khích, nâng cao kỹ năng nghề : Với mục tiêu khuyến khích nâng cao kỹ

năng nghề, một hệ thống bảo hiểm thất nghiệp hiện đại rõ ràng sẽ phải xây dựng được mối liên kết chặt chẽ giữa người tìm việc với người sử dụng lao động và đặc biệt đối với các cơ sở đào tạo nghề để giúp người lao động bị thất nghiệp đạt được trình độ nghề mong muốn Để thực hiện mục tiêu này, hệt thống bảo hiểm thất nghiệp phải hỗ trợ người lao động trong việc học nghề

II Bảo hiểm thất nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, để góp phần giải quyết tình trạng mất việc làm trên thế giới, nhất là ở các nước công nghiệp, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đă có Công ước số 44 ngày 04/6/1934 về bảo đảm tiền trợ cấp cho những người thất nghiệp

Trang 6

Trên cơ sở của Công ước này, nhiều nước đă ban hành chính sách về bảo hiểm thất nghiệp Do đó, Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ bảo hiểm xã hội mà hiện nay đã có rất nhiều nước trên thế giới xem như là một bộ phận của chính sách bảo hiểm xã hội Trong

đó, nhiều nước đã thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp hàng chục năm nay, như Mỹ, Canada, Trung Quốc, Đức, Pháp với những bộ luật qui định khá toàn vẹn và chặt chẽ Mỗi nước đều có qui định riêng và thực hiện dựa trên những nguyên tắc của mình

1 Bảo hiểm thất nghiệp ở Đức

Hệ thống bảo hiểm đối phó với rủi ro mất việc làm của người Đức là một phần trong hệ thống an sinh xã hội phát triển lâu đời bậc nhất trên thế giới Bảo hiểm thất nghiệp được bắt đầu thực hiện tại Đức vào năm 1919 và chính thức hóa bằng một bộ luật vào năm 1927, là một cấu thành trong hệ thống BHXH của Đức bao gồm bảo hiểm hưu trí, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm chăm sóc Bảo hiểm thất nghiệp là một chương trình BHXH bắt buộc dựa trên sự đóng góp tài chính của người lao động và chủ sử dụng lao động

Điều kiện hưởng: Người thất nghiệp dưới 65 tuổi đã làm việc và đóng bảo hiểm

thất nghiệp tối thiểu 12 tháng trong vòng 2 năm cuối, và đã đăng ký với một văn phòng giới thiệu việc làm và có khả năng lao động, tích cực tìm kiếm việc làm Đối với người làm việc bị ngắt quãng ít hơn 12 tháng trong một năm với công việc có tính chất đặc biệt được gọi là lao động thời vụ, quãng thời gian đóng đủ bảo hiểm, và loại bảo hiểm này phải là bảo hiểm bắt buộc có thời gian đóng hơn 06 tháng Người lao động nước ngoài có công việc bị ngắt quãng có thể được hưởng trợ cấp thất nghiệp giống như người lao động bản sứ

Nguồn đóng góp: Người lao động đóng góp 1,65% lương hằng tháng Mức trần

thu nhập hằng năm làm căn cứ đóng góp là 63.600€ Chủ sử dụng lao động đóng góp 1,65% quỹ tiền lương Người lao động tự tạo việc làm đóng 3,3% giá trị quy định hàng

Trang 7

tháng Giá trị quy định hàng tháng được quy định là 2.450 € Chính phủ sẽ cho vay hoặc

hỗ trợ nếu quỹ bị mất cân đối thu chi và chi phí trợ cấp thất nghiệp cho người không đóng bảo hiểm

Mức hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp: Trợ cấp thất nghiệp được trả bằng 67%

lương của người lao động nếu đang nuôi con chưa trưởng thành Nếu không có con thì trợ cấp là 60% thu nhập ròng trước khi mất việc Trợ cấp trả từ 6 đến 18 tháng tùy thuộc thời gian làm việc và tuổi của người được bảo hiểm Trợ cấp này trả 15 tháng cho người thất nghiệp trên 55 tuổi với ít nhất 30 tháng làm việc, và 18 tháng trợ cấp cho người có tối thiểu 36 tháng làm việc Bảo hiểm thất nghiệp tại Đức không quy định thời gian chờ đối với người thất nghiệp Nghĩa là người lao động có quyền hưởng chế độ thất nghiệp ngay sau khi mất việc làm

Thời gian hưởng chế độ : Sau khi mất việc làm, không có giai đoạn chờ áp dụng

cho người thất nghiệp trước khi nhận phúc lợi Khoảng thời gian hưởng chế độ thất nghiệp tùy thuộc vào thời gian làm việc có đóng bảo hiểm trước đó

Tại Đức, cứ 4 người thất nghiệp thì có 1 người không được hưởng chế độ thất nghiệp hoặc trợ cấp thất nghiệp Những người thất nghiệp này chủ yếu là những người không đủ tiêu chuẩn hưởng phúc lợi/trợ cấp Một số khác chỉ đăng ký với cơ quan việc làm với các

Trang 8

lý do an sinh xã hội, hoặc họ cố gắng tìm việc thông qua cơ quan việc làm công không cần tới chế độ bảo hiểm/trợ cấp thất nghiệp

2 Bảo hiểm thất nghiệp ở Mỹ

Bảo hiểm thất nghiệp là chương trình nằm trong Luật Bảo hiểm xã hội của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được thực hiện từ năm 1935, gồm có: hệ thống của Liên bang và Tiểu bang Hệ thống Liên bang quy định chung, từ đó cấp Tiểu bang hướng dẫn, quản lý

và thực hiện chương trình của bang mình Việc quản lý và thực hiện chương trình bảo hiểm thất nghiệp ở các Tiểu bang cũng khác nhau Một số Tiểu bang có mức hỗ trợ thất nghiệp khá cao, một số Tiểu bang lại có mức thấp hơn

Điều kiện hưởng: Để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp người lao động phải đăng

ký tại một trung tâm dịch vụ việc làm, phải có một khoảng thời gian lao động với thu nhập nhất định, tích cực tìm việc làm và sẵn sàng trở lại làm việc

Thẩm quyền ban hành chính sách bảo hiểm thất nghiệp: Cấp Liên bang: Ban hành

chính sách khung có tính nguyên tắc gồm: quy định về đối tượng; khung mức đóng, mức hưởng tối đa, thời gian hưởng tối đa, cơ sở đánh thuế, phân bổ quỹ, ngân sách cho các chương trình của Liên bang và kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các Tiểu bang Cấp Tiểu bang: Quy định cụ thể đối tượng hưởng, mức hưởng, mức đóng, hình thức đóng; tổ chức thực hiện chi, trả; thủ tục chi, trả; giải quyết khiếu nại của người lao động

Mức trợ cấp thất nghiệp mà người lao động được hưởng ở mỗi Bang khác nhau

theo Luật của từng Bang và thu nhập trước đó của người lao động, nhưng không được vượt quá mức trần tối đa do Luật của Liên bang quy định

Thời gian hưởng trợ cấp: Theo Luật của Liên bang thì thông thường thời gian

hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa là 26 tuần Những người đã hưởng hết khoản trợ cấp thất nghiệp theo chương trình thông thường có thể được hưởng tiếp tối đa 20 tuần nữa theo

Trang 9

chương trình gia hạn trợ cấp (EB) Chương trình gia hạn trợ cấp chỉ được áp dụng trong thời kỳ có tỷ lệ thất nghiệp cao Chi phí cho chương trình EB được chia đều giữa chính quyền Liên bang và Tiểu bang

Các chuyên gia hoạch định chính sách của Hoa Kỳ cho rằng chương trình trợ cấp thất nghiệp của Hoa Kỳ không "hào phóng" như các nước Châu Âu Mức trợ cấp thất nghiệp chỉ đủ cho người lao động chi dùng những khoản thiết yếu trong đời sống (khoảng 50% thu nhập đóng bảo hiểm xã hội) để họ không ỷ lại vào trợ cấp mà phải tích cực tìm kiếm việc làm tự nuôi sống bản thân

Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp: Người lao động trong các doanh nghiệp

công nghiệp và thương mại; Người lao động trong các tổ chức phi lợi nhuận có từ 4 lao động trở lên, thời gian làm việc 20 tuần/1năm trở lên; Các doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên, thời gian làm việc 20 tuần/1 năm, quỹ lương 20.000USD/quý Ở một số bang cán bộ công chức Nhà nước cũng được tham gia chế độ bảo hiểm thất nghiệp Trên thực tế có 97% người lao động ở Hoa Kỳ đang tham gia chương trình bảo hiểm thất nghiệp

Các đối tượng không thuộc diện áp dụng chế độ bảo hiểm thất nghiệp là lao động

tự do, lao động khoán việc, người giúp việc gia đình, lao động thuộc các tổ chức tôn giáo

Cơ chế thu, chi của Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp: - Nguồn thu của Quỹ Bảo hiểm

thất nghiệp ở Hoa Kỳ hoàn toàn do chủ sử dụng lao động đóng (có 3 Bang đó là: Alaska, New Jersey, Pensylvania quy định người lao động đóng một phần, nhưng rất thấp (khoảng 0,3% tiền lương tháng) và đang có xu hướng giảm) Việc thu tiền bảo hiểm thất nghiệp của người lao động do cơ quan thuế đảm nhiệm Luật Liên bang quy định tổng mức đóng bảo hiểm thất nghiệp là 6,2% quỹ lương tháng, trong đó mức đóng cho Liên bang là 0,8% , khoản này dùng để chi trả các chi phí về hành chính, trả lương cho các nhân viên thuộc hệ thống bảo hiểm thất nghiệp của Liên bang và Tiểu bang

Trang 10

3 Bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc

Năm 1986, Chính phủ Trung Quốc quyết định cải tổ hệ thống tuyển dụng nhân viên và hình thức ký hợp đồng lao động, đồng thời đã ban hành "các quy định đối với ng-ười thất nghiệp làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp của Nhà nước" Đây là những bư-

ớc khởi đầu của việc xây dựng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp

Năm 1993 hệ thống bảo hiểm thất nghiệp đã được sửa đổi Trong hơn 10 năm (1986-1997), Nhà nước đã trợ giúp hơn 20 triệu người thất nghiệp thông qua hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và hỗ trợ hơn 6 triệu người thất nghiệp tìm được việc làm trong thời gian đó Với thực tế của mình và học tập kinh nghiệm quốc tế, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp của Trung Quốc đã được sửa đổi cơ bản Năm 1999, Chính phủ đã ban hành

"Điều lệ bảo hiểm thất nghiệp", cải thiện hơn nữa hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và mở ra hướng phát triến trong tương lai

Đối tượng tham gia loại hình bảo hiểm này là người lao động trong các doanh

nghiệp (bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân ) và các cơ quan đóng tại địa bàn thành thị Chính quyền các tỉnh, vùng

tự trị và các đặc khu trực thuộc Trung ương, tuỳ theo tình hình cụ thể cũng như yêu cầu của các đoàn thể, công đoàn và của bản thân người lao động đều có thể tham gia vào hệ thống bảo hiểm thất nghiệp

Nguồn huy động của quỹ bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Khoản đóng góp của các

doanh nghiệp, cơ quan và cá nhân người lao động cho quỹ bảo bảo thất nghiệp, lãi suất ngân hàng; phần trợ giúp của Chính phủ, và các nguồn khác cho quỹ theo quy định của pháp luật Các cơ quan và doanh nghiệp ở thành thị sẽ đóng bảo hiểm thất nghiệp 2% tổng quỹ lương, cá nhân người lao động trong doanh nghiệp trả 1% lương của họ Nhân viên có hợp đồng làm việc ở nông thôn nhưng được các doanh nghiệp, cơ quan ở thành thị tuyển dụng sẽ tự đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp của mình Nguồn quỹ bảo hiểm thất nghiệp sẽ được chuyển về các tỉnh, thành phố và các đặc khu trực thuộc Trung ương Mức chuyển tiền từ các quỹ này xuống địa phương sẽ phụ thuộc vào điều kiện từng

Trang 11

địa phương và quy định của chính quyền cấp tỉnh Việc điều chỉnh, phân bố bảo hiểm thất nghiệp có thể do chính quyền cấp tỉnh và đặc khu tiến hành, dựa trên cơ sở tổng số tiền huy động được từ các nguồn cho quỹ cũng như phụ thuộc vào tình hình cụ thế của từng tỉnh hay đặc khu Nơi nào mà tổng thu không đủ cho chi trả bảo hiểm thất nghiệp thì chính quyền các tỉnh, đặc khu có quyền điều chỉnh việc thu chi của nguồn quỹ cũng như

sự hỗ trợ của quỹ đó Quỹ trợ cấp thất nghiệp có thể chi trả cho các khoản: trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ y tế trong thời gian nhận trợ cấp thất nghiệp; chi phí mai táng và giám sát việc chuyển trợ cấp cho vợ (chồng) góa hoặc những người thân trong trường hợp người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chết; tổ chức các lớp đào tạo và dạy nghề phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động trong thời gian nhận trợ cấp thất nghiệp; các khoản chi phí khác liên quan tới bảo hiểm thất nghiệp do Chính phủ quy định hoặc thông qua Hiện nay, chi phí này chủ yếu được lấy từ các nguồn để đảm bảo một mức sống tối thiểu cho người lao động bị mất việc Riêng ở Thượng Hải, chính quyền ở đây cho rằng việc cấp phát trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp không đóng vai trò tích cực nên chỉ dùng 1/3 quỹ

để trợ cấp, 1/3 để đào tạo lại và 1/3 để xúc tiến việc làm

Điều kiện hưởng: Những người thất nghiệp sẽ được nhận trợ cấp bảo hiểm thất

nghiệp nếu họ hội đủ các điêu kiến như: Đóng góp cho quỹ từ 1 năm trở lên bị thất nghiệp ngoài ý muốn, có đăng ký thất nghiệp và có nhu cầu tìm việc trở lại Người thất nghiệp sẽ được tạo cơ hội tìm việc làm mới trong khi họ đang được nhận trợ cấp thất nghiệp Ngược lại, việc họ nhận trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp sẽ chấm dứt khi: Người thất nghiệp được tái tuyển dụng ở nơi khác; được gọi phục vụ quân đội; di chuyển sang nước khác, từ chối nhận việc do cơ quan có liên quan sắp xếp mà không đưa ra được lý do chính đáng

Mức và thời gian được nhận trợ cấp thất nghiệp cũng tuỳ theo từng tỉnh và địa

phương căn cứ vào tình hình cụ thể của từng nơi Tuy nhiên, theo một nguyên tắc chung

là thấp hơn mức lương tối thiểu nhưng cao hơn mức sống tối thiểu của cư dân thành thị Mức hưởng và thời gian nhận trợ cấp phụ thuộc vào thời gian đã đóng vào quỹ, nhưng

Trang 12

không vượt quá 24 tháng

Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp của Trung Quốc được thành lập chưa lâu nhưng hiện nay đã có 93,8 triệu lao động tham gia Hiện có 210 cơ quan làm việc trong mảng thất nghiệp với số cán bộ là 3.888 nguời

Như vậy, bảo hiểm thất nghiệp là một loại hình bảo hiểm có từ lâu trên thế giới, đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước khác nhau, nhất là ở các nước phát triển Tuy nhiên, nói chung ở các nước trên thế giới, trong hệ thống các chế độ Bảo hiểm xã hội, chế độ bảo hiểm thất nghiệp thường là chế độ ra đời muộn nhất bởi phạm vi thất nghiệp không thể dự báo được chính xác như các chế độ khác, hơn nữa việc quản lý bảo hiểm thất nghiệp là khó khăn do đó vấn đề xác định tài chính của bảo hiểm thất nghiệp luôn là trở ngại khi thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp Mặt khác, chúng ta cũng phải hiểu rằng chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ cực kỳ hữu ích trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế với sự gia tăng của số người thất nghiệp nhưng lúc này đồng nghĩa với việc quỹ bảo hiểm thất nghiệp giảm đi nhanh chóng do bội chi và như vậy, tính bảo hiểm sẽ không còn nữa

III BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

1 Khái quát về bảo hiểm xã hội Việt Nam

1.1 Các loại hình của BHXH

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội

Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá

XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29-6-2006 Luật này quy định ba chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) đối với người lao động là chế độ BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và BHXH thất nghiệp Theo quy định tại Điều 140, Luật BHXH sẽ chính thức có hiệu lực kể

Trang 13

từ ngày 2007, riêng các quy định về bảo hiểm tự nguyện sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1-2008, các quy định về bảo hiểm thất nghiệp sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2009

1-Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình

để hưởng bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm

Luật BHXH quy định cùng lúc ba chế độ BHXH là bước cụ thể hoá quy định trong Hiến pháp và chính sách Nhà nước về phát triển các loại hình bảo hiểm xã hội, từng bước mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, góp phần đáp ứng mục tiêu an sinh xã hội Xây dựng và thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ là cơ sở pháp lý cho đông đảo người lao động tham gia bảo hiểm xã hội

Một quy định khác hoàn toàn mới của luật BHXH là việc hình thành quỹ BHTN từ năm 2009 Khi đó người thất nghiệp đã đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong thời gian

24 tháng trước khi thất nghiệp sẽ được hưởng BHTN

Trang 14

▪ Tiền mai tang, chế độ tuất

BHXH tự nguyện gồm các chế độ sau đây

▪ Chế độ hưu trí

▪ Trợ cấp tử tuất

1.3 Vai trò của BHXH

1.3.1 Vai trò của BHXH đối với người lao động và gia đình của họ

Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe doạ cuộc sống của mỗi người gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội Rủi ro phát sinh hoàn toàn ngẫu nhiên bất ngờ không lường trước được nhưng xét trên bình diện xã hội, rủi ro là một tất yếu không thể tránh được Để phòng ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của rủi ro đối với con người và xã hội là nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của BHXH Chúng ta có thể liệt kê một

số vai trò của BHXH đối với cá nhân

- Thứ nhất: BHXH có vai trò ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình họ

Khi tham gia BHXH, người lao động phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên hoặc phải ngừng làm việc tạm thời Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn Nhờ có chính sách BHXH mà họ được nhận một khoản tiền trợ cấp đã bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm để đảm bảo

ổn định thu nhập, ổn định đời sống

- Thứ hai: Ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, BHXH tạo được tâm lý an tâm, tin tưởng Khi đã tham gia BHXH góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân lao động

1.3.2 Vai trò của BHXH đối với xã hội

Trang 15

- Thứ nhất: Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động, mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẽ trách nhiệm, chia sẽ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH Tuy nhiên mối quan hệ mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau Người lao động tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội Người sử dụng lao động tham gia BHXH là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho người lao động nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH

- Thứ hai: BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, BHXH tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân-thiện-mỹ nhờ đó có thể chống lại tư tưởng

“Đèn nhà ai nhà ấy rạng” BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một

xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên

- Thứ ba: BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân tương ái của cộng đồng: Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng cộng đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững

- Thứ tư: BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên giác độ xã hội, BHXH là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động Trên giác độ kinh tế, BHXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội

1.3.3 Vai trò của BHXH đối với nền kinh tế thị trường

- Thứ nhất: Khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp trong xã hội trơ nên rõ rệt Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác

Ngày đăng: 21/04/2016, 11:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w