Do đó Nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc sản xuất vật chất, cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống con người và cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp mà các ngành
Trang 1Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trường Đại học Kinh tế Huế đặc biệt là quý thầy cô khoa Kinh tế và Phát triển đã dạy bảo tận tình trong suốt 4 năm học vừa qua, cung cấp cho em những kiến thức vô cùng cần thiết và bổ ích
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
TS Trương Tấn Quân người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt quá trình thực tập cũng như thực hiện đề tài.
Tiếp đó em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo, các anh/chị trong Phòng Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cam Lộ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, nhiệt tình hợp tác trong quá trình nghiên cứu, thu thập thông tin để thực hiện đề tài, giúp em có được một địa điểm thực tập thực sự bổ ích trong suốt thời gian thực tập vừa qua
Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn và xin chúc quý thầy cô cùng các anh/chị luôn dồi dào sức khoẻ.
Trang 2Huế, tháng 05 năm 2015 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Đức Hưng
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 7
1.Lý do chọn đề tài 7
2.Mục đích nghiên cứu 8
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4.Phương pháp nghiên cứu 8
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 10
CHƯƠNG I: CỞ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 10
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến sản xuất hàng hóa .10
1.1.2 Lý luận chung về hiệu quả kinh tế 12
1.1.3 Tên, nguồn gốc và sự phân bố cây sắn 13
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất sắn 14
1.1.4 Hệ thống các chỉ tiêu ngiên cứu 17
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 18
1.2.1.Tình hình sản xuất sắn và sắn hàng hóa trên thế giới 18
1.2.2 Tình hình sản xuất sắn và sắn hàng hóa ở Việt Nam 19
1.2.3 Tình hình sản xuất sắn và sắn hàng hóa của tỉnh Quảng Trị 21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT SẮN Ở HUYỆN CAM LỘ-TỈNH QUẢNG TRỊ 22
2.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA HUYỆN CAM LỘ 22
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
2.1.2 Điều kiện về kinh tế xã hội 25
2.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 30
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT SẮN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAM LỘ 31
2.2.1 Tình hình sản xuất sắn chung ở trên địa bàn huyện Cam Lộ 31
2.2.2 Tình hình sản xuất của hộ điều tra 33
2.2.2.2.Kết quả và hiệu quả sản xuất sắn của các hộ điều tra năm 2015 37
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ điều tra 43
2.2.4 Kênh tiêu thụ và sử dng sắn của các hộ điều tra năm 2015 47
2.2.5 Tình hình sản xuất và thu mua sắn nguyên liệu của nhà máy chế biến tinh bột sắn An Thái 48
2.2.6 Đánh giá chung 50
CHƯƠNG III ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN SẮN THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ 51
3.1 Định hướng sản xuất Sắn trong thời gian tới 51
Trang 43.2 Một số giải pháp chủ yếu nhắm nâng cao hiệu quả sản xuất sắn trên địa bàn 51
3.2.1 Giải pháp về đất đai 52
3.2.2 Giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng 53
3.2.3 Giải pháp về kỹ thuật 54
3.2.4 Giải pháp về thị trường 56
3.2.5 Nâng cao chất lượng công tác khuyến nông và bảo vệ thực vật 56
3.2.6 Quy hoạch sản xuất 57
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
1 KẾT LUẬN 58
2 KIẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 5DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
HĐND Hội đồng nhân dân
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
NNo&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Diện tích và sản lượng sắn của thế giới giai đoạn 2005-2011 19
Bảng 2: Diện tích và sản lượng sắn trong những năm gần đây 19
Bảng 3: Trong năm tháng năm 2013 so với cùng kì 2010-2013 20
Bảng 4: Một số đặc điểm của sông, suối chính ở Cam Lộ 24
Bảng 5: Các hồ chứa nước trên địa bàn huyện 24
Bảng 6 Tình hình dân số và lao động của huyện Cam Lộ giai đoạn 2013– 2014 26
Bảng 7 Tình hình sử dụng đất đai của Huyện Cam Lộ giai đoạn 2013-2014 27
Bảng 8: Diện tích,năng suất và sản lượng sắn cảu huyện Cam lộ trong 3 năm 31
Bảng 9 :Diện tích trồng sắn ở các vùng trong huyện năm 2014 32
Bảng 10 Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra năm 2015 33
Bảng 11 Tình hình sử dụng đất đai của các hộ điều tra năm 2015 34
Bảng 12 Tình hình trang bị vật chất kỹ thuật của các hộ điều tra năm 2015 36
Bảng 13 Chi phí sản xuất sản xuất sắn của các hộ điều tra năm 2015 39
Bảng 14 Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất sắn của các hộ điều tra năm 2015 42
Bảng 15 Ảnh hưởng của đất trồng sắn đến kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ điều tra năm 2015 44
Bảng 16 Ảnh hưởng của chi phí trung gian đến kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ điều tra 46
Bảng 15: Một số chỉ tiêu của nhà máy chế biến tinh bột sắn An Thái 49
Trang 7PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 80% dân số sống ở nông thôn Do đó Nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc sản xuất vật chất, cung cấp lương thực, thực phẩm nuôi sống con người và cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp
mà các ngành khác khó có thể thay thế được.Điều đó nói lên vai trò quan trọng của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế của đất nước Hiện nay, trình độ sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn hạn chế do đó việc đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở nước ta không chỉ là một tất yếu khách quan mà còn là một thuộc tính bên trong lâu dài của chính sự phát triển kinh tế xả hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Ở nước ta sắn là cây lương thực đứng hàng thứ ba sau lúa, ngô Sắn là cây dể chăm sóc, chịu hạn tốt, năng suất ổn định và ít sâu bệnh Trong thời gian gần đây, sắn trở thành một trong bảy loại hàng hóa có thể xuất khẩu của Việt Nam đem lại nguồn thu nhập cao cho bà con nông dân ở một số địa phương, nhất là những nơi đã trồng loại giống sắn mới và đưa các nhà máy chế biến tinh bột sắn vào sử dụng thì hiệu quả kinh tế từ sắn là khá cao so với các cây trồng khác có cùng điều kiện đất đai, tự nhiên,
kí hậu.Vì vậy, sắn là một trong những cây quan trọng góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đất nước
Cam Lộ là một huyện thuần nông, nghề chính vẫn là sản xuất nông nghiệp Đất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn về diện tích do đó việc tổ chức, sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, tổ chức, bố trí cây trồng phù hợp mang lại hiệu quả cao, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân là vấn đề quan tâm hàng đầu.Cây sắn mới được trồng rộng rãi trên địa bàn huyện từ năm 2005 đến nay nó đã đạt những kết quả nhất định và trở thành cây lương thực mang lại nguồn thu kinh tế cao cho các hộ gia đình trong huyện Với việc đầu tư ban đầu thấp, kỹ thuật đơn giản, năng suất tương đối cao phù hợp với những hộ có thu nhập thấp góp phần giải quyết việc làm cải thiện đời sống Những năm trước việc sản xuất sắn sắn trên địa bàn huyện Cam Lộ vẫn còn nhỏ
Trang 8hiệu quả đạt được chưa thực sự đúng với tiềm năng phát triển của địa bàn Nhưng những năm gần đây với chính sách phát triển của huyện cùng với sự xuất hiện của các nhà máy chế biến tinh bột sắn nên việc sản xuất sắn trên địa bàn huyện đã chuyển dần sang hướng sản xuất hàng hóa với quy mô lớn hơn và đã mang lại hiệu quả tích cực hơn cho các hộ gia đình Tuy nhiên do mới tiếp cận với phương thức sản xuất mới nên việc sản xuất sắn trên địa bàn huyện Cam Lộ vẫn còn những hạn chế.Vì vậy việc điều chỉnh phát hiện kịp thời những tồn tại thiếu sót nhằm đưa ra những định hướng giúp phát triển cây sắn một cách bền vững là đòi hỏi cấp bách hiện nay Xuất phát từ những
điều kiện thực tế của địa phương do đó tôi đã chọn đề tài : “ Phát triển sắn theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị ”
2 Mục đích nghiên cứu
*Mục tiêu chung:
+Trên cơ sở thực trạng sản xuất sắn của huyện Cam Lộ đề xuất các giải pháp nhằm phát triển sản xuất sắn theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Cam Lộ trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến phát triển sắn theo hướng
sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Cam Lộ
- Không gian: Địa bàn huyện Cam Lộ
- Thời gian: Thu thập số liệu liên quan trong giai đoạn 2011 – 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
Trang 9Chọn điểm điều tra: Căn cứ vào tình hình sản xuất sắn trên địa bàn nghiên cứu, tôi chọn 2 xã Cam Thanh và Cam Tuyền để tiến hành điều tra
Chọn mẫu điều tra: Tổng số mẫu là 100 mẫu, tương ứng với 100 hộ.Tôi chọn điều tra hai xã trong đó một xã gần với nhà máy chế biến tinh bột sắn An Thái là xã Cam Tuyền, và một xã cách xa nhà máy là xã Cam Thanh Tôi tiến hành điều tra 50
hộ ở xã Cam Thanh và 50 hộ ở xã Cam Tuyền, các hộ được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp lại
+ Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Nguồn từ Phòng Lao động và thương binh xã hội, Phòng kinh tế, Phòng thống kê, các niên giám thống kê, các khóa luận từ khóa trước và các thông tin từ sách, báo, internet…
- Phương pháp phân tổ thống kê: Tôi sử dụng phương pháp phân tổ có khoảng cách tổ đều để phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến hiệu quả và kết quả sản xuất sắn
- Phương pháp so sánh:
+ So sánh sự biến động của các chỉ tiêu qua các thời kỳ
+ So sánh tình hình sản xuất của các nông hộ điều tra ở 2 xã
+ So sánh chi phí sản xuất và kết quả sản xuất của các nông hộ điều tra ở 2 xã
+ So sánh các chỉ tiêu kinh tế giữa các nhóm hộ
Trang 10
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CỞ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến sản xuất hàng hóa
1.1.1.1 Khái niệm sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Lenin dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải
Marx-là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà Marx-là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán Hay nói một cách khác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra là để bán.
1.1.1.2 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó
mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán.Sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện:
Thứ nhất: Phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội là sự chuyên
môn hóa sản xuất, phân chia lao động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau
Do sự phân công lao động xã hội nên việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu Khi có phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó, họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao đổi với nhau Phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất đồng thời làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều nên càng thúc đẩy sự trao đổi sản phẩm.Như vậy, phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hóa Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng mở rộng hơn, đa dạng hơn
Thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất: những
Trang 11phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hoá.Trong lịch sử, sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư hữu tư liệu sản xuất quy định Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của mỗi
cá nhân và kết quả là sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ
Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau Đây là một mâu thuẫn Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của nhau
Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa Thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa
1.1.1.3.Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa
*Sản xuất hàng hóa có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán.
Trong lịch sử loài tồn tại hai kiểu tổ chức kinh tế khác nhau là sản xuất tự cung,
tự cấp và sản xuất hàng hóa Sản xuất tự cung, tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản xuất như sản xuất của người dân trong thời kỳ công xã nguyên thủy, sản xuất của những người nông dân gia trưởng dưới chế độ phong kiến Ngược lại, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra để bán chứ không phải
là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
Thứ hai, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang
tính xã hội
Lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã hội vì sản phẩm làm ra
để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội Nhưng với sự tách biệt tương đối về kinh tế, thì lao động của người sản xuất hàng hóa đồng thời lại mang tính chất tư nhân, vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi người Tính chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất
xã hội Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa Mâu thuẫn giữa lao động
Trang 12tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng trong nền kinh tế hàng hóa.
1.1.2 Lý luận chung về hiệu quả kinh tế
1.1.2.1 Khái niệm và bản chất hiệu quả kinh tế
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế Theo quan điểm của các nhà thống kê : hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học: Hiệu quả kinh tế đạt được tối ưu khi đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối
* Hiệu quả kỹ thật (TE) là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào công nghệ
* Hiệu quả phân phối (AE) là chỉ tiêu hiệu quả trong đó giá sản phẩm và giá trị đầu vào được tính đến để phản ánh giá trị sản phẩm thu được trên một đồng chi phí đầu vào hay nguồn lực
* Hiệu quả kinh tế (EE) là một phạm trù trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp Nếu sản xuất chỉ đạt hiệu quả kinh tế hay hiệu quả phân bổ thì mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế
EE = TE x AENhư vậy, muốn nâng cao hiệu quả kinh tế đồng thời phải nâng cao hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ
1.1.2.2 Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả kinh tế
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng việc đánh giá hiệu quả kinh tế sau mỗi chu kì sản xuất là rất quan trọng và không thể thiếu
Khi đánh giá hiệu quả kinh tế chúng ta phải xem xét, đánh giá cả yếu tố đầu vào lẫn đầu ra từ đó biết được mức độ sử dụng các nguồn lực đã đạt hiệu quả hay chưa, biết được nguyên nhân làm hạn chế sản lượng đầu ra trên cơ sở đó đưa ra các biện
Trang 13trưởng cao trong sản xuất Một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân tạo thành vì vậy chỉ có tác động đúng đối tượng, sử dụng đúng biện pháp thì sản xuất mới
đi đúng hướng và đạt hiệu quả cao
1.1.2.3 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
* Phương pháp 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỉ số giữa toàn bộ kết quả thu được với toàn bộ chi phí bỏ ra
H=Q/C
Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế
Q: khối lượng sản phẩm thu được
C: chi phí bỏ ra
Phương pháp này phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nguồn lực, xem xét một đơn vị nguồn lực sử dụng tạo ra bao nhiêu kết quả hoặc một đơn vị kết quả tốn bao nhiêu đơn vị nguồn lực Phương pháp này giúp chúng ta so sánh hiệu quả ở các quy
mô khác nhau, giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh, giữa các nghành sản xuất và qua các thời kì khác nhau
*Phương pháp 2: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng phương pháp so sánh phần tăng thêm của kết quả thu được và phần tăng thêm chi phí bỏ ra
H = ∆Q/∆C
Trong đó: ∆Q: Khối lượng sản phẩm tăng thêm
∆C: Chi phí tăng thêm
Phương pháp này giúp chúng ta xác định được hiệu quả một đồng chi phí đầu tư tăng thêm mang lại Phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu đầu tư chiều sâu, đầu tư thâm canh, đầu tư tái sản xuất mở rộng
1.1.3 Tên, nguồn gốc và sự phân bố cây sắn.
Sắn hay còn gọi là khoai mì là cây lương thực ăn củ hàng năm, có thể sống lâu năm Cây sắn cao 2 - 3 m, đường kính tán 50 - 100 cm Lá khía thành nhiều thùy, có thể dùng để làm thức ăn chăn nuôi gia súc Rễ ngang phát triển thành củ và tích luỹ tinh bột Củ sắn dài 20 - 50 cm, khi luộc chín có màu trắng đục, hàm lượng tinh bột cao
Trang 14Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh và được trồng cách đây khoảng 5.000 năm Cây sắn đựơc du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18 Hiện chưa có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên Sắn được canh tác phổ biến tại hầu hết các tỉnh của Việt Nam từ Bắc đến Nam Diện tích sắn trồng nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng núi và trung du phía bắc, vùng ven biển Nam Trung Bộ.
Hiện nay sắn được trồng trên 100 nước của vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, tập trung nhiều ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ, là nguồn thực phẩm của hơn 500 triệu người
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất sắn
Cây sắn là một sinh vật sống, nó tuân theo những quy luật sinh trưởng và phát triển nhất định Những quy luật sinh trưởng và phát triển đó chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, nhưng chung quy lại chúng chịu ảnh hưởng của ba nhóm nhân tố chính: nhóm các nhân tố sinh học, nhóm các nhân tố tự nhiên và nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội
1.1.4.1 Các nhân tố thuộc về sinh học
* Giống: Hom giống tốt là rất quan trọng để giúp sắn nảy mầm đều, sinh trưởng khoẻ và cho năng suất cao Lúc thu hoạch cần chọn những cây sắn đúng giống, tươi, không xây xát, không sâu bệnh, nhặt mắt, đặc lõi để làm giống cho vụ sau
*Phân hữu cơ: Phân hữu cơ được sử dụng bón cho sắn rất tốt Phân hữu cơ được
sử dụng bón cho sắn bao gồm: phân chuồng và phân xanh được ủ hoai mục Phân hữu
cơ có khả năng cung cấp cho cây nhiều thành phần dinh dưỡng như: đạm, lân, kali, các yếu tố vi lượng, đồng thời nó còn có khả năng cải tạo đất, giúp đất tơi xốp và cây trồng
dễ sử dụng
*Đạm (N): Đạm cần cho cấu tạo các vật chất hữu cơ, đặc biệt trong quá trình phát triển thân, cành và lá sắn non Nếu thiếu đạm, khả năng sinh trưởng của cây giảm
rõ rệt, thân, cành, lá nhỏ, lá có màu vàng, năng suất củ và lá giảm rõ rệt
*Lân: Lân là thành phần cấu tạo của tế bào sống, tham gia vào quá trình tạo thành tinh bột Cây sắn có thể thu hút lân trong đất ở nồng độ rất thấp để tạo nên năng suất cao so với nhiều cây trồng khác Ở đất rất nghèo lân, bón phân lân làm tăng năng suất, tăng hàm lượng tinh bột trong củ
Trang 15*Kali: Kali là một khoáng đa lượng vô cùng thiết yếu cho cây sắn sinh trưởng kali làm tăng sức trương, tăng áp suất thẩm thấu trong tế bào, kích thích sự hoạt động của các men, làm cho cây tăng cường trao đổi chất, tăng hình thành axit hữu cơ, tăng trao đổi đạm, do vậy mà hạn chế tích lũy nitrat trong lá.
1.1.4.2 Các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên
* Điều kiện đất đai:
Sắn là cây trồng hàng năm để lấy củ là chính, thích nghi ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới Điều kiện tốt cho cây sắn là vùng khí hậu bán khô hạn nhưng phải có đủ ẩm trong thời kỳ mọc mầm Khi cây đã mọc tốt, nó cũng có thể chịu được vài tháng khô hạn, vì vậy sắn thường được trồng trong điều kiện không tưới nước
* Nhiệt độ: Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của sắn Nhiệt độ thích hợp cho sắn mọc mần và ra rễ từ 20-370C, còn tối thích là từ 25-300C Nhiệt độ thích hợp để tích lũy dinh dưỡng vào củ tùy thuộc vào nhiệt độ ngày và đêm Thông thường nhiệt độ 290C là thích hợp cho sắn tích lũy dinh dưỡng vào củ, nhưng ở nhiệt độ này vào ban ngày thường làm tăng cường độ hô hấp nên chỉ còn lại một tỷ lệ nhỏ dinh dưỡng tích lũy vào củ
Độ dài ngày thích hợp nhất để tích lũy tinh bột về củ là 12 giờ/ngày
1.1.4.3 Yếu tố kinh tế, xã hội
*Vốn: Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng trong quá trình sản xuất, mọi quá trình sản xuất đều phải có vốn Vốn theo nghĩa rộng bao gồm tất cả tư liệu sản xuất, tri thức, sức khỏe, khả năng tổ chức quản lý…Trong sản xuất sắn vốn được xem là yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, nông cụ, đất đai…Vốn
Trang 16có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất Có vốn người sản xuất mới mở rộng được việc sản xuất của mình, đầu tư vào cho sản xuất mang lại kết quả cao Đối với sản xuất sắn vốn được đầu tư từ đầu vụ tới cuối vụ mới thu hồi Mặt khác vốn cho sản xuất chủ yếu là vốn tự có hoặc vốn vay với lãi suất cao vì vậy khó khăn cho các nông hộ trong việc đầu tư cho sản xuất
*Lao động: Cũng như việc sản xuất các cây trồng khác, sản xuất sắn mang tính thời vụ sâu sắc Vì vậy việc sử dụng lao động trong sản xuất sắn cũng mang tính thời
vụ, tùy từng thời điểm chúng ta cần bố trí lao động cho hợp lý, kịp thời Lao động là yếu tố có tác dụng trực tiếp đến hiệu quả của việc sản xuất sắn bởi vì trình độ và kinh nghiệm của lao động quyết định đến nhiều yếu tố như việc sử dụng giống, phân bón,
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật…
*Thị trường và giá cả tiêu thụ: Trong điều kiện hiện nay khi Việt Nam gia nhập
tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt điều này đòi hỏi phải có sự phát triển trong sản xuất thì mới có khả năng cạnh tranh Với việc sản xuất sắn, đòi hỏi cấp bách hiện nay là phải nâng cao chất lượng sản phẩm, như vậy thì mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Việc mở rộng thị trường tiêu thụ ra nhiều nước có vai trò hết sức quan trọng giúp người nông dân yên tâm đầu tư sản xuất, sản phẩm được tiêu thụ với giá cả hợp lý
Giá đầu ra sản phẩm ảnh hưởng đến quy mô và đầu ra sản xuất Giá đầu ra sản phẩm thường không ổn định gây tâm lý hoang mang cho người sản xuất Do thiếu thông tin thị trường, giá cả nên họ thường bị tư thương ép giá, giá cả biến động không ngừng Sản xuất sắn lại mang tính thời vụ do đó giá cả biến động theo thời vụ
*Điều kiện về chủ trương, chính sách của nhà nước: Từ những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ XX, Đảng và nhà nước ta đã tập trung chỉ đạo ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm hỗ trợ, giúp đỡ nông dân trong sản xuất, trồng trọt nói chung và canh tác nói riêng Chủ trương, chính sách của nhà nước có ảnh hưởng không nhỏ đến việc sản xuất của người dân Những chính sách này đã có những tác động tích cực, kịp thời đối với sản xuất sắn của các vùng có quy hoạch trên toàn quốc Các chính sách đất đai, chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp, chính sách đầu tư tín dụng…đã tạo điều kiện cho người dân mở rộng sản xuất nhằm mang lại hiệu quả cao
Trang 171.1.4 Hệ thống các chỉ tiêu ngiên cứu
a Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất
- Giá trị sản xuất (GO): toàn bộ giá trị tính bằng tiền của toàn bộ sản phẩm thu được trên một đơn vị diện tích canh tác trong một chu kỳ sản xuất Hay GO chính là giá trị sản xuất bình quân/ĐVDT canh tác
GO =
Trong đó :
Qi: khối lượng sản phẩm thứ i sản xuất ra tính trên một ĐVDT canh tác
Pi: đơn giá sản phẩm thứ i
- Giá trị gia tăng(VA): phản ánh giá trị tăng thêm sau khi lấy giá trị sản xuất trừ
đi chi phí vật chất và dịch vụ mua ngoài:
VA=GO-IC
- Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ mua ngoài được đầu tư trong quá trình sản xuất như giống, phân bón, thuốc BVTV:IC=
Cj là chi phí thứ j trong quá trình sản xuất
- Thu nhập hỗn hợp (MI): là phần thu nhập của người sản xuất bao gồm công lao động của hộ và lợi nhuận sau khi sản xuất trên một ĐVDT trong một vụ hay một năm
b Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất và hiệu quả đầu tư
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất:
•GO/IC: thể hiện cứ một đồng chi phí trung gian được đầu tư tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản xuất, hiệu suất càng lớn thì sản xuất càng có hiệu quả
•VA/IC: thể hiện cứ một đồng chi phí trung gian được đầu tư tạo ra bao nhiêu đồng giá trị gia tăng
•MI/IC: thể hiện cứ một đồng chi phí trung gian bỏ ra thì thu được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp
Trang 181.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1.Tình hình sản xuất sắn và sắn hàng hóa trên thế giới
Sắn là một loại cây lương thực được trồng nhiều ở các nước trên thế giới Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) đã xếp sắn là cây lương thực quan trọng ở các nước đang phát triển chỉ sau lúa gạo, ngô và lúa mì Tinh bột sắn là một thành phần quan trọng không thể thiếu trong chế độ ăn của con người trên khắp thế giới.Đồng thời, sắn cũng là cây thức ăn cho gia súc quan trọng tại nhiều nước trên thế giới, ngoài ra cũng
là cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị dùng để chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm
Qua bảng 1 dưới đây ta thấy diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới trong những năm gần đây có chiều hướng gia tăng Năm 2011, sản lượng sắn thế giới đạt 252,72 triệu tấn củ tươi cao hơn so với năm 2007 là 223,75 triệu tấn và năm
1995 là 161,79 triệu tấn Trong đó nước sản xuất sắn nhiều nhất là Nigeria (45,72 triệu tấn), kế đến là Thái Lan (22,58 triệu tấn) và thứ 3 là Indonesia (19,92 triệu tấn) Nước có năng suất sắn cao nhất là Ấn Độ (31,43 tấn/ha), tiếp đến là Thái Lan (21,09 tấn/ha), so với năng suất sắn bình quân của thế giới là 12,87 tấn/ha (FAO, 2008) Việt Nam đứng thứ mười về sản lượng sắn trên thế giới (9,38 triệu tấn)
Trang 19
Bảng 1: Diện tích và sản lượng sắn của thế giới giai đoạn 2005-2011
Năm Diện tích (triệu
ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (triệu tấn)
1.2.2 Tình hình sản xuất sắn và sắn hàng hóa ở Việt Nam
Ở Việt Nam cây sắn đã chuyển đổi vai trò từ cây lương thực thành cây công nghiệp và trong những năm gần đây sản lượng sắn đã tăng lên rất nhanh Tính đến
2012, Việt Nam có 550,6 ha trồng sắn, sản lượng đạt 9,7 triệu tấn Sắn được trồng ở hầu hết các tỉnh Diện tích trồng sắn nhiều nhất ở vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung Trồng sắn đạt năng suất cao là vùng Đông Nam Bộ (25,9 tấn/ha), trong khi năng suất bình quân của cả nước là 17,7 tấn/ha Năng suất trồng sắn ở Việt Nam được cải thiện đáng kể (năm 1961 khoảng hơn 7 tấn/ha, chỉ bằng phân nữa Thái Lan), theo FAO, năm 2009, năng suất sắn bình quân ở các nước dẫn đầu sản lượng trên thế giới là: Nigeria: 11,79 tấn/ha, Brazil: 13,84 tấn/ha, Thái Lan: 21,6 tấn/ha
Bảng 2: Diện tích và sản lượng sắn trong những năm gần đây
Năm
Diện tích(Ngàn/ha)
Năng suất(tấn/ha)
Sản lượng(triệu tấn/ha)
Trang 20(Nguồn: Niêm giám thống kê Việt Nam 2013)
Ở nước ta, 70% sản lượng sắn và tinh bột được xuất khẩu, 30% tiêu thụ trong nước Xuất khẩu sắn và sản phẩm từ sắn của Việt Nam đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Thái Lan và đã có mặt ở các quốc gia trong khu vực châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Myanmar, Nhật, Úc…, và các nước châu Âu như Nga, các nước EU
Trong 5 tháng đầu năm 2013 Việt Nam đã xuất khẩu gần 2 triệu tấn sắn và sản phẩm từ sắn với giá trị hơn 600 triệu USD, giảm khoảng 10% so với cùng kỳ năm 2012
So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu sắn lát và củ tươi sang Trung Quốc giảm mạnh (24,6%) nhưng xuất khẩu sang Hàn Quốc tăng gấp đôi; xuất khẩu tinh bột sắn giảm nhẹ
do thị trường Indonesia và Philippines giảm mạnh (giảm lần lượt 87,7% và 17,7% so với cùng kỳ năm trước) dù có tăng trưởng nhẹ ở thị trường Trung Quốc và Đài Loan
Bảng 3: Trong năm tháng năm 2013 so với cùng kì 2010-2013
Trang 21muốn sản xuất sắn của nước ta thành mặt hàng xuất khẩu thì nước ta cần có những biện pháp thích hợp với từng địa phương, phù hợp với từng vùng nhằm không ngừng nâng cao sản xuất và chất lượng sắn của nước ta trong thời gian tới.
1.2.3 Tình hình sản xuất sắn và sắn hàng hóa của tỉnh Quảng Trị.
Ở Quảng Trị có trên 9.770 ha sắn, tập trung nhiều nhất ở huyện Hướng Hóa với 4.222 ha, huyện Hải Lăng 1.302 ha, năng suất bình quân đạt 156,2 tạ/ha, sản lượng 152.606 tấn (Niên giám thông kê Quảng Trị 2013) Những năm trở lại đây, cây sắn trở thành cây trồng giúp người dân thoát nghèo, vươn lên làm giàu Hiện trong tỉnh có 3 nhà máy chế biến tinh bột sắn đang hoạt động ở huyện Cam Lộ Hướng Hóa và Hải Lăng đã góp phần giải quyết sản phẩm đầu ra cho bà con nông dân trên địa bàn Tỉnh Những giống sắn mới có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao, khả năng thích ứng rộng
và các biện pháp canh tác theo hướng bền vững thực sự đã mang lại năng suất và lợi nhuận cao cho nông dân trên diện rộng Cũng nhờ trồng sắn mà nhiều hộ nông dân, đồng bào dân tộc thoát nghèo, có cuộc sống đầy đủ, sung túc Đặc biệt ở vùng Lìa, huyện miền núi Hướng Hóa nhiều hộ đồng bào dân tộc Vân Kiều và Pa Cô đã thành lập
"Câu lạc bộ trồng sắn hơn 100 triệu đồng"
Bên cạnh những kết quả quan trọng đó sản xuất sắn ở Quảng Trị còn nhiều hạn chế: Sản xuất không theo quy hoạch, kỹ thuật canh tác còn nặng về quảng canh, năng suất thấp Ô nhiễm môi trường từ các cơ sở chế biến tinh bột sắn, sản phẩm chưa đa dạng, thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa thực sự ổn định…Cây sắn là một trong những cây cần nhiều dinh dưỡng để duy trì sự sinh trưởng phát triển song việc sử dụng phân bón cho cây sắn chưa được chú trọng, đặc biệt là ở vùng miền núi làm cho đất ngày càng bạc màu Các biện pháp chống xói mòn chưa được áp dụng rộng rãi làm cho đất nhanh suy kiệt Hiện tượng đốt nương làm rẫy ảnh hưởng đến diện tích đất được quy hoạch rừng Có thời điểm sắn thu hoạch quá nhiều nhà máy không tiêu thụ kịp làm cho lượng sắn nguyên liệu ứ đọng trong dân lớn, tư thương ép giá
Trang 22CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT SẮN
Ở HUYỆN CAM LỘ-TỈNH QUẢNG TRỊ
2.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA HUYỆN CAM LỘ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Cam Lộ là cửa ngõ phía Tây và phía Bắc của Thành phố Đông Hà, là huyện thuộc vùng trung du của tỉnh Quảng Trị, trung tâm huyện lỵ cách Thành phố Đông Hà 15 km về phía Tây
Cam Lộ có toạ độ địa lý từ 16040,44' đến 16053,32' vĩ độ Bắc và từ 106049,41' đến 107005,69' kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp huyện Gio Linh
- Phía Nam giáp huyện Triệu Phong và huyện Đakrông
- Phía Tây giáp huyện Đakrông
- Phía Đông giáp Thành phố Đông Hà và huyện Triệu Phong
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 34.447,39 ha chiếm 7,26% diện tích của tỉnh Dân số 45.153 người (tính đến tháng 12/2013) chiếm 7,46% dân số của tỉnh.Cam Lộ có vị trí địa lý thuận lợi cho lưu thông kinh tế, đời sống và phát triển thương mại dịch vụ Huyện có mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ tiện lợi và rất quan trọng Trên địa bàn huyện có các trục đường bộ quan trọng như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 9, đường Hồ Chí Minh và hệ thống giao thông tỉnh lộ, huyện lộ
đó là tiềm năng dồi dào tạo ra thế mạnh không những trong việc giao lưu phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của huyện mà còn là cầu nối cho sự phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội với các địa phương trong tỉnh và các tỉnh bạn
2.1.1.2 Địa hình - địa mạo
Địa hình huyện Cam Lộ chia cắt khá phức tạp, đồi núi trung du xen kẽ đồng bằng, nét đặc trưng của địa hình nghiêng từ Tây sang Đông và từ Bắc vào Nam Huyện
có 3 dạng địa hình đặc trưng: Vùng địa hình núi thấp chân dãy Trường sơn; vùng địa hình đồi thoải lượn sóng và vùng địa hình bằng thấp
Trang 23Ngoài ra, Cam Lộ nằm trong vùng có hiện tượng sụt lún (cát - xtơ) nên gặp khó khăn trong việc quy hoạch đầu tư xây dựng các công trình trên địa bàn.
2.1.1.3 Khí hậu
Khí hậu Cam Lộ nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Do đặc điểm địa lý, mùa mưa bị dịch chuyển sang hẳn mùa đông đối lập với tính chất chung của khí hậu gió mùa Mùa hè có gió Tây Nam khô nóng, mùa đông có gió Đông Bắc ẩm ướt Phần lớn lảnh thổ có mưa từ tháng 9 đến tháng 12 với lượng mưa chiếm 65% - 70% tổng lương mưa của năm
Cam Lộ là địa bàn khô hạn trong tỉnh, thời gian khô hạn trong năm thường kéo dài khoảng 6 tháng (từ tháng 2 đến tháng 8) Ngoài ra, gió Tây Nam khô nóng thổi nhiều và mạnh làm cho thời kỳ khô hạn tại đây càng thêm khắc nghiệt
Cam Lộ chịu ảnh hưởng của khô hạn nặng hơn so với một số địa bàn khác trong tỉnh Sự thất thường của khí hậu và thời tiết của Cam Lộ luôn ảnh hưởng tới phát triển kinh tế của Huyện
2.1.1.4 Thuỷ văn
* Nguồn nước
a- Sông suối: Trên địa bàn huyện có hệ thống sông Hiếu chảy qua là điều kiện
thuận lợi để khai thác nguồn nước ngọt và nguồn lợi thủy sản, hàng năm mang một lượng phù sa bồi đắp cho vùng đồng bằng của huyện và các xã hạ lưu thuộc Đông Hà, Triệu Phong, Gio Linh Ngoài ra còn có hồ là nguồn nước rất quan trọng để điều hòa khí hậu, tạo cảnh quan môi trường
Trang 24Bảng 4: Một số đặc điểm của sông, suối chính ở Cam Lộ
Số Tên sông
Diện tích lưu vực (km 2 )
Bình quân
1 Sông Hiếu 460 15-250 Đá granit,
(Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường huyện Cam Lộ)
b- Nguồn nước ao hồ: Nguồn nước chính lấy từ sông Hiếu, một số lớn được
ngăn lại tạo ra một số hồ như hồ Nghĩa Hy, Nam Hiếu, Tân Kim, Đá Lả, Trúc Kinh và
Hồ Đá Mài – Tân Kim Các hồ này diện tích lưu vực không lớn, thảm thực vật trong lưu vực khá thưa nên khả năng giữ nước chưa cao
Bảng 5: Các hồ chứa nước trên địa bàn huyện
ST
T Tên hồ chứa
DT lưu vực (km 2 )
Dung tích nước dâng bình thường (triệu m 3 )
Khả năng tưới (ha) Ghi chú
(Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường huyện Cam Lộ)
c- Nước ngầm: Chưa có điều tra chính thức, song qua khảo sát thăm dò sơ bộ,
Cam Lộ có nguồn nước ngầm tương đối dồi dào và chất lượng tốt, có thể đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt dân cư và bổ sung một phần cho sản xuất
Trang 252.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
Về khoáng sản: Khoáng sản đáng kể của huyện Cam Lộ là nguồn vật liệu xây dựng (đá vôi, cát sạn, đất làm gạch ngói)
Đá vôi vùng Tân Lâm, Cam Tuyền có trữ lớn, chất lượng đá khá tốt có thể sử dụng sản xuất ximăng mác cao và chế biến vật liệu xây dựng
Mỏ nước khoáng Tân Lâm có thể khai thác phục vụ cho nhu cầu địa phương.Ven sông Hiếu có cát, sạn, sỏi có trữ lượng đáng kể phục vụ cho xây dựng
Tài nguyên thực vật và động vật: Trên 60% diện tích đất huyện Cam Lộ được che phủ bởi thảm rừng nguyên sinh, rừng trồng với nhiều chủng loại thực vật phong phú
Về động vật hoang dã có một số loài chim thú như chồn, nhím, lợn rừng, hoẵng, gà lôi Đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá cần được quan tâm bảo vệ tạo môi trường sinh thái, phục vụ cho nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện
2.1.2 Điều kiện về kinh tế xã hội
Dân số và lao động chính là nguồn lực sản xuất của xã hội Đó vừa là mục tiêu vừa
là nền tảng của sự phát triển Ở nước ta 70% dân số sống ở nông thôn, lao động được coi
là yếu tố quan trọng trong nông nghiệp nông thôn cả nước, nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của vùng, chất lượng và số lượng lao động quyết định tới năng suất và sản lượng làm ra Do đó việc bố trí và sử dụng lao động hợp lý có ý nghĩa rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của vùng, là cơ sở để tăng thu nhập cho hộ
Trang 26Bảng 6 Tình hình dân số và lao động của huyện Cam Lộ
giai đoạn 2013– 2014
SL(Người)
Cơ cấu(%)
SL(Người)
( nguồn: niêm giám thống kê huyện Cam Lộ năm 2014)
Mặc dù đã có nhiều đổi mới trong chuyển đổi cơ cấu ngành nghề nhưng sản xuất nông nghiệp vấn đóng vai trò chủ yếu trong cơ cấu kinh tế toàn thị xã nói chung và lực lượng dân cư của các xã, phường nói riêng Nhìn chung dân số của thị xã khá dồi dào và
có khả năng đáp ứng nhu cầu về lao động cho nông nghiệp và các ngành nghề khác
Số liệu thống kê năm 2014 dân số toàn huyện là 45334 người, với mật độ dân số
la 75,98 người/km2, so với năm 2013 dân số tăng không nhiều Năm 2013 tổng số nhân khẩu là 44986, đến năm 2014 tổng số nhân khẩu là 45334, tăng 348 người tương ứng với 0,77% Dân số không có chênh lệch nhiều giữa nam và nữ nhưng có chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn
Cuối năm 2014 toàn huyện có 27873 người trong độ lao động chiếm 62,64% Hiện nay lao động trong nông nghiệp huyện không lớn lắm do huyện khuyến khích phát triển các nghành kinh doanh và dịch vụ cũng đã góp phần giải quyết việc làm cho lao động của thị xã
Trang 272.1.2.2 Tình hình sử dụng đất đai
Trong sản xuất nông nghiệp đất có vai trò hết sức quan trọng Nó là tư liệu sản xuất đặc biệt, chủ yếu và không thể thay thế được Sử dụng và khai thác đất hợp lý sẽ không ngừng cải tạo đất mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng đất Từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng
Bảng 7 Tình hình sử dụng đất đai của Huyện Cam Lộ giai đoạn 2013-2014
( Nguồn: niêm giám thống kê huyện Cam Lộ)
Qua bảng trên ta thấy: Tổng diện tích đất của vùng năm 2014 là 34447,39ha,trong đó đất nông nghiệp là 27929.09ha chiếm 81,07% tổng diện tích đất
tự nhiên.Qua đó ta thấy đất nông nghiệp chiếm một diện tích khá lớn trong tổng số diện tích
Đất phi nông nghiệp 4693,01ha chiếm 13,62% diện ích tự nhiên của huyện Trong đó chủ yếu là đất ở, đất chuyên dung, đất an ninh và đất để sản xuất phi nông nghiệp
Đất chưa sử dụng chiếm 1825,29ha chiếm 5,29% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Đây là con số khá lớn, nếu tận dụng và đưa số đất này vào sử dụng thì sẽ mang được nguồn thu lớn qua các năm
Trong các năm gần đây công tác quản lý và sử dụng đất đai đang đi dần vào nề nếp Đất đai ngày càng được sử dụng đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả cao.Tuy nhiên một thực tế hiện nay là địa bàn của huyện khá rộng thiếu cán bộ chuyên sâu Mặt khác đất
Trang 28đai là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, việc sử lý còn gặp nhiều khó khăn nên công tác quản
lí đất đai còn nhiều bất cập,chưa khai thác hết tiềm năng về số lượng, lẫn chất lượng của đất đai Vì vậy một số lĩnh vực trong cơ cấu sản xuất phải điều chỉnh cho phù hợp với tiềm năng đất đai sản có trên địa bàn
2.1.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng trang thiết bị
*Về đường bộ : Tổng chiều dài quốc lộ đi qua địa bàn huyện là 43 km Đặc biệt
tuyến quốc lộ đường tránh Nam đi qua địa bàn với chiều dài 9 km đã tạo ra một hướng mới trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện
* Về thủy lợi
Trong vùng có 43 công trình thủy lợi: bao gồm 17 hồ, đập, 25 trạm bơm thủy diện Trong năm 2014 trên địa bàn huyện đã thực hiện được: 35,5km bê tông kênh mương Nâng tổng số kênh mương đã được bê tông hóa trên địa bàn toàn thị xã 130km đạt tỷ lệ 90
* Về giáo dục và đào tạo: Với tinh thần “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và
đào tạo”, trong năm 2014 ngành giáo huyện Cam Lộ đã đạt được nhiều kết quả:
- Năm học 2013 - 2014 công tác huy động và duy trì số lượng cơ bản đảm bảo kế hoạch đề ra:
+ Ngành học mầm non huy động được 3.136 cháu, đạt 99,48% kế hoạch, trong đó: Duy trì 42 nhóm trẻ với 1.001 cháu, chiếm 22,09% so độ tuổi, tăng 4,52% so năm trước; Mẫu giáo có 134 lớp với 2.135 cháu, chiếm 77,11% so độ tuổi, tăng 4,32% so năm trước.+ Tiểu học: Huy động và duy trì được 365 lớp với 6.769 học sinh, đạt 98,85% so
kế hoạch, tỷ lệ học sinh bỏ học 0,04% (4 học sinh)
+ Trung học cơ sở: Huy động và duy trì được 257 lớp với 4.153 học sinh, đạt 97,18% so kế hoạch, tỷ lệ học sinh bỏ học 1,39% (116 học sinh)
Trang 29+ Trung học phổ thông: Huy động và duy trì được 3.539 học sinh, đạt 93,68% so
kế hoạch, tỷ lệ học sinh bỏ học 2,66% (124 học sinh)
+ Trung tâm giáo dục thường xuyên đã tổ chức được 2 lớp xoá mù chữ, 1 lớp bổ túc tiểu học, 1 lớp bổ túc THCS và 5 lớp bổ túc THPT với 185 học viên, đạt 102,2%
kế hoạch
- Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên được tăng cường cả số lượng và chất lượng, đến nay 100% giáo viên mầm non đạt chuẩn và trên chuẩn chiếm 60,11%; 100% giáo viên tiểu học đạt chuẩn và trên chuẩn chiếm 88%; 99,39% giáo viên THCS đạt chuẩn trong đó có 74,3% trên chuẩn; 99,13% giáo viên THPT đạt chuẩn
Trong năm đã tuyển dụng 287 giáo viên, nhân viên ngành học mầm non theo Nghị quyết số 12 của HĐND tỉnh
Chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn được nâng lên, học sinh khá giỏi ở bậc tiểu học tăng 0,15%, THCS tăng 1,2%, THPT tăng 2,11% so năm học trước, tỷ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm yếu THCS chỉ còn 0,02%, THPT còn 0,15% Chất lượng đào tạo mũi nhọn đạt được kết quả khá, học sinh tiểu học và THCS tham gia dự thi cấp tỉnh đạt 127 giải, tăng 22 giải so năm trước, trong đó có 12 giải nhất, 12 giải nhì, 41 giải ba và 62 giải khuyến khích
Mạng lưới trường lớp tiếp tục phát triển theo quy hoạch xã hội hóa giáo dục được quan tâm; đã huy động được nhiều nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị và phát triển theo hướng đồng bộ, chuẩn hoá
Trong năm 2014có thêm 5 trường đạt chuẩn quốc gia gồm 3 trường tiểu học, 2 trường THCS, nâng tổng số trường đạt chuẩn lên 26 trường chiếm 39,4% tổng số trường học trên địa bàn, đạt kế hoạch đề ra Tiếp tục duy trì đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS
* Về y tế và dân số - kế hoạch hóa gia đình: Trong năm đã tổ chức thực hiện tốt các
Chương trình y tế quốc gia và y tế cơ sở Huy động tốt mọi nguồn lực cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn, triển khai các đợt khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số Mạng lưới y tế thị xã được đầu tư khá đồng
bộ, trong năm 2014 đã xây dựng mới và đưa vào hoạt động 8 trạm y tế nâng tổng số trạm được tầng hoá đạt 100% Y tế tư nhân phát triển, hiện có 8 phòng khám tây y, 5 cơ sở hành
Trang 30nghề y học cổ truyền và 51 cơ sở kinh doanh dược phẩm, góp phần giảm tải cho y tế công Tổng số giường bệnh đạt bình quân 16 giường/vạn dân và 87,5% trạm y tế phường, xã có bác
sỹ Tăng cường công tác phòng chống dịch, tập trung vào các bệnh nguy hiểm như: sốt phát ban, sốt xuất huyết, tiêu chảy cấp, tay chân miệng, dịch cúm A (H5N1) Chú trọng phòng chống ngộ độc thực phẩm; thực hiện tốt việc kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em được quan tâm, hạn chế thấp nhất tai biến sản khoa, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 12,4% Duy trì và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ thường xuyên ở các tuyến kỹ thuật đảm bảo thuận tiện, an toàn, trong năm áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đạt 100,2%
kế hoạch cả năm, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên ước đạt 1,11% giảm 0,01% so năm 2011, tỷ
lệ sinh con thứ 3 trở lên chiếm 20,7%, tăng 0,7% so năm 2011 Đẩy mạnh Chiến dịch truyền thông dân số Triển khai xây dựng và mở rộng các mô hình hoạt động giúp can thiệp để nâng cao chất lượng dân số
2.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu.
2.1.3.1 Thuận lợi
Cam Lộ nằm ở vị trí tương đối thuận lợi,tài nguyên đất đai đa dạng phong phú,
có nhiều loại đất thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng Là huyện có diện tích đất tự nhiên khá lớn để phát triển nhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi cho ngành sản xuất hàng hóa và nhiều loại sản phẩm phong phú
Huyện có lực lượng lao động tương đối dồi dào,đặc điểm người dân cần cù, chăm chỉ sáng tạo,là điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế nói chung, đặc biệt là nghành nông nghiệp đòi hỏi một số lao động lớn và có kinh nghiệm sản xuất
Về cơ sơ hạ tầng, tuy cơ sơ hạ tầng của huyện chưa được tốt chưa đáp ứng hết các yêu cầu phát triển kinh tế.Tuy nhiên huyện có đường Hồ Chí Minh chạy qua,có đường xuyên Á cắt ngang,có hệ thống giao hông đường bộ đường thủy tương đối dày đặc và đồng bộ tạo điều kiện để phát triển nông-lâm –ngư-nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, lưu thông và trao đổi hàng hóa thúc đẩy tiến trình phát triển văn hóa,kinh tế giáo dục, con người
2.1.3.2 Khó khăn
Trang 31Địa hình phức tạp, nhiều khe suối quanh co Đây là nguyên nhân cơ bản làm cho nguồn nước tưới luôn thiếu về mùa khô và dể ngập úng, sạt lỡ sói mòn, rửa trôi đất vào mùa mưa.Hệ thống giao thông đường bộ nhiều nơi còn hạn hẹp,ảnh hưởng đến nhu cầu phục vụ đời sống của người dân.
Tài nguyên khoáng sản của huyện nghèo cả về chủng lọa và trữ lượng,nên khả năng khai thác công nghiệp nặng kém, nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu
Lực lượng lao động đông nhưng trình đọ kém,trình độ canh tác lạc hậu, chưa đưa được khoa học kỷ thuật vào sản xuất
Tình hình cơ bản của huyện có những thuận lợi khó khăn để phát triển kinh tế của huyện, xã Ban lãnh đạo huyện cần có những chính sách, những biện pháp hợp lý nhằm tận dụng, khai thác triệt để những tiềm năng sẵn có của huyện, hạn chế đến mức thấp nhất những khó khăn, thúc đẩy sự phát triển của huyện về mọi mặt
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT SẮN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAM LỘ
2.2.1 Tình hình sản xuất sắn chung ở trên địa bàn huyện Cam Lộ
Trước đây người dân trồng sắn để làm thực phẩm và chăn nuôi gia súc cùng với các cây trồng khác như ngô, khoai Do đó diện tích trồng sắn còn nhỏ lẻ, manh mún, năng suất thấp Hơn nữa do hạn chế về kinh nghiệm,kỷ thuật, vốn sản xuất và thị trường đầu ra nên người dân chưa chú trọng đến phát triển cây sắn, giá trị kinh tế của cây sắn mang lại so với các loại cây trồng khác còn thấp Hiện nay cùng với sự ra đời của nhà máy chês biến tinh bột sắn An Thái, nhà máy đã bao tiêu toàn bộ lượng sắn sản xuất ra của huyện Vì thế diện tích, năng suất và sản lượng sắn của huyện các năm gần đây tăng lên đáng kể, Nó thể hiện qua bảng dưới
Bảng 8: Diện tích,năng suất và sản lượng sắn cảu huyện Cam lộ trong 3 năm
Năm Diện tích(ngìn ha) Năng suất(tạ/ha) Sản lượng(tấn)
(Nguồn sở nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cam Lộ)
Nhìn vào bảng ta thấy diện tích sắn của năm 2012 và năm 2013 tương đương nhau.Năm 2012 diện tích trồng sắn của huyện là 998 nghìn ha đến năm 2013 đạt 938,9
ha cao hơn 0.9 ha Tuy diện tích năm 2013 lớn hơn nhưng năng suất và sản lượng sắn
Trang 32năm 2013 lại giảm so với năm 2012.Năm 2012 năng suất đạt 187,3 tạ/ha, năm 2013 năng suất đạt 184,9 tạ/ha giảm 3,6 tạ/ ha Năng suất giảm do năm 2013 thời tiết khí hậu không ổn định,mưa bão nhiều gây lũ lụt và ngập úng Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất sắn của người dân, tình trạng lũ lụ khiến sắn bị ngập úng gây thối sắn làm giảm năng suất.Do năng suất giảm do đó sản lượng sắn năm 2013 chỉ đạt
17362 tấn giảm 1337 tấn so với năm 2012
Năm 2014 diện tích trồng sắn đạt 1265 nghìn ha tăng lên 327 nghìn ha so với 2 năm trước Năng suất sắn đạt 225,3 tạ/ha tăng 3 tạ/ha so với năm 2012 và 40,4 tạ/ha so với năm 2013 Ta thấy năm 2014 diện ích và năng suất sắn đã tăng lên rõ rệt, lí do chủ yếu do năm 2014 thời tiết đẹp,ít mưa bão do đó năng suất sắn tăng lên rõ rệ Do diện tích và năng suất sắn tăng lên nên sản lượng sắn năm 2014 cũng tăng cao sao với 2 năm trước cụ thể là tăng 11202 tấn so với năm 2013 và 9865 tấn so với năm 2012
Bảng 9 :Diện tích trồng sắn ở các vùng trong huyện năm 2014
(Nguồn sở nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cam Lộ)
Vùng Cam Ngĩa, Cam chính, Cam Thành, Cam Tuyền là nhuững vùng có diện tích trồng sắn lớn vì đây là những vùng có điều kiện tự nhiên, đất đai phù hợp với loại cây trồng này,mặt khác những vùng này nằm gần với nhà máy sản xuất sắn An Thái
do đó được người dân đầu từ trồng sắn với diện tích lớn
Cam Hiếu, Cam Thủy,Cam An có diện tích trồng sắn ít do ở đây địa hình thấp, thường bị ngập úng vào mùa mưa lũ,đất đai khó thoát nước nên rất khó khăn trồng sản xuất sắn
Những năm gần huyện đã đầu tư hơn vào trang thiết bị,các loại giống mới cho năng suất cao hơn và cũng đã có nhiều chính sách giúp người dân vay vốn để trồng săn Do đó tình hình sản xuất sắn trên địa bàn ngay càng được mở rộng, và nó cũng đã
Trang 33góp một phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của huyện Giúp người dân có thêm việc làm và giúp nâng cao dời sống của người dân.
2.2.2 Tình hình sản xuất của hộ điều tra
Sản xuất sắn huyện Cam Lộ tập trung ở miền núi,đặc biệt là những vùng gần với nhà máy sản xuất tinh bột sắn An Thái Vì vậy tôi chọn 2 xã Một xã gần với nhà máy và một xã cách xa với nhà máy Tôi tiến hành điều tra ngẫu nhiên không trùng lặp tất cả là
100 hộ từ 2 xã trong đó xã Cam Tuyền 50 hộ và xã Cam Thanh 50 hộ
2.2.2.1 Nguồn lực sản xuất của các hộ điều tra
*Nhân khẩu và lao động:
Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng Lao động là yếu tố quan trọng quyết định đến kết quả sản xuất Đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam còn mang tính thủ công, các máy móc công nghệ ít được áp dụng mà nguyên nhân chủ yếu là người dân còn nghèo, hơn nữa người nông dân chủ yếu là lấy công làm lãi nên việc thuê máy móc cho sản xuất còn ít phổ biến Chính vì vậy lao động là một trong những đầu vào trong sản xuất nông nghiệp, nhất là sản xuất sắn
Bảng 10 Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra năm 2015 Chỉ tiêu ĐVT Tổng Cam Tuyền Cam Thanh
( Nguồn: Số liệu điều tra và tính toán)
Qua bảng số liệu ta thấy sự chênh lệch về nhân khẩu và lao động giữu hai phường
là không lớn Bình quân nhân khẩu của xã Cam Tuyền là 5,46 người/hộ, còn xã Cam Thanh là 5,9 người/hộ Bình quân nhân khẩu của hai xã khá cao, điều này vừa tạo điều kiện vừa gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp Nhân khẩu đông kéo theo nhiều vấn
đề về việc làm và thu nhập Những gia đình đông con thường có thu nhập thấp, ít có điều kiện đầu tư cho giáo dục vì vậy trình độ học vấn thường thấp Bên cạnh đó, nhân khẩu đông còn làm cho đất đai nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Tuy nhiên nhân khẩu đông đáp
Trang 34Ở hai xã phần lớn lao động hiện nay đang ở trong độ tuổi lao động Bình quân 2
xã có 5,68 nhân khẩu trong độ tuổi và 1,69 nhân khẩu ngoài độ tuổi
Hiện nay trên địa bàn huyện tỷ lệ lao động không có việc làm đang cao Để giải quyết việc làm cho người lao động cần phải có chính sách giải quyết việc làm, dịch chuyển lao động sang các nghành công nghiệp, thương mại, dịch vụ và có các chương trình đào tạo nghề cho lao động
*Đất đai
Đất đai là nguồn lực hết sức quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Quy mô ruộng đất quá lớn sẽ phân tán vốn đầu tư, nếu quy mô quá nhỏ sẽ lãng phí nguồn nhân lực và gây khó khăn trong việc áp dụng khoa học công nghệ Đánh giá về quy mô đất đai sẽ cho chúng ta biết về quy mô sản xuất và cơ cấu cây trồng của các nông hộ
Bảng 11 Tình hình sử dụng đất đai của các hộ điều tra năm 2015
+BQ đất canh tác cây khác/hộ Sào/hộ 9,48 8,1 10,86
(Nguồn: số liệu điều tra và tính toán năm 2015)
Qua bảng số liệu điều tra ta thấy: Tổng diện tích bình quân/hộ là 15,03 sào, trong
đó đất thổ cư bình quân/hộ là 1,4 sào chiếm 8,43% Diện tích bình quân hộ của xã Cam Tuyền là 31,16 sào lớn hơn nhiều so với diện tích bình quân/hộ xã Cam Thanh là 18,12 sào
Diện tích đất canh tác trong tổng diện tích đất bình quân của hộ chiếm tỷ lệ khác cao là 92,57% Trong đó diện tích canh tác của xã Cam Tuyền chiếm 90,53% trong tổng diện tích bình quân/hộ thấp hơn so với xã Cam Thanh là 89,,47% Điều này cho thấy tiềm năng đất ở địa phương còn khá lớn, thuận lợi cho phát triển vùng chuyên canh
Trang 35Trong tổng diện tích canh tác, diện tích sắn là 13,27 sào/hộ tương ứng với 32,7% còn lại là các loại cây trồng khác như lúa, sắn, đậu tương….Diện tích sắn bình quân/hộ của xã Cam Tuyền là 21,02 sào/hộ, trong khi đó tỷ lệ này ở xã Cam Thanh là 5,52 sào/hộ Xã Cam Tuyền có diện tích trồng sắn lớn hơn nhiều so với Cam Thanh lí do là
xã Cam Tuyền có nhà máy chế biến tinh bột sắn đặt ngay tại địa bàn của xã.Diện tích gieo trồng sắn chủ yếu là xen với lạc để tận dụng nguồn đất đai sẵn có của các hộ góp phần nâng cao thu nhập cho nông hộ
*Trang bị vật chất- kỹ thuật phục vụ sản xuất của các hộ điều tra
Ngoài đất đai và lao động, vốn và trang thiết bị vật chất kỹ thuật là những yếu tố cần và không thể thiếu trong sản xuất, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp Vốn và trang thiết bị vật chất kỹ thuật ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đầu tư trong quá trình sản xuất Vì vậy nó ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả sản xuất Hai yếu tố này phản ánh được năng lực cũng như phương thức sản xuất của từng hộ gia đình
Đối với nguồn vốn: Khác với các ngành sản xuất khác, trong sản xuất nông nghiệp, nguồn vốn đầu tư cho riêng mỗi hoạt động sản xuất rất khó xác định chính xác bởi vì có nhiều ngành sản xuất đan xen với nhau Một nguồn vốn nhất định được sử dụng cho nhiều hoạt động khác nhau Mặt khác trong sản xuất nông nghiệp, sản phẩm của hoạt động này là yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất khác Vì vậy chúng ta rất khó xác định nguồn vốn chỉ dùng riêng cho sản xuất sắn Chúng ta co thể tính được nguồn vốn sơ bộ thông qua chi phí trong sản xuất sắn
Đối với các hộ khá, họ có đủ khả năng để chủ động trong việc đầu tư các yếu tố đầu vào thì họ ít tốn chi phí hơn trong đầu tư mua sắm trang thiết bị kỹ thuật hơn và
họ thường đầu tư thâm canh để tăng năng suất cây trồng
Đối với các hộ nghèo, thiếu vốn trong sản xuất việc, đầu tư sẽ bị hạn chế Họ thường vay vốn của ngân hàng, bà con, bạn bè, hợp tác xã…để sản xuất Một dịch vụ cho vay vốn khá phổ biến hiện nay ở nông thôn đó là dịch vụ bán vật tư nợ cho các hộ nông dân của các HTX nông nghiệp Nhiều nông dân thiếu vốn để sản xuất nên thường mua nợ vật tư đề sản xuất và đến khi thu hoạch sẽ thanh toán nợ cho các HTX Hợp tác xã sẽ cung cấp vật tư nợ và thu tiền nợ khi các hộ thu hoạch xong và tính lãi suất theo tháng Tùy theo HTX mà lãi suất sẽ khác nhau Tuy nhiên nguồn vốn vật tư này là
Trang 36vốn chung cho tất cả các hoạt động sản xuất trong một nông hộ Vì thế, chúng ta không thể đưa vào nguồn vốn riêng cho hoạt động sản xuất sắn.
Đối với trang thiết bị kỹ thuật cũng vậy, trong nông hộ các trang thiết bị được dùng chung cho nhiều hoạt động sản xuất Nó tham gia vào rất nhiều chu kỳ sản xuất khác nhau và qua nhiều năm Tình hình sử dụng trang thiết bị vật chất kỹ thuật của các nông hộ điều tra được thể hiện qua bảng 11:
Bảng 12 Tình hình trang bị vật chất kỹ thuật của các hộ điều tra năm 2015
SL Giá trị
(1000đ) SL
Giá trị (1000đ) SL
Giá trị (1000đ)
(Nguồn: số liệu điều tra và tính toán năm 2015)
Qua bảng số liệu ta thấy: Tổng giá trị tư liệu sản xuất bình quân của một nông hộ điều tra là 3803,17 nghìn đồng, tư liệu sản xuất khá đơn giản Đặc biệt, trâu bò cày kéo vẫn được sử dụng trong nông nghiệp Điều này cho thấy, sản xuất nông nghiệp hiện nay trên địa bàn nghiên cứu vẫn còn tiến hành sản xuất theo phương thức truyền thống Bình quân một hộ có 0,17 trâu bò cày kéo, tỷ lệ tương đối thấp vì sản xuất nông nghiệp đã được cơ giới hóa Tỷ lệ trâu bò cày kéo ở xã Cam Tuyền là 0,2 con/hộ; xã Cam Thanh là 0,13 con/hộ Vì ở hai xã này đất đai tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất nên trâu bò ngày càng ít được sử dụng hơn.Cày bừa tay là công cụ đi kèm với trâu bò cày kéo, bình quân một hộ có 0,2 cái cày bừa tay, tỷ lệ này ở xã Cam Tuyền cao hơn so với xã Cam Thanh vì ở xã Cam Tuyền số lượng trâu bò cày kéo nhiều hơn
Máy cày, máy kéo là phương tiện cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp theo số liệu điều tra, bình quân mỗi hộ có 0,05 chiếc máy cày, ở xã Cam Tuyền có 0,03 chiếc/hộ, xã Cam Thanh có 0,07 chiếc/hộ Ứng dụng máy móc hiện đại sẽ giảm sức