1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tổng quan đa dạng sinh học tại việt nam

22 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 784,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa. Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu khác nhau giữa các miền. Trải dài từ 8030 tới 230 vĩ độ Bắc, với sự khác biệt về khí hậu và địa hình giữa các miền nên Việt Nam có sự đa dạng lớn về môi trường tự nhiên và sinh học. Hệ sinh thái từ rừng mưa thường xanh cận nhiệt đới ở phía Bắc tới rừng khộp nhiệt đới ở phía Nam, rừng ngập mặn và đất ngập nước ven biển đã tạo ra hệ động, thực vật phong phú và có giá trị. Đặc điểm đó là cơ sở rất thuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng về thành phần loài, phong phú về số lượng. Lĩnh vực sinh học hiện nay vẫn còn nhiều điều mới lạ và bí ẩn bởi những gì chúng ta biết mới chỉ là một phần rất nhỏ của thiên nhiên rộng lớn này. Không chỉ các

Trang 1

Tổng Quan Đa Dạng Sinh Học tại Việt Nam

Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu khác nhau giữa các miền Trải dài từ 8030 tới 230 vĩ độ Bắc, với sự khác biệt về khí hậu và địa hình giữa các miền nên Việt Nam có sự đa dạng lớn về môi trường tự nhiên và sinh học

Hệ sinh thái từ rừng mưa thường xanh cận nhiệt đới ở phía Bắc tới rừng khộp nhiệt đới ở phía Nam, rừng ngập mặn và đất ngập nước ven biển đã tạo ra hệ động, thực vật phong phú và có giá trị Đặc điểm đó là cơ sở rất thuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng về thành phần loài, phong phú về số lượng Lĩnh vực sinh học hiện nay vẫn còn nhiều điều mới lạ và bí ẩn bởi những gì chúng ta biết mới chỉ là một phần rất nhỏ của thiên nhiên rộng lớn này Không chỉ các nhà sinh học trong nước mà nhiều nhà sinh học nước ngoài đến Việt Nam để nghiên cứu về đa dạng sinh học (ĐDSH) bởi sự bùng nổ của công nghệ sinh học, vấn đề kiểm soát các thông tin di truyền và an toàn sinh học được đặt ra trên phạm vi quốc tế

Theo công ước về đa dạng sinh học được đưa ra vào năm 1992 tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về môi trường và sự phát triển, đa dạng sinh học (ĐDSH) được định nghĩa: "là toàn bộ sự phong phú của các cơ thể sống và các tổ hợp sinh thái

mà chúng là thành viên, bao gồm sự đa dạng bên trong giữa các loài vật và sự đa dạng của các hệ sinh thái" Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên Trong hệ sinh thái, số lượng các

Trang 2

giống, các loài nhiều tức là phong phú về nguồn gen thì tính đa dạng sinh học cao (theo luật Bảo vệ môi trường).

ĐDSH Việt Nam

Đa dạng nguồn gen

Đa dạng về loài

Đa dạng hệ sinh thái

ĐD loài trong HST trên cạn

Đa dạng loài đất ngập nước

Cây trồng Vật nuôi Đặc trưng ĐD loài HST rừng HST đất ngập nước HST biển

Đa dạng sinh học có một vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên trái đất, không có gì thay thế được nhưng trong thời kỳ phát triển hiện nay, khi xu hướng toàn cấu hoá, công nghiệp hoá đang trên đà phát triển Việt Nam cũng không nắm ngoài xu thế đó, là một nước đang phát triển, từng bước chuyển mình sang nền kinh tế công nghiệp lớn, kèm theo đó là đời sống dân cư ngày càng phát triển, đô thị hoá cao và điều này đe doạ đến mối trường Việt Nam nói chung và đa dạng sinh học nói riêng Nó làm cho nhiều loài đang bị suy giảm một cách nhanh chóng, thậm chí có một số loài đang ở ngưỡng cửa của sự diệt vong mà nguyên nhân chủ yếu là do môi trường sống bị phá huỷ, do săn bắt quá mức và do sự tấn công một

Trang 3

cách dữ dội của các loài nhập cư cũng như sự cạnh tranh của các kẻ thù khác Các chu trình hoá học và thuỷ văn tự nhiên đang bị phá vỡ do việc phá rừng và mỗi năm có hàng tỷ tấn đất mặt đã bị bào mòn và cuốn trôi theo các dòng nước xuống các ao hồ đại dương Loài người đang sử dụng một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá nhất mà không thể thay thế được trên thế giới, đó là sự đa dạng sinh học - cơ sở của sự sống còn, sự thịnh vượng và sự phát triển bền vững của chính họ Tất cả tài sản quý giá đó rất cần thiết để đáp ứng các nhu cầu hàng ngày của loài người hiện nay, trong tương lai, cũng như đã đáp ứng cho tổ tiên trước kia Thế nhưng loài người đã không biết giữ gìn nguồn tài nguyên quý giá đó mà lại đang khi thác quá mức, tiêu hao và phá huỷ nó với danh nghĩa là để phát triển

sự suy thoái đa dạng sinh học trên trái đất hàng ngày, hàng giờ âm thầm phá huỷ khả năng phát triển của loài người Việt nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới đang đứng trước những thử thách lớn về vấn đề suy giảm đa dạng sinh học

Để có cái nhìn và cách hiểu chính xác, bằng phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu qua sách, mạng và internet phân tích theo cấu trúc logic của các tài liệu thu thập được, Nghĩ ngược lại những quan điểm thông thường nhận dạng những vướng mắc trong hoạt động thực tế lắng nghe lời phàn nàn của những người không am hiểu những câu hỏi bất chợt xuất hiện không phụ thuộc lý do nào Từ đó rút ra những đánh giá về thực trạng cũng như sự hợp lý của đa dạng sinh học, chúng ta cần đi sau nghiên cứu kỹ hơn về vấn đề này Đây cũng chính là

Trang 4

lý do để em lựa chọn đề tài tìm hiểu là: "vấn đề suy giảm đa dạng sinh học" Mục đích là nghiên cứu Giá trị đa dạng sinh học ở Việt Nam, đánh giá thực trạng và tình hình nhắm nâng cao nhận thức của mọi người về đa dạng sinh học đối với cuộc sống của họ và tăng quyền chủ động của họ trong việc quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên mà cuộc sống của họ phụ thuộc vào đó

Trang 5

trúc di truyền của các cá thể trong quần thể hoặc gi a các quần thể, nh ng biến dịữ ữtrong các loài hoặc gi a các loài ữ

• Đa dạng di truyền là đa dạng ở cấp độ phân tử và đa dạng trao đổi chất, đem lại

nh ng khác nhau cốt lõi quyết định sự đa dạng của sự sống.ữ

Đa dạng hệ sinh thái

• Đa dạng hệ sinh thái là sự đa dạng về môi trờng sống của các sinh vật trong việc thích nghi với điều kiện tự nhiên của chúng

• Bảo vệ đa dạng hệ sinh thái là bảo vệ môi trờng sống của các loài, có vai trò rất lớntrong việc bảo vệ đa dạng sinh học

1.2 Phõn loại

1.2.1 Đa dạng nguồn gen:

Đa dạng về gien di truyền được thể hiện bởi sự đa dạng về gen trong mỗi loài Theo đỏnh giỏ của Jucovski (1970), Việt Nam là 1 trong 12 trung tõm nguồn gốc giống cõy trồng của thế giới Mức độ ĐDSH của hệ thực vật cõy trồng ở Việt Nam cao hơn nhiều so với dự đoỏn

Trang 6

Nguồn gen giống cây trồng ở Việt Nam, hiện nay đang sử dụng trong sản xuất nông nghiệp có 16 nhóm các loại cây trồng khác nhau như cây lượng thực chính, cây lương thực bổ sung, cây ăn quả, cây rau, cây gia vị, cây làm nước uống, cây lấy sợi, cây thức ăn gia súc, cây bóng mát, cây công nghiệp, cây lấy gỗ với tổng số trên 800 loài cây trồng với hàng nghìn giống khác nhau

Bảng: Số lượng các loài cây trồng phổ biến ở Việt Nam

Trang 7

• Các giống cây trồng bản địa: Nhóm giống cây trồng này hiện nay đang chiếm vị trí chủ đạo đối với nhiều loại cây trồng Trong số nhóm giống cây trồng này có những giống đã được nông dân sử dụng vì lưu truyền hàng nghìn năm nay.

• Các giống cây trồng mới: Là những giống cây có khả năng cho năng suất cao vì có một số đặc tính tốt khác như: phẩm chất nông sản tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh cao được các nhóm khoa học chọn lọc, lai tạo thành Những năm gần đây các giống cây trồng được các nhóm khoa học chọn lọc và lai tạo mới cũng như các loại giống cây trồng được nhập nội, trước khi đưa ra sản xuất rộng răi, được hội đồng khoa học Bộ NN & PTNT xem xét công nhận như lúa: 156 giống; ngô: 47 giống; đậu tương: 22 giống; cao su: 14 giống; cà phê: 14 giống

• Các giống cây trồng được ở các tỉnh biên giới trao đổi với nhau qua biên giới hoặc mua bán qua đường tiểu ngạch

Hiện nay, Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia đang bảo tồn 12.300 giống của 115 loài cây trồng Đây là tài sản quý của đất nước, phần lớn không còn trong sản xuất

và trong tự nhiên nữa Một bộ phận quan trọng của số giống này là nguồn gen bản địa với nhiều đặc tính quý hiếm duy nhất chỉ nước ta có

Nguồn gen giống vật nuôi ở Việt Nam,

Bảng: Các giống vật nuôi chủ yếu

Trang 8

Giống Tổng số Giống nội Giống nhập ngoại

Nguồn : Khoa học công nghệ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi

mới-Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2005.

Các loài cá nuôi có nguồn gốc từ nước ngoài được nhập và thuần dưỡng ở Việt Nam khoảng 50 loài Trong đó có 35 loài cá cảnh còn lại là các loài cá nuôi lấy thịt

1.2.2 Đa dạng về loài:

Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một khu vực nhất định tại một vùng nào đó

Số loài trên Trái Đất

Chưa được mô tả

Trang 9

Đã được mô tả

Tổng số ước tính = 10 triệu

Chưa được mô tả = 8.3 triệu

Đã được mô tả = 1.7 triệu

Trong những năm qua, cùng với những nổ lực về bảo tồn đa dạng sinh học, công tác điều tra nghiên cứu về đa dạng sinh học cũng được nhiều cơ quan Việt Nam cũng như các tổ chức quốc tế thực hiện Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thành phần loài động, thực vật, các hệ sinh thái đặc trưng Các kết quả nghiên cứu được tập hợp từ các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu cho thấy:

Bảng: Thành phần loài sinh vật đã biết được cho đến nay

TT Nhóm sinh vật Số loài đã xác định được

Trang 10

Nguồn: Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật,2005

Theo các tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 nước có mức độ ĐDSH cao tręn thế giới với dự tính có thể có tới 20.000-30.000 loài thực vật Việt Nam được xếp thứ 16 về mức độ ĐDSH (chiếm 6,5% số loài có trên thế giới)

• Đa dạng loài trong hệ sinh thái trên cạn:

Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, đă ghi nhận

có 15.986 loài thực vật ở Việt Nam Trong đó, có 4.528 loài thực vật bậc thấp và 11.458 loài thực vật bậc cao Trong số đó có 10 % số loài thực vật là đặc hữu Khu hệ động vật: cho đến nay đă thống kê được 307 loài giun tròn, 161 loài giun sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 145 loài ve giáp, 113 loài bọ nhảy,

Trang 11

7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310 loài và phân loài thú.

Hình: Đa dạng sinh học Trong hệ thống các khu bảo vệ vùng Đông Dương - Mã Lai của IUCN, Việt Nam được xem là nơi giàu về thành phần loài và có mức độ đặc hữu cao so với các nước trong vùng phụ Đông Dương Động vật giới Việt Nam có nhiều dạng đặc hữu: hơn 100 loài và phân loài chim, 78 loài và phân loài thú đặc hữu Riêng trong

số 25 loài thú linh trưởng đã được ghi nhận thẻ ở Việt Nam có tới 16 loài, trong đó

có 4 loài và phân loài đặc hữu của Việt Nam, 3 phân loài chỉ phân bố ở Việt Nam

và Lào, 2 phân loài chỉ có ở vùng rừng hai nước Việt Nam - Cămpuchia

• Đa dạng loài trong hệ sinh thái đất ngập nước nội địa

Trang 12

Các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam rất đa dạng về hệ thực vật cũng như hệ động vật, bao gồm các nhóm vi tảo, rong, các loŕi cây cỏ ngập nước và bán ngập nước, động vật không xương sống và cá

- Vi tảo: đă xác định được có 1.438 loŕi tảo thuộc 259 chi và 9 ngành;

- Cho đến nay đă thống kê và xác định được 794 loŕi động vật không xương sống Trong đó, đáng lưu ý là trong thành phần loài giáp xác nhỏ, có 54 loài và 8 giống lần đầu tiên được mô tả ở Việt Nam Riêng hai nhóm tôm, cua (giáp xác lớn)

có 59 loài thì có tới 7 giống và 33 loài (55,9% tổng số loài) lần đầu tiên được mô

tả Trong tổng số 147 loài trai ốc, có 43 loài (29,2% tổng số loài), 3 giống lần đầu tiên được mô tả, tất cả đều là những loài đặc hữu của Việt Nam hay vùng Đông Dương Điều đó cho thấy sự đa dạng và mức độ đặc hữu của khu hệ tôm, cua, trai,

ốc nước ngọt nội địa Việt Nam là rất lớn

- Theo các dẫn liệu thống kê, thành phần loài cá các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam bao gồm trên 700 loài và phân loài, thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ Riêng họ cá chép có 276 loài và phân loài thuộc 100 giống và 4 họ, 1 phân họ được coi là đặc hữu ở Việt Nam Phần lớn các loài đặc hữu đều có phân bố ở các thủy vực sông, suối, vůng núi

• Đa dạng loài trong các hệ sinh thái biển và ven bờ:

Đặc tính của khu hệ sinh vật biển Việt Nam thể hiện rõ ở đặc tính nhiệt đới, đặc tính hỗn hợp, đặc tính ít đặc hữu và đặc tính khác biệt bắc - nam Trong vùng biển

Trang 13

nước ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình và thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau, trong đó có hai vùng biển: Móng Cái - Đồ Sơn, Hải Vân - Vũng Tàu có mức độ đa dạng sinh học cao hơn các vùng còn lại Đặc biệt, tại vùng thềm lục địa có 9 vùng nước trồi

có năng suất sinh học rất cao, kèm theo là các bãi cá lớn Tổng số loài sinh vật biển đã biết ở Việt Nam có khoảng 11.000 loài, trong đó cá (khoảng 130 loài kinh tế) có 2.458 loài; rong biển có 653 loài; động vật phù du có 657 loài; thực vật phù

du có 537 loài; thực vật ngập mặn có 94 loài; tôm biển có 225 loài

Hình: Sinh vật biển

Trang 14

Các nghiên cứu về biến động nguồn lợi đă cho thấy danh sách khu hệ cá biển của Việt Nam đến tháng 1/2005 là 2.458 loài, tăng 420 loài so với danh sách được lập năm 1985 (có 2.038 loài) và đã phát hiện thêm 7 loài thú biển mới.

Một số loài sinh vật mới được phát hiện trong thời gian gần đây ở Việt Nam:

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, từ các kết quả điều tra cơ bản các vůng lãnh thổ khác nhau ở Việt Nam, một số loài mới được phát hiện và mô tả, trong đó nhiều chi, loài mới cho khoa học Một số các nhóm sinh vật trước đây chưa được nghiên cứu, nay đã có những dẫn liệu bước đầu

1.2.3 Đa dạng hệ sinh thái:

Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó Hệ sinh thái là hệ thống bao gồm sinh vật và môi trường tác động lẫn nhau mà ở đó thực hiện vòng tuần hoàn vật chất, năng lượng và trao đổi thông tin

Nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong tự nhiên của Việt Nam hiện nay tập trung ở 3 hệ sinh thái (HST) chính là: HST trên cạn (HST rừng), HST đất ngập nước và HST biển

Hệ sinh thái đất ngập nước:

Công ước Ramsar định nghĩa "Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời,

Trang 15

có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả những vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét khi triều thấp"

Đất ngập nước (ĐNN) Việt Nam rất đa dạng về loại hình và hệ sinh thái, thuộc

2 nhóm ĐNN: ĐNN nội địa, ĐNN ven biển Trong đó có một số kiểu có tính ĐDSH cao:

• Rừng ngập mặn ven biển: Rừng ngập mặn có các chức năng và giá trị như cung cấp các sản phẩm gỗ, củi, thủy sản và nhiều sản phẩm khác; là bãi đẻ, bãi ăn

và ương các loài cá, tôm, cua và các loài thủy sản có giá trị kinh tế khác; xâm chiếm và cố định các bãi bùn ngập triều mới bồi, bảo vệ bờ biển chống lại tác động của sóng biển và bão tố ven biển; là nơi cư trú cho rất nhiều loài động vật hoang dã bản địa và di cư (chim, thú, lưỡng cư, bò sát)

• Đầm lầy than bùn: đầm lầy than bùn là đặc trưng cho vùng Đông Nam Á U Minh thượng và U Minh hạ thuộc các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau là hai vùng đầm lầy than bùn tiêu biểu còn sót lại ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam

• Đầm phá: thường thấy ở vùng ven biển Trung bộ Việt Nam Do đặc tính pha trộn giữa khối nước ngọt và nước mặn nên khu hệ thủy sinh vật đầm phá rất phong phú bao gồm các loài nước ngọt, nước lợ và nước mặn Cấu trúc quần xã sinh vật đầm phá thay đổi theo můa rõ rệt

• Rạn san hô, cỏ biển: đây là các kiểu hệ sinh thái đặc trưng cho vùng biển ven bờ, đặc biệt rạn san hô đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới Quần xã rạn san hô

Trang 16

rất phong phú bao gồm các nhóm động vật đáy (thân mềm, giáp xác), cá rạn Thảm cỏ biển thường là nơi cư trú của nhiều loại rùa biển và đặc biệt loài thú biển Dugon.

• Vùng biển quanh các đảo ven bờ: ven bờ biển Việt Nam có hệ thống các đảo rất phong phú Vůng nước ven bờ của hầu hết các đảo lớn được đánh giá có mức

độ ĐDSH rất cao với các hệ sinh thái đặc thů như rạn san hô, cỏ biển

Việt Nam có 2 vùng ĐNN quan trọng là ĐNN vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng và ĐNN đồng bằng sông Cửu Long:

• ĐNN ở vůng cửa sông đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha Đây

là nơi tập trung các hệ sinh thái với thành phần các loài thực vật, động vật vùng rừng ngập mặn phong phú, đặc biệt là nơi cư trú của nhiều loài chim nước

• ĐNN đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nước 4.939.684 ha Đây là bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phía thượng nguồn sông

Mê Công Những khu rừng ngập nước và đồng bằng ngập lũ cũng là những vùng

có tiềm năng sản xuất cao Có 3 hệ sinh thái tự nhiên chính ở đồng bằng sông Cửu Long, đó lŕ hệ sinh thái ngập mặn ven biển; hệ sinh thái rừng tràm ở vùng ngập nước nội địa và hệ sinh thái cửa sông

Mỗi kiểu hệ sinh thái ĐNN đều có khu hệ sinh vật đặc trưng của měnh Tuy nhiên, đặc tính khu hệ sinh vật của các hệ sinh thái này còn phụ thuộc vào từng vùng cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên

Ngày đăng: 21/04/2016, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w