1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

11 395 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 25,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia” (Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2006) 4. Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông (2006): Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên. 2.1.2. Cơ sở triết học của quản lý môi trường Sự phát triển mạnh mẽ, liên tục của các cuộc cách mạng công nghiệp, cách mạng Khoa học và Công nghệ cùng với quá trình công nghiệp hóa trong thế kỷ vừa qua đã làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc bộ mặt của xã hội loài người và môi trường tự nhiên. Để có được các công cụ hiệu quả hơn trong quản lý môi trường, chúng ta phải có cái nhìn bao quát, sâu sắc và toàn diện mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên, hiểu biết được bản chất, diễn biến các mối quan hệ đó trong lịch sử. Ba nguyên lý cơ bản để xét mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên đó là (Đặng Thị Hồng Phương, 2011) 5.

Trang 1

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH

THÁI NGUYÊN

2.1 Cơ sở lý luận của công tác quản lý môi trường

2.1.1 Khái niệm quản lý môi trường

“Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia” (Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2006) [4]

Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông (2006): Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên

2.1.2 Cơ sở triết học của quản lý môi trường

Sự phát triển mạnh mẽ, liên tục của các cuộc cách mạng công nghiệp, cách mạng Khoa học và Công nghệ cùng với quá trình công nghiệp hóa trong thế kỷ vừa qua đã làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc bộ mặt của xã hội loài người và môi trường tự nhiên

Để có được các công cụ hiệu quả hơn trong quản lý môi trường, chúng ta phải có cái nhìn bao quát, sâu sắc và toàn diện mối quan hệ giữa con người, xã hội

và tự nhiên, hiểu biết được bản chất, diễn biến các mối quan hệ đó trong lịch sử

Ba nguyên lý cơ bản để xét mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên đó là (Đặng Thị Hồng Phương, 2011) [5]

Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn với tự nhiên, con người

và xã hội thành một hệ thống rộng lớn “Tự nhiên - Con người - Xã hội”, trong đó yếu tố con người giữ vai trò quan trọng

 Sự phụ thuộc của mối quan hệ con người và tự nhiên vào trình độ phát triển của xã hội Tự nhiên và xã hội đều có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp Con người xuất hiện trong giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên

Trang 2

Sự điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiên:

sự phát triển của xã hội loài người ngày nay đang hướng tới các mục tiêu cơ bản là phồn thịnh về kinh tế, bình đẳng và công bằng về hưởng thụ vật chất và môi trường trong sạch, duy trì và phát triển các di sản văn hóa của nhân loại Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành điều khiển có ý thức mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên

2.1.3 Cơ sở khoa học - kỹ thuật - công nghệ của quản lý môi trường

Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế,

kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia Các nguyên tắc quản lý môi trường, các công cụ thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử lý môi trường

bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hình thành và phát triển ngành khoa học môi trường

Nhờ sự tập trung quan tâm cao độ của các nhà khoa học thế giới, trong thời gian từ năm 1960 đến nay nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trường đã được tổng kết và biên soạn thành giáo trình, chuyên khảo Trong đó, có nhiều tài liệu cơ

sở, phương pháp luận nghiên cứu môi trường, các nguyên lý và quy luật môi trường

Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt động sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh, ngăn ngừa Các

kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều nước phát triển trên thế giới

Tóm lại, quản lý môi trường là cầu nối giữa khoa học môi trường với hệ thống tự nhiên – con người – xã hội đã được phát triển trên nền phát triển của các

bộ môn chuyên ngành (Đặng Thị Hồng Phương, 2011) [5]

2.1.4 Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường

Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường là các văn bản về luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực môi trường

Luật quốc tế môi trường là tổng thế các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn và loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi

Trang 3

trường ngoài phạm vi tàn phá quốc gia Các văn bản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỉ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu Mỹ và châu Phi Từ hội nghị quốc tế về “Môi trường và con người” tổ chức năm 1972 tại Thụy Điển và sau hội nghị thượng đỉnh Rio 92 có rất nhiều văn bản luật quốc tế được soạn thảo và ký kết Cho đến nay đã có hàng ngàn các văn bản luật quốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn bản đã được chính phủ Việt Nam tham gia ký kết

Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề cập trong nhiều bộ luật, gần đây Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản mới về lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Luật bảo vệ môi trường năm 2005

- Nghị định 80/2006/NĐ - CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật bảo vệ môi trường 2005

- Nghị định 29/2011/NĐ - CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ về việc quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường

- Nghị định 117/2009/NĐ - CP ngày 15/12/2011 của Chính phủ về việc xử lý

vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Quyết định số 328/2005/QĐ - TTg ngày 12/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2011

- QCVN 08:2008/BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ Tài nguyên Môi trường: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt

- QCVN 09:2008/BTNMT ngày 31/12/2008: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

về chất lượng nước ngầm

- QCVN 05:2009/BTNMT ngày 07/10/2009: Chất lượng không khí xung quanh

- QCVN 26:2010/BTNMT ngày 16/12/2010: Quy chuẩn tiếng ồn

Bộ luật hình sự, hàng loạt thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức năng về thực hiện luật môi trường đã được ban hành Một số tiêu chuẩn môi trường

Trang 4

chủ yếu được soạn thảo và thông qua Nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường được đề cập trong các văn bản khác như Luật khoáng sản, Luật dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Phát triển và bảo vệ rừng, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh về việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản, pháp luật bảo vệ các công trình giao thông

Các văn bản trên cùng với các văn bản về luật quốc tế được Nhà nước Việt Nam phê duyệt là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý Nhà nước về bảo

vệ môi trường

2.1.5 Cơ sở kinh tế của quản lý môi trường

Quản lý môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hóa theo giá trị Loại hàng hóa có chất lượng tốt, giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh Trong khi đó loại hàng hóa kém chất lượng và có giá thành đắt đỏ sẽ không có chỗ đứng Vì vậy chúng ta có thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi cho công tác bảo vệ môi trường (Đặng Thị Hồng Phương, 2011) [5]

Các công cụ kinh tế rất đa dạng gồm các loại thuế, phí và lệ phí, cota ô nhiễm, quy chế đóng góp có bồi hoàn, trợ cấp kinh tế, nhãn sinh thái, hệ thống và các tiêu chuẩn ISO Một số ví dụ về phân tích kinh tế trong quản lý tài nguyên và môi trường như lựa chọn sản lượng tối ưu cho một hoạt động sản xuất sinh ra ô nhiễm Q nào đó, hoặc xác định mức khai thác hợp lý tài nguyên tái tạo v.v…

2.2 Nội dung của công tác quản lý Nhà nước về môi trường

2.2.1 Nội dung của công tác quản lý Nhà nước về môi trường theo luật bảo vệ môi trường ban hành năm 1993

Nội dung quản lý Nhà nước về môi trường được quy định trong điều 37 Luật bảo

vệ môi trường năm 1993 (Quốc hội NCHXHCNVN, 1993) [7] Bao gồm

1- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường;

Trang 5

2- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường;

3- Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, công trình có liên quan đến bảo vệ môi trường;

4- Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường;

5- Thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ

sở sản xuất, kinh doanh;

6- Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường;

7- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường; giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường; xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường;

8- Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường; giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường;

9- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;

10- Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

2.2.2 Nội dung của công tác quản lý Nhà nước về môi trường theo luật bảo vệ môi trường ban hành năm 2005

Nội dung của công tác quản lý Nhà nước về môi trường theo luật bảo vệ môi trường ban hành năm 2005 (Quốc hội NCHXHCNVN, 2005) [6] Bao gồm 9 nội dung :

1 Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư,

hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường

2 Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường

3 Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải

Trang 6

4 Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái; chú trọng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư

5 Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sách nhà nước hằng năm

6 Uu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và

sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường cho phát triển

7 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng

và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường

8 Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường

9 Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng lực quốc gia về bảo vệ môi trường theo hướng chính quy, hiện đại

2.3 Khái quát về tình hình của công tác quản lý Nhà nước về môi trường trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Tình hình quản lý môi trường trên thế giới

Trong báo cáo tổng quan về môi trường toàn cầu năm 2000, chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNDP) cho biết bước sang thế kỷ XXI, khi thế giới đang giải quyết các vấn đề truyền thống về ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí, gia tăng chất thải, suy thoái rừng, tổn thất đa dạng sinh học, suy giảm tầng ozon, biến đổi khí hậu, thì các vấn đề mới vẫn tiếp tục nảy sinh, như tác động tiềm tàng của sự phát triển và sử dụng các sinh vật biến đổi gen, sự hạn chế về giải quyết hậu quả do tiếp xúc với hóa chất tổng hợp độc hại Báo cáo “Triển vọng môi trường toàn cầu 2000” của UNDP đã làm rõ tính bức xúc của nhiều thách thức môi trường và nhấn mạnh sự cần thiết phải ngăn chặn nguy cơ khủng hoảng môi trường Những vấn đề ưu tiên là: Sự biến đổi khí hậu, suy giảm chất và lượng tài nguyên nước, suy thoái đất, nạn phá rừng và sa mạc hóa Tiếp theo là các vấn đề xã hội: sự gia tăng dân số và biến đổi về giá trị xã hội Nhiều nhà khoa học nhấn mạnh

Trang 7

mối tương tác phức tạp của hệ thống khí quyển, sinh quyển, băng quyển và đại đương, sự dịch chuyển của các dòng hải lưu (UNDP, 2000) [2] Chính vì vậy, vấn

đề môi trường đang được thế giới quan tâm và các hoạt động về môi trường diễn ra đều nhằm mang lại cho chúng ta một môi trường tốt đẹp hơn

2.3.2 Công tác quản lý Nhà nước về môi trường ở Việt Nam

Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và có tính đa dạng cao Do hậu quả của chiến tranh để lại cộng với mặt trái của sự phát triển kinh tế đã có tác động tiêu cực đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm đa dạng sinh học mất cân bằng sinh thái, và gây ô nhiễm môi trường Song ngay từ đầu Đảng và Nhà nước ta đã nhận rõ được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, nên đã chú trọng nhiều đến công tác quản lý, đưa công tác bảo vệ môi trường vào cuộc sống, xây dựng hệ thống pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân, tăng cường đầu tư cho công tác quản lý bảo vệ môi trường

Với sự giúp đỡ của UNDP và UNEP vào tháng 12 năm 1991, Việt Nam đã đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển bền vững Hội nghị đã đưa ra bản thảo kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền 1991-2000 với mục tiêu chủ yếu là tạo ra bước phát triển tuần tự của khuôn khổ quốc gia về quy hoạch và quản lý môi trường, gồm các nội dung: tổ chức, xây dựng chính sách và pháp luật môi trường… Đặc biệt vào tháng 12 năm 1993, Luật bảo vệ môi trường đầu tiên ở nước ta đã ra đời gồm 7 chương với 55 điều khoản,

có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý và Bảo vệ môi trường giúp công tác này đạt những hiệu quả tích cực Song cùng với quá trình phát triển, Luật bảo vệ môi trường đã bộc lộ những điểm thiếu sót, bất cập chưa phù hợp với phát triển trong nước, khu vực và trên thế giới Để phù hợp với những điều kiện khách quan, nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ môi trường, ngày 29/11/2005 Luật bảo vệ môi trường được sửa đổi, bổ sung đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 Luật bao gồm 15 chương và 136 điều khoản Cùng với các hoạt động bảo vệ môi trường trong nước, Việt Nam còn tham gia các công ước quốc tế có liên quan đến môi trường

Công tác quản lý môi trường là một công việc không thể thiếu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với Việt Nam nói riêng và đối với tất cả các quốc gia khác nói chung Vì vậy tổ chức công tác quản lý môi trường là nhiệm vụ quan trọng nhất

Trang 8

của công tác bảo vệ môi trường Bao gồm các mảng công việc sau đây (Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2006) [5]

- Bộ phận nghiên cứu, đề xuất kế hoạch, chính sách, các quy định của luật pháp dùng trong công tác bảo vệ môi trường

- Bộ phận quan trắc, giám sát, đánh giá định kỳ chất lượng môi trường

Bộ TN&MT được thành lập ngày 05/8/2002 trên cơ sở hợp nhất các đơn vị: Tổng cục Địa chính, Tổng cục khí tượng thủy văn, cục Môi trường (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường), cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam và Viện Địa Chất và Khoáng sản (Bộ công nghiệp) và bộ phận quản lý tài nguyên nước thuộc Cục quản lý nước và công trình thủy lợi (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2002) [1] Dưới Bộ TN&MT có Cục bảo vệ môi trường và các vụ khác Hình 2.1 là sơ đồ tổ chức quản lý Nhà nước về môi trường của nước ta

63 – UBND Tỉnh

Bộ tài nguyên và Môi trường Các Bộ khác

Vụ môi trường

Các sở khác

Cục BV Môi trường

Các Sở

khác

Sở TNMT

Phòng môi

khác

Trang 9

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý Nhà nước về môi trường

Bộ TNMT được chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, MT, khí tượng thủy văn, đo đạc, bản đồ, biển và đảo trong phạm vi cả nước; quản lý Nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn trong nước trong các lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, MT, khí tượng thủy văn, đo đạc, bản đồ, biển và đảo theo các quy định của pháp luật

2.3.3 Công tác quản lý môi trường ở tỉnh Thái Nguyên

Theo Sở TN&MT tỉnh Thái Nguyên, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh

tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Trong những năm qua, song song với việc phát triển kinh tế - xã hội, Thái Nguyên đã chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường

Được sự giúp đỡ, hỗ trợ của Bộ, Ngành Trung ương và các tổ chức quốc tế,

từ năm 1998, tỉnh thiết lập hệ thống mạng lưới quan trắc môi trường đất, nước, không khí trong toàn tỉnh, các khu vực nhạy cảm về ô nhiễm môi trường, quan trắc chất lượng hồ Núi Cốc Các hoạt động quan trắc được thực hiện định kỳ đều đặn phục vụ cho việc theo dõi diễn biến chất lượng môi trường và báo cáo đánh giá hiện trạng môi trường hàng năm của tỉnh Đây là những tài liệu quan trọng giúp cho các cơ quan quản lý các cấp của tỉnh đưa ra những biện pháp phù hợp hơn, kịp thời về bảo vệ môi trường

Công tác lập và thẩm định, đánh giá tác động môi trường được coi trọng Trong hơn 10 năm qua, trên địa bàn tỉnh đã có trên 400 cơ sở sản xuất kinh doanh đang hoạt động và các dự án đầu tư mới được hướng dẫn lập, thẩm định và phê chuẩn báo cáo ĐTM, bản đăng kí đạt tiêu chuẩn môi trường

Công tác thanh kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý môi trường

Tỉnh cũng đã tranh thủ nhiều nguồn lực từ các tổ chức quốc tế như: Dự án trồng rừng (Viện trợ của tổ chức PAM), dự án cấp nước sạch nông thôn (Viện trợ

Trang 10

của tổ chức UNICEF); Dự án về áp dụng IPM trong sản xuất nông nghiệp (viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài); Dự án quản lý môi trường tổng hợp tỉnh Thái Nguyên và dự án nâng cao năng lực quan trắc môi trường và xử lý chất thải rắn thành phố Thái Nguyên (Viện trợ của chính phủ Vương quốc Đan Mạch);

Dự án thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên (viện trợ của chính phủ Pháp); Các chương trình hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường được triển khai

có hiệu quả góp phần giải quyết nhiều vấn đề bức xúc môi trường của tỉnh

2.3.4 Công tác quản lý môi trường ở thành phố Thái Nguyên

Theo Sở TN&MT tỉnh Thái Nguyên, ngay sau khi luật bảo vệ môi trường được ban hành ngày 17/12/1993, nhiều văn bản về hướng dẫn thi hành Luật ra đời tạo nên một khuôn khổ pháp lý chung cho mọi hoạt động bảo vệ môi trường

Để triển khai thực hiện, thành phố đã ban hành các quy định về bảo vệ môi trường: Quy định về thời gian thu gom rác, quản lý – quy hoạch – trật tự xây dựng, quản lý Nhà nước về rác thải, nước thải Quyết định số 808/QĐ – UB của UBND tỉnh Thái Nguyên ngày 15/08/2001 ban hành quy định về trật tự xây dựng, quản lý vỉa hè, quản lý vệ sinh rác thải, nước thải trên địa bàn thành phố Thái Nguyên Trong đó có nội dung mới và rất quan trọng là thực hiện xã hội hóa công tác vệ sinh, các phường tự thành lập đội vệ sinh môi trường với nguồn vốn hoạt động do dân tự đóng góp Qua kết quả hoạt động cho thấy đây là mô hình tốt cần nhân rộng 26/26 đơn vị phường xã thành lập đội vệ sinh Thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền nâng cao ý thức người dân, vừa nâng cao trình độ cho các cán bộ trực tiếp làm công tác môi trường Trước đây, diện tích quét thu gom rác thải là 220.000m2, số công nhân vệ sinh môi trường đô thị chỉ có 76 người Hiện nay thành phố tổ chức vệ sinh môi trường đô thị trên diện tích thu gom rác thải là trên 700.000m2/tháng với trên 200 công nhân, duy trì vệ sinh đường phố ban ngày là 25.628m Thành phố chỉ đạo phải thực hiện nghiêm túc quá trình thu gom, xử lý rác thải của Bệnh viện đa khoa Trung ương, bệnh viện A, bệnh viện C…đảm bảo môi trường vệ sinh và không ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng

Trang thiết bị phục vụ cho công tác vệ sinh môi trường được tỉnh, thành phố đầu tư mua sắm đầy đủ, đáp ứng được nhiệm vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt trong nhân dân

Ngày đăng: 21/04/2016, 09:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w