MỘT VÀI KINH NGHIỆMCUNG CẤP VỐN TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DTTS 56 TUỔII. PHẦN MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài:Việt Nam là một quốc gia gồm 54 dân tộc cùng chung sống. Mỗi dân tộc có một tiếng nói riêng. Tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp trong cộng đồng người Việt mà còn được dùng làm phương tiện giao tiếp giữa người Việt với người thuộc các dân tộc khác và cả giữa người các dân tộc khác với nhau. Từ sau năm 1945, tiếng Việt không chỉ là tiếng nói phổ thông của các dân tộc mà đã trở thành ngôn ngữ quốc gia chính thức và được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong giáo dục, tiếng Việt là công cụ dạy học ở tất cả các cấp học từ Giáo dục Mầm non đến đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ…ở tất cả các vùng miền và đối với tất cả các dân tộc.Một trong những thành tựu lớn lao nhất của Giáo dục Mầm non là làm cho trẻ sử dụng được một cách thành thạo tiếng Việt trong đời sống hằng ngày. Tiếng Việt là phương tiện quan trọng nhất để lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, để tiếp thu khoa học, để bồi dưỡng tâm hồn… Trẻ em “Tốt nghiệp” xong trường Mẫu giáo là đứng trước một nền văn hóa đồ sộ của dân tộc và nhân loại mà nó có nhiệm vụ phải lĩnh hội những kinh nghiệm của cha ông để lại đồng thời có sứ mạng xây dựng nền văn hóa đó trong tương lai. Cho nên việc phát triển tiếng Việt cho trẻ em lứa tuổi Mẫu giáo là một nhiệm vụ cực kì quan trọng, mà ở tuổi Mẫu giáo lớn nhiệm vụ đó phải được hoàn thành. Đặc biệt đối với trẻ là con em đồng bào dân tộc thiểu số thì nhiệm vụ này là hết sức cần thiết. Bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ của trẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận tiếng Việt, dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô. Chính vì vậy việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cần được quan tâm, nhằm hình thành và phát triển những kỹ năng cần thiết cho việc học tiếng Việt ở các bậc học cao hơn.Bản thân là một giáo viên, được phân công chủ nhiệm lớp Lá 3 buôn Ea Kruế đa phần học sinh là người đồng bào dân tộc, tôi thấy rằng kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Việt của trẻ còn rất hạn chế, trẻ thường phát âm không chuẩn và vốn từ, câu văn khi trẻ nói còn chưa đúng ngữ pháp… Tôi đã rất băn khoăn, luôn tìm tòi những biện pháp để phát triển vốn tiếng Việt cho trẻ, khuyến khích trẻ sử dụng tiếng Việt để học và giao tiếp với cô và bạn bè để giúp trẻ hoàn thiện tiếng Việt trước khi bước vào lớp Một. Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số”2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Đưa ra một số kinh nghiệm trong việc vận dụng phương pháp và các hình thức tổ chức cung cấp tiếng Việt cho trẻ độ tuổi mầm non tại trường Mầm non Hoa Sen nhằm tạo điều kiện giúp trẻ nghe và hiểu được lời hướng dẫn các hoạt động của giáo viên, thông qua việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Tổ chức các hoạt động trong lớp đạt kết quả như: trò chuyện với trẻ bằng tiếng Việt và thể hiện các hành động tương ứng với lời nói giúp trẻ dần thích ứng với ngôn ngữ thứ hai. Đưa ra một số kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ mầm non nói chung và trẻ dân tộc thiểu số ở trường Mầm non Hoa Sen nói riêng. Cần nắm được tâm lý và nguyện vọng của trẻ để từ đó xây dựng các phương pháp, hình thức, biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số ngay ở độ tuổi mầm non.3. Đối tượng nghiên cứuMột số kinh nghiệm cung cấp vốn từ tiếng Việt cho trẻ DTTS 56 tuổi 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứuNghiên cứu trong khuôn khổ: Một số kinh nghiệm cung cấp vốn từ tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 56 tuổi trường Mầm non Hoa Sen. Đối tượng khảo sát: Trẻ 56 tuổi Lớp Lá 3 – Buôn Ea Kruế trường Mầm non Hoa Sen.5. Phương pháp nghiên cứuSáng kiến này được thực hiện với những phương pháp sau: Phương pháp nghiên cứu lý luận Phương pháp quan sát Phương pháp phỏng vấn trò chuyện Phương pháp điều traII. PHẦN NỘI DUNG1. Cơ sở lý luận:Trong cuộc sống xã hội con người luôn luôn phải giao tiếp với nhau, có nhiều cách để giao tiếp song cách giao tiếp chủ yếu là sử dụng ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ con người có thể trò chuyện, trao đổi tin tức, bày tỏ tư tưởng tình cảm, học tập tri thức khoa học .... Đối với người Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ chính, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số việc giúp các cháu sử dụng thành thạo tiếng Việt là việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trước khi đến trường trẻ chỉ sống trong gia đình, ở các thôn bản nhỏ, trong môi trường tiếng mẹ đẻ do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu ngữ. Trẻ biết rất ít hoặc thậm chí không biết tiếng Việt. Trong khi đó tiếng Việt là ngôn ngữ được dùng chính thức trong trường học và các cơ sở giáo dục khác. Trên thực tế tiếng nói các dân tộc thiểu số, hầu như chưa có vai trò rõ rệt trong việc hỗ trợ tiếng Việt trong giáo dục vì vậy, cho đến nay việc dạy và học tiếng Việt ở các vùng dân tộc thiểu số chỉ đạt kết quả thấp. Đặc biệt ở lớp chúng tôi đa số các cháu là người dân tộc Êđê việc nghe và nói tiếng Việt rất kém, mặc dù cô giáo có kèm cặp nhiệt tình thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng mà chủ yếu là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi trẻ ra khỏi lớp học. Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không phải là một phương tiện sử dụng dễ dàng đối với học sinh dân tộc thiểu số. Ở trường, lớp học sinh chỉ dùng tiếng Việt nói với giáo viên khi cần thiết còn ngoài ra trẻ vẫn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, dẫn đến tình trạng cô và trò không hiểu nhau, chính vì vậy dẫn đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ không thể đạt được kết quả như mong muốn. Vì vậy việc cung cấp tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là hoạt động cần thiết nhằm giúp học sinh chưa biết hoặc biết ít tiếng Việt có thể học tập và sử dụng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức một cách đơn giản hơn.2. Thực trạngXuất phát từ thực tế, bản thân tôi nhận thấy đa số trẻ là con em đồng bào dân tộc thiểu số ít được tiếp xúc, giao tiếp với mọi người để trao dồi vốn tiếng Việt cho mình2.1. Thuận lợi và khó khăn+ Thuận lợi:Lớp luôn được sự quan tâm của Nhà trường, hội cha mẹ học sinh về tinh thần cũng như vật chấtLớp có 2 cô trẻ khỏe, năng động, đoàn kết, thống nhất, vươn lên, vất vả đến đâu cũng bám lớp, bám trường thực hiện nhiệm vụ của người giáo viên nhân dân, có trình độ chuyên môn vững vàng, yêu nghề mến trẻ.Tình hình an ninh chính trị tương đối ổn định.+ Khó khăn:Phần đông học sinh là con em đồng bào dân tộc Êđê nên việc giao tiếp, truyền thụ kiến thức giữa cô và trẻ bằng tiếng Việt còn nhiều khó khăn.Phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm và tạo điều kiện cho việc học tập của chính con em mình học tập.Trình độ dân trí thấp làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác xã hội hóa giáo dục và phối kết hợp trong quá trình chăm sóc giáo dục và rèn luyện cho trẻCơ sở vật chất còn thiếu, công trình vệ sinh chưa có, ít thiết bị đồ chơi ngoài trờiCác trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy và học vẫn còn thiếu2.2. Thành công và hạn chế+ Thành công:Giúp giáo viên nhận thức đúng đắn hoạt động dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số bậc học mầm non.Trẻ đến trường chuyên cần hơn và hứng thú hơn trong các hoạt động.100% trẻ dân tộc thiểu số đã nghe hiểu được từ về gọi tên đặc điểm của các đồ vật, con vật và sự hiện tượng gần gũi quen thuộc, biết sử dụng các từ và câu đơn giản trong sinh hoạt hàng ngày, biết thể hiện hành vi trong giao tiếp và mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô và bạn.Trẻ biết thêm được một ngôn ngữ mới sẽ giúp trẻ tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người xung quanh, từ đó trẻ tham gia vào các hoạt động một cách hứng thú. Tạo cơ hội mở rộng được tầm nhìn và kiến thức cho trẻ bước vào bậc học tiếp theo đạt kết quả tốt hơn.+ Hạn chế:Đa số giáo viên là người kinh nên việc tiếp xúc với trẻ người đồng bào còn hạn chế do chưa thành thạo tiếng Ê đê.Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số trước khi tới trường, lớp mầm non đều sống trong môi trường tiếng mẹ đẻ, vì vậy trẻ dân tộc thiểu số không có vốn tiếng Việt ban đầu để học tập ở trường phổ thông nếu như không được chuẩn bị tốt tiếng Việt.Một số phụ huynh chưa hợp tác chặt chẽ với nhà trường.2.3. Mặt mạnh mặt yếu+ Mặt mạnh:Hầu hết giáo viên nhận thức rõ về việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng, bởi vì ngôn ngữ có chức năng làm công cụ tư duy, công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm và là phương tiện giao tiếp của các thành viên trong xã hội.Giáo viên đã tạo cho trẻ môi trường làm quen với tiếng Việt một cách nhẹ nhàng mà chất lượng.Trẻ đi học thường xuyên có điều kiện giáo dục trẻ mọi lúc mọi nơi và tích hợp vào các môn học khác+ Mặt yếu:Một số giáo viên lớn tuổi tiếp cận và đổi mới phương pháp, chương trình dạy cho trẻ làm quen tiếng Việt còn hạn chế, chưa sáng tạo trong việc thực hiện chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ Mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số, trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình giáo dục Mầm non, tiếp nhận công nghệ thông tin còn chậm.Phần lớn phụ huynh còn quá bận rộn với công việc nên ít quan tâm đến việc chăm sóc và giáo dục trẻ. Nhận thức của một số phụ huynh về vấn đề giáo dục trẻ còn thấp.Tiếng dân tộc của giáo viên dân tộc Kinh còn hạn chế.Giáo viên dân tộc thiểu số ít sử dụng tiếng Việt do có thói quen nói tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp với trẻ2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Trang 1ĐỀ TÀI :
MỘT VÀI KINH NGHIỆM CUNG CẤP VỐN TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DTTS 5-6 TUỔI
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Việt Nam là một quốc gia gồm 54 dân tộc cùng chung sống Mỗi dân tộc
có một tiếng nói riêng Tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp trong cộng đồng người Việt mà còn được dùng làm phương tiện giao tiếp giữa người Việt với người thuộc các dân tộc khác và cả giữa người các dân tộc khác với nhau
Từ sau năm 1945, tiếng Việt không chỉ là tiếng nói phổ thông của các dân tộc
mà đã trở thành ngôn ngữ quốc gia chính thức và được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong giáo dục, tiếng Việt là công cụ dạy học ở tất cả các cấp học từ Giáo dục Mầm non đến đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ…ở tất cả các vùng miền và đối với tất cả các dân tộc
Một trong những thành tựu lớn lao nhất của Giáo dục Mầm non là làm cho trẻ sử dụng được một cách thành thạo tiếng Việt trong đời sống hằng ngày Tiếng Việt là phương tiện quan trọng nhất để lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, để tiếp thu khoa học, để bồi dưỡng tâm hồn… Trẻ em “Tốt nghiệp” xong trường Mẫu giáo là đứng trước một nền văn hóa đồ sộ của dân tộc và nhân loại mà nó có nhiệm vụ phải lĩnh hội những kinh nghiệm của cha ông để lại đồng thời có sứ mạng xây dựng nền văn hóa đó trong tương lai Cho nên việc phát triển tiếng Việt cho trẻ em lứa tuổi Mẫu giáo là một nhiệm vụ cực kì quan trọng, mà ở tuổi Mẫu giáo lớn nhiệm vụ
đó phải được hoàn thành Đặc biệt đối với trẻ là con em đồng bào dân tộc thiểu
số thì nhiệm vụ này là hết sức cần thiết Bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ của trẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận tiếng Việt, dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô Chính vì vậy việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cần được quan tâm, nhằm hình thành và phát triển những kỹ năng cần thiết cho việc học tiếng Việt ở các bậc học cao hơn
Bản thân là một giáo viên, được phân công chủ nhiệm lớp Lá 3 - buôn Ea Kruế đa phần học sinh là người đồng bào dân tộc, tôi thấy rằng kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Việt của trẻ còn rất hạn chế, trẻ thường phát âm không chuẩn và vốn từ, câu văn khi trẻ nói còn chưa đúng ngữ pháp… Tôi đã rất băn khoăn, luôn tìm tòi những biện pháp để phát triển vốn tiếng Việt cho trẻ, khuyến khích trẻ sử dụng tiếng Việt để học và giao tiếp với cô và bạn bè để giúp trẻ hoàn thiện
tiếng Việt trước khi bước vào lớp Một Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Một vài kinh nghiệm cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số”
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
- Đưa ra một số kinh nghiệm trong việc vận dụng phương pháp và các hình thức tổ chức cung cấp tiếng Việt cho trẻ độ tuổi mầm non tại trường Mầm
Trang 2non Hoa Sen nhằm tạo điều kiện giúp trẻ nghe và hiểu được lời hướng dẫn các hoạt động của giáo viên, thông qua việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số
- Tổ chức các hoạt động trong lớp đạt kết quả như: trò chuyện với trẻ bằng tiếng Việt và thể hiện các hành động tương ứng với lời nói giúp trẻ dần thích ứng với ngôn ngữ thứ hai
- Đưa ra một số kinh nghiệm cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ mầm non nói chung và trẻ dân tộc thiểu số ở trường Mầm non Hoa Sen nói riêng
- Cần nắm được tâm lý và nguyện vọng của trẻ để từ đó xây dựng các phương pháp, hình thức, biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu
số ngay ở độ tuổi mầm non
3 Đối tượng nghiên cứu
Một số kinh nghiệm cung cấp vốn từ tiếng Việt cho trẻ DTTS 5-6 tuổi
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trong khuôn khổ: Một số kinh nghiệm cung cấp vốn từ tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 5-6 tuổi trường Mầm non Hoa Sen
Đối tượng khảo sát: Trẻ 5-6 tuổi Lớp Lá 3 – Buôn Ea Kruế trường Mầm non Hoa Sen
5 Phương pháp nghiên cứu
Sáng kiến này được thực hiện với những phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn trò chuyện
- Phương pháp điều tra
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận:
Trong cuộc sống xã hội con người luôn luôn phải giao tiếp với nhau, có nhiều cách để giao tiếp song cách giao tiếp chủ yếu là sử dụng ngôn ngữ Nhờ ngôn ngữ con người có thể trò chuyện, trao đổi tin tức, bày tỏ tư tưởng tình cảm, học tập tri thức khoa học Đối với người Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ chính, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số việc giúp các cháu sử dụng thành thạo tiếng Việt là việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên Tuy nhiên trong thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trước khi đến trường trẻ chỉ sống trong gia đình, ở các thôn bản nhỏ, trong môi trường tiếng
mẹ đẻ do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu ngữ Trẻ biết rất ít hoặc thậm chí không biết tiếng Việt Trong khi đó tiếng Việt là ngôn ngữ được dùng chính thức trong trường học và các cơ sở giáo dục khác Trên thực tế tiếng nói các dân tộc thiểu số, hầu như chưa có vai trò rõ rệt trong việc hỗ trợ tiếng Việt
Trang 3trong giáo dục vì vậy, cho đến nay việc dạy và học tiếng Việt ở các vùng dân tộc thiểu số chỉ đạt kết quả thấp Đặc biệt ở lớp chúng tôi đa số các cháu là người dân tộc Êđê việc nghe và nói tiếng Việt rất kém, mặc dù cô giáo có kèm cặp nhiệt tình thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng mà chủ yếu là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi trẻ ra khỏi lớp học Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không phải là một phương tiện sử dụng dễ dàng đối với học sinh dân tộc thiểu số Ở trường, lớp học sinh chỉ dùng tiếng Việt nói với giáo viên khi cần thiết còn ngoài ra trẻ vẫn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, dẫn đến tình trạng cô và trò không hiểu nhau, chính vì vậy dẫn đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ không thể đạt được kết quả như mong muốn Vì vậy việc cung cấp tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là hoạt động cần thiết nhằm giúp học sinh chưa biết hoặc biết ít tiếng Việt có thể học tập và sử dụng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức một cách đơn giản hơn
2 Thực trạng
Xuất phát từ thực tế, bản thân tôi nhận thấy đa số trẻ là con em đồng bào dân tộc thiểu số ít được tiếp xúc, giao tiếp với mọi người để trao dồi vốn tiếng Việt cho mình
2.1 Thuận lợi và khó khăn
+ Thuận lợi:
Lớp luôn được sự quan tâm của Nhà trường, hội cha mẹ học sinh về tinh thần cũng như vật chất
Lớp có 2 cô trẻ khỏe, năng động, đoàn kết, thống nhất, vươn lên, vất vả đến đâu cũng bám lớp, bám trường thực hiện nhiệm vụ của người giáo viên nhân dân, có trình độ chuyên môn vững vàng, yêu nghề mến trẻ
Tình hình an ninh chính trị tương đối ổn định
+ Khó khăn:
Phần đông học sinh là con em đồng bào dân tộc Êđê nên việc giao tiếp, truyền thụ kiến thức giữa cô và trẻ bằng tiếng Việt còn nhiều khó khăn
Phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm và tạo điều kiện cho việc học tập của chính con em mình học tập
Trình độ dân trí thấp làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác xã hội hóa giáo dục và phối kết hợp trong quá trình chăm sóc giáo dục và rèn luyện cho trẻ
Cơ sở vật chất còn thiếu, công trình vệ sinh chưa có, ít thiết bị đồ chơi ngoài trời
Các trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy và học vẫn còn thiếu
2.2 Thành công và hạn chế
+ Thành công:
Giúp giáo viên nhận thức đúng đắn hoạt động dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số bậc học mầm non
Trang 4Trẻ đến trường chuyên cần hơn và hứng thú hơn trong các hoạt động 100% trẻ dân tộc thiểu số đã nghe hiểu được từ về gọi tên đặc điểm của các đồ vật, con vật và sự hiện tượng gần gũi quen thuộc, biết sử dụng các từ và câu đơn giản trong sinh hoạt hàng ngày, biết thể hiện hành vi trong giao tiếp và mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô và bạn
Trẻ biết thêm được một ngôn ngữ mới sẽ giúp trẻ tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người xung quanh, từ đó trẻ tham gia vào các hoạt động một cách hứng thú Tạo cơ hội mở rộng được tầm nhìn và kiến thức cho trẻ bước vào bậc học tiếp theo đạt kết quả tốt hơn
+ Hạn chế:
Đa số giáo viên là người kinh nên việc tiếp xúc với trẻ người đồng bào còn hạn chế do chưa thành thạo tiếng Ê đê
Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số trước khi tới trường, lớp mầm non đều sống trong môi trường tiếng mẹ đẻ, vì vậy trẻ dân tộc thiểu số không có vốn tiếng Việt ban đầu để học tập ở trường phổ thông nếu như không được chuẩn bị tốt tiếng Việt
Một số phụ huynh chưa hợp tác chặt chẽ với nhà trường
2.3 Mặt mạnh - mặt yếu
+ Mặt mạnh:
Hầu hết giáo viên nhận thức rõ về việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng, bởi vì ngôn ngữ có chức năng làm công
cụ tư duy, công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm và là phương tiện giao tiếp của các thành viên trong xã hội
Giáo viên đã tạo cho trẻ môi trường làm quen với tiếng Việt một cách nhẹ nhàng mà chất lượng
Trẻ đi học thường xuyên có điều kiện giáo dục trẻ mọi lúc mọi nơi và tích hợp vào các môn học khác
+ Mặt yếu:
Một số giáo viên lớn tuổi tiếp cận và đổi mới phương pháp, chương trình dạy cho trẻ làm quen tiếng Việt còn hạn chế, chưa sáng tạo trong việc thực hiện chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ Mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số, trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình giáo dục Mầm non, tiếp nhận công nghệ thông tin còn chậm
Phần lớn phụ huynh còn quá bận rộn với công việc nên ít quan tâm đến việc chăm sóc và giáo dục trẻ Nhận thức của một số phụ huynh về vấn đề giáo dục trẻ còn thấp
Tiếng dân tộc của giáo viên dân tộc Kinh còn hạn chế
Giáo viên dân tộc thiểu số ít sử dụng tiếng Việt do có thói quen nói tiếng
mẹ đẻ trong giao tiếp với trẻ
Trang 52.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Hầu hết trẻ là con em đồng bào dân tộc thiểu số, phụ huynh chưa hiểu hết tầm quan trọng của việc đưa con em đến trường, trẻ thường phải tự đến lớp 1 mình, không có sự đưa đón của bố mẹ, dẫn đến việc lớp không đảm bảo sĩ số, giáo viên không có cơ hội gặp gỡ các phụ huynh để trao đổi tình hình của các cháu ở lớp cũng như ở nhà
Các cháu 100% là người đồng bào dân tộc thiểu số, các cháu giao tiếp với nhau chủ yếu bằng tiếng mẹ đẻ, các cháu ít có cơ hội giao tiếp tiếng việt vì ở Thôn buôn các cháu ít có người kinh sinh sống… chính vì vậy mà việc các cháu tiếp thu tiếng việt còn gặp rất nhiều hạn chế
Cảnh quan nhà trường còn hạn hẹp, chưa được thoáng mát, ít cây xanh, gây trở ngại khi cho trẻ hoạt động tích hợp vào các môn khác
Điều kiện sử dụng, cập nhật công nghệ thông tin của giáo viên còn hạn chế, nên sự cuốn hút sáng tạo của trẻ khi hoạt động còn hạn chế
2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Với thực trạng địa bàn còn nhiều khó khăn và bất cập, trẻ đến trường không biết nói tiếng phổ thông, e ngại, nhút nhát, sợ hãi trong giao tiếp với bạn
bè cùng trang lứa Nhân dân trên địa bàn còn nghèo nàn, lạc hậu, trình độ dân trí thấp, đa số họ chưa quan tâm đến việc học tập của con em
3 Giải pháp, biện pháp
3.1 Mục tiêu của giải pháp và biện pháp
Trước tình hình thực tế ở lớp tôi, tôi nghĩ việc cung cấp cho trẻ dân tộc thiểu số vốn tiếng Việt là một việc hết sức quan trọng cần thiết và cấp bách Khi mới nghĩ đến điều này thì tưởng chừng như đơn giản nhưng trên thực tế lại không đơn giản tí nào, tôi đã tự hỏi phải làm thế nào để cho trẻ tiếp thu tiếng việt một cách hiệu quả và với 1 số kinh nghiệm nhỏ tôi đã mạnh dạn áp dụng cho trẻ ở lớp tôi với muc đích giúp cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số
3.2.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Để góp phần đưa các biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ mầm non Tôi đã tuyên truyền phụ huynh tích cực hợp tác với nhà trường, cùng thống nhất dạy tiếng Việt cho trẻ mọi lúc mọi nơi Đặc biệt khi trẻ ở nhà các thành viên trong gia đình cần dùng tiếng Việt giao lưu với trẻ thường xuyên Mỗi giáo viên cần phải có trách nhiệm gần gũi trò chuyện với trẻ kết hợp với cử chỉ, hành động để trẻ dần được làm quen với tiếng Việt một cách tự nhiên không gò bó Ví dụ: Thông qua biện pháp trực quan hành động giúp cho người học tiếp thu có hiệu quả và học ngôn ngữ mới một cách tự nhiên hứng thú Mục đích của phương pháp này nhằm giúp cho người học đạt được các mục đích như: Hiểu và sử dụng ngôn ngữ mới trong giao tiếp, hình thành và rèn luyện kỹ năng nghe, nói một ngôn ngữ mới Không cho trẻ nói khi chưa thực hiện thành thạo được các hành động, để có thể tập trung lắng nghe chuẩn xác Khi đã nghe rõ, hiểu, thuộc và tự
Trang 6tin làm đúng, trẻ sẽ tự muốn nói và có thể tự thực hành với bạn của mình, giáo viên cần cho trẻ đều được thực hành ở mỗi lần học Chỉ sử dụng ngôn ngữ đơn giản, ngắn gon, không dẫn dắt, giảng giải nhiều vì trẻ chưa hiểu tiếng Việt
Khi dạy trẻ, giáo viên cần xác định trước những loại từ, câu nào sẽ sử dụng khi hướng dẫn trẻ Nên sử dụng các điệu bộ cử chỉ để ra hiệu cho trẻ hiểu ý
đồ của mình, thay cho việc nói nhiều của người dạy Lúc đầu dạy từ 1-2 từ dễ hiểu kết hợp với hành động như: Đứng lên, ngồi xuống đến ngày hôm sau cô giáo cần cho trẻ ôn lại những gì được học ngày hôm trước, để khắc sâu sự ghi nhớ bằng hình thức chơi mà không cần phải giữ nguyên thứ tự từ các bước ngày hôm trước dạy nữa ví dụ: Đứng lên - ngồi xuống, ngồi xuống - đứng lên, rửa tay
- rửa chân… Dạy tiếng Việt với biện pháp trực quan hành động với đồ vật, biện pháp này dạy trẻ các từ mới như: Cái bàn, cái ghế, quyển vở…
Ngoài ra còn sử dụng các biện pháp dạy trẻ học tiếng Việt qua kể chuyện, đóng vai, đối với mỗi câu chuyện, làm các đồ chơi minh hoạ, đơn giản tượng trương cho các nhân vật chính, sử dụng các nhân vật có sẵn để làm đồ dùng minh hoạ Hoặc trẻ học tiếng Việt thông qua việc dạy trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái tiếng Việt
Biện pháp 1 Tuyên truyền huy động trẻ đi học chuyên cần, cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ mọi lúc mọi nơi
* Tuyên truyền huy động trẻ đi học chuyên cần
- Tuyên truyền với các bậc phụ huynh về tầm quan trọng của tiếng Việt đối với trẻ và nhờ họ khuyến khích con cháu mình giao tiếp bằng tiếng phổ thông…
- Khi đến lớp tôi luôn tạo sự gần gũi với trẻ, tìm hiểu về hoàn cảnh gia
đình của từng trẻ, thường xuyên gặp gỡ nói chuyện và trao đổi với phụ huynh của trẻ, cho họ biết việc đưa con mình đến lớp mẫu giáo là một vấn đề quan trọng, nó giúp ích cho trẻ rất nhiều, cháu đến trường sẽ được học chương trình mầm non, cháu được học múa, học hát, được làm quen với các bài thơ, được nghe kể chuyện, học vẽ, tập tô… giúp hình thành ở các cháu các kỹ năng cần thiết, đồng thời qua đó sẽ giúp cho các cháu mạnh dạn hơn, tự tin hơn, giao tiếp tốt hơn và cháu không còn bỡ ngỡ khi bước vào lớp 1 Bên cạnh việc tuyên truyền với phụ huynh tôi luôn tạo sự gần gũi thương yêu trẻ, luôn tìm tòi học hỏi những kinh nghiệm cũng như “nghệ thuật lên lớp” làm cho trẻ hứng thú hơn mỗi khi đến trường, để trẻ cảm nhận được “Mỗi ngày đến trường là 1 niềm vui”
- Luôn tìm và tổ chức những hoạt động vui chơi hấp dẫn, sưu tầm đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho các hoạt động của trẻ nhằm thu hút trẻ đến lớp
- Nhờ phụ huynh ở nhà có thể trò chuyện với trẻ bằng tiếng phổ thông, cho trẻ tiếp cận với thông tin đại chúng như mở tivi cho các cháu xem những chương trình thiếu nhi, ca nhạc, phim hoạt hình… để giúp các cháu phát triển kĩ năng nghe và hiểu tiếng Việt tốt hơn
* Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ qua hoạt động đầu giờ
Trang 7Ví dụ: Khi trẻ đến lớp trẻ chào cô thì cô động viên khen bé ngoan, có thể hỏi trẻ : “Hôm nay ai đưa con đi học?” “Con đã ăn sáng chưa?” hay “Sáng nay
mẹ cho con ăn gì?”…
- Trong giờ hoạt động ngoài trời tôi thường tổ chức cho các cháu đi dạo trong sân trường, khi thì tôi cho trẻ tưởng tưởng mình đang được đi du lịch lúc thi như đang được đi tham quan … trẻ rất vui và rất thích Mỗi ngày khi đi dạo trong sân trường tôi thường đặt câu hỏi theo chủ đề đang thực hiện để trẻ trả lời
Ví dụ: Chủ đề Thế giới động vật
- Tôi tổ chức cho trẻ tham quan mô hình “Trang trại nhà bé”, tôi đặt câu hỏi gợi ý để trẻ trả lời “ Đây là con gì?”, “Nó sống ở đâu?”, “Thức ăn của nó là gì?”
- Đa số trẻ đều dùng tiếng mẹ đẻ trả lời, trước tình huống đó tôi đã cho cháu biết tên của con vật đó đồng thời khuyến khích các cháu gọi tên con vật bằng tiếng Việt
- Những lúc tổ chức cho các cháu chơi trò chơi dân gian hay chơi tự do tôi luôn tìm sẵn những bài thơ, bài vè, ngắn dễ đọc, dễ nhớ có trong chương trình, phù hợp với chủ đề để dạy cho các cháu, tôi luôn khuyến khích các cháu đọc, sửa sai cho những cháu đọc chưa đúng, đối với các cháu đọc chưa rõ ràng thì tôi dạy cho các cháu đọc từng câu
- Trong những lúc rảnh tôi chải tóc hay sửa sang quần áo cho các cháu tôi thường đặt những câu hỏi để các cháu trả lời
Ví dụ: Ai mua kẹp tóc cho con mà đẹp vậy? Nhà con có mấy anh em? Có
em bé không? qua những lúc trò chuyện với các cháu như vậy đã giúp tôi biết được cháu nào còn rụt rè nhút nhát, cháu nào còn sử dụng câu cụt hay cháu nào chưa phát âm rõ… từ đó tôi dành nhiều thời gian gần gũi trò chuyện và tập cho cháu phát âm nhiều hơn, đồng thời giúp các cháu mạnh dạn hơn
Biện pháp 2: Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ thông qua các giờ học
Trong tất cả các giờ học tôi đều trò chuyện và đặt câu hỏi tôi luôn khuyến khích trẻ nói và trả lời cô bằng tiếng Việt
* Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ qua hoạt động khám phá khoa học:
- Đây là một môn học mà đòi hỏi người giáo viên phải tìm ra những
“nghệ thuật lên lớp” hấp dẫn vì môn học này sử dụng phương pháp quan sát và đàm thoại, mà trẻ người dân tôc thiểu số thì rất hạn chế về ngôn ngữ tiếng việt Trẻ chỉ có thể trả lời theo sự gợi ý của cô hoặc trả lời bằng câu cụt…
- Môn khám phá khoa học là một trong những môn học giúp trẻ phát triển nhận thức và ngôn ngữ tích cực nhất, vì vậy tôi nghĩ cần phát huy hết tác dụng của môn học này để dạy trẻ
Ví dụ: Chủ đề Thế giới động vật
Đề tài: Những con vật đáng yêu
Trang 8- Khi cho trẻ quan sát tranh con chó và tôi đố cả lớp đây là con gì? Thì trẻ trả lời “Asâo” (tiếng Việt có nghĩa là con chó) Trước tình huống đó tôi nói với các cháu: “cô và các con cùng thi xem ai nói giỏi nhé cô sẽ nói tiếng của các con
và các con nói tiếng của cô các con có đồng ý không?” và tiết học của chúng tôi
đã trở thành một “cuộc thi tài” trẻ nào cũng muốn mình là người chiến thắng, và tình huống trên đã được thay đổi các cháu đã cố gắng nói bằng tiếng Việt mỗi khi cô đưa tranh ra
Ví dụ:
- Một hạn chế mà trẻ người đồng bào thường mắc phải, đó là nói thiếu dấu
Ví dụ: “ Con vịt ” thì trẻ đọc là “ Con vit”
- Tôi hướng dẫn các cháu cách phát âm đồng thời sửa sai kịp thời cho các cháu, khuyến khích, tuyên dương những trẻ phát âm đúng, sửa sai và hướng dẫn cho các cháu phát âm chưa đúng, giúp các cháu khắc phục cũng như hạn chế được lỗi mất dấu khi phát âm
- Với hình thức “Thi tài” hay “Đố vui có thưởng”… giữa cô và trẻ thì trẻ
đã có thể nghe và hiểu được câu hỏi của cô
- Ví dụ : Chương trình “Đố vui có thưởng” cô bốc thăm và đọc câu hỏi: Con chó là động vật sống ở đâu? Trẻ nào biết thì lắc xắc xô và được quyền trả lời: Thưa cô con chó là động vật sống trong nhà…
* Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ qua hoạt động làm quen với toán
- Tôi luôn chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học phù hợp với chủ đề với đề tài Điều này theo tôi nghĩ là rất cần thiết vì nó tạo cho trẻ sự hứng thú hơn khi được nhìn ngắm những đồ dùng đẹp, mới lạ đối với các cháu
Ví dụ: Chủ đề Gia đình
Đề tài: Đếm đến 6 - nhận biêt nhóm đồ dùng có 6 đối tượng - chữ số 6 Với đề tài này tôi chuẩn bị rất nhiều đồ dùng gia đình như ly, chén, đũa… tôi cho các cháu gọi tên và nói công dụng của từng đồ dùng, trẻ rất thích thú và rất vui khi mình nói đúng tên và công dụng của những đồ dùng đó Mặc dù bên cạnh đó vẫn còn một số cháu dùng tiếng mẹ đẻ để gọi tên đồ dùng đó và với tình huống đó tôi đã khuyến khích các cháu bằng cách: Ai gọi đúng tên đồ dùng thì được tham gia trò chơi cùng với cô và trẻ nào cũng muốn mình được tham gia cuộc chơi, trẻ đã cố gắng gọi tên đồ dùng bằng tiếng Việt, và khi các cháu phát
âm được các cháu rất vui
Trang 9* Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ qua hoạt động làm quen văn học:
- Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ và biết sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt
trong mọi hoạt động ở trường cũng như trong cuộc sống hàng ngày và qua môn làm quen văn học tôi đã tích cực đưa ngôn ngữ tiếng Việt vào cung cấp cho các cháu
- Thông qua tổ khối, chuyên môn chúng tôi đã thống nhất lựa chọn bài thơ, câu chuyện phù hợp với từng độ tuổi của trẻ, có nội dung dể hiểu và hấp dẫn đối với trẻ Vì sự tập trung chú ý của trẻ chưa cao, chưa có ý thức trong hoạt động học tập Nắm được nhược điểm này tôi đã luôn tìm tòi và sưu tầm những
“nghệ thuật lên lớp” tạo ra mọi tình huống bất ngờ, hồi hộp, hay vui nhộn…để lôi cuốn sự tập trung chú ý của trẻ vào tiết học, khơi gợi tính tò mò, thích tìm hiểu và khám phá ở trẻ
Ví dụ: Cốc ! cốc! cốc ! Dê con ngoan ngoãn mau mở cửa ra mẹ đã về rồi cho các con bú (cô giả giọng chó sói hung ác…) và muốn biết đó có phải
là Dê mẹ không thì chúng mình hãy thật im lặng và lắng nghe xem Dê con có
mở cửa không qua câu chuyện “Dê con nhanh trí” nhé
- Với giọng điệu lúc trầm lúc bổng, lúc hồi hộp, lúc gây cấn của cô đã lôi cuốn được trẻ vào giờ học và từ đó trẻ chăm chú lắng nghe cô kể và tiếp thu được lời kể của cô giáo Cô giảng nội dung câu chuyện ngắn gọn dể hiểu nhằm giúp trẻ nắm được nội dung câu chuyện
- Để cháu nhớ và hiểu câu chuyện sâu hơn, cô có thể kể nhiều lần bằng nhiều hình thức, khi kể cô thể hiện cử chỉ, điệu bộ, giọng nói, hành động của từng nhân vật một cách rỏ ràng, phù hợp với tính cách của từng nhân vật để trẻ
có thể hiểu và cảm nhận được đâu là nhân vật hiền lành, đâu là nhân vật hung dữ…
Ví dụ: Nhân vật Dê mẹ thì ta thể hiện giọng nhẹ nhàng, hiền lành…
Nhân vật Dê con khi nói chuyện với mẹ thì giọng ngây thơ trong sáng, còn khi nói chuyện với Chó sói thì giọng cứng rắn, gan dạ…
Nhân vật Chó sói thì ta thể hiện giọng gian dối, xảo quyệt…
- Tiếp theo cô tiến hành đàm thoại với trẻ, để tạo cho không khí sôi nổi hơn cô có thể dẫn dắt cuộc đàm thoại trở thành cuộc thi tài “các con thấy Dê con
có thông minh không? Vậy bây giờ chúng mình hãy thi xem ai thông minh giống như bạn Dê con nhé” Và cô đặt câu hỏi khuyến khích trẻ trả lời…cô có thể mời các cháu lên kể chuyện theo tranh hay kể chuyện sáng tạo, đóng kịch… (Cô có thể trang bị những chiếc mũ hoặc những đồ dùng của nhân vật để tạo sự lôi cuốn và thích thú cho trẻ hơn…) và cô tuyên dương , khen trẻ kịp thời để khuyến khích trẻ, cô có thể thay lời nhân vật như “Dê mẹ thấy bạn A kể chuyện hay nên Dê mẹ đã thưởng cho bạn một món quà…” và những trẻ khác chắc chắn
sẽ cố gắng giống như bạn đó để được nhận quà
- Đối với đọc thơ tôi luôn tạo cho trẻ sự chú ý tập trung bằng giọng đọc diễn cảm và không quên thể hiện cử chỉ điệu bộ…tiến hành cho trẻ đọc thơ
Trang 10bằng nhiều hình thức như (cả lớp đọc, thi tài giữa các tổ, các nhóm, các nhân, đọc nối đuôi…)
- Với những hình thức như vậy vốn từ tiếng Việt của trẻ lớp tôi đã tăng len một cách rỏ rệt và đó cũng là một động lực to lớn thúc đẩy tôi tiếp tục tìm tòi các biện pháp khác để áp dụng vào dạy trẻ nhằm giúp trẻ tiếp thu và tăng vốn từ tiếng Việt
- Mỗi khi vào đầu giờ học tôi thường trò chuyện với các cháu, tạo cho các cháu sự thoải mái, không áp lực, gây cho cháu sự hứng thú, sự tập trung khi nghe cô trò chuyện hoặc đọc thơ Tôi luôn luôn tập cho mình có một giọng kể cũng như lời dẫn dắt phù hợp với các tính cách của các nhân vật trong truyện tạo
sự tập trung, lôi cuốn trẻ vào lời kể của cô, hay trong giờ đọc thơ tôi thường xuyên tập cho mình giọng đọc truyền cảm, lời đọc phù hợp với nội dung bài thơ lúc trầm, lúc bổng … nhằm tạo sự hứng thú cuốn hút các cháu tập trung hơn vì trẻ mẫu giáo một khi đã thích thì chú ý một cách say mê Bên cạnh đó tôi luôn khuyến khích cho các cháu đọc lại bài thơ hay kể lại câu chuyện đã được nghe
cô kể, không dừng lại ở đó trong những giờ kể chuyện tôi tập cho các cháu đóng kịch và điều này đã làm cho các cháu thích thú vô cùng, và đây cũng là một hình thức giúp các cháu phát triển ngôn ngữ tốt hơn
* Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ qua hoạt động âm nhạc
- Các cháu dân tộc thiểu số rất thích hát, múa, tận dụng được ưu điểm đó
mà trong giờ hoạt động âm nhạc tôi đã đưa môn tiếng việt vào cung cấp cho các cháu một cách triệt để, các cháu tham gia một cách rất say mê, tôi dạy cho các cháu hát những bài hát theo chủ điểm cũng như những bài hát trong chương trình mầm non …Tổ chức cho các cháu cuộc thi “ Đồ Rê Mí”, tập cho các cháu đóng vai làm ca sĩ lên giới thiệu tên mình và biểu diễn cho các bạn xem cứ lần lượt như vậy và tất cả các cháu đều được lên hát, bước đầu các cháu chỉ thuộc lời của bài hát và càng sôi động hơn khi được nghe nhạc không lời và các cháu
là những ca sĩ thể hiện bài hát, thông qua đó các cháu đã dần dần cảm nhận được giai điệu của bài hát và hiểu được nội dung của bài hát điều này cho tôi thấy các cháu có khả năng nghe và hiểu tiếng việt và tôi đã khuyến khích đồng thời tích hợp môn âm nhạc vào mọi hoạt động nhằm giúp các cháu phát triển vốn tiếng việt tốt hơn nữa
* Cung cấp vốn tiếng Việt qua hoạt động làm quen chữ cái
- Nội dung của hoạt động này là giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái, bên cạnh đó còn giúp trẻ đọc đúng các từ, hiểu được nội dung các từ, từ
đó giúp trẻ sử dụng từ đã biết để diễn đạt ý mình muốn nói…
- Để việc rèn kỹ năng phát âm cho trẻ dân tộc thiểu số đạt hiệu quả, trước hết giáo viên phải chuẩn về phát âm tiếng Việt, nếu giáo viên phát âm không chuẩn thì sẽ làm các em phát âm sai
- Trong lớp tôi cũng có một số cháu nói được tiếng phổ thông nhưng không nhớ mặt chữ cái hay từ ngữ của tiếng Việt, các cháu thể hiện theo bản năng bắt chước…chính vì vậy mà việc dạy trẻ làm quen với chữ cái sẽ giúp trẻ