1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tiểu luận: NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI CÁN BỘ GIẢNG DẠY ĐẠI HỌC – CAO ĐẲNG. BÀI HỌC VÀ KẾT LUẬN SƯ PHẠM CẦN THIẾT.

6 611 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình sống, học tập, lao động, giao lưu, vui chơi, giải trí, con người đã tự hình thành và phát triển nhân cách của mình chủ yếu theo quy luật lĩnh hội các di sản văn hóa vật chất và tinh thần do các thế hệ trước để lại trong các công cụ lao động, các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật, …Chính bằng các hoạt động xã hội, con người ngay từ khi còn nhỏ đã dần dần lĩnh hội nội dung loài người chứa đựng trong các mối quan hệ xã hội có liên quan toiư shoạt động của họ. V.I.LêNin đã nói rất hình ảnh rằng: Cùng với dòng sữa mẹ, con người hấp thụ tâm lý, đạo đức của xã hội mà nó là thành viên. Chính nhờ các mối quan hệ với thế giới tự nhiên, với thế giới đồ vật do các thế hệ trước tạo ra và các quan hệ xã hội mà con người gắn bó thông qua các hoạt động đã nói trên, nhân cách của con người đã hình thành và phát triển. Khi xem xét, nhìn nhận con người với tư cách là một thành viên của xã hội, một chủ thể của các mối quan hệ và hoạt động thì ta nói đến nhân cách của họ. “ Nhân cách là tổ hợp các thái độ, những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật do loài người sáng tạo, với xã hội và với bản thân ”.

Trang 1

Phõn hiệu Cao đẳng GTVT-Miền Nỳi-Thái Nguyên

Tiểu luận:

Nhân cách của ngời cán bộ giảng dạy đại học cao đẳng.– cao đẳng

Bài học và kết luận s phạm cần thiết.

1 Khái niệm chung về nhân cách, sự hình thành và phát triển nhân cách.

Trong quá trình sống, học tập, lao động, giao lu, vui chơi, giải trí, con ngời đã tự hình thành và phát triển nhân cách của mình chủ yếu theo quy luật lĩnh hội các di sản văn hóa vật chất và tinh thần do các thế hệ trớc để lại trong các công cụ lao động, các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật, …Chính bằng các hoạt động xã hội, con ngChính bằng các hoạt động xã hội, con ngời ngay từ khi còn nhỏ đã dần dần lĩnh hội nội dung loài ngời chứa đựng trong các mối quan hệ xã hội có liên quan toi shoạt động của họ V.I.LêNin đã nói rất hình ảnh rằng: Cùng với dòng sữa mẹ, con ngời hấp thụ tâm lý, đạo đức của xã hội mà nó là thành viên Chính nhờ các mối quan hệ với thế giới tự nhiên, với thế giới đồ vật do các thế hệ tr ớc tạo ra và các quan hệ xã hội mà con ngời gắn bó thông qua các hoạt động đã nói trên, nhân cách của con ngời đã hình thành và phát triển

Khi xem xét, nhìn nhận con ngời với t cách là một thành viên của xã hội, một chủ thể của các mối quan hệ và hoạt động thì ta nói đến nhân cách của họ “ Nhân cách là tổ hợp các thái độ, những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan hệ hành

động của từng ngời với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật do loài ngời sáng tạo, với xã hội

và với bản thân ”

Nh vậy, xét dới góc độ giáo dục học, khái niệm nhân cách bao gồm tất cả các nét, các mặt, các phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một con ngời

Khi nói đến nhân cách, ngời ta thờng nhấn mạnh đến một trong những yếu tố quan trọng của nhân cách là định hớng giá trị Đó cũng chính là cốt lõi của nhân cách

Ví dụ:

- Các giá trị t tởng;

- Các giá trị đạo đức;

- Các giá trị nhân văn

Ngời Việt Nam ta, khi nói đến nhân cách thờng quan niệm đó là sự thống nhất biện chứng giữa các mặt phẩm chất và năng lực (còn gọi là Đức và Tài) của con ngời Sự hài hòa giữa Đức và Tài chính là những đặc điểm có ý nghĩa xã hội, có giá trị xã hội của con ngời

Để trở thành những nhân cách, mỗi cán bộ giảng dạy cần hình thành và phát triển các phẩm chất xã hội (ví dụ: các quan điểm và niềm tin t tởng-chính trị, thế giới quan khoa học, thái độ tự giác đối với con ngời và đối với hoạt động của mình ), các phẩm chất cá nhân (ví dụ: nếp sống, thói quen, các ham muốn lành mạnh, có văn hóa, ) cũng

nh các phẩm chất ý chí (ví dụ: tính kỷ luật, tính tự chủ, tính mục đích, tính quả quyết, tính phê phán, ) Bên cạnh các phẩm chất đạo đức đó cần tạo ra cho mình một hệ thống năng lực (cái Tài), đó là:

- Khả năng thích ứng, năng lực sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo trong toàn bộ cuộc sống xã hội

Trang 2

- Khả năng biểu hiện tính độc đáo, khả năng biểu hiện cái riêng, cái bản lĩnh của cá nhân

- Năng lực hành động: Khả năng hành động có mục đích, có điều khiển, chủ

động, tích cực và sáng tạo

- Năng lực giao lu: Khả năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ với ngời khác

2 Phõn tớch cấu trỳc nhõn cỏch của người cỏn bộ giảng dạy ở đại học và cao đẳng

Nhõn cỏch của người cỏn bộ giảng dạy bao gồm rất nhiều những phẩm chất như tư tưởng chớnh trị, đạo đức, cỏc năng lực và cỏc phẩm chất tõm lý khỏc Nhưng, những phẩm chất năng lực cú ý nghĩa nhất đối với hoạt động giỏo dục là xu hướng nghề nghiệp

sư phạm và năng lực sư phạm

Khỏi niệm xu hướng bao gồm cả mục đớch, động cơ thỳc đẩy hoạt động và thỏi độ xỳc cảm đối với hoạt động đú, xu hướng nghề nghiệp được hiểu là cú hứng thỳ đối với nghề và cú khuynh hướng chiếm lĩnh nú Xu hướng sư phạm biểu hiện ở lũng yờu người

và yờu nghề, ở ý muốn làm việc với thanh, thiếu niờn, muốn giảng dạy và giỏo dục họ

và thẻ hiện ở sự hứng thỳ với bộ mụn khoa học mỡnh giảng dạy

Trỡnh độ nghiệp vụ sư phạm của người cỏn bộ giảng dạy phụ thuộc khụng chỉ vào cỏc động cơ chọn nghề, thỏi độ đối với cụng việc, học sinh mà cũn phụ thuộc vào năng lực sư phạm Trong tõm lý học, năng lực được hiểu là những thuộc tớnh tõm lý của cỏ nhõn bảo đảm cho việc thực hiện cú kết quả một hay một số lĩnh vực hoạt động nhất định Năng lực sư phạm phản ỏnh một cỏch độc đỏo cấu trỳc hoạt động sư phạm và bao gồm 5 thành phần cơ bản: thiết kế, kiến tạo, tổ chức, giao tiếp và nhận thức Năng lực

sư phạm là loại năng lực chuyờn biệt Nú gồm một số yếu tố sau:

- Tớnh sõu sắc và sự phong phỳ về tri thức của nhà giỏo dục khụng phải bao giờ cũng trựng hợp với hoạt động cú hiệu của họ Sự sai lệch đú cú 2 loại:

+ Mặc dự cú tri thức sõu sắc về bộ mụn giảng dạy nhưng nhà sư phạm vẫn khụng thực hiện được cỏc nhiệm vụ giỏo dục

+ Mặc dự được chuẩn bị về tri thức bộ mụn ở mức độ trung bỡnh thụi nhưng nhà sư phạm lại thực hiện cú hiệu quả cỏc nhiệm vụ giỏo dục

- Trỡnh độ phỏt triển năng lực sư phạm thường khụng trựng với mức độ quan hệ với cụng việc mà cú khi trội hơn hoặc ngược lại

- Thõm niờn cụng tỏc tự nú khụng làm thay đổi cấu trỳc trong hoạt động thể hiện trỡnh độ cao tay của tay nghề sư phạm

Năng lực sư phạm liờn quan rất chặt chẽ với năng lực chung như đặc điểm trớ tuệ, ngụn ngữ, tưởng tượng với những nột tớnh cỏch, xỳc cảm của người giỏo viờn và với cỏc

Trang 3

Phân hiệu Cao đẳng GTVT-Miền Núi-Th¸i Nguyªn

năng lực chuyên biệt khác Năng lực sư phạm được thể hiện rõ ràng ở người giáo viên chủ yếu là các phẩm chất trí tuệ như tính quan sát và sự sáng tạo; các phẩm chất ngôn ngữ như tính thuyết phục, tính nghiêm túc, tính logic của ngôn ngữ, các phẩm chất tưởng tượng là khả năng đặt mình vào vị trí của học sinh và hiểu họ

Năng lực sư phạm liên quan chặt chẽ với các năng lực chuyên môn khác như năng lực nghệ thuật, âm nhạc, kỹ thuật, …Các năng lực chuyên môn khác thâm nhập vào cấu trúc hoạt động của người giáo viên và góp phần cho việc sáng tạo sư phạm chỉ khi người giáo viên đó có năng lực và xu hướng sư phạm

Năng lực sư phạm gắn bó với các đặc điểm về tính cách của người giáo viên Những nét tính cách quan trọng nhất đối với người cán bộ giảng dạy tài năng là sự lôi cuốn bởi công việc của mình, tính yêu cầu cao, tính công bằng, tính chú ý tới mỗi người học, tính tự kiểm tra Nét điển hình của khí chất là tính cân bằng

Như vậy, yêu cầu nhà sư phạm phải có tài năng chung biểu hiện trong các năng lực chung cũng như năng lực chuyên biệt, thể hiện ở đặc điểm ngôn ngữ, tư duy, tưởng tượng, biểu hiện trong các nét ý chí, tính cách của người giáo viên và bị lôi cuốn bởi các loại hoạt động chuyên môn khác nhau

Cấu trúc tâm lý hoạt động của nhà sư phạm là sự phản ánh độc đáo những yêu cầu của hệ thống giáo dục Nó được xác định như là mối liên hệ lẫn nhau và tính kế tục trong các hành động của nhà sư phạm nhằm đạt được những mục đích đã đề ra thông qua việc giải quyết các nhiệm vụ sư phạm Trong cấu trúc có 5 thành phần chức năng: nhận thức, thiết kế, kết cấu,giao tiếp và tổ chức

- Thành phần nhận thức bao gồm những hành động có liên quan đến việc tích lũy các tri thức mới về mục đích giáo dục và phương tiện đạt được nó; về tình trạng của khách thể và chủ thể của các tác động sư phạm Thành phần này cũng bao gồm cả các kĩ năng tìm tòi tri thức từ các nguồn khác nhau Có thể nói đến một số kĩ năng cụ thể sau: + Biết nghiên cứu nội dung và phương pháp tác động đến người khác

+ Biết tìm hiểu những đặc điểm lứa tuổi và loại hình cá thể của người đó

+ Biết tìm hiểu đặc điểm quá trình và kết quả hoạt động của bản thân, nhận ra những ưu điểm và khuyết điểm trong hoạt động của mình

- Thành phần thiết kế bao gồm những hành động có liên quan tới việc quy hoạch tối ưu các nhiệm vụ được giao và cách giải quyết chúng trong hoạt động tương lai của nhà sư phạm hướng vào việc đạt được các mục đích muốn tìm Có thể nêu ra một số kĩ năng sau:

+ Biết dự kiến các hoạt động của sinh viên

Trang 4

+ Biết xây dựng kế hoạch giáo dục và giảng dạy trong suốt cả một thời kỳ công tác nhất định với sinh viên có chú ý đến triển vọng và kết quả của kế hoạch này

+ Biết thiết kế các biện pháp tác động giáo dục hứng thú học tập và hứng thú nghề nghiệp của sinh viên

+ Biết xây dựng các biện pháp tổ chức kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập độc lập của sinh viên

- Thành phần kết cấu bao gồm các hành động có liên quan tới việc lựa chọn sắp xếp nội dung thông tin học tập và giáo dục trong bài giảng, xemina và các biện pháp khác Thành phần này cũng xác định đặc điểm hoạt động của bản thân nhà giáo dục và sinh viên theo các nội dung nói trên Nó cũng được biểu hiện ở một số kĩ năng cơ bản sau:

+ Biết lựa chọn và sắp xếp nội dung thông tin mà người sinh viên cần phải đạt được

+ Dự kiến các hoạt động và hành vi của bản thân người cán bộ giảng dạy sẽ phải như thế nào trong quá trình tác động qua lại với sinh viên

+ Dự kiến các hoạt động của sinh viên mà qua đó họ sẽ lĩnh hội được những thông tin cần thiết

- Thành phần giao tiếp là những hành động liên quan tới việc hình thành mối quan

hệ hợp lý có tính chất giáo dục giữa người cán bộ giảng dạy và sinh viên tuân theo mục đích giáo dục Nó bao gồm cả những kỹ năng sau:

+ Biết thiết lập mối quan hệ qua lại đúng đắn với các chủ thể khác mà người cán

bộ giảng dạy cần tác động

+ Biết xây dựng mối quan hệ qua lại đúng đắn với người lãnh đạo (theo chiều dọc)

và các đồng nghiệp (theo chiều ngang) trong hệ thống giáo dục

+ Biết phối hợp hoạt động của mình với nhiệm vụ quốc gia được đề ra cho người lãnh đạo với tư cách là một công dân thực hiện nhiệm vụ đó

- Thành phần tổ chức gồm những hành động thực tiễn tư tưởng giáo dục để tổ chức

cụ thể mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể của các tác động sư phạm Hoạt động của chủ thể và khách thể phải tuân theo thời gian và không gian phù hợp với hệ thống các nguyên tắc và thời gian biểu mà quá trình giáo dục cần phải được thỏa mãn để hướng vào việc đạt được các kết quả giáo dục Trong thành phần cũng được thể hiện ở các kỹ năng cơ bản sau:

+ Biết tổ chức thông tin trong quá trình thông báo cho người nghe

Trang 5

Phân hiệu Cao đẳng GTVT-Miền Núi-Th¸i Nguyªn

+ Biết tổ chức các loại hoạt động của sinh viên sao cho kết quả phù hợp với mục đích đề ra

+ Biết tổ chức hoạt động và hành vi của mình trong quá trình tác động qua lại trực tiếp với sinh viên

Các thành phần chức năng nói trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chung cho tất cả những người tham gia vào hệ thống giáo dục (cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý, giáo viên, sinh viên, học sinh, ) Trong đó, thành phần nhận thức là cái trục độc đáo trong 5 thành phần cấu trúc tâm lý của hoạt động sư phạm

Đối với người cán bộ giảng dạy đại học thì các kỹ năng nhận thức và thiết kế là quan trọng hơn cả Các kỹ năng khác sẽ được hoàn thiện theo tuổi đời và kinh nghiệm nghề nghiệp của người cán bộ giảng dạy Cấu trúc tâm lý hoạt động sư phạm thau đổi theo trình độ nắm vững tay nghề của người cán bộ giảng dạy

3 Các kết luận sư phạm cần thiết

- Nhà sư phạm phải có tài năng chung biểu hiện trong các năng lực cung cũng như các năng lực chuyên biệt, thể hiện ở đặc điểm ngôn ngữ tư duy, tưởng tượng; biểu hiện trong các nét ý trí, tính cách của người giáo viên và bị lôi cuốn bởi các hoạt động chuyên môn khác nhau

- Người cán bộ giảng dạy phải nắm vững những nguyên tắc, hệ thống tri thức tâm

lý xã hội và tâm lý sư phạm

- Phải tổ chức các hoạt động cùng nhau của cán bộ giảng dạy và sinh viên trong các tập thể giáo dục – học tập

Tổ chức Nhận thức

Giao tiếp

Trang 6

- Người cỏn bộ giảng dạy phải biết thường xuyờn lắng nghe và giữ được mối liờn

hệ ngược ở giảng đường Rốn luyện cỏc kỹ năng và phong cỏch giao tiếp sư phạm

- Người cỏn bộ giảng dạy phải cú khả năng kết hợp tốt cỏc hoạt động của nhà khoa học với cỏc hoạt động của nhà sư phạm

- Cú kỹ năng tỡm tũi tri thức từ cỏc nguồn khỏc nhau Biết tỡm hiểu đặc điểm quỏ trỡnh và kết quả hoạt động của bản thõn, nhận ra những ưu điểm và khuyết điểm trong hoạt động của mỡnh

- Ngời giáo viên phải không ngừng nâng cao trình độ nghề nghiệp Tự học, tự rèn luyện là con đờng quan trọng nhất Ngời giáo viên cần xây dựng kế hoạch tự học, tự rèn luyện căn cứ vào yêu cầu của việc dạy học và giáo dục Tham gia các lớp học theo hình thức chuyên đề về khoa học, về giáo dục có liên quan Tham gia các hội thảo khoa học

về chuyên môn Tích cực nghiên cứu và tham gia xây dựng các đề tài khoa học các cấp Liên tục cập nhật hóa kiến thức

- Luôn trau dồi đạo đức nghề nghiệp, lý tởng cách mạng, nhân cách của ngời giáo viên nói chung cũng nh của ngời cán bộ giảng dạy Đại học – Cao đẳng nói riêng “ có sức mạnh giáo dục to lớn đến mức không thể thay thế bằng sách giáo khoa, bằng những lời khuyên bảo về đạo đức, bằng hệ thống khen thởng và kỷ luật nào cả” – K.D.Ushinsky

Ngày đăng: 20/04/2016, 22:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w