1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần cảng nam hải

77 211 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 651 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm lại: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp thông qua việc so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ r

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin tríchdẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hải Phòng, tháng 3 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hằng

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu với sự nỗ lực và nghiêm túc, tôi

đã haonf thành đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanhcủa Công ty Cổ phần Cảng Nam Hải”

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo đã giảng dạytrong suốt thời gian học cao học khóa 2012 – 2014, chuyên ngành Quản trịkinh doanh và cán bộ nhân viên Phòng Quản Lý Khoa Học & Đào tạo sau Đạihọc, trường Đại học Hải Phòng, Công ty Cổ phần Cảng Nam Hải đã tạo điềukiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo đã chỉ dẫn, góp ý tận tìnhtrong suốt quá trình làm luận văn, đặc biệt là thầy giáo: PGS- TS Đào VănHiệp đã tận tâm hướng dẫn, tư vấn và nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luậnvăn này

Trân trọng cảm ơn!

Hải Phòng, tháng 3 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hằng

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 3

1.1 Hiệu quả kinh doanh và sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp 3

1.1.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 3

1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh 3

1.1.3 Vai trò của hiệu quả kinh doanh 8

1.1.4 Phân loại hiệu quả kinh doanh 9

1.1.5 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp 12

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp 14

1.2.1 Các nhân tố bên trong 14

1.2.2 Các nhân tố bên ngoài 16

1.3 Nội dung đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 18

1.3.1 Các quan điểm cơ bản trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 18

1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG NAM HẢI 30

2.1 Tổng quan về công ty Cổ phần Cảng Nam Hải 30

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty Cổ phần Cảng Nam Hải 30

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty 31

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty 32

Trang 4

2.1.4 Cơ sở vật chất, máy móc thiết bị của Công ty 34

2.1.5 Đặc điểm về lao động của Công ty 35

2.2 Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Cảng Nam Hải 36

2.2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong các năm 2010 – 2014 36

2.2.2 Phân tích nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh tổng hợp 40

2.2.1 Phân tích nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh 47

2.3 Đánh giá chung về hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần cảng Nam Hải 57

2.3.1 Những kết quả mà công ty đã đạt được và nguyên nhân 57

2.2.3 Những tồn tại, hạn chế của Công ty và nguyên nhân 58

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG NAM HẢI 62

3.1 Phương hướng phát triển của Công ty Cổ phần Cảng Nam Hải giai đoạn 2016 – 2020 62

3.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Cảng Nam Hải 63

3.2.1 Biện pháp về hoạt động Marketing, mở rộng quan hệ cầu nối giữa các công ty và xã hội 63

3.2.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ 64

3.2.3 Biện pháp về huy động vốn và sử dụng vốn 66

3.2.4 Biện pháp phát triển và tạo động lực cho đội ngũ lao động 67

3.2.5 Biện pháp tổ chức quản lý 68

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 70

1 Kết luận : 70

2 Kiến nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Cơ cấu lao động theo trình độ năm 2010 – 2014 36

Bảng 2.2: Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2010 – 2014 37

Bảng 2.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản lượng 41

Bảng 2.4 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh theo doanh thu 44

Bảng 2.5 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh theo lợi nhuận 46

Bảng 2.6 Nhóm chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng tài sản, vốn 49

Bảng 2.7 Bảng phân tích hiệu quả sử dụng lao động 52

Bảng 2.8: Bảng đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí 55

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương chuyển từ nền kinh tế tập trungquan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tếcùng tham gia sản xuất kinh doanh, đã có nhiều doanh nghiệp bắt kịp với cơchế mới phát triển ổn định và khẳng định được vị trí, vai trò của mình trênthương trường Tuy nhiên, cũng có không ít những doanh nghiệp do khôngthích ứng với cơ chế thị trường dẫn đến tình trạng sản xuất kinh doanh thua

lỗ, gặp nhiều khó khăn và dẫn đến phá sản

Nhưng trong thời gian qua, kinh tế Việt Nam đã có những bước pháttriển đáng kể, các chỉ số tăng trưởng kinh tế đều được cải thiện, thu nhập quốcdân tăng cao, mức sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt Đó là thành quảđáng khích lệ của công cuộc đổi mới, là sự góp sức của toàn Đảng, toàn dânta

Hoà cùng xu hướng phát triển của đất nước, Công ty Cổ phần Cảng NamHải cũng từng bước chuyển mình Với vai trò là công ty con thuộc tập đoànGemadept được giao nhiều trọng trách quan trọng trong công cuộc phát triểnkinh tế của tập đoàn và đất nước, bên cạnh đó Công ty cũng nhận được sựquan tâm sâu sắc của Nhà nước Tuy vậy, trên một số mặt hoạt động do vẫnchịu ảnh hưởng của lề lối làm việc cũ nên hiệu quả mang lại chưa cao, khócạnh tranh được với các công ty khác cùng lĩnh vực kinh doanh

Để có thể đứng vững, tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường cạnhtranh gay gắt như hiện nay thì Công ty phải nhận diện được mặt mạnh, mặtyếu của mình, sắp xếp lại tổ chức, hoạch định chiến lược kinh doanh nhằmkinh doanh có hiệu quả Chính vì lẽ đó vấn đề cấp thiết đặt ra đối với Công ty

cổ phần Cảng Nam Hải là phải nghiên cứu và đưa ra những giải pháp hữuhiệu với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh

Xuất phát từ những lý do trên đồng thời qua thời gian nghiên cứu tạiCông ty cổ phần Cảng Nam Hải và dựa trên nền tảng những kiến thức khoa

Trang 7

học, lý luận tiếp thu được, tác giả đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả kinh

doanh của Công ty cổ phần Cảng Nam Hải” để làm đề tài luận văn tốt

nghiệp khóa học của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả kinh doanh, các chỉ tiêuđánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và các giải pháp nhằm nângcao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Phạm vi nghiên cứu : Công ty Cổ phần Cảng Nam Hải

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng;

- Phương pháp thống kê và tổng hợp;

- Phương pháp phân tích và so sánh;

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận chung và danh mục tài liệu thamkhảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần CảngNam Hải

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty

Cổ phần Cảng Nam Hải

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH

CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Hiệu quả kinh doanh và sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quátrình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các hoạt độngdịch vụ trên thị trường nằm mục đích sinh lợi Như vậy, tiến hành bất cứ hoạtđộng kinh doanh nào cũng đều có nghĩa là tập hợp các phương tiện, conngười đưa vào hoạt động để mang lại lợi nhuận cho chủ thể

Có hai điểm cơ bản để phân biệt hoạt động kinh doanh với các hoạtđộng xã hội khác không phải là kinh doanh, ngay cả với hoạt động quản lýnhà nước về kinh tế:

+ Để tiến hành kinh doanh các chủ thể phải đầu tư về tài sản

+ Mục đích của các chủ thể khi tiến hành hoạt động này là lợi nhuậnHoạt động kinh doanh thường được thông qua các thể chế kinh doanhnhư công ty, tập đoàn, doanh nghiệp tư nhân nhưng cũng có thể là hoạtđộng tự thân của các cá nhân Người ta gọi chung các thể chế kinh doanh này

1.1.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh

Theo từ điển kinh tế Anh - Việt XNB KG- KT 1996, hiệu qủa(efficiency) là mối tương quan giữa đầu vào của các yếu tố khan hiếm với đầu

Trang 9

ra hàng hoá dịch vụ, mối quan hệ này có thể đo lường theo hiện vật được gọi

là hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency) hoặc theo chi phí được gọi là hiệuquả kinh tế (economic efficiency) Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu phản ánh mức

độ sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn lực khan hiếm

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, gắn với cơ chế thịtrường, có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanhnhư: lao động, vốn, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu Nên doanh nghiệpchỉ có thể đạt hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trìnhkinh doanh có hiệu quả Khi đề cập đến hiệu quả kinh doanh các nhà kinh tếdựa vào từng góc độ xem xét để đưa ra các định nghĩa khác nhau:

“Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hệ số giữa kết quả kinh doanh vàchi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”- phản ánh được kết quả với toàn bộ chiphí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng chi phí Tuynhiên, quan niệm này chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữakết quả và chi phí, chưa phản ánh hết mức độ chặt chẽ mối quan hệ này

“Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn yêu cầu của quy luật kinh tế

cơ bản của CNXH” cho rằng quỹ tiêu dùng với tính cách chỉ tiêu đại diện chomức sống của mọi người trong doanh nghiệp, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quảkinh doanh Quan niệm này có ưu diểm là đã bám sát mục tiêu nền sản xuất

xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao mức sống vật chất và tinh thần củanhân dân Lựa chọn quỹ tiêu dùng để phản ánh hiệu quả là chưa thấy đầy đủvai trò của tích luỹ là nhằm phát triển sản xuất, là để có quỹ tiêu dùng nhiềuhơn trong tương lai Không thể đưa quỹ tiêu dùng lên tối đa mà lại không tuântheo một tỷ lệ thích hợp giữa quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng, phải kết hợp mộtcách tốt nhất lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài

Quan điểm thương mại hiệu quả: trong nền kinh tế thị trường mọi hoạtđộng phải tính đến hiệu quả Ở đây phải phân biệt hiệu quả kinh doanh vàhiệu quả kinh tế xã hội Hiệu quả thể hiện quan hệ giữa kết quả và chi phí bỏ

ra Trước hết, phải xác định hiệu quả kinh doanh thương mại Hiệu quả kinh

Trang 10

doanh là thước đo để cân nhắc lựa chọn các giải pháp đầu tư, quyết định đầu

tư phát triển hay ngừng kinh doanh Hiệu quả kinh doanh có phần định tính vàđịnh lượng Các chỉ tiêu định lượng như: lợi nhuận, mức doanh lợi, hiệu qủa

sử dụng vốn kinh doanh Chỉ tiêu hiệu quả định tính như: khả năng cạnhtranh, niềm tin của khách hàng, vị thế của doanh nghiệp Không đạt đượchiệu qủa kinh doanh thì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận không thực hiện được,không có hiệu quả kinh doanh thì doanh nghiệp không thể tồn tại, hoạt độngthương mại sẽ bị ngưng trệ Bên cạnh đó phải tính đến hiệu quả kinh tế xãhội Giải quyết vấn đề xã hội của thương mại trong cơ chế thị trường khônggiản đơn Ở đây, phải tính đến vấn đề môi sinh, môi trường, sự phát triểnđồng đều giữa các vùng, các khu vực Chính sách kinh tế phải gắn kiền vớichính sách xã hội nhất là đối với vùng kinh tế chậm phát triển, vùng cao vàvùng sâu

Suy đến cùng muốn có hiệu quả phải đảm bảo lợi ích vật chất cho cácdối tượng tham gia hoạt động thương mại, lợi ích là chất kết dính các hoạtđộng theo mục đích chung Nguyên tắc các bên tham gia đều có lợi, ai viphạm sẽ không thể tổ chức hoạt động kinh doanh thương mại có hiệu quảtrước mắt và lâu dài

Tóm lại: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình

độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp thông qua việc so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra trong một khoảng thời gian lao động nhất định”

Như vậy, có hai yếu tố để xác định hiệu quả kinh doanh:

Thứ nhất là các chi phí nguồn lực: các chi phí bao gồm chi phí về laođộng, thiết bị, nguyên vật liệu mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất kinh doanhtạo ra các kết quả tương ứng; các nguồn lực bao gồm lao động, đất đai, tàinguyên, vốn Thực chất nguồn lực là toàn bộ các chi phí hiện tại, chi phí tiềmnăng, chi phí tương lai sẽ chi ra để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinhdoanh

Trang 11

Thứ hai là kết quả về lợi ích kinh tế: nguồn lực và chi phí mà doanhnghiệp bỏ vào sản xuất kinh doanh có thể đem lại nhiều loại kết quả khácnhau Có kết quả phù hợp với mục tiêu kinh doanh, nhưng cũng có kết quảnằm ngoài mục tiêu kinh doanh, thậm chí đi ngược lại mục tiêu này vì vậy kếtquả ở đây phải là kết quả hữu ích đối với doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tếquốc dân Kết quả đó có thể là con số theo các chỉ tiêu cụ thể như sản lượnghiện vật, giá trị sử dụng, doanh thu, lợi nhuận hoặc là kết quả trừu tượngnhư làm sạch môi trường, nâng cao dân trí

Dựa vào hai yếu tố trên, hiệu quả kinh doanh được xác định là đạilượng so sánh giữa kết quả với chi phí và nguồn lực hay ngược lại Khác vớichỉ tiêu đầu vào (chi phí, nguồn lực) và chỉ tiêu đầu ra (kết quả, lợi ích), chỉtiêu hiệu quả là một tỷ số so sánh để phản ánh chất lượng về hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Tiêu chuẩn chất lượng của chỉ tiêu nàychính là tối đa hoá kết quả lợi ích hoặc tối thiểu hoá chi phí dựa trên các điềukiện về nguồn lực xác định

Có hai cách xác định hiệu quả kinh doanh:

Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra - Yếu tố đầu vào

Công thức trên phản ánh mức tuyệt đối của phần gia tăng khi sử dụng toàn bộ yếu tố đầu vào để làm ra toàn bộ kết quả đầu ra

Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị tổng sản lượng,tổng doanh thu thuần, lợi nhuận thuần, lợi tức gộp

Yếu tố đầu vào bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động,vốn chủ sở hữu, vốn vay

Công thức trên phản ánh sức sản xuất (hay sức sinh lợi) của các chỉ tiêuphản ánh đầu vào, được tính cho tổng số và cho riêng phần gia tăng Nó phảnánh cứ 1 đồng chi phí đầu vào trong kỳ phân tích thì được bao nhiêu đồng kếtquả đầu ra Chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp càng lớn

Trang 12

Hiệu quả kinh doanh có thể tính bằng cách so sánh nghịch đảo

Hiệu quả kinh doanh = Công thức phản ánh suất hao phí của các chỉ tiêu đầu vào nghĩa là để

có 1 đơn vị kết quả đầu ra thì hao phí hết bao nhiêu đơn vị chi phí (hoặc vốn)

ở đầu vào Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệpcàng cao

Hiệu quả kinh doanh ngày càng trở nên quan trọng đối với tăng trưởngkinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế củadoanh nghiệp trong từng thời kỳ

Tuy nhiên, cần hiểu hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện trên cả haimặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế

có mối quan hệ khăng khít nhưng cũng có mâu thuẫn Doanh nghiệp khôngthể vì lợi ích cá nhân mà làm tổn hại đến lợi ích chung của toàn bộ nền kinh tếquốc dân Có thể nói, doanh nghiệp là một tế bào, một bộ phận cấu thành củanền kinh tế, Vì vậy, vấn đề ở đây là tạo sự thống nhất giữa lợi ích của doanhnghiệp với lợi ích của toàn xã hội

Cần phân biệt giữa hiệu quả với kết quả và hiệu suất để tránh việcnhầm lẫn dẫn đến đánh giá sai hoạt động kinh doanh

Kết quả là sự phản ánh kết cục cuối cùng của đối tượng nghiên cứu.Trong doanh nghiệp sau một thời gian làm việc hoặc sau một chu kỳ kinhdoanh thì kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh có thể là một khối lượngcông việc hoàn thành, một lượng sản phẩm, dịch vụ hoặc doanh thu bán hàng,lợi nhuận

Hiệu suất là việc đánh giá cường độ hoạt động của đối tượng nghiêncứu Theo từ điển giải nghĩa kinh tế- kinh doanh, xuất bản năm 1996, hiệusuất (productivity) là tương quan giữa đầu ra hay giá trị sản xuất ra trong mộtthời gian nhất định và số lượng yếu tố đầu vào được sử dụng để sản xuất đượcđầu ra ấy

Trang 13

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả và hiệu suất là hai chỉtiêu kinh tế có quan hệ nhân - quả, hiệu quả có thể là kết quả của hiệu suấtnhưng nhiều khi hiệu quả không là kết quả của hiệu suất, chẳng hạn hiệu suất

sử dụng TSCĐ là so sánh doanh thu (giá trị sản lượng)/Nguyên giá bình quânTSCĐ, chỉ tiêu này có thể cao nhưng không có hiệu quả Do TSCĐ đó có thểsản xuất ra nhiều sản phẩm nhưng lại tiêu hao nhiều năng lượng, nguyên vậtliệu làm cho giá thành sản phẩm cao, việc bán sản phẩm sẽ bị lỗ

1.1.3 Vai trò của hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với mỗi cánhân, mỗi tổ chức và toàn bộ nền kinh tế quốc dân

• Đối với người lao động

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp có tác động tươngứng với người lao động Một doanh nghiệp làm ăn kinh doanh có hiệu quả sẽkích thích được người lao động hưng phấn hơn, làm việc hăng say hơn Nhưvậy thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn được nâng caohơn nữa Đối lập lại, một doanh nghiệp làm ăn không có hiệu quả thì ngườilao động chán nản, gây nên những bế tắc trong suy nghĩ và còn có thể dẫn tớiviệc họ rời bỏ doanh nghiệp để đi tìm các doanh nghiệp khác

Đặc biệt hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp chi phốirất nhiều tới thu nhập của người lao động ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống vậtchất tinh thần Hiệu quả sản suất kinh doanh của doanh nghiệp cao mới đảmbảo cho người lao động có được việc làm ổn định, đời sống tinh thần vật chấtcao, thu nhập cao

Ngược lại hiệu quả kinh doanh thấp sẽ khiến cho người lao động cómột cuộc sống không ổn định thu nhập thấp và luôn đứng trước nguy cơ thấtnghiệp

• Đối với doanh nghiệp

Trang 14

Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xét về mặt tuyệt đối chính là lợinhuận thu được Nó chính là cơ sở để duy trì sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp đồng thời nó còn là cơ sở để tái sản xuất mở rộng, cải thiện đờisống cán bộ công nhân trong doanh nghiệp Đối với mỗi doanh nghiệp đặcbiệt các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường thì hiệu quả kinhdoanh đóng một vai trò quan trọng Doanh nghiệp lấy hiệu quả làm căn cứ đểđánh giá việc sử dụng lao động, vốn, nguyên vật liệu và trình độ quản lý kếthợp với các yếu tố trên một cách hợp lý nhất Từ đó doanh nghiệp sẽ có biệnpháp quản lý thích hợp để điều chỉnh khi cần thiết.

Ngoài ra việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh còn là nhân tố thuhút vốn từ các nhà đầu tư, thúc đẩy cạnh tranh và việc tự hoàn thiện của bảnthân doanh nghiệp trong cơ chế thị trường hiện nay Cạnh tranh trên thịtrường ngày càng trở lên gay gắt khốc liệt, đặc biệt là khi Việt Nam đã gianhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, chính vì vậy các doanh nghiệpmuốn tồn tại và phát triển phải nâng cao chất lượng của sản phẩm dịch vụ,cạnh tranh lành mạnh đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh

• Đối với nền kinh tế quốc dân

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế quan trọng, phảnánh yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, phản ánh trình độ sử dụng cácnguồn lực, trình độ sản xuất với mức độ hoàn thiện của quan hệ sản xuấttrong cơ chế thị trường Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng được nâng cao thìquan hệ sản xuất càng củng cố lực lượng sản xuất phát triển, hay ngược lạiquan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất kém phát triển dẫn đến sự kém hiệuquả của hoạt động kinh doanh

1.1.4 Phân loại hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù mang tính tổng hợp do đó việcphân loại hiệu quả kinh doanh là cơ sở để xác định các chỉ tiêu hiệu quả kinhdoanh Phân tích hiệu quả kinh doanh dựa vào các tiêu thức nhất định ta cóthể phân hiệu quả kinh doanh thành một số loại chủ yếu như sau:

Trang 15

Căn cứ theo yêu cầu của tổ chức xã hội và tổ chức quản lý kinh tế Hiệu quả kinh tế cá biệt: Là hiệu quả kinh tế thu được từ hoạt động

của từng doanh nghiệp kinh doanh Biểu hiện trực tiếp của hiệu quả này là lợinhuận của mỗi doanh nghiệp thu được và chất lượng thực hiện những yêu cầu

do xã hội đặt cho nó

Hiệu quả kinh tế quốc dân: Là hiệu quả kinh tế tính toán cho toàn bộ

nền kinh tế quốc dân về cơ bản nó là sản phẩm thặng dư, thu nhập quốc dânhoặc tổng sản phẩm xã hội mà đất nước thu được trong từng thời kỳ so vớilượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí…

Căn cứ theo mục đích so sánh

Hiệu quả tuyệt đối: Là hiệu quả được tính toán cho từng hoạt động,

phản ánh bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra

Hiệu quả tương đối: Là hiệu quả được xác định bằng cách so sánh

tương quan các đại lượng thể hiện chi phí hoặc các kết quả ở các phương ánvới nhau, các chỉ tiêu so sánh được sử dụng để đánh giá mức độ hiệu quả củacác phương án, để chọn phương án có lợi nhất về kinh tế Hiệu quả tương đối

có thể được tính toán dựa trên các tỷ suất như:

P ; P ; P ; P ; P ; P Vốn VCĐ VLĐ Lao động Sản lượng Z (Trong đó P: là lợi nhuận)

Tuy nhiên việc phân tích ranh giới hiệu quả của các doanh nghiệp, phảiđược xem xét một cách toàn diện cả về mặt không gian và thời gian trong mốiquan hệ chung về hiệu quả toàn bộ của nền kinh tế quốc dân

- Về mặt thời gian: Hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được trong từng giaiđoạn, từng thời kỳ kinh doanh không được giảm sút Không thể quan niệmmột cách cứng nhắc, cứ giảm chi tăng thu mà phải quan niệm một cách toàndiện tức là chi và thu có thể tăng đồng thời nhưng sao cho tốc độ tăng của chi

Trang 16

luôn nhỏ hơn tốc độ tăng của thu Có như vậy mới đem lại hiệu quả chodoanh nghiệp.

Nói như vậy vì thực tế và lý thuyết chỉ rõ, chi và thu có quan hệ tương đốitương hỗ với nhau, chỉ có chi mới có thu Kinh doanh không thể không bỏ chiphí, phải đảm bảo có lãi, dám chi thì mới có thu nếu xét thấy tính hiệu quảcủa nó

- Về mặt không gian: Hiệu quả kinh doanh chỉ rõ có thể đạt được mộtcách toàn diện khi toàn bộ hoạt động của các bộ phận trong toàn doanhnghiệp mang lại hiệu quả Mỗi kết quả tính được từ giải pháp kinh tế hay hoạtđộng kinh doanh nào đó, trong từng đơn vị nội bộ hay toàn bộ đơn vị, nếukhông làm tổn hao đối với hiệu quả chung thì được coi là hiệu quả

Căn cứ theo đối tượng đánh giá

Hiệu quả cuối cùng: Thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được

và tổng hợp chi phí đã bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp

Hiệu quả trung gian: Thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được

với chi phí của từng yếu tố cần thiết đã được sử dụng để thực hiện nhiệm vụsản xuất kinh doanh như: Lao động, máy móc thiết bị…

Việc tính toán hiệu quả cuối cùng cho thấy hiệu quả hoạt động chung củadoanh nghiệp hay của cả nền kinh tế quốc dân Việc tính toán và phân tíchhiệu quả trung gian cho thấy sự tác động của nền kinh tế quốc dân Việc giảmnhững chi phí trung gian sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm chi phí cuối cùng,tăng hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp

Vì vậy, các doanh nghiệp phải quan tâm, xác định các biện pháp đồng bộ

để thu được hiệu quả toàn bộ trên cơ sở các bộ phận

1.1.5 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp

Trang 17

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong các tiêu chí quan trọng đểcác nhà quản lý đánh giá quá trình thực hiện chức năng của mình Việc xemxét và tính toán hiệu quả kinh doanh không chỉ cho biết việc sản xuất kinhdoanh đạt ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản lý phân tích, tìm racác yếu tố tác động để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diệntăng kết quả sản xuất kinh doanh và tiết kiệm chi phí nhằm nâng cao hiệu quả.Với tư cách là một tiêu chí đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quảkhông chỉ được sử dụng ở góc độ tổng hợp, đánh giá chung tình hình sử dụngcác nguồn lực trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn được sử dụng để đánhgiá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào của toàn bộ doanh nghiệp hay từng

bộ phận của doanh nghiệp Ngoài ra, hiệu quả kinh doanh còn là biểu hiện củaviệc lựa chọn những phương án kinh doanh để đạt được mục tiêu tối đa hoálợi nhuận trong khi nguồn lực có hạn hay tối thiểu hoá chi phí để đạt đượcmột kết quả nhất định

Do sự chi phối của “quy luật khan hiếm” buộc các doanh nghiệp nóiriêng và các nhà quản lý nền kinh tế xã hội nói chung phải cân nhắc việc quản

lý, sử dụng các nguồn lực sản xuất hạn chế của xã hội như thế nào để thoảmãn nhu cầu ngày càng cao của con người Điều này buộc các doanh nghiệpphải sử dụng các nguồn lực sao cho có hiệu quả nhất, tiết kiệm nhất và đâycũng chính là một tất yếu để nâng cao hiệu quả kinh doanh Nâng cao hiệuquả kinh doanh là điều kiện thiết yếu để doanh nghiệp tồn tại và phát triển

Mục tiêu sau cùng, bao quát và dài hạn của mọi doanh nghiệp kinhdoanh trong nền kinh tế thị trường là tối đa hoá lợi nhuận, đây cũng là mụctiêu quan trọng nhất của doanh nghiệp Vì vậy, không chỉ tạo ra và duy trì khảnăng cạnh tranh để tồn tại và phát triển là đủ mà các doanh nghiệp còn mongmuốn để có lợi nhuận nhiều nhất và ngày càng cao trong điều kiện có thể Đểthực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp cũng sẽ nâng cao hiệu quả kinh doanh

Nâng cao hiệu quả kinh doanh là vấn đề đặt ra thường xuyên cho mỗidoanh nghiệp khi kế hoạch hoạt động kinh doanh và khả năng về nguồn lực

Trang 18

có những thay đổi Mỗi doanh nghiệp là một cơ thể sống, trong suốt chu kỳsống của mình, bắt đầu từ thời điểm ra đời cho đến khi phát triển, trưởngthành, doanh nghiệp luôn nằm trong sự vận động, tạo nên bởi những thay đổi

từ những yếu tố cấu thành nội lực bản thân doanh nghiệp và những thay đổicủa môi trường bên ngoài đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng Vì vậy, đốivới bất kỳ một doanh nghiệp nào, nội dung hoạt động kinh doanh được xáclập ban đầu không thể tồn tại bất di bất dịch trong suốt chu kỳ đời sống củadoanh nghiệp đó, mà nó luôn được thay đổi Sự thay đổi nội dung hoạt độngkinh doanh của mỗi doanh nghiệp như thế nào là tuỳ thuộc tác động ảnhhưởng của các yếu tố bên trong thuộc bản thân doanh nghiệp và các yếu tốbên ngoài thuộc môi trường kinh doanh

Trong suốt quá trình hoạt động, các doanh nghiệp luôn luôn phải đốidiện với môi trường kinh doanh biến động không ngừng, diễn biến phức tạp

và đầy rủi ro bất trắc Do đó, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phảikhông ngừng đổi mới tổ chức bộ máy quản lý, cải tiến các nghiệp vụ kinhdoanh, tổ chức tốt mọi nguồn lực trong doanh nghiệp như vật tư, tiền vốn, laođộng tận dụng mọi cơ hội kinh doanh để thực hiện các nghiệp vụ một cách

có hiệu quả nhất Có thể nói rằng, đối với các doanh nghiệp việc đẩy mạnhhoạt động kinh doanh là đòi hỏi khách quan không chỉ do sự thay đổi các yếu

tố bên trong thuộc bản thân doanh nghiệp mà còn do những biến động củamôi trường bên ngoài đặt ra Mỗi doanh nghiệp vừa là một hệ thống khép kín,trong đó các bộ phận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa là một hệ thống

mở, chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài và có tác động ngược trở lạivới môi trường bên ngoài Cơ cấu bộ máy tổ chức của doanh nghiệp và hệthống phương pháp quản lý của nó phụ thuộc nhiều vào yếu tố thuộc môitrường bên ngoài như nguồn cung ứng hàng hoá, tình hình cung cầu hàng hoátrên thị trường, trình độ phát triển kỹ thuật và công nghệ, tình hình cạnh tranhtrên thị trường Những ràng buộc của môi trường bên ngoài khiến cho tổ chức

Trang 19

kinh doanh không thể duy trì mô hình truyền thống một cách ổn định vữngchắc với những thể chế thủ tục quy định chi tiết rõ ràng.

Tốc độ biến đổi nhanh của môi trường và những xu hướng bất định của

nó buộc người quản lý doanh nghiệp phải có khả năng quyết định nhanhchóng kịp thời Nếu người quản lý không có khả năng ra quyết định hoặc raquyết định chậm thì tổ chức kinh doanh đó khó có khả năng thích nghi đượcvới những điều kiện mới, bỏ lỡ cơ hội kinh doanh

Để đáp ứng những đòi hỏi của thị trường các doanh nghiệp phải nângcao trình độ, đổi mới hoạt động kinh doanh, đổi mới tổ chức, bộ máy quản lý,cải tiến nghiệp vụ kinh doanh, quản lý và sử dụng tốt mọi nguồn lực trongdoanh nghiệp Từ đó cho thấy yêu cầu đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh doanh là vấn đề luôn đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp Thông qua

đó đạt được mục tiêu của doanh nghiệp và đóng góp vào sự phát triển chungcủa nền kinh tế đất nước

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp Tựu chung lại có thể chia thành hai nhóm:

1.2.1 Các nhân tố bên trong

- Lực lượng lao động: Đây là một nguồn lực, một yếu tố đầu vào quantrọng bậc nhất và có tính chất quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Ngày nay, kỹ thuật và công nghệ đã thay đổi phương thứclao động của con người trên nhiều lĩnh vực Kỹ thuật công nghệ càng pháttriển đòi hỏi đội ngũ lao động càng phải có trình độ chuyên môn cao Nguồnnhân lực của doanh nghiệp phải đảm bảo đủ năng lực về thể chất và tinh thầnđáp ứng được yêu cầu của công việc Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần cóbiện pháp sử dụng nhân lực hợp lý, bố trí lao động phù hợp với khả năng củatừng người, có chính sách đào tạo và đào tạo lại lao động cho phù hợp với sự

Trang 20

thay đổi của doanh nghiệp cũng như sự thay đổi của môi trường hoạt độngchung.

- Quy mô doanh nghiệp: Quy mô hoạt động của doanh nghiệp có ảnhhưởng quyết định đến lợi nhuận của doanh nghiệp Việc mở rộng hay thu hẹpquy mô sẽ tác động trực tiếp tới chi phí đầu vào và doanh thu đầu ra củadoanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh Xác định quy mô tối

ưu của doanh nghiệp cũng là xác định mức lợi nhuận tối ưu theo từng thời kỳ

- Cơ cấu sản xuất kinh doanh: Mỗi doanh nghiệp có một lợi thế nhấtđịnh trong việc sản xuất kinh doanh một số loại hàng hoá, lợi thế này đượcxác định trên cơ sở tiềm lực của doanh nghiệp, môi trường kinh tế xã hội vànhững mối liên hệ giữa doanh nghiệp với môi trường mà doanh nghiệp hoạtđộng Doanh nghiệp xây dựng được danh mục hàng hoá với tỷ trọng hợp lýcủa các mặt hàng sẽ phát huy được tối đa các nguồn lực của mình, đem lạidoanh thu cao nhất từ đó tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh

- Trang thiết bị, công nghệ: Việc lựa chọn sử dụng trang thiết bị, côngnghệ sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả kinh doanh hoặc ngược lại Trang thiết

bị, công nghệ càng hiện đại thì càng cho năng suất cao, tuy nhiên chi phí đầu

tư ban đầu lớn Trang thiết bị, công nghệ kém hiện đại cho năng suất thấp, sảnphẩm kém chất lượng nhưng chi phí đầu tư thấp Vì vậy, doanh nghiệp cầnchú ý lựa chọn trang thiết bị công nghệ phù hợp với khả năng về tài chínhcũng như chất lượng lao động của mình nhằm sản xuất ra sản phẩm có chấtlượng cao, giá thành hạ dẫn tới tối đa hoá lợi nhuận

- Nguồn vốn hoạt động: Đây là nhân tố có tác động trực tiếp đến quy môhoạt động, tính an toàn và chi phí hoạt động của doanh nghiệp Việc lựa chọn

cơ cấu nguồn vốn hợp lý, sử dụng nguồn vốn có chi phí thấp, dễ tiếp cận, tính

an toàn cao là một yêu cầu cấp thiết để tăng tính hiệu quả và an toàn tronghoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Chiến lược Marketing: Một chiến lược marketing bài bản, đầy đủ vàkhoa học bao gồm một chuỗi các công việc cần phải thực hiện có mối liên hệ

Trang 21

chặt chẽ với nhau như: Hoạch định chiến lược tiếp thị, phân khúc thị trường,lựa chọn mục tiêu, định vị thị trường mục tiệu Từ đó đưa ra các chiến lượcsản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối, chiến lược chiêu thị Chiếnlược marketing phù hợp sẽ giúp cho việc thực hiện các công đoạn này đạt kếtquả cao nhất với chi phí thấp nhất, dẫn tới tăng hiệu quả kinh doanh.

- Quản trị doanh nghiệp: Hoạt động quản lý bao gồm các khâu cơ bảnsau: định hướng chiến lược cơ bản phát triển doanh nghiệp trong khoảng thờigian nhất định, tuân chỉ mục tiêu đề ra, xây dựng kế hoạch phương án kinhdoanh, tổ chức hoạt động kinh doanh, đánh giá kiểm tra các hoạt động kinhdoanh Các khâu của quá trình này làm tốt sẽ tăng năng suất lao động, giảmchi phí kinh doanh từ đó làm tăng hiệu quả kinh doanh

1.2.2 Các nhân tố bên ngoài

- Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bảndưới luật, Mọi qui định pháp luật về kinh doanh đều tách động trực tiếp đếnkết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Vì môi trường pháp lý tạo

ra “sân chơi” để các doanh nghiệp cùng tham gia kinh doanh, vừa cạnh tranhlại vừa hợp tác với nhau nên việc tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh là rấtquan trọng Một môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động kinh doanh của mình lại vừađiều chỉnh các hoạt động kinh tế theo hướng không chỉ chú ý đến kết quả vàhiệu quả riêng mà còn phải chú ý đến các lợi ích của các thành viên kháctrong xã hội Môi trường pháp lý đảm bảo tính bình đẳng của mọi loại hìnhdoanh nghiệp sẽ điều chỉnh các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, cạnhtranh nhau một cách lành mạnh, mỗi doanh nghiệp buộc phải chú ý phát triểncác nhân tố nội lực, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và khoa họcquản trị tiên tiến để tận dụng được các cơ hội bên ngoài nhằm phát triển kinhdoanh của mình, tránh những đổ vỡ không cần thiết, có hại cho xã hội

- Quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước: Các chủ trương chính sách kinh

tế vĩ mô của Nhà nước tác động tới sự vận động của thị trường theo định

Trang 22

hướng của Nhà nước Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng thịtrường, từng thời kỳ mà chủ trương chính sách tác động theo những chiềuhướng khác nhau gây nên sự thay đổi trong quan hệ cung - cầu thị trường Vìvậy, nó có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào giá cả, chính sách củadoanh nghiệp để nhằm tối đa hoá hiệu quả kinh doanh.

- Chính trị xã hội: Các nhân tố này thường được thể hiện qua các chínhsách quốc gia dân tộc, quan hệ quốc tế, chiến tranh và hoà bình Sự thay đổicủa môi trường chính trị xã hội ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân.Nhân tố chính trị xã hội tác động trực tiếp đến kinh tế và cũng tác động trựctiếp đến thị trường bởi vì sự ổn định chính trị là tiền đề phát triển kinh tế Qua

đó, các doanh nghiệp cũng chịu sự chi phối của nó

- Tâm lý khách hàng: Tại mỗi thị trường, mỗi khu vực vào các thời kỳkhác nhau thì nhu cầu tiêu dùng cũng khác nhau ảnh hưởng tới đối tượnghàng hoá và quy mô hàng hoá của doanh nghiệp Vì vậy, khi nghiên cứu thịtrường, doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ tâm lý của người tiêu dùng từ đó đưa racác giải pháp tiếp cận mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp

- Thông tin: Mỗi quyết định đưa ra trong hoạt động kinh doanh phảidựa trên những nguồn thông tin đảm bảo độ tin cậy và phong phú Các dữ liệuthông tin quan trọng nhất là thông tin về thị trường Các doanh nghiệp khôngquan tâm đến thông tin một cách thường xuyên sẽ không nắm bắt được thôngtin chính xác và kịp thời dễ bị thất bại trong kinh doanh và hiệu quả kinhdoanh thấp

- Các nhân tố khách quan khác: Có những nhân tố ảnh hưởng đến hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp mà các nhà quản lý khó có thể dự đoántrước được như thiên tai, hoả hoạn các bạn hàng phá sản dẫn tới không thuhồi được nợ, lạm phát Các doanh nghiệp cần có phương án dự phòng nhữngtình huống này

Đây là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp Trong việc hoạch định chiến lược cũng như những hành động

Trang 23

cụ thể, doanh nghiệp cần chú trọng đến sự ảnh hưởng của các nhân tố nàynhằm đưa ra những biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh.

1.3 Nội dung đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.3.1 Các quan điểm cơ bản trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Hiệu quả kinh doanh là thước đo sự phát triển của doanh nghiệp Cácnhà quản trị hoạt động kinh doanh thực tế ở các doanh nghiệp và các nhà tàitrợ đều quan tâm xem xét đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.Đánh giá hiệu quả kinh doanh phải dựa trên các quan điểm sau:

- Đảm bảo sự thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị và kinh doanh trongnâng cao hiệu quả kinh doanh

Các doanh nghiệp mặc dù kinh doanh trong cơ chế thị trường nhưng có

sự quản lý của Nhà nước Do vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuấtphát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Đảng, Nhà nước.Điều này đảm bảo cân đối trên thị trường và tránh việc đi ngược lại mục tiêuphát triển của Nhà nước

- Kết hợp hài hoà lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích người laođộng

Sản xuất - phân phối - tiêu dùng là 3 quá trình gắn liền nhau trong nềnsản xuất xã hội Phân phối phải hợp lý mới thoả mãn được lợi ích của các bộphận, mới thực hiện được đòn bẩy kinh tế, kích thích nâng cao hiệu quả kinhdoanh Trong đó phải chú ý đến lợi ích của người lao động là yếu tố quyếtđịnh đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh

- Đảm bảo tính toàn diện và tính hệ thống trong việc nâng cao hiệu quảkinh doanh

Do hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều bộ phận,nhiều khâu do vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh phải nâng cao ở mỗi khâusản xuất Doanh nghiệp lại là một tế bào của nền sản xuất xã hội, là đơn vị

Trang 24

trong ngành do vậy nâng cao hiệu quả sẽ có tính đồng bộ và phải thực hiện ởmỗi doanh nghiệp, mỗi ngành và toàn xã hội.

- Đảm bảo tính thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.Không thể đánh giá việc nâng cao hiệu quả kinh doanh chỉ dựa vào cácchỉ tiêu đơn thuần mà cần phải xem xét mối tương quan giữa doanh nghiệpvới ngành, với địa phương và trong mối quan hệ tổng thể của cả nền kinh tế.Xem xét một cách khách quan như vậy sẽ giúp cho doanh nghiệp có biệnpháp về nâng cao hiệu quả kinh doanh mang tính khả thi cao, phù hợp vớiđiều kiện của cơ sở thực tiễn và chỉ tiêu nâng cao hiệu quả mới có đủ điềukiện để thực hiện

- Căn cứ vào kết quả cuối cùng cả về hiện vật và giá trị để đánh giáhiệu quả kinh doanh

Khi xem xét hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp không được xem xéttrên một mặt mà phải kết hợp cả hai mặt hiện vật và giá trị thì đánh giá mớichính xác được Bởi vì mặt hiện vật mới phản ánh được một phần kết quảkinh doanh của doanh nghiệp mà chưa thể hiện những giá trị doanh nghiệpthu về từ hoạt động kinh doanh đó Có thể về mặt hiện vật tăng nhưng giá trịlại giảm và ngược lại Doanh nghiệp không chỉ dựa vào một mặt để kết luậnxem hoạt động có hiệu quả hay không mà phải đồng thời kết hợp cả hai mặthiện vật và giá trị để xem xét

1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Để phản ánh chính xác và đầy đủ hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp trước hết phải xây dựng một hệ thống chỉ tiêu phù hợp với từng loạihình doanh nghiệp

1.3.2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu qủa kinh doanh

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá phải đảm bảo vừa phản ánh một cách tổngquát về hiệu quả kinh doanh, vừa phản ánh chi tiết, cụ thể cho từng loại tàisản của doanh nghiệp và của ngành Để hoạt động sản xuất kinh doanh diễn rabình thường thì hầu như doanh nghiệp vào cũng phải có đầy đủ các loại tài

Trang 25

sản theo một loại cơ cấu nhất định nào đó, do đó phải tính hiệu quả sử dụngchung cho toàn bộ tài sản Mặt khác cơ cấu tài sản cụ thể của từng doanhnghiệp không giống nhau do đó khả năng sản xuất, khả năng sinh lời của từngloại tài sản đó cũng không giống nhau Tính chất của từng loại tài sản cũngkhác nhau và quan hệ của từng loại tài sản với các chỉ tiêu kết quả sản xuấtkinh doanh cũng rất khác nhau, do đó việc tính riêng hiệu quả của từng loạitài sản là tất yếu.

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá bao gồm cả chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu chấtlượng Mặc dù hiệu quả đã là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ

ra, song để phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh thì lại có thể sử dụng nhiềuloại chỉ tiêu khác nhau- có chỉ tiêu phản ánh kết quả ban đầu (chưa tính đếnchi phí bỏ ra) và có chỉ tiêu lại phản ánh kết quả cuối cùng (đã tính đến cáckhoản chi phí) Nếu chỉ tiêu hiệu quả được tính theo kết quả ban đầu thì vẫnmang tính chất là một chỉ tiêu định lượng Bởi lẽ, nếu kết quả ban đầu bằngnhau nhưng chi phí khác nhau thì kết quả cuối cùng sẽ khác nhau – do đó chỉtiêu chất lượng (tính theo kết quả cuối cùng) sẽ chính xác hơn

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh phải phản ánh được sứcsản xuất, suất hao phí cũng như sức sinh lợi của từng yếu tố, từng loại vốn kể

cả tổng số và phần gia tăng và phải thống nhất với công thức đánh giá hiệuquả chung

Ngoài ra, hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh còn có thểđược phát triển mở rộng theo hướng sau:

- So sánh các chỉ tiêu phản ánh kết quả khác nhau với nhau Bởi lẽ, kếtquả ban đầu như nhau nhưng chi phí khác nhau thì kết quả cuối cùng sẽ khácnhau Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp trong cùng ngành thì tỷ suất chi phítrong kết quả là tương đương nhau, do đó hoàn toàn có thể so sánh theo cáchthức này VD: lãi ròng/ tổng doanh thu, lãi thuần từ HĐKD/Doanh thuthuần

Trang 26

- So sánh các chỉ tiêu phản ánh chi phí khác nhau với nhau vì mức độchi phí cao thể hiện hiệu quả kém, có thể lấy mức bình quân của ngành làmchuẩn Với cách này, ta có thể dùng các chỉ tiêu: giá trị hàng tồn kho/ vốn lưuđộng, chi phí bán hàng/ giá vốn hàng bán

Để phục vụ cho các mục đích khác nhau, các đối tượng khác nhau sửdụng kết quả đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cần phải xâydựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm hệ thống chỉ tiêu tổng hợp và hệthống chỉ tiêu chi tiết

1.3.2.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh tổng hợp

Khái niệm này phản ánh một cách tổng quát, bao trùm về hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định nào đó.Hiệu quả kinh doanh tổng hợp thường được dùng làm căn cứ để đánh giá,phân loại doanh nghiệp Về nguyên tắc, hiệu quả kinh doanh tổng hợp chịu sựphụ thuộc, tác động của hiệu quả kinh doanh bộ phận Sự phụ thuộc này cầnđược xem xét trên phương diện tổng hợp của các hiệu quả kinh doanh bộphận lên hiệu quả kinh doanh tổng hợp của toàn doanh nghiệp

Các chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp thích hợp dùng để đánh giá hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, thương mại vàdịch vụ bao gồm:

- Lợi nhuận

Lợi nhuận được coi là chỉ tiêu hiệu quả chung cho mọi doanh nghiệp Lợi nhuận được hình thành từ nhiều bộ phận và được đo bằng phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra để có được doanh thu đó

Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phíChỉ tiêu này cho biết con số tuyệt đối thu được của một chu kỳ kinhdoanh sau khi đã trừ đi chi phí để tạo ra thu nhập đó Chỉ tiêu lợi nhuận mớiphản ánh được mặt lượng của hiệu quả kinh doanh, chưa phản ánh được chínhxác chất lượng hiệu qủa cũng như các tiềm lực nâng cao hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp Mặt khác nó không cho phép so sánh hiệu quả kinh doanh

Trang 27

giữa các thời kỳ hay giữa các doanh nghiệp với nhau Một điều quan trọngnữa là cách tính trên không biểu hiện được doanh nghiệp đã tiết kiệm haylãng phí lao động xã hội Vì vậy, phải xem xét lợi nhuận trong mối tươngquan với các yếu tố khác.

- Lợi nhuận trên toàn bộ vốn kinh doanh:

Chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận thu được trên toàn bộ vốn kinh doanhcủa doanh nghiệp, bao gồm cả vốn chủ sở hữu và vốn đi vay để kinh doanh

Có thể nói đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động củacác doanh nghiệp kinh doanh

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (%) = Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh càng có hiệuquả và ngược lại Đây là một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng đồng vốn, kỹnăng sử dụng đồng vốn hay mức độ lợi dụng vốn Chỉ tiêu này cho thấy trongmột trăm đồng vốn bỏ ra kinh doanh thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận

- Doanh thu trên chi phí sản xuất

Chi phí là một nhân tố quan trọng quyết định tính hiệu quả trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tính hiệu quả kinh tế theo chiphí được xác định như sau:

Doanh thu trên

chi phí sản xuất =

Tổng doanh thuTổng chi phí hoạt động sản xuất kinh doanhChỉ tiêu này cho biết 1 đồng chi phí dùng cho hoạt động sản xuất kinhdoanh mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ thu được bao nhiêu đồng doanh thu.Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động càng có hiệu quả

- Doanh thu trên vốn kinh doanh

Doanh thu trên vốn kinh doanh =

Trang 28

Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn kinh doanh trong kỳ đem lại baonhiêu đồng doanh thu cho doanh nghiệp Doanh nghiệp luôn phấn đấu nângcao chỉ tiêu này.

1.3.2.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh

Bên cạnh các chỉ tiêu hiệu quả tổng quát phản ánh khái quát và chophép kết luận về hiệu quả kinh doanh của toàn bộ quá trình sản xuất kinhdoanh, phản ánh trình độ sử dụng tất cả các yếu tố tham gia vào quá trình sảnxuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tư liệu sản xuất, nguyên, nhiênvật liệu, lao động, và tất nhiên bao hàm cả tác động của yếu tố quản trị đếnviệc sử dụng có hiệu quả các yếu tố trên) thì người ta còn dùng các chỉ tiêu bộphận để phân tích hiệu quả kinh doanh của từng mặt hoạt động, từng yếu tốsản xuất cụ thể

Các chỉ tiêu hiệu quả bộ phận đảm nhiệm hai chức năng cơ bản sau:

- Phân tích có tính chất bổ sung cho chỉ tiêu tổng hợp để trong một sốtrường hợp kiểm tra và khẳng định rõ hơn kết luận được rút ra từ các chỉ tiêutổng hợp

- Phân tích hiệu quả từng mặt hoạt động, hiệu quả sử dụng từng yếu tốsản xuất nhằm tìm biện pháp làm tối đa chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp.Đây là chức năng chủ yếu của hệ thống chỉ tiêu này

Mối quan hệ giữa chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp và chỉ tiêu hiệuquả kinh tế bộ phận không phải là mối quan hệ cùng chiều, trong lúc chỉ tiêutổng hợp tăng lên thì có thể có những chỉ tiêu bộ phận tăng lên và cũng có thể

có chỉ tiêu bộ phận không đổi hoặc giảm Vì vậy, cần chú ý là:

+ Chỉ có chỉ tiêu tổng hợp đánh giá được hiệu quả toàn diện và đại diệncho hiệu quả kinh doanh, còn các chỉ tiêu bộ phận không đảm nhiệm đượcchức năng đó

+ Các chỉ tiêu bộ phận phản ánh hiệu quả kinh tế của từng mặt hoạtđộng (bộ phận) nên thường được sử dụng trong thống kê, phân tích cụ thể

Trang 29

chính xác mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, từng mặt hoạt động, từng bộphận công tác đến hiệu quả kinh tế tổng hợp.

Hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh rất đa dạng và phongphú, có thể đáp ứng các yêu cầu khác nhau của người nghiên cứu Nhưngtrong phạm vi giới hạn nhất định, với điều kiện cụ thể cho phép, phải lựa chọncác chỉ tiêu chủ yếu để thoả mãn mục đích nghiên cứu với chi phí thấp nhất

Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận thích hợp sử dụng để đánhgiá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu tư,thương mại và dịch vụ gồm:

a Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản cố định, vốn cố định.

Vốn là một trong những điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đượcthành lập, tồn tại và phát triển Vốn là giá trị được biểu hiện bằng tiền củatoàn bộ tài sản được sử dụng đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp bằng mục đích sinh lời Vốn bao hàm cả tài sản vô hình và tàisản hữu hình, vốn đồng thời cũng là tài sản lưu động và tài sản cố định, theonghĩa đó vốn cũng bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay Tuy nhiên cũng cầnphân biệt những tài sản chưa đưa vào sử dụng trong quá trình sản xuất kinhdoanh thì chỉ được xem là vốn tiềm năng, vốn có thể huy động được chứ chưaphải là vốn kinh doanh Mặt khác vốn đã đầu tư vào kinh doanh nhưng khônghoạt động, lưu chuyển được trong quá trình kinh doanh thì được gọi là vốn

“chết”, như vốn bị chiếm dụng, đầu tư vào tài sản không sử dụng được, hànghoá bị tồn kho Những điều này phản ánh sự yếu kém trọng quản lý vốn.Những đồng vốn này không những không sinh lợi cho doanh nghiệp mà còntăng thêm chi phí như chi phí nhân công theo dõi, sửa chữa máy móc làmgiảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Có thể nói việc quản lý sử dụng vốn có hiệu quả chính là nâng cao hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn phải lấychuẩn so sánh giá trị bình quân đạt được của ngành Trong trường hợp doanhnghiệp mang tính đặc thù, các biệt hoặc chưa có số liệu thống kê của ngành

Trang 30

có thể so sánh với những doanh nghiệp cùng dạng hay lãi suất ngân hàng tạithời điểm phân tích Nếu tỷ suất lợi nhuận trên vốn của doanh nghiệp lớn hơnhoặc bằng tỷ suất lợi nhuận trên vốn bình quân của ngành, các doanh nghiệpcùng loại thì doanh nghiệp được coi là sử dụng vốn có hiệu quả và ngược lại.

Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là chỉ tiêuphản ánh kết quả tổng hợp nhất quá trình sử dụng các loại vốn Đó chính là sựtối thiểu hoá số vốn cần sử dụng và tối đa hoá kết quả hay khối lượng nhiệm

vụ sản xuất kinh doanh trong một giới hạn về nguồn nhân tài vật lực, phù hợpvới hiệu quả kinh tế nói chung

Hiệu quả sử dụng tài sản cố định, vốn cố định:

Sức sinh lời của vốn (tài sản) cố định = Tổng giá trị tài sản cố định được hiểu là đã trừ đi phần hao mòn tài sản

cố định tích lũy đến thời điểm lập báo cáo Ngoài ra, trong những điều kiệnnhất định còn có thể được cộng thêm những chi phí xây dựng dở dang Chỉtiêu sức sinh lời của tài sản cố định biểu hiện một đồng tài sản cố định trong

kỳ sản xuất ra bình quân bao nhiều đồng lãi, thể hiện trình độ sử dụng tài sản

cố định trong sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lợi của tài sản cố định

Sức sản xuất của vốn cố định = Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu, doanh nghiệp cầnphải sử dụng bao nhiêu đồng vốn cố định

Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn cố định có thể thấy các nguyên nhâncủa việc sử dụng vốn cố định không có hiệu quả thường là đầu tư tài sản cốđịnh quá mức cần thiết, tài sản cố định không sử dụng chiếm tỉ trọng lớn, sửdụng tài sản cố định với công suất thấp hơn mức cho phép

b Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Sức sinh lời của vốn lưu động = Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tạo ra bao nhiêu lợi nhuậntrong kỳ

Trang 31

Ngoài ra, hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn được phản ánh gián tiếp qua số vòng luân chuyển vốn lưu động trong năm hoặc số ngày bình quân một vòng luân chuyển vốn lưu động trong năm

Số vòng luân chuyển vốn lưu

Tổng doanh thuVốn lưu động bình quânThời gian bình quân một vòng luân chuyển vốn lưu động trong năm = 365/SVLC

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động tỷ lệ thuận với số vòng quay vốn lưuđộng Số vòng quay vốn lưu động cao sẽ có thể đưa tới hiệu quả sử dụng vốncao

Trong các công thức trên, vốn lưu động bình quân là số trung bình củagiá trị vốn lưu động ở thời điểm đầu kỳ và ở thời điểm cuối kỳ

c Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) = Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu thì sinh ra bao nhiêuđồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sửdụng vốn chủ sở hữu càng hiệu quả Ngược lại chỉ tiêu này thấp thì doanhnghiệp cần xem xét các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn chủ

sở hữu

d Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng các khoản chi phí:

Thông thường, các doanh nghiệp muốn có được kết qủa sản xuất kinhdoanh thì phải chi ra một khoản chi phí hay nói cách khác, khi bỏ chi phí rangười ta mong thu được một số kết quả nào đó Điều đó cũng có nghĩa là, cácchỉ tiêu chi phí luôn có quan hệ với các chỉ tiêu kết quả (qua đó hình thànhcác chỉ tiêu hiệu quả)- tuy nhiên có mối quan hệ trực tiếp và chặt chẽ, cónhững mối quan hệ gián tiếp và không chặt chẽ

Chi phí là các khoản chi mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong kỳ kinhdoanh để mang lại doanh thu và các lợi ích khác Chi phí phụ thuộc vào đặcđiểm kinh doanh và ngành nghề Khi phân tích hiệu quả kinh doanh thông quachi phí ta thường xem xét các chỉ tiêu sau:

Trang 32

Tỷ suất giá vốn hàng bán trên doanh thu thuần = x 100%

Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng doanh thu thuần thu được thìdoanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng trị giá vốn hàng bán Tỷ suất nàycàng nhỏ chứng tỏ việc quản lý các khoản chi phí trong giá vốn hàng báncàng tốt và ngược lại

Tỷ suất chi phí bán hàng trên doanh thu thuần = x100%

Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng doanh thu thuần thu được thìdoanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí bán hàng Tỷ suất này càngnhỏ chứng tỏ doanh nghiệp đã tiết kiệm chi phí bán hàng và như vậy hiệu quảkinh doanh càng cao

Tỷ suất chi phí QLDN trên doanh thu thuần = x 100%

Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng doanh thu thuần thu được thìdoanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí cho quản lý doanh nghiệp Tỷsuất này càng nhỏ chứng tỏ việc quản lý có hiệu quả các khoản chi phí nàycàng cao và ngược lại

e Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động

Số lượng và chất lượng lao động là yếu tố cơ bản trong sản xuất,góp phần quan trọng trong năng lực sản xuất của doanh nghiệp Hiệu quả sửdụng lao động biểu hiện ở năng suất lao động, mức sinh lời của lao động vàhiệu suất tiền lương

+ Năng suất lao động

Trước hết có năng suất lao động bình quân trong kỳ xác định theo công thức:

Năng suất lao động

bình quân trong kỳ =

Tổng doanh thu trong kỳTổng số lao động bình quân trong kỳ Năng suất lao động bình quân trong kỳ chịu ảnh hưởng rất lớn của việc

sử dụng thời gian lao động trong kỳ: số ngày bình quân làm việc trong năm,

số giờ bình quân làm việc mỗi ngày của lao động trong doanh nghiệp và năngsuất lao động bình quân mỗi giờ

Trang 33

Năng suất lao động phản ánh giá trị doanh thu mà một lao động sảnxuất ra trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm Chỉ tiêu này càng caothì phản ánh hiệu quả kinh doanh càng cao

+ Chỉ tiêu mức sinh lời bình quân của lao động

Bên cạnh chỉ tiêu năng suất lao động, chỉ tiêu mức sinh lời bình quân của một lao động cũng thường được sử dụng Mức sinh lời bình quân của một lao động cho biết mỗi lao động được sử dụng trong doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận trong một thời

kỳ nhất định Chỉ tiêu này có thể được xác định theo công thức:

LN bình quân trên

một lao động trong kỳ =

Lợi nhuận trong kỳTổng số lao động bình quân trong kỳChỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng lao động và hiệu quả kinhdoanh càng cao và ngược lại

f Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh ở từng bộ phận bên trong doanh nghiệp

Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động ở từng bộ phận kinh doanh của doanhnghiệp phản ánh tính hiệu quả của hoạt động chung cũng như từng mặt hoạtđộng kinh tế diễn ra ở từng bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp Đó có thể

là các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư đổi mới công nghệ hoặc trang thiết bịlại ở phạm vi toàn doanh nghiệp hoặc từng bộ phận bên trong doanh nghiệp;hiệu quả ở từng bộ phận quản trị và thực hiện các hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp; hiệu quả của từng quyết định sản xuất kinh doanh và thực hiệnchức năng quản trị doanh nghiệp; Tùy theo từng hoạt động cụ thể có thể xâydựng hệ thống chỉ tiêu và tiến hành đánh giá hiệu quả hoạt động thích hợp.Vềnguyên tắc, đối với hiệu quả của từng bộ phận công tác bên trong doanhnghiệp (từng phân xưởng, từng ngành, từng tổ sản xuất, ) có thể xây dựng

hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tương tự như hệ thống chỉ tiêu

đã xác định cho phạm vi toàn doanh nghiệp

Kết luận

Trang 34

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là thúc đẩy tăng trưởng kinhtế- xã hội, doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh để tồn tại và phát triển.Muốn vậy, doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả.

Nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện tiên quyết của bất kỳ doanhnghiệp nào Các doanh nghiệp dựa vào đặc thù riêng của mình để xem xét đầy

đủ các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nhằm đưa ra những biệnpháp phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh doanh Chương I đã chỉ ra hệ thốngchỉ tiêu phù hợp với việc phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệphoạt động trong lĩnh vực đầu tư, thương mại và dịch vụ

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG NAM HẢI 2.1 Tổng quan về công ty Cổ phần Cảng Nam Hải

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty Cổ phần Cảng Nam Hải

Trang 35

Nam Hải là hệ thống cảng khu vực phía Bắc thuộc tập đoàn Gemadept– Tập đoàn có 20 năm kinh nghiệm khai thác cảng, sở hữu cảng và cơ sở hạtầng cảng biển dọc đất nước Việt Nam.

Công ty Cổ phần Gemadept là cổ đông sáng lập của Công ty Cổ phần

Cảng Nam Hải với tỷ lệ vốn góp là 30% và được các cổ đông khác ủy thác

điều hành sản xuất Hiện nay cổ phần của Gamedept trong công ty đã lên đến99,98%

Công ty cổ phần Cảng Nam Hải được thành lập và hoạt động theo giấychứng nhận đăng ký kinh doanh số 0203003188 ngày 08/06/2007 do Sở kếhoạch và Đầu tư Hải Phòng cấp và chính thức đi vào hoạt động từ năm năm

2009

Tên công ty bằng tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG NAM HẢI

Tên công ty bằng tiếng Anh: NAM HAI PORT CORPORATION

Tên viết tắt: NHP CORP

Địa chỉ trụ sở chính: số 201 Ngô Quyền, PhườngMáy Chai, Quận NgôQuyền, TP.Hải Phòng

Điện thoại: (84 – 031)3 759 130

Fax : (84 – 301) 3 654 877

Vốn điều lệ ban đầu : 75.000.000.000 đồng Trong quá trình hoạt độngngày 12/07/2010 Công ty thay đổi đăng ký kinh doanh lần thứ hai về việctăng vốn điều lệ từ 75.000.000.000 đồng lên 100.000.000.000 đồng Và đăng

ký thay đổi lần thứ 3 ngày 16/2/2011 về bổ sung thêm ngành nghề kinhdoanh

Công ty CP Cảng Nam Hải tuy là một doanh nghiệp trẻ nhưng đã, đang

và sẽ là một nhân tố năng động góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành vậntải biển nói riêng và của nền kinh tế quốc gia nói chung

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty

Trang 36

Công ty Cổ phần Cảng Nam Hải chuyên cung cấp các dịch vụ sau:

o Đầu tư khai thác cảng

o Xây dựng bến cảng

o Xây dựng nhà các loại

o Kinh doanh kho bãi và các hoạt động hỗ trợ vận tải

o Vận tải hàng hóa bằng đường bộ

o Vận tải đường thủy

o Kho bãi và lưu giữ hàng hóa

o Bốc xếp hàng hóa

o Dịch vụ đại lý tàu biển

o Xây dựng công trình đường sắt và đường bộ

o Hoạt động dịch vụ hỗ trợ trực tiếp cho vận tải đường thủy: Dịch

vụ vận tải hàng hóa, hành khách đường thủy; Hoạt động cứu hộphương tiện vận tải thủy; Hoạt động lai dắt, đưa tàu cập bến;Trục vớt tàu thuyền;

o Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khác liên quan đến vận tải: Dịch vụmôi giới hàng hải; Dịch vụ giao nhận hàng hóa; Hoạt động đónggói liên quan đến vận tải; hoạt dộng môi giới thuê tàu biển; dịch

vụ Logistics

o Xây dựng bến bãi, công trình công nghiệp

o Vận tải hàng hóa ven biển và viễn dương

o Dịch vụ đại lý vận tải đường biển

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty

Trang 37

Ban Lãnh đạo của Công ty Cổ phần Cảng Nam Hải là những cán bộ cónăng lực, trình độ cao, có kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vựcshipping/terminal và kinh nghiệm quản lý tốt.

Tính đến tháng 12 năm 2014 nhân sự Của công ty cổ phần cảng NamHải gồm có 141 người Đội ngũ nhân viên của Công ty đều là những nhânviên trẻ, đầy nhiệt huyết, được đào tạo bài bản và chuyên nghiệp Đội ngũnhân viên của Công ty luôn đoàn kết, phối hợp ăn ý, để công việc chung luônđược trôi chảy, đem lại sự phục vụ tốt tới khách hàng

Nhân sự tại cảng Nam Hải còn được sự hỗ trợ nhiệt tình từ cán bộ côngnhân viên của các công ty khác trong cùng hệ thống Gemadept như GMDHPH và công ty galaxy

Công ty được tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp Bộ máy hoạtđộng của Công ty được hoạt động theo mô hình công ty cổ phần theo sơ đồ

sau: (Xem sơ đồ trang sau)

Trang 38

PHÓ GIÁM ĐỐC KỸ THUẬT

PHÓ GIÁM ĐỐC THƯỜNG TRỰC

Phòng tổ

chức hành

chính

Phòng Marketing

Phòng kế toán

Phòng kỹ thuật

Phòng kiểm soát rủi ro

Phòng nhân sự tiền lương

Phòng demo (Kho bãi)

Ngày đăng: 20/04/2016, 22:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Cơ cấu lao động theo trình độ năm 2010 – 2014 - Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần cảng nam hải
Bảng 2.1 Cơ cấu lao động theo trình độ năm 2010 – 2014 (Trang 41)
Bảng 2.2:  Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2010 – 2014 - Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần cảng nam hải
Bảng 2.2 Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2010 – 2014 (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w