Ngày nay, các loài cây có củ trở nên rất đa dạng, chúngphân bố trên khắp thế giới, được sản xuất với chi phí đầu vào thấp và thườngđược tiêu thụ bởi những người nghèo nhất, nhưng nó lại
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới sự hưỡng dẫn trực tiếp của
Thạc sĩ Dương Thị Thanh Thảo, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và Tiến
sĩ Lê Đồng Tấn, Trung tâm nghiên cứu Công nghệ cao, Viện Hàn lâm Khoa
học và Công nghệ Việt Nam đã quan tâm, tận tình giúp đỡ em rất nhiều để em
có được một khóa luận đạt kết quả tốt nhất
Em cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của các cán bộ phòng Thực vật Dân tộchọc, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học vàCông nghệ Việt Nam đã cung cấp thêm cho em các tài liệu và làm một số tiêubản về cây có củ trong nghiên cứu
Ngoài ra, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoaSinh - Kĩ thuật Nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điềukiện cho em để em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2014.
Người thực hiện
Đỗ Thị Trang
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảnghiên cứu, số liệu được trình bày trong khóa luận là trung thực và khôngtrùng với công trình của các tác giả khác
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2014.
Người thực hiện
Đỗ Thị Trang
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Các nghiên cứu về đa dạng thực vật 3
1.1.1 Những nghiên cứu về thành phần loài 3
1.1.2 Những nghiên cứu về dạng sống thực vật 4
1.2 Những nghiên cứu về cây có củ 5
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.2 Phạm vi nghiên cứu 11
2.3 Thời gian nghiên cứu 11
2.4 Phương pháp nghiên cứu 11
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14
3.1 Thành phần loài cây có củ tại xã Nam Viêm 14
3.2 Tính đa dạng về dạng sống của cây có củ tại xã Nam Viêm 18
3.3 Nguồn gốc cây có củ tại xã Nam Viêm 19
3.4 Tình hình canh tác và sử dụng cây có củ tại xã Nam Viêm 20
3.4.1 Tình hình canh tác cây có củ tại xã Nam Viêm 20
3.4.2 Giá trị sử dụng của các loài cây có củ 21
3.5 Đề xuất biện pháp phát triển và bảo tồn tài nguyên cây có củ tại xã Nam Viêm 28
KẾT LUẬN 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34 PHỤ LỤC
Trang 4MỤC LỤC BẢNG
Bảng 3.1 Danh lục các loài cây có củ tại xã Nam Viêm 14
Bảng 3.2 Tổng hợp dạng sống cây có củ tại xã Nam Viêm 19
Bảng 3.3 Nguồn gốc cây có củ tại xã Nam Viêm 20
Bảng 3.4 Nhóm cây làm lương thực, thực phẩm 22
Bảng 3.5 Nhóm cây làm gia vị 23
Bảng 3.6 Nhóm cây có tác dụng làm thuốc 24
Bảng 3.7 Nhóm cây dùng làm cảnh 26
Bảng 3.8 Nhóm cây chứa tinh dầu 27
Bảng 3.9 Thực trạng một số loài cây có củ ở Nam Viêm 29
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Từ rất xa xưa, con người đã biết khai thác và sử dụng các sản phẩm từ
thực vật để có thể tồn tại và phát triển, trong đó có các sản phẩm đặc biệt màchúng ta gọi là củ Ngày nay, các loài cây có củ trở nên rất đa dạng, chúngphân bố trên khắp thế giới, được sản xuất với chi phí đầu vào thấp và thườngđược tiêu thụ bởi những người nghèo nhất, nhưng nó lại đóng góp đáng kểcho an ninh lương thực cũng như được dùng làm nguyên liệu cho quá trình
sản xuất công nghiệp Đối với người dân Việt thì các loài cây này là một phần
không thể thiếu trong đời sống, chúng xuất hiện trong dân ca Việt Nam, trongcác bài thuốc dân gian, trong những công thức làm đẹp từ thiên nhiên, lànguyên liệu tạo mùi thơm cho các sản phẩm công nghiệp hay làm tăng thêmtính thẩm mĩ, làm giàu có thêm cho tâm hồn con người,
Nam Viêm là một xã thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, người dânnơi đây gắn bó với đồng ruộng từ lâu đời, sự xen canh các cây trồng có củkhông chỉ phục vụ nhu cầu trong xã mà còn được trao đổi với các vùng lâncận như xã Tiền Châu, phường Xuân Hòa Với họ thì cây có củ cũng là một
bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu sản xuất nông nghiêp, đem lại nhiều lợiích về mặt kinh tế Song do quá trình công nghiệp hóa đã làm cho cơ cấutrồng, khai thác cây có củ có nhiều sự thay đổi và do chưa có nghiên cứu đầy
đủ nào trước đó về cây có củ ở địa phương nên chúng tôi đã chọn đề tài
“Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cây có củ tại xã Nam Viêm- thị xã
Phúc Yên- tỉnh Vĩnh Phúc ”.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng thành phần loài cây có củ làm cơ sở khoa học chocông tác khai thác, bảo tồn và phát triển nguồn gen cây có củ tại khu vực xãNam Viêm
Trang 63 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu về tính đa dạng về thành phần loài cây có củ tại xã NamViêm từ đó xây dựng danh lục các loài cây có củ tại xã Nam Viêm
Nghiên cứu tính đa dạng về dạng sống cây có củ tại xã Nam Viêm
Tình hình canh tác cây có củ tại xã Nam Viêm
Nghiên cứu giá trị các loài cây có củ tại địa phương
Đề xuất các biện pháp bảo tồn và khai thác các loài cây có củ tại địaphương
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Bổ sung các dẫn liệu về tính đa dạng các loài cây có
củ tại xã Nam Viêm
- Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả là cơ sở để đánh giá về thành phần loài
cây có củ ở địa phương, từ đó làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biệnpháp bảo tồn, khai thác và sử dụng cây có củ tại địa phương
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các nghiên cứu về đa dạng thực vật
Theo IUCN (Liên minh Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế), đa dạng sinh học(Biodiversity, biological): Là sự phong phú của sinh giới từ mọi nguồn trênTrái Đất Bao gồm đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái.Việc nghiên cứu đa dạng các loài thực vật trên thế giới đã được tiến hành
từ lâu Chủ yếu là nhằm xác định cơ sở khoa học để đề xuất các biện phápkhoa học cho việc xác định các biện pháp kĩ thuật tác động vào các hệ thựcvật nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường
1.1.1 Những nghiên cứu về thành phần loài
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứuđược tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiêncứu của Vusotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicop (1933),Creepva (1978) Theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảmthực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởithành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Do đóviệc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là một chỉ tiêu quantrọng trong nghiên cứu đa dạng thực vật [7]
Pócs Tama’s (1965) đã thống kê được ở miền Bắc Việt Nam có 5.190loài thực vật [25]
Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1970) đã thống kê và bổ sung số loài ở miềnBắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ với 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540loài thuộc các ngành còn lại [25]
Thái Văn Trừng (1978) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loàithực vật bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi, 289 họ [25]
Trang 81.1.2 Những nghiên cứu về dạng sống thực vật
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái, cấu trúc cơ thể thựcvật thích nghi với điều kiện môi trường sống Nó liên quan chặt chẽ với cácnhân tố sinh thái của mỗi vùng, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâmnghiên cứu từ rất sớm
Schow (1823) đã nghiên cứu về sự phân bố của thực vật và cho rằng:Cách mọc được hiểu là đặc điểm phân bố của các loài trong quần xã [7]
Theo Ewarming (1884, 1908, 1909) khi nghiên cứu và phân chia dạngsống của thực vật thuộc thảo vùng ôn đới đã sử dụng những đặc điểm sinh vậthọc như: đặc điểm chồi, những phương thức sinh sản, sự kéo dài đời sống, sựphát triển,
Drude (1913), Raunkiner (1905, 1934) khi phân chia dạng sống đã sửdụng vị trí của chồi và khả năng tồn tại trong điều kiện bất lợi làm tiêu chuẩn
để phân chia [8]
I.K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thườngxanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trênmặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật cóthời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và pháttriển lâu năm G N Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớpcây nhiều năm và lớp cây hàng năm [7]
Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất
là hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer(1934) [25] để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong cácdạng sống đó Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khảnăng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp cácdấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ởđâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm
Trang 9Nhìn chung, những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trênthế giới và ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu, đánh giá thành phần loài ởmột vùng và khu vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tươngquan với điều kiện địa hình và khí hậu Tuy vậy, số lượng các công trìnhnghiên cứu còn chưa nhiều, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn, rộng rãi hơnnhằm mục đích có thể đánh giá chính xác thành phần loài thực vật đặc trưngcủa một khu vực hoặc một quốc gia.
1.2 Những nghiên cứu về cây có củ
Trong "Từ điển Bách khoa Thực vật học Việt Nam", của tác giải Nguyễn
Bá và cộng sự, xuất bản 2014, đưa ra khái niệm về như sau: Củ (tuber) làphần phình lên ở thân hoặc rễ, thường là biến dạng cho chức năng dự trữ,
thường là chỉ cho 1 năm mà thôi, ví dụ củ thân như Khoai tây (Solanum tuberosum ), củ rễ như Thược dược (Dahlia pinnata) Củ rễ phát triển từ các
rễ phụ Củ thân phân biệt với củ rễ ở chỗ có chồi hay ‘mắt’[1]
Còn cuốn sách "Plant resources of South- East Asia", tập 14, Vegetableoils and fats, các tác giả H A M var der Vossen và B E Umail (Editor) có
đề cập đến khái niệm về củ hành (buld): Là một cơ quan phía dưới mặt đấtvới thân chính rất ngắn mang theo lá cơ sở phình ra hoặc các vảy lá kèm theo
đó là các chồi non [29]
Tác giả Trần Bá Cừ viết trong cuốn sách "Rau-hoa-quả-củ làm thuốc",khái niệm về củ được giới thiệu như sau: Củ là các bộ phận của thực vật pháttriển ngầm dưới mặt đất, tích lũy chất dinh dưỡng dự trữ giúp cây qua thời kìrụng lá mùa đông có điều kiện chuyển lên phát triển các chồi xuân năm saukhỏi mặt đất hay thúc các mầm ngủ trên thân, cành, ngọn cây đông trước đãrụng lá mọc lên Ba dạng thường gặp:
Trang 101 Rễ củ (tuberculum) như củ Khoai lang, củ Sắn dây thường chứanhiều đường, bột, các glucozit, một số ancaloit và nhiều loại vitamin Có củ
do rễ cái, có củ do các rễ bên tạo thành
2 Thân hành còn gọi là giò hành hay rò (Bulbus) như: củ Hành, củTỏi, là các bẹ lá cùng mọc từ một thân đế ngầm phình lên chứa chất dự trữthường kèm theo nhiều lại tinh dầu và tích tụ cả sunfua
3 Thân rễ (Rhizoma) như củ Riềng, củ Gừng mang các lá địa sinhbiến thành vảy không có diệp lục Các loại thân rễ này chứa nhiều glucozit vàancaloit
Đôi khi còn gặp những cành địa sinh phình lên thành củ ngầm nhưKhoai tây và những cành khí sinh thành củ treo như Khoai mài, Khoai vạchoặc thân phình lên thành củ như củ Su hào Các loại củ này chứ nhiều đườngtinh bột hay protein [10]
Trong cuốn "Giải phẫu hình thái học thực vật" của Hoàng Thị Sản vàTrần Văn Ba, đưa ra các kiểu hình thái là các biến thái của các rễ, thân Trong
đó có đề cập tới 3 dạng: rễ củ, thân hành, thân củ như sau:
Rễ củ: Ở một số cây, rễ phồng to và nạc, chứa chất dự trữ tạo thành rễ
củ Rễ củ là dạng biến động của rễ và có sự tham gia của trụ trên và dưới lámầm Rễ củ có thể phát triển thành rễ chính, như Củ cải, Cà rốt (trong trườnghợp này rễ củ có mang các rễ bên, gồm có phần đầu mang các lá và có rễchính thức) hoặc có thể phát triển từ rễ bên như Sắn, Khoai lang,
Hành: Hình quả lê, hình cầu dẹt, hình trứng, gồm các bẹ lá (phần xòerộng của gốc lá) xếp úp lên nhau, chứa chất dự trữ Các bẹ đó gọi là vảy hành.Nằm giữa các vảy đó là chồi ngọn, nách các vảy có thể có chồi nách, từ đó cóthể phát triển các hành non Thân chính ở đây thường rất ngắn, hình nón hayhình đĩa, mang nhiều rễ phụ ở phía dưới
Trang 11Thân củ: Là loại thân hoặc cành phồng lên, tích chứa chất dự trữ Thân củ có thể hình thành trên mặt đất và có màu lục (như Su hào), hoặc hìnhthành ở dưới đất (như Khoai tây) Mỗi củ Khoai tây do một cành biến đổi, khinằm trong đất nó không chứa diệp lục, nhưng để ra ngoài sáng nó lại có màu lục [22].
Thực vật nước ta rất phong phú và đa dạng Ở mỗi loài cây lại có lợi íchkhác nhau đối với cuộc sống của con người Con người luôn luôn tìm tòi để
có hiểu biết hơn về thế giới thực vật, từ đó khai thác các giá trị khác nhau đểphục chính nhu cầu cuộc sống
Theo Võ Văn Chi và Trần Hợp trong "Cây cỏ có ích ở Việt Nam" (2002)
đã chia ra 11 nhóm cây có ích bao gồm: nhóm cây cung cấp gỗ; nhóm cây chosợi; nhóm cây có nhựa mủ, gôm, tinh dầu; nhóm cây cho dầu béo, sáp mỡ;nhóm cây cho dầu thơm (hương liệu); nhóm cây cho tanin, chất nhuộm; nhómcây làm thuốc, diệt sâu bọ, cỏ dại; nhóm cây làm lương thực, cây cho bột,đường; nhóm cây làm thực phẩm; nhóm cây làm thức ăn gia súc và nhóm câycho gia vị, nước uống Cây có củ được xếp vào nhóm cây làm lương thực [6]
Trong đó, củ tạo thành có thể là thân, rễ, thân ngầm của các loài câycho củ chứa các chất dinh dưỡng Có khoảng 261 loài trong 90 chi và 50 họthực vật với nhiều loài cho củ trở thành cây lương thực như Khoai tây, Sắn,Khoai lang [6]
Theo GS.TS Nguyễn Văn Luật thì cây có củ chiếm một vị thế đáng kểtrong cơ cấu lương thực của nước ta.Vị thế của cây có củ lương thực có lẽ đạtđỉnh cao vào những khi thiếu gạo, mà đỉnh cao nhất vào thời gian trước năm
1945 Hồi trước cách mạng (1945), người dân quê thường phải ăn độn Khoailang, Khoai tây và các loại củ khác bù cho gạo thiếu trong bữa ăn của ngườinghèo, chưa kể đến Rau má, củ Chuối, nõn Khoai bông,… Từ sau đổi mới(sau 1986), không những ta đủ gạo ăn mà còn dư cho xuất khẩu hàng triệu
Trang 12tấn, thì cây có củ lại bị quên đi Cần khôi phục và phát triển vị thế vốn có của
củ lương thực, không những vì an ninh lương thực và để có nhiều gạo xuấtkhẩu mà là để ăn ngon hơn
Trong tài liệu "1900 loài cây có ích" của Trần Đình Lý và cộng sự(1993) đã xếp các loài cây theo các nhóm công dụng khác nhau Nhiều loàicây có củ dùng làm thức ăn cho người và gia súc, dùng làm thuốc, làm giavị, [20]
Theo tổ chức Y tế thế giới, khoảng 80% dân số thế giới sử dụng các loàicây thuốc cho chăm sóc sức khỏe ban đầu, khoảng 70-80% dân số các vùngnông thôn lấy cây thuốc làm nguồn thuốc chữa bệnh chủ yếu [14] Người Việt
đã biết khai thác tiềm năng làm thuốc của các loài thực vật có củ để nâng caosức khỏe, chữa trị và phòng tránh bệnh tật từ rất xa xưa Danh y Hải ThượngLãn Ông đã chỉ rõ rằng người Việt Nam sống trên nguồn tài nguyên thuốcnhiệt đới, phải biết phát huy nguồn thực phẩm rau, hoa, quả, củ thường ngàylàm thuốc chữa bệnh [10]
Cuốn sách "Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam" của Đỗ HữuBích và cộng sự (2004) đã mô tả đặc điểm phân loại cũng như công dụng làmthuốc của nhiều loài động, thực vật ở Việt Nam, trong đó có nhiều cây có củ[4]
Trong "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của tác giả Đỗ Tất Lợixuất bản năm 2004 đã sắp xếp các loài cây theo công dụng làm thuốc củachúng, trong đó có nhiều loài cây có củ được xếp vào các nhóm như: câythuốc và vị thuốc cầm máu (Riềng), chữa bệnh đường tiêu hóa (Gừng, Gừnggió, Khoai riềng, Tỏi, ), chữa cảm sốt (Hành, Củ ấu, )[18]
Một khía cạnh khác về tác dụng của các loài cây có củ được Trần CôngKhánh, Phạm Hải nghiên cứu trong "Cây độc ở Việt Nam" đã đề cập tớinhững bộ phận gây độc cũng như giải độc của một số loài cây như: hạt của Củ
Trang 13đậu có độc, gây nghiêm trọng đến tính mạng con người khi ăn nó, còn loàiSắn dây lại là một loài mà củ của chúng có tác dụng giải độc [15].
Trong cuốn "Từ điển cây thuốc Viêt Nam" của Võ Văn Chi (2012) đã giới thiệu về đặc điểm và công dụng của rất nhiều loài thực vật được sử dụng làm thuốc trong đó có nhiều loài có củ như Gừng, Riềng, Cà rốt, Su hào, Khoai lang, [5]
Sự nghiên cứu chuyên sâu vào công dụng của thực vật đảm bảo sự tìmtòi và khai thác những tiềm năng ẩn chứa trong thực vật, không thể khôngnhắc tới tiềm năng tinh dầu- nguồn nguyên liệu tự nhiên đặc trưng ở thực vật,trong cuốn sách "Tài nguyên thực vật có tinh dầu" ở Việt Nam của Lã Đình
Mỡ và cộng sự đã chỉ ra nhiều chi thực vật cho tinh dầu trong đó phải kể tớicác chi trong họ Gừng (Zingiberaceae) trong đó có các chi: chi Gừng
(Zingiber) đã thông kê và mô tả tóm tắt 11 loài (theo Phạm Hoàng Hộ, 1993), chi Riềng (Curcuma) có 15 loài (theo danh lục các loài thực vật Việt Nam, 2005), chi Nghệ (Apinia) theo thống kê của Nguyễn Quốc Bình (1994) có 24
loài thuộc chi này và tinh dầu có trong hầu hết các bộ phận (lá, hoa, 'thân',thân rễ) của các loài trong các chi trên [21]
Màu sắc là cảm giác mang đến cho con người để cảm nhận được các nétđẹp trong thế giới sinh vật, trong cuộc sống cũng như tập quán, văn hóa củamỗi dân tộc, nhiều loài cây có củ được dùng để làm các nguyên liệu nhuộm
màu như: Củ nâu (Dioscorea cirrhosa Lour.), Củ nâu dài (Dioscorea sp.) dùng để nhuộm nâu; lá Riềng (Apinia officinarum Hance.) dùng nhuộm gạo màu xanh; Nghệ (Curcuma longa L.) lấy củ để nhuộm gạo, lá dùng nhuộm sợi màu xanh; Nghệ đen (Curcuma zedoaria Rosc.), củ dùng để nhuộm gạo
và tơ; Gừng (Zingiber officinale Rosc.) dùng lá để nhuộm gạo màu xanh
Khi nhắc đến cây có củ, một phần không thể thiếu trong công dụng củachúng chính là làm đẹp, những bài thuốc làm đẹp từ thiên nhiên rất được ưa
Trang 14chuộng, đây là điều rất được chị em phụ nữ quan tâm như: tác dụng của
Khoai tây (Solanum tuberosum L 1753.) làm sáng da, Cà rốt (Daucus carota
L 1753.) giúp làm da mịn màng, tươi tắn,
Trong cuốn cẩm nang làm đẹp "Những phương thuốc làm đẹp từ củ vàhạt" của tác giả Thiên Kim xuất bản năm 2009 đã giới thiệu tác dụng làm đẹpcủa nhiều loài củ như Khoai lang, Khoai tây, Khoai môn [16]
Đối với việc chăm sóc sản phụ, "101 cây thuốc với sức khỏe sinh sảnphụ nữ" của Phạm Trương Thị Thọ, Đỗ Huy Ích có nhắc tới công dụng của
Cà rốt (Daucus carota L.) làm thuốc hạn chế sinh sản như có tác dụng gây sẩy thai, chống sinh sản; Củ gấu (Cyperus rotundus L.) tác dụng lên oestrogen); Sắn dây (Pueraria montana var chinensis (Ohwi) Maesen.) gây
sẩy thai [27]
Do có nhiều tiềm năng khai thác, con người cố gắng tận dụng các sảnphẩm quý từ thực vật, cũng vì mục đích kinh tế, người nông dân đã thay thếnhững loài cây truyền thống bằng những loài có thể giúp họ có được nguồnkinh tế cao hơn từ đó làm cho nhiều loại cây bị mất đi trong địa phương NamViêm cũng là một trong những địa phương như vậy, nhiều loài cũng đang bịmất đi trong nhiều thôn của xã Đây cũng là khu vực được chúng tôi lựa chọn
để tiến hành nghiên cứu với đề tài “Nghiên cứu đa dạng về thành phần loài
cây có củ tại xã Nam Viêm, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” để lập danh
lục các loài cây có củ ở khu vực nghiên cứu rồi từ đó đánh giá và đưa ra cácbiện pháp góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên này Vì đây là đề tài mớinghiên cứu ở địa phương nên những kết quả nghiên cứu của chúng tôi thựchiện được chỉ là các kết quả bước đầu
Trang 15Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài cây có củ được trồng cũng như cây mọc hoang dại hay xuấthiện trong các phiên chợ tại xã Nam Viêm
có trước đó hay không rồi tiến hành điều tra
Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Khảo sát địa điểm nghiên cứu
Tiến hành xác định địa điểm nghiên cứu, từ đó chụp ảnh về địa điểmnghiên cứu, các loài cây có củ tìm thấy trên đường đi và trong quá trìnhnghiên cứu
Trang 16Phương pháp điều tra cộng đồng
Trong quá trình nghiên cứu thành phần cây có củ, chúng tôi đã sửdụng hai phương pháp điều tra chính là RRA và PRA [28]
RRA (Đánh giá nhanh nông thôn) là quá trình nghiên cứu dựa trênthông tin thu thập được, quan sát trực tiếp và phỏng vấn mà ở đó giả địnhrằng tất cả các câu hỏi liên quan không được xác định trước (theo JamesBeebe, 1985) hay nói theo cách khác: RRA đề cập đến một phương pháp tiếpcận nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc học một cách nhanh chóng vàtrực tiếp từ người dân địa phương RRA cho phép lấy được kiến thức địaphương và thu nhận được thông tin và sự hiểu biết của người dân địa phươngbằng việc sử dụng các công cụ và phương pháp kết hợp (theo Bill Jackson vàAndrew Angles, 1995) [23]
PRA (Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân) là một loạt cácphương pháp tiếp cận và phương pháp cho phép người dân nông thôn cùngchia sẻ, nâng cao và phân tích kiến thức của họ và đời sống và tạo điều kiệnnông thôn để lập kế hoạch và hành động (theo Robert Chambers, 1994) [23]
Một số kĩ năng trong phỏng vấn PRA:
- Phỏng vấn: Sử dụng một số câu hỏi cho những người được chọn.Trong khi phỏng vấn, yêu cầu đưa ra tên các cây có củ mà họ trồng trongvườn hay ngoài ruộng, những cây có củ mà họ biết mà xuất hiện trong địaphương
+ Phỏng vấn mở: Đó là dạng phỏng vấn tự do, có thể hỏi bất cứđiều gì liên quan đến đề tài nghiên cứu
+ Phỏng vấn theo cấu trúc: Điều tra phỏng vấn sử dụng một cách
cẩn thận các câu hỏi được thiết kế và mục đích phương pháp để có thông tinđặc trưng và tin cậy từ một người thu thập riêng lẻ
Trang 17+ Phỏng vấn bán cấu trúc: Người được phỏng vấn tự do nói nhữngquan tâm của chính họ và để chia sẻ trực tiếp sự xuống cấp của bảo tồn.Người phỏng vấn tin tưởng vào những câu hỏi mở để giới thiệu đề tài quantâm [28].
+ Phỏng vấn chéo: Là cách phỏng vấn để kiểm tra thông tin củangười khác đã đưa ra trong các lần phỏng vấn [23]
Sử dụng phiếu điều tra
Phiếu điều tra sử dụng được thể hiện trong phiếu 2.1 và phiếu 2.2(Phần phụ lục)
Tiến hành thu thập mẫu
Tiến hành thu các mẫu cây có củ ở địa điểm nghiên cứu Trong trườnghợp với những loài phổ biến đã dễ xác định tên loài thì có thể xác định ngaytên loài trên thực địa Các mẫu được thu thập cần đầy đủ cơ quan sinh dưỡng(rễ, thân, lá, hoa, quả, ), đảm bảo không bị giập nát, gãy, [28]
Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Kết quả sau mỗi đợt điều tra được tập hợp lại Các thông tin dạng thôcần được xử lí, chỉnh lí lại tên, công dụng cho thống nhất, phân nhóm côngdụng, dạng sống, Sau khi có kết quả từ việc xác định tên khoa học, cácthông tin cùng loài sẽ được nhập với nhau Các thông tin sẽ được xem xét,kiểm tra, đối chiếu và thống nhất lại [23]
Trang 18Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thành phần loài cây có củ tại xã Nam Viêm
Trong quá trình nghiên cứu bước đầu, chúng tôi đã bước đầu điều trađược thành phần cây có củ tại xã Nam Viêm thu được 33 loài cây có củ thuộc
27 chi nằm trong 21 họ thực vật hạt kín Căn cứ vào "Danh lục các loài thựcvật Việt Nam", tập 2 và tập 3 của Nguyễn Tiến Bân và quan điểm về cây có
củ trong cuốn "Giải phẫu hình thái học thực vật" của Hoàng Thị Sản và TrầnVăn Ba, chúng tôi đã lập được danh lục các loài cây có củ tại xã Nam Viêmđược thể hiện trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Danh lục các loài cây có củ tại xã Nam Viêm
Nam
Dạng sống
Nguồn gốc
Nơi sống
Công dụng
Họ Măng tây- Asparagaceae Juss.1789.
Họ Hoa tán- Apiaceae Linld 1836.
Trang 198. Daucus carota L 1753. Cà rốt Thảo T R L-T,T,
TD
Họ Náng- Amarylliaceae Jaume, 1805.
9. Hippeastrum puniceum (Lamk.)
10.Narcissus tazetta L 1753. Thuỷ tiên Thảo T V C,T
Họ Ráy- Araceae Juss 1789.
11.Alocasia odora (Roxb.) C Koch,
12.Colocasia esculenta (L.) Shott,
Họ Ngũ gia bì- Araliaceae Juss 1789.
14.Polyscias fruticosa (L.) Harms,
1921.
Đinh
Họ Cải- Brassicaceae Burn 1835.
15.Brassica oleracea var gongylodes
16.Raphanus sativus L.1753 var
longipinnatus Bailey, 1923. Cải củ Thảo T R L-T, T
Họ Dong riềng- Cannaceae Juss 1789.
17.Canna edulis Ker- Grawl 1823. Dong
L-T,
T, C
Họ Khoai lang- Convolvulaceae Juss 1789.
18.Ipomoea batatas (L.) Poir in Lamk
1791.
Khoai lang Thảo bò T R,V L-T, T
Họ Cói- Cyperaceae Juss 1789.
19.Cyperus rotundus L 1753. Cỏ gấu Thảo D R,V T
Họ Củ nâu- Dioscoreaceae R.Br.1810.
20.Dioscorea esculenta (Lour.) Burk Củ từ Thảo T V L-T, T
Trang 201917 leo
Họ Thầu dầu- Euphorbiaceae Juss 1789.
21.Manihot esculenta Crantz, 1766. Sắn Bụi T R, V L-T, T
Họ Đậu- Fabaceae Lindl 1836.
22.Pachyrhizus erosus (L.) Urb. Củ đậu Thảo
23.Pueraria montana var chinensis
(Ohwi) Maesen, 1988. Sắn dây
Thảo
Họ Lay ơn- Iridaceae Juss 1789.
24.Gladiolus x gandavensis Van
Họ Hoàng tinh- Marantaceae Peter 1888
25.Maranta arundinacea L 1753. Hoàng
Họ Chuối- Musaceae Juss 1789.
26.Musa paradisiaca L 1753. Chuối
Họ Sen- Nelumbonaceae Dumort 1829.
27.Nelumbo nucifera Graertn 1788. Sen Thảo T R
L-T,
T, C, TD
Họ chua me- Oxalidaceae R Br 1810.
28.Oxalis corymbosa DC 1824.
Chua me đất hoa đỏ
Trang 2132.Zingiber officinale Rosc 1807. Gừng Thảo T V G, T,
G: Gia vịTD: Tinh dầuC: Cảnh
Từ bảng danh lục trên, có tới 33 loài cây có củ được tìm thấy tại xã NamViêm thuộc 27 chi trong 21 họ Họ có nhiều loài nhất là họ Hành (Alliaceae)với 6 loài; chiếm 18,75% tổng số loài; có thể kể tới các loài như: Hành ta
(Allium ascalonicum L 1759.), Hành tây (Alium cepa L 1753.), Tỏi (Allium sativum L 1753.) Họ Ráy có 3 loài; chiếm 9,38% tổng số loài, thuộc 2 chi là Alocasia và Colocasia Họ Gừng (Zingiberaceae) cũng có 3 loài: Riềng (Alpinia officinarum Hance, 1872.), Nghệ (Curcuma longa L.1753.), Gừng (Zingiber officinale Rosc 1807.); chúng thuộc 3 chi: Apinia, Curcuma, Zingiber Các họ còn lại có 1 đến 2 loài: họ Cải (Brassicaceae), họ Náng
(Amarylliaceae), họ Đậu (Fabaceae) đều có 2 loài; họ Măng tây
(Aspagaraceae), họ Hoa tán (Apiaceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Dongriềng (Cannaceae), họ Khoai lang (Convolvulaceae), họ Cói (Cyperaceae), họ
Củ nâu (Dioscoreaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Lay ơn (Iridaceae),
họ Hoàng tinh (Marantaceae), họ Chuối (Musaceae), họ Hòa thảo (Poaceae),
họ Cà (Solanaceae) thì mỗi họ chỉ có 1 loài
Trang 223.2 Tính đa dạng về dạng sống của cây có củ tại xã Nam Viêm
Trong các loài cây có củ tại xã Nam Viêm thì thấy dạng thân thảo chiếm
ưu thế, có 3 dạng thân thảo gồm: cây thân thảo đứng là chủ yếu gồm 16 họchiếm tới 76,19% số họ; 21 chi chiếm 77,78% số chi và 27 loài chiếm 81,82%
số loài; đại diện như: Hành ta (Allium ascalonicum L 1759.), Cà rốt (Daucus carota L 1753.), Thuỷ tiên (Narcissus tazetta L 1753.), Môn nước (Colocasia esculenta (L.) Shott, 1832.), Su hào (Brassica oleracea var gongylodes L 1753.),
Thân thảo dạng leo có 3 loài, chiếm 9,09% tổng số loài; thuộc 3 chi,chiếm 11,11% tổng số chi; có trong 2 họ chiếm 9,52% số họ; đại diện một số
loài như: Củ từ (Dioscorea esculenta (Lour.) Burk 1917.), Sắn dây (Pueraria montana var chinensis (Ohwi) Maesen, 1988.), Củ đậu (Pachyrhizus erosus
(L.) Urb.)
Dạng thân thảo bò có 1 loài là: Khoai lang (Ipomoea batatas (L.) Poir in
Lamk 1791.), chỉ chiếm 3,03% tổng số loài cây có củ được tìm thấy
Dạng cây bụi chỉ có 2 loài chiếm 6,06% số loài; thuộc 2 chi, chiếm7,41% số chi và nằm trong 2 họ, chiếm 9,52% số họ; gồm có 2 loài là: Đinh
lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms, 1921.), Sắn (Manihot esculenta Crantz,
1766.) Kết quả được bày tại bảng 3.2 dưới đây
Bảng 3.2 Tổng hợp dạng sống cây có củ tại xã Nam Viêm
Trang 233.3 Nguồn gốc cây có củ tại xã Nam Viêm
Các loài cây có củ tại Nam Viêm thuộc 3 nhóm:
Nhóm 1 Nhóm cây trồng
Bao gồm các loài cây đã và đang được người dân sử dụng trồng trọt ởcác mức độ khác nhau với các mục đích khác nhau như làm lương thực, thựcphẩm, làm gia vị, làm thức ăn cho gia súc, làm cảnh, Chúng có thể là câybản địa, cây được người dân thu thập, thậm chí là cây nhập nội nhưng đãđược trồng qua nhiều thế hệ khác nhau nay không còn xác định rõ nguồn gốc.Thuộc nhóm này có 17 họ chiếm 80,89% số họ, 22 chi chiếm 81,48% số chi
và 26 loài chiếm 78,79% số loài Đại diện một số loài như: Hành ta (Allium ascalonicum L 1759.), Cà rốt (Daucus carota L 1753.), Su hào (Brassica oleracea var gongylodes L 1753.), Khoai lang (Ipomoea batatas (L.) Poir in Lamk 1791.), Khoai tây (Solanum tuberosum L 1753.), Riềng (Alpinia officinarum Hance, 1872.),
Nhóm 2 Nhóm cây mọc tự nhiên
Đây là nhóm cây mọc trong các sinh cảnh tự nhiên ở vùng nghiên cứu(rừng, đồng ruộng) có thể được người dân khai thác sử dụng với các mục đíchkhác nhau: Làm lương thực, làm rau ăn, thức ăn chăn nuôi gia súc, làmcảnh, Thuộc nhóm này 3 họ, chiếm 14,29% số họ; 3 chi chiếm 11,11% số
chi; 3 loài chiếm 9,09% số loài Bao gồm các loài cây là: Ráy dại (Alocasia odora (Roxb.) C Koch, 1854.), Cỏ gấu (Cyperus rotundus L 1753.), Chua
me đất hoa đỏ (Oxalis corymbosa DC 1824.).
Nhóm 3 Nhóm cây thương mại
Là cây có nguồn gốc từ các vùng sinh thái khác nhau và được xuấthiện trong địa phương ở các nơi trao đổi buốn bán, không được người dântrồng hay tự mọc ở địa phương Gồm 4 họ chiếm 19,05% số họ; 4 chi chiếm