Em xin khẳng định kết quả nghiên cứu của đề tài “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo quá trình phát triển nông nghiệp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thời kì 1954 - 1975”.. Trong th
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Lê Văn Túc đã tậntình hướng dẫn, chỉ bảo và động viên em trong suốt thời gian nghiên cứu đểhoàn thành đề tài khóa luận của mình
Em cũng xin gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch cùng cácbạn sinh viên đã giúp đỡ em trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình thực hiện đề tài, em không tránh khỏi những thiếu sót,rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thày cô và các bạn sinh viên để đềtài của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2013
Sinh viên
Trần Thị Tuyến
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này là kết quả được sự quan tâm của các thầy, cô giáo trongkhoa Lịch sử, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo – Tiến Sĩ LêVăn Túc
Trong quá trình nghiên cứu hoàn thành khóa luận này em có tham khảomột số tài liệu đã ghi trong phần tài liệu tham khảo
Em xin khẳng định kết quả nghiên cứu của đề tài “Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phúc lãnh đạo quá trình phát triển nông nghiệp trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thời kì 1954 - 1975” Không có sự trùng lặp với kết quả
của các đề tài khác
Sinh viên
Trần Thị Tuyến
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Xã hội chủ nghĩa : XHCN
Hợp tác xã: HTX
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
.3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Mục đích 3
3.2 Nhiệm vụ 4
3.3 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nhiên cứu 4
5 Bố cục luận văn 4
Chương I: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TỈNH VĨNH PHÚC TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐẾN TRƯỚC NĂM 1954 5
1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư 5
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 5
1.1.2 Dân cư 7
1.2 Truyền thống lịch sử 8
1.2.1 Truyền thống yêu nước và cách mạng 8
1.2.2 Truyền thống văn hiến 11
1.2 Vĩnh phúc trong xây dựng bảo vệ chính quyền và kháng chiến chống Pháp 1945-1954 12
1.2.1 Sự ra đời của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc 12
1.2.2 Đảng bộ lãnh đạo nhân dân bảo vệ và kháng chiến 15
Chương II: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRONG THỜI KỲ (1954-1975) 23
2.1 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo quá trình cải cách ruộng đất và hàn gắn vết thương chiến tranh( 1954-1957) 23
Trang 52.1.1 Chủ trương của Đảng lao động Việt Nam 23
2.1.2 Đảng bộ tỉnh vĩnh phúc lãnh đạo hàn gắn vết thương chiến tranh, cải cách ruộng đất 24
2.2 Đảng bộ tỉnh lãnh đạo kinh tế tư nhân thành kinh tế tập thể (1958- 1960) .31
2.3 Đảng bộ tỉnh lãnh đạo thực hiện kế hoạch 5 năm của Đảng (1961- 1965) .37
2.4 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo nhân dân phát triển nông nghiệp, 46
2.4.1 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo nhân dân phát triển nông nghiệp thời kỳ 1965-1968 47
2.4.2 Đảng bộ tỉnh lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp thời kỳ 1968-1975 .58
Chương III :THÀNH TỰU VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM 68
3.1 Thành tựu 68
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Nông nghiệp là nghành kinh tế có vai trò, vị trí hết sức quan trọng đốivới nền kinh tế quốc dân, là cơ sở để phát triển công nghiệp, cung cấp nguyênliệu, lương thực cho công nghiệp, tiêu thụ hàng hóa cho công nghiệp, đồngthời đảm bảo an ninh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân
Nước ta đi lên xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội xuất phát thấp là nền kinh
tế nông nghiệp Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng
ta và Hồ Chủ Tịch luôn quan tâm phát triển kinh tế nông nghiệp và xây dựngđịa bàn nông thôn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “ Nông nghiệptốt, công nghiệp tốt, thì xây dựng tốt Chủ Nghĩa Xã Hội ở miền Bắc , làm cơ
sở vững mạnh cho sự nghiệp đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nướcnhà”.[22-136] Đảng và nhà nước rất chú trọng phát triển kinh tế nôngnghiệp.Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954-1975) việc pháttriển kinh tế nông nghiệp có ý nghĩa rất to lớn Cung cấp lương thực, thựcphẩm cho tiền tuyến, đáp ứng nhu cầu lương thực cho người tham gia chiếnđấu và phục vụ chiến đấu Bảo đảm nền quốc phòng toàn dân và an ninhnhân dân Các địa phương đều lỗ lực, hăng hái sản xuất, đáp ứng khẩu hiệu:
“Tiền tuyến gọi hậu phương trả lời”, “Thóc không thiếu một cân, quân khôngthiếu một người”
Vĩnh Phúc là một tỉnh ở trung du miền núi phía Bắc, là một tỉnh thuầnnông, đường lối chính sách của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc chủ yếu phát triểnnông nghiệp, làm hậu phương, bảo vệ miền Bắc chống chiến tranh phá hoạicủa Mỹ Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, việc phát triển kinh
tế nông nghiệp gặp nhiều khó khăn nhưng Đảng bộ và nhân dân tỉnh VĩnhPhúc đã không ngừng cố gắng vượt qua mọi khó khăn, áp dụng các đường lối,chủ trương của Đảng về sản xuất nông nghiệp vào địa phương mình một cách
Trang 7sáng tạo Vì vậy, mặc dù trong điều kiện đất nước có chiến tranh, miền Bắcvừa chiến đấu, vừa sản xuất nhưng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã “Tay cày taysúng” vượt qua khó khăn, phát triển sản xuất nông nghiệp, không chỉ đáp ứngnhu cầu nhân dân trong tỉnh mà còn làm tròn nghĩa vụ lương thực cho nhànước, cung cấp lương thực cho tiền tuyến miền Nam trực tiếp đánh Mĩ.
Hiện nay, tỉnh Vĩnh Phúc đang chuyển mình đi lên, kinh tế nông nghiệpvẫn là nghành kinh tế chính.Việc phát triển kinh tế và bảo vệ địa bàn vẫnđược Đảng bộ xác định là nhiệm vụ chiến lược Vĩnh Phúc đang cùng với cảnước ra sức phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, góp phần thực hiện mục tiêu chung của đất nước “Dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.”
Trong 21 năm kháng chiến chống Mĩ, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã quántriệt và vận dụng sáng tạo đường lối của Trung ương Đảng vào tình hình địaphương và đạt nhiều thành tựu to lớn trong sản xuất, mặc dù trong điều kiệnsản xuất khó khăn, chiến tranh và thiên tai, nhưng tỉnh đã đạt nhiều thành tích
to lớn, đáp ứng nhu cầu lương thực cho nhân dân và cho nhà nước
Vì sao Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc lại đạt được những thành tựu
đó, đã góp phần tích cực vào cuộc kháng chiến chống Mĩ Những bài học cóthể rút ra là gì? Còn những tồn tại gì phải gải quyết để tiếp tục đưa nền nôngnghiệp và nông thôn Vĩnh Phúc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa.Trong giai đoạn sau Đó là mục đích và ý nghĩa khoa học của đề thực tiễn
của đề tài: “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo quá trình phát triển nông
nghiệp trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954-1975)
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Đề tài: “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo quá trình phát triển nôngnghiệp trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954-1975)” là hoàn toàn
Trang 8mới mẻ, hiện nay chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy
đủ và hệ thống
Nghiên cứu về vấn đề nông nghiệp và nông thôn dưới sự lãnh đạo củaĐảng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, có thể nêu một số công trình: Lê
Doãn Diên (7/1990), Nông nghiệp và vấn đề phát triển nông nghiệp ở nông
thôn Việt Nam Tạp chí cộng sản : Đinh Thu Cúc (5/1998), “Nông dân và nông thôn hiện nay-những vấn đề cần quan tâm” Nguyễn Thị Hồng Mai (5-
2008), “ Tìm hiểu khoán hộ trong nông nghiệp ở Vĩnh Phúc trước đổi mới”, tạp chí Lịch Sử Đảng Hồng Đức Nhuận-Nguyễn Quang Phát (2007), Đảng
lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội…
Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương lãnh đạo phát triểnkinh tế nông nghiệp đã có một số học giả tiến hành Trên địa bàn tỉnh có một
số tài liệu: “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (1930-2005)”, xuất bản năm
2007 “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (1928-1968)”, chủ yếu liệt kê sự kiện
lịch sử Đảng của tỉnh Các báo cáo kinh tế nông nghiệp hàng năm của tỉnh, đãphản ánh được một phần kinh tế của tỉnh
Cho đến nay, chưa có một công trình nào đề cập và giải quyết một cách
có hệ thống và toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trongviệc phát triển kinh tế nông nghiệp trong kháng chiến chống Mĩ (1954-1975)
Vì vậy tôi chọn đề tài này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Mục đích.
Dựng lại bức tranh chân thực về nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ và bảo vệ tổ quốc thời kỳ 1954-1975
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong phát triển kinh tếnông nghiệp trong 21 năm kháng chiến chống Mĩ (1954-1975)
Qua đó đánh giá những mặt ưu điểm, hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm
Trang 93.2 Nhiệm vụ.
Tập hợp, xử lí các nguồn tư liệu, các công trình nghiên cứu, các hệ
thống hóa các sự kiện, nội dung…
Trình bày, phân tích một cách khách quan về quá trình lãnh đạo kinh tếnông nghiệp trong 21 năm kháng chiến chống Mĩ của Đảng bộ Vĩnh Phúc
3.3 Phạm vi nghiên cứu.
Trong khuôn khổ của một luận văn chuyên nghành Lịch sử Đảng CộngSản Việt Nam-khóa luận chỉ giới hạn, phân tích, đánh giá về sự lãnh đạo củaĐảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với nông nghiệp ở địa phương trong 21nămkháng chiến chống Mĩ (1954-1975)
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nhiên cứu.
Nguồn tư liệu được sử dụng trong luận văn chủ yếu là các sách thông
sử và chuyên khảo về lịch sử Đảng bộ, các báo cáo kinh tế hàng năm ở địaphương
Là một đề tài nghiên cứu lịch sử, phương pháp sử dụng trong lịch sửkhông ngoài các phương pháp vốn có: phương pháp lịch sử; phương pháplogic; phương pháp thống kê so sánh; phương pháp tổng hợp phân tích
5 Bố cục luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương :
Chương 1: Lịch sử phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc từ sau cách mạng tháng8-1945 đến trước năm 1954
Chương 2 :Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc xây dựng và phát triển nông nghiệpthời kỳ 1954-1975
Chương 3 : Thành tựu, bài học kinh nghiệm
Trang 10Chương I: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TỈNH VĨNH PHÚC TỪ SAU CÁCH
MẠNG THÁNG TÁM ĐẾN TRƯỚC NĂM 1954
1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư.
1.1.1 Điều kiện tự nhiên.
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc đồng bằng Sông Hồng.Được thiết lập từnăm 1950 do sự hợp nhất của hai tỉnh là Vĩnh Yên và Phúc Yên Cả hai tỉnhđều mới được thành lập từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta Khi mớithành lập Vĩnh Phúc có 1715 km2, với dân số gần 47 vạn người, bao gồm 14dân tộc anh em, đông nhất là người kinh chiếm 98, 38% dân số [1-15] Đồngbào dân tộc thiểu số sống rải rác ở 17 xã dọc dãy núi Tam Đảo và Sáng Sơncủa huyện Tam Dương, Bình Xuyên, Lập Thạch, Kim Anh và Đa Phúc Đại
bộ phận nhân dân theo đạo Phật, một số ít theo đạo Thiên Chúa
Tọa độ địa lý: Điểm cực Bắc: 210, 3
Phía Tây giáp Phú Thọ
Phía Bắc giáp Thái Nguyên và Tuyên Quang
Vĩnh Phúc có hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường bộ, đường sông, đường sắt Trong tỉnh có quốc lộ 2 chạy qua tỉnh dài hơn 50 km, chạy songsong với đường sắt Hà Nội-Lào Cai qua Vĩnh Phúc Ở vị trí cửa ngõ thủ đô
Hà Nội, trung tâm kinh tế-chính trị-văn hóa của cả nước nên nhân dân VĩnhPhúc rất nhanh nhạy nắm bắt thời cuộc, sớm tiếp thu ảnh hưởng của phong
Trang 11trào yêu nước, phong trào cách mạng của thủ đô Hà Nội và lân cận Trongthời kỳ vận động cách mạng tháng 8, Trung ương Đảng chọn vùng Phúc Yênlàm An Toàn Khu và Vĩnh Yên làm an toàn khu dự bị.
26/1/1968, ủy ban thường vụ quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ CộngHòa ra quyết định sáp nhập 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành tỉnh VĩnhPhú Năm 1997, Vĩnh Phúc tách khỏi tỉnh Phú Thọ Sau nhiều lần thay đổi địagới, hiện nay Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính, có 2 thị xã: Vĩnh Yên vàPhúc Yên, có 7 huyện, có 152 xã, phường, thị trấn…Diện tích tự nhiên là
1370, 73 km, dân số 1, 2 triệu người, dân tộc thiểu số là 2, 7% Diện tích đấtnông nghiệp là 46, 4% diện tích (64, 387 ha) [1, tr 17]
Địa hình: có 3 địa hình chính
Miền núi: nằm ở phía Bắc tỉnh, tiếp giáp với núi rừng của tỉnh TuyênQuang và Thái Nguyên Có các dãy núi quan trọng: Núi Tam Đảo, núiSáng(Lập Thạch), núi Trống, núi Thanh Tước…
Vùng đồi: Ở Vĩnh Phúc huyện nào cũng có đồi, nhiều nhất là huyện LậpThạch và Tam Dương, đồi ở đây thường không lớn, hình bát úp, mềm mại… Đồng bằng: Chiếm 40% diện tích, bề mặt tương đối bằng phẳng
Tạo điều kiện để tỉnh phát triển kinh tế toàn diện trong đó đặc biệt là nôngnghiệp
Khí hậu: Vĩnh Phúc là tỉnh trung du miền núi nó mang đặc điểm của khíhậu trung du Bắc Bộ thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, lượng bức xạ cao, cónền nhiệt độ trung bình, lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa mưa , lượngmưa trung bình 1500-1700mm Độ ẩm 84-85% Tình trạng úng lụt và hạn háncục bộ thường sảy ra gây nhiều thiệt hại cả về kinh tế và xã hội
Sông ngòi, thủy văn: Khá dày đặc với hai hệ thống sông chính là SôngHồng và Sông Lô
Trang 12Có nhiều hồ chứa nước:Đại Lải, Xạ Hương…với dung lượng nước lêntới hàng triệu m3.
Nguồn nước ngầm khá phong phú và đa dạng được khai thác dưới dạnggiếng đào và giếng khoan trong dân
Nhìn chung các nguồn nước cung cấp đủ để nuôi trồng thủy sản, nướctưới phục vụ sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt cho nhân dân Ngoạinguồn nước được cung cấp bởi các dòng sông thì các ao hồ, kênh mươngcũng góp phần tích cực vào phục vụ sản xuất và điều tiết nguồn nước vàomùa mưa cũng như mùa khô
Tài nguyên đất: Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.370, 73 km2, trong
đó đất nông nghiệp là 64.387 ha (chiếm 46.4 %) Do là nơi tiếp giáp giữa đồinúi và đồng bằng nên đất đai ở đây tương đối phong phú và đa dạng Có đấtphù xa được bồi đắp hàng năm và đất phù sa không được bồi dắp hang năm,đất bạc màu, đất lầy thụt và đất đồi núi, đất vàng đỏ phát triển trên nền đá sathạch và phiến thạch, Thuận lợi để trồng cây lương thực và cây công nghiệp
Như vậy, với những điều kện tự nhiên và diện tích đất đai, tài nguyêncho phép tỉnh có khả năng phát triển nông nghiệp đâ dạng phong phú, có khảnăng phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi.Ngoài ra do lợi thế về vị trí và tài nguyên đất đai, giao thông thuận lợi tỉnhVĩnh Phúc có nhiều lợi thế phát triển công nghiệp và dịch vụ thương mại.Hiện nay kinh tế của tỉnh đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa
1.1.2 Dân cư.
Vĩnh Phúc là vùng đất cổ, thời dựng nước người Việt Cổ đã sớm định
cư sinh sống ở đây và trở thành trung tâm của nhà nước Văn Lang
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, trước những biến động của chiếntranh, thời tiết khắc nghiệt, chính sách đồng hóa, chính sách phong hầu kiến
Trang 13ấp của các triều đại phong kiến, chính sách khai thuộc địa của Pháp…Cácluồng di cư đến Vĩnh Phúc ngày càng đông.
Nhân dân Vĩnh Phúc anh hùng trong đấu tranh và sản xuất, sáng tạo cần
cù trong lao động, sản xuất, phát trển kinh tế, văn hóa…Sống ở địa bàn vừa
có đồi núi, vừa có đồng bằng nên người dân nơi đây qua bao đời đã cần cùchế ngự, cải tạo ruộng đồng, đồi nương, chế ngự thiên tai để tạo ra những sảnphẩm, những đặc sản đi vào trong ca dao:
“Dứa Hướng Đạo, gạo Long Trì Rau Ngô Đạo, gạo Cốc Lương”
Dân số của tỉnh gần 1, 2 triệu người, trong đó người kinh chiếm đại đa
số, có một số dân tộc:Sán Dìu
Vĩnh Phúc có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tếnông nghiệp người dân có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp lâu đời và cónguồn lao động dồi dào, có truyền thống đoàn kết, giúp đỡ nhau để xây dựngquê hương giàu đẹp
1.2 Truyền thống lịch sử.
1.2.1 Truyền thống yêu nước và cách mạng.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân
Việt Nam Vĩnh Phúc được xem như một vùng đất cổ sớm được người Việtđến sinh sống Nằm ở địa bàn kinh đô của nước Văn Lang
Trang sử hào hùng đầu tiên về đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dânVĩnh Phúc là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng Nhân dân trong tỉnh dưới sựlãnh đạo chỉ huy của Hai Bà Trưng đã vùng lên khởi nghĩa Số tướng trên đất
Mê Linh lên tới gần 40 người Được lưu truyền trong sử sách: Có đền thờ Hai
Bà Trưng được nhà nước xếp hạng văn hóa
Tiếp đó, nhân dân lại theo Lí Bí khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà
Trang 14Với chiến thắng của Ngô Quyền vào thế kỷ 10 đã mở ra thời kỳ độc lập,
tự chủ của nhân dân, nhân dân Vĩnh Phúc đã có những đóng góp to lớn vàocuộc kháng chiến giữ nước của dân tộc ta
Tiếp đến là cuộc kháng chiến chống Tống dưới Triều Lý quân dân vùngKim Anh, Đa Phúc đã tham gia tích cực vào việc đắp lũ, phòng ngự, góp phầncùng cả nước đánh tan quân Tống
Kháng chiến chống quân Nguyên-Mông của nhà Trần, những nơi vẫncòn in đậm dấu ấn chiến trường xưa: Bình Lệ Nguyên (Tam Canh-BìnhXuyên), Bãi Trận, …
Đến thế kỷ 15, hàng nghìn trai tráng Vĩnh Yên, Phúc Yên tham gia cácđội thương binh, thường xuyên luyện tập tại rừng Thần ( Xuân Lôi-LậpThạch) Do Trần Nguyên Hãn chỉ huy
Hết chống phong kiến phương Bắc xâm lược, lại chống kẻ thù mới làthực dân Pháp Nhân dân Vĩnh Phúc lại một lần nữa vùng lên đánh Pháp giảiphóng quê hương, đất nước
Từ 1885-1893, hưởng ứng phong trào Văn Thân, các ông đề, ông Đốc,ông Tán…đã dấy binh nổi lên chống Pháp khắp các huyện, gây chho Phápnhiều khó khăn, tổn thất Tiếp đó là “Nhiều cuộc chiến đấu diễn ra ở khu vựcTam Đảo, và các làng Lập Chi, Xuân Lai, Thái Lai, ở Phúc Yên
Năm1917-1918, nổ ra cuộc khởi nghĩa của binh lính do Đội Cấn (Vũ Di–Vĩnh Tường) lãnh đạo chỉ huy, đánh Pháp ở Thái Nguyên Nhưng do lựclượng yếu nên đã bị Pháp đàn áp
Khi Việt Nam Quốc Dân Đảng ra đời, các yếu nhân của Việt Nam QuốcDân Đảng: Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức chính về VĩnhYên, Vĩnh Tường gây cơ sở và được nhân dân ủng hộ, tham gia hoạt độngcủa tổ chức này
Trang 15Khi Pháp thống trị và đặt ra chính sách “chia để trị” thiết lập được bộmáy thống trị ở Việt Nam, chúng đã câu kết với Nhật ra sức bóc lột nhân dânta.Nhân dân Vĩnh Phúc cũng rơi vào cảnh điêu đứng, chịu thuế khóa nặng nề,chịu sự vơ vét, bóc lột của chúng Là một tỉnh nông nghiệp, ngoài bị bóc lột
về tài nguyên sản phẩm là lúa gạo, sức lao động, chiếm ruộng đất Chúng cònđặt ra thuế khóa năng nề bóc lột nhân dân
Chính sách thống trị tàn bạo của bọn phong kiến, thực dân đối vớinhân dân Vĩnh Phúc dẫn đến vùng đất này liên tiếp diễn ra các cuộc bạo động,đấu tranh với đủ trào lưu xu hướng ngay từ khi chúng đặt ách cai trị trên quêhương Những truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của nhân dân VĩnhPhúc đã dọn đường và tạo tiền đề cho một phong trào cách mạng mới, vớimột đường lối và xu thế đấu tranh mới là đi theo ngọn cờ lãnh đạo của ĐảngCộng Sản Việt Nam
Từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời năm 1930, dưới sự lãnh đạocủa Đảng truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân Vĩnh Phúc lạiđược phát huy cao độ, có nhiều đóng góp để cùng nhân dân cả nước viết nênnhững trang sử vàng của dân tộc như cách mạng tháng tám năm 1945, khaisinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Nhà nước công nông đầu tiên ởĐông Nam Châu Á, kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp thắng lợigiành lại độc lập trên phạm vi nửa nước, cùng nhân dân miền Bắc xây dựngChủ Nghĩa Xã Hội Làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng miền Nam tiếntới thống nhất tổ quốc
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thời kỳ 1954-1975, mộtcuộc đụng đầu lịch sử giữa một bên là đế quốc Mỹ đứng đầu chủ nghĩa đếquốc, một bên là dân tộc Việt Nam , một nước Chủ Nghĩa Xã Hội đất khôngrộng người không đông, nhưng có bề dày truyền thống lịch sử hàng nghìn
Trang 16Phú trong đó có Vĩnh Phúc đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cáchmạng, đã có những đóng góp to lớn về sức người, sức của để làm nên chiếnthắng mùa xuân năm 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam thốngnhất tổ quốc.
1.2.2 Truyền thống văn hiến.
Nhân dân Vĩnh Phúc không chỉ anh dũng trong chiến đấu mà còn cần
cù sáng tạo trong lao động sản xuất và phát triển kinh tế, văn hóa
Dù sống dưới ách đô hộ ngàn năm của phong kiến phương Bắc và gầnmột thế kỷ dưới ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật Nhưng nhânđân Vĩnh Phúc vẫn bảo tồn , giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc Vẫn duytrì, phát triển dòng văn học dân gian truyền thống và tạo nên những công trìnhvăn hóa, nghệ thuật đặc sắc có giá trị cho muôn đời sau: Những làn hát xoan,hát ghẹo, hát ví, hát ca trù…được biểu diễn trong các dịp lễ hội, tết…
Có nhiều danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp thiên tạo và nhân tạo: Tam Đảo,núi Tây Thiên, tháp Bình Sơn (Lập Thạch), chùa Hương Canh, đình ThổTang, đền Phú Đa…được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa
Vĩnh Phúc còn sản sinh cho đất nước nhiều nhà văn hóa, chính trị,quân sự, ngoại giao: Trần Nguyên Hãn thế kỷ 15, Đỗ Nhuận, Triệu Thái, LêNinh…
Trong thời phong kiến, Vĩnh Phúc có 120 danh nhân Hàng đế vương có
2 vị, danh tướng 19 vị, danh thần một vị, danh sĩ 96 vị…
Những truyền thống văn hiến trên của nhân dân Vĩnh phúc được kếthừa và phát triển qua nhiều thế hệ, góp phần tô thắm thêm truyền thống củaquê hương, đất nước qua hàng nghìn năm lịch sử Đó là cơ sở bền vững đểVĩnh phúc phát triển trong tương lai
Trang 171.2 Vĩnh phúc trong xây dựng bảo vệ chính quyền và kháng chiến chống Pháp 1945-1954.
1.2.1 Sự ra đời của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc.
Với chính sách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, phong kiến đối vớinhân dân Vĩnh Phúc đã làm cho mảnh đất này liên tiếp nổ ra các cuộc bạođộng, các cuộc đấu tranh với đủ trào lưu xu hướng Ngay từ khi thực dânPháp xâm lược Với những truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của nhândân Vĩnh Phúc đã dọn đường và tạo tiền đề cho một phong trào cách mạngmới phù hợp với xu thế của thời đại Đó là phong trào cách mạng do Đảngcộng sản Việt Nam lãnh đạo
Thực hiện chủ trương của hội Việt Nam cách mạng thanh niên Bắc kỳ,Thành bộ Hà nội đã cử hội viên đi “vô sản hóa” ở các nhà máy xí nghiệp.Đồng chí Vũ Duy Cương được cử đi “vô sản hóa” ở nhà máy dệt Nam Định.Sau đó được chuyển thành Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam Tháng 4-
1930 đồng chí Vũ Duy Cương cùng đồng chí Phan Văn Cương được cử vềgây cơ sở và hoạt động tại tỉnh Vĩnh Yên
Hai đồng chí đã nhanh chóng tạo được đội ngũ cốt cán và cùng đội ngũcốt cán đó dần dần mở rộng được cơ sở ở các vùng trong tỉnh
Ngoài các tổ chức quần chúng bí mật, cán bộ phụ trách còn lập các hộicông khai biến tướng như hội bóng đá, hội học võ…nhằm tập hợp lực lượngthanh niên tuyên truyền giác ngộ cách mạng
Tài liệu tuyên truyền do Đảng bộ Hà Nội cung cấp
Về đấu tranh, thi hành chỉ thị của Đảng.được chi bộ Hà Nội chỉ đạo.Hai Đảng viên đã lãnh đạo phong trào tỉnh Vĩnh Yên chỉ đạo các hội quầnchúng giải truyền đơn, treo cờ đỏ nhân kỷ niệm ngày quốc tế lao động và ủng
hộ phong trào “ Nghệ-Tĩnh đỏ” ở nhiều địa phương trong địa bàn tỉnh Đêm
Trang 18Các hoạt động cách mạng trên đây, nhất là khẩu hiệu : “Độc lập dântộc”, “người cày có ruộng” tuyên truyền trong nhân dân và đã tác động mạnh
mẽ tới tư tưởng của nhân dân, lần đầu tiên xuất hiện một hình thức đấu tranhmới do Đảng Cộng Sản Việt nam lãnh đạo khác hẳn với các hình thức đấutranh yêu nước của các sĩ phu, các phái yêu nước trước đây
Phong trào cách mạng đang trên đà phát triển ở Vĩnh Yên những năm
1930 thì bị địch phát hiện và bắt giữ các cán bộ Đảng viên của ta, các đồngchí Vũ Văn Cương, Bùi Văn Lộc, Nguyễn Ngọc Thanh…đã bị địch bắt vàchịu nhiều năm khổ sai Cùng với cả nước phong trào cách mạng mới nhennhóm ở Vĩnh Yên đã đi vào thoái trào Hầu hết các Đảng viên và cán bộ ưu tú
bị cầm tù, các cơ sở trong tỉnh bị địch phá Tuy bị địch phá nhưng nhân dânvẫn tin vào sự lãnh đạo của Đảng và chờ cán bộ đến xây dựng củng cố phongtrào
Trong những năm 1930-1931, phong trào cách mạng ở Vĩnh yên tuy
chưa mạnh, chưa rộng, mới bị nhen nhóm nhưng đã bị dập tắt Nhưng đây làbước khởi đầu quan trọng và là bước tập rượt đầu tiên để tiến tới thành lậpmột chi bộ Đảng rồi Đảng bộ tỉnh để chuẩn bị cho cách mạng tháng tám củaĐịa phương sau này
Chi bộ đồn điền Đa Phúc, Tam Lộng và chi bộ Vĩnh Tường được thànhlập đã tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với quần chúng và nhân dân trongtỉnh “là hạt nhân lãnh đạo phong trào toàn tỉnh Vĩnh Yên, là nòng cốt cho sựphát triển các chi bộ khác và là nòng cốt cho sự thành lập ban cán sự liên tỉnhVĩnh Yên-Phúc Yên vào đầu năm 1940”.[1.50]
Trong phong trào đấu thời kỳ mặt trận dân chủ, các cán bộ của Đảng đã
lãnh đạo các hội viên quần chúng đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ vớinhững hình thức phong phú đa dạng ở tỉnh Vĩnh yên và Phúc Yên phong tràođấu tranh của quần chúng cũng nổ ra với các phong trào đấu tranh đòi quyền
Trang 19dân sinh dân chủ và đấu tranh chính trị cũng diễn ra liên tục trong hai tỉnh từnăm 1936-1938.
Từ khi Đảng ta ra đời đã lãnh đạo hai cao trào cách mạng rộng lớntrong cả nước là cao trào cách mạng 1930-1931 và 1936-1939 Lúc này tỉnhVĩnh Yên Và phúc Yên tuy chưa có Đảng nhưng các Đảng viên và chi bộ
Đảng ra đời thời kỳ này đã lãnh dạo nhân đấu tranh theo các mục tiêu đã đề
ra., hòa nhập vào các phong trào cách mạng chung của cả nước Các chi bộĐảng ra dời trên địa bàn tỉnh là sự chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng bộ tỉnhmấy năm sau
Bước sang năm 1939, các phong trào ở Vĩnh Yên và Phúc Yên vẫn tiếptục phát triển, các chi bộ ở các huyện đã lần lượt được thành lập, số Đảngviên tăng lên
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tháng 3-1940 tại cuộc họp Đảngviên hai tỉnh và cán bộ Đảng viên tăng cường ở Ấp Hạ, đồng chí Đào Duy
Kỳ, thay mặt sứ ủy đã công bố thành lập Ban cán sự liên tỉnh Vĩnh Yên
Do sự lãnh đạo thống nhất và được sự giúp đỡ trực tiếp của xứ ủy nên
cơ sở cách mạng ngày càng được mở rộng.số lượng Đảng viên tăng lên rõ rệt
Trong những năm 1940-1941, nét nổi bật trong công tác xây dựngĐảng của Đảng bộ tỉnh Vĩnh yên là ban cán sự của tỉnh, chi bộ ở cơ sở đã xâydựng được tổ chức Đảng ở cấp huyện, thị xã và tổng Trong đó có Vĩnh Yên
và Vĩnh Tường là hai nơi có cơ sở và phong trào mạnh, số cán bộ Đảng viênđông , nên ban cán sự sau khi báo cáo Xứ ủy và Khu ủy D, đã thành lập bancán sự thị xã Vĩnh Yên và Phủ thủy Vĩnh Tường vào tháng 1-1941
Tuy nhiên , phong trào cách mạng thị xã Vĩnh Yên cũng bộc lộ một sốkhuyết điểm:chủ quan, thiếu cảnh giác, chấp hành chưa tốt nguyên tắc hoạtđộng bí mật của Đảng…
Trang 20Nguyên nhân là do ảnh hưởng của một số cán bộ còn mắc tư tưởnghoạt động công khai của thời kỳ mặt trận dân chủ Những khuyết điểm củamột số cán bộ đã bị Trung ương phê bình trong “Thông báo gửi các cấp bộĐảng ngày 16-9-1941” Coi đây là một xu hướng sai lầm và chỉ thị “Đảng bộBắc kỳ phải đặc biệt chú ý tẩy trừ những xu hướng sai lầm có lợi cho chínhsách khủng bố của Mỹ.[10-183].
1.2.2 Đảng bộ lãnh đạo nhân dân bảo vệ và kháng chiến.
Thời kỳ 1941-1945 Đảng bộ Tỉnh đã lãnh đạo khôi phục và phát triểnphong trào xây dựng mặt trận Việt Minh cho khởi nghĩa dành chính quyền
Hội nghị Trung ương 8-1941 của Đảng đã quyết định thành lập mặttrận Việt Minh.Tạo điều kiện cho các địa phương chuẩn bị khởi nghĩa khi cóđiều kiện
Thực hiện nghị quyết Trung ương tám, cuối tháng 10-1945, mặt trận ViệtMinh và các đoàn thể cứu quốc đã hình thành ở nhiều cơ sở trong tỉnh VĩnhYên đã thay thế cho các đoàn thể trước đó Mặt trận Việt Minh mới được hìnhthành và trải qua thử thách rất lớn
Đến cuối năm 1941, Trung ương quyết định lấy một phần các TỉnhPhúc Yên, Hà Đông, Bắc Ninh và ngoại thành Hà Nội để xây dựng an toànkhu (ATK) chính thức của Trung ương Phúc Yên được Trung ương chọn xâydựng ATK chính thức
Về chính trị, Phúc Yên đã có cơ sở cách mạng và phong trào khá sôinổi từ năm 1933 – 1939 chi bộ Đảng đã hình thành
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với an toàn khu ATK PhúcYên Xứ ủy Bắc Kỳ quyết định thành lập ban cán sự Tỉnh Phúc Yên do LêQuang Đạo làm Bí Thư
An Toàn khu đã cho xuất bản sách báo để tuyên truyền cho chính sáchcủa Đảng và Nhà nước chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa cách mạng tháng tám
Trang 21năm 1945 như là tờ báo bí mật lấy tên Mê Linh để làm tài liệu tuyên truyềncủa Đảng.
Từ năm 1944 – 1945, ban cán sự huy động quần chúng tổ chức cáccuộc đấu tranh chống thuế, chống bắt lính, chống phu, chống nhân dân nhổlúa phá hoa màu để trồng đay, trồng thầu dầu của Nhật
Ngày 9-3-1945 khi Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dươngngày 12-3-1945 Trung ương Đảng đã ra chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hànhđộng của chúng ta” Trung ương chủ trương “bám lấy nạn đói mà cổ độngquần chúng lên đường đấu tranh(tổ chức những cuộc biểu tình đòi gạo, đòi ănhay đòi phá những kho thóc của đế quốc)…chống thu thóc không nộpthuế”[10.370]…Trung ương quyết định : “Phát động một cao trào kháng Nhậtcứu nước mạnh mẽ để làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa” [10.376]
Ngay sau khi nhận được chỉ thị của Trung ương về Nhật đảo chínhPháp.Tỉnh ủy Vĩnh Yên đã tổ chức họp hội nghị ở làng Phương Trù-yên Lạc
để bàn và vạch ra kế hoạch hành động Tỉnh ủy chủ trương:
Lãnh đạo nhân dân phá các kho thóc của Nhật để cứu đói cho dân Kếthợp với đấu tranh chống thu thuế, thu mua thóc tạ
Đẩy mạnh tuyên truyền phát triển các hội viên các đoàn thể Cứu quốc,
mở rộng mặt trận Việt Minh ra nhiều làng xã
Thành lập ủy ban dân tộc giải phóng ở những xã có điều kiện.tiến hànhthuyết phục hoặc cảnh báo chính quyến tay sai Nhật nhằm ngăn chặn chúngthu mua thóc tạ, thu thuế của dân nộp cho Nhật tiến tới làm tê liệt bộ máychính quyề từ làng xã đến huyện tỉnh [1.90]
Nhờ sự chỉ đạo của Trung ương và trực tiếp là Đảng bộ tỉnh nên phongtrào chống Nhật nổ ra sôi nổi và giành được nhiều thắng lợi, phong trào phákho thóc Nhật giành thắng lợi to lớn ở Tam Đảo đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần
Trang 22đấu tranh của các tầng lớp nhân dân ta, thôi thúc và thức tỉnh cho một sốngười còn tư tưởng ảo tưởng về sức mạnh của Nhật.
Ngày 16/4/1945 Các Đảng bộ đã thành lập ủy ban dân tộc giải phóng ởmột số xã và huyện để lãnh đạo nhân dân đấu tranh
Khi Nhật đầu hàng đồng minh, từ ngày 13-15/8/1945 hội nghị toànquốc của Đảng họp ở Tân Trào chủ trương lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa
và cử ra ủy ban khởi nghĩa toàn quốc
Theo đúng kế hoạch hội nghị Chi Đông sáng 19/8/1945 toàn dân tỉnhPhúc Yên dương cao cờ đỏ sao vàng từ nhiều hướng tiến về thị xã khởi nghĩagiành chính quyền ở toàn tỉnh
Từ 18-20/8/1945 cuộc khởi nghĩa đã diễn ra và giành thắng lợi chọnvẹn trong toàn tỉnh Phúc Yên
Ở tỉnh Vĩnh Yên khởi nghĩa diễn ra ở huyện xong mới đến tỉnh Huyệnkhởi nghĩa đầu tiên là Lập Thạch, tiến hành ngày 17/8/1945 và sau một tuần
lễ từ 17-24/8/1945 khởi nghĩa đã giành thắng lợi ở Phúc Yên
Như vậy, tổng khởi nghĩa đã giành được chính quyền ở hai tỉnh VĩnhYên và Phúc Yên Đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho giai đoạnsau
Thời kỳ 1946-1954 Đảng bộ Vĩnh Phúc tiếp tục lãnh đạo nhân dân tiếnhành chống thực dân Pháp xâm lược trở lại Đảng bộ lãnh đạo nhân xây dựng
và củng cố chính quyền cách mạng từ 9/1945-12/1946
Sau cách mạng tháng 8 tình hình nước ta gặp rất nhiều khó khăn Nằmtrong bối cảnh chung của cả nước, Vĩnh Yên, Phúc Yên cũng đứng trướcnhững khó khăn hết sức trầm trọng về kinh tế xã hội Thực hiện chỉ thị củatrung ương ngày 25/11/1945 “chỉ thị kháng chiến kiến quốc” Nhiệm vụ cầnkíp của toàn Đảng “củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bàitrừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân [11-28]
Trang 23Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng bộ hai tỉnh Vĩnh Yên và PhúcYên đã lãnh đạo nhân dân tiến hành khắc phục nạn đói đẩy mạnh sản xuất,quan tâm bồi dưỡng sức dân, làm cho lực lượng cách mạng càng thêm khảnăng đối phó với mọi thế lực thù địch
Ngày 27/3/1946 nhân dân hai tỉnh lại lô nức đi bầu cử hội đồng nhândân tỉnh, dến tháng 4/1946 bầu cử hội đồng nhân dân xã Ủy ban hành chínhcác cấp được chính thức thành lập thay thế cho chính quyền lâm thời
Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân chống quân Tưởng và tay sai Đầu năm
1946 theo hiệp định Hoa-Pháp, quân Pháp thay thế quân Tưởng ở miền Bắc.Đảng ta chủ trương tạm thời hòa hoãn với Pháp để đuổi quân Tưởng về nướctạo thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp Ngày 6/3/1946chính phủ ta ký với Pháp hiệp định sơ bộ Theo hiệp định quân Tưởng phảirút về nước, tới tháng 6/1946 chúng mới rút khỏi Vĩnh Yên, Phúc Yên Trungtuần tháng 6/1946 Đảng bộ tỉnh lãnh đạo nhân dân tấn công bọn quốc dânĐảng và phá tan bọn này
Cuối tháng 8/1946 quân Tưởng và bọn phản động tay sai bị quét sạch,chính quyền cách mạng được giữ vững, quê hương được hoàn toàn giảiphóng
Với những thắng lợi đó đã cổ vũ nhân dân hai tỉnh bước vào cuộc chiếnđấu mới đầy khó khăn gian khổ
Ngày 12/9/1946 Chủ Tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “Toàn quốckháng chiến” để quán triệt chủ trương đường nối kháng chiến của Đảng Từ1947-1949 Đảng bộ hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên đã tiến hành đại hội lầnthứ hai để đề ra các phương hướng chủ trương nhằm thực hiện chỉ thị “Toànquốc kháng chiến của Đảng” ở từng địa phương
Trang 24Cùng với công tác củng cố chính quyền, công tác mặt trận và xây dựngcác đoàn thể quần chúng ở Vĩnh Yên, Phúc Yên cũng được tỉnh đặc biệt quantâm.
Hai tỉnh chủ trương thống nhất mặt trận Việt Minh và các giới theo hệthống dọc từ xã lên tỉnh
Các Đảng bộ đặc biệt quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh các mặt tăng gia sảnxuất nhằm bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài Trên lĩnh vực nôngnghiệp , khẩu hiệu “Tấc đất, tấc vàng” được quán triệt sâu rộng trong quầnchúng nhân dân ở nông thôn, sản xuất của hai tỉnh có bước phát triển đã ổnđịnh được đời sống nhân dân Lực lượng vũ trang được xây dựng để sẵn sàngchiến đấu, bảo vệ quê hương là nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh
Thực hiện lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh “ Phá hoại để khángchiến” Nhân dân hai tỉnh đã chấp nhận sự gian khổ hy sinh để thực hiện tiêuthổ kháng chiến, phá nhiều công trình đường xá, nhà cửa, cầu cống, dùngchướng ngại vật để cản trở địch góp phần làm chậm bước tiến của chúng vàtạo cơ hội tốt để quân và dân ta tiêu diệt chúng trong chiến dich Việt Bắc thuđông năm 1947
Tỉnh đã xây dựng làng kháng chiến, lấy vùng núi Sáng Sơn và TamĐảo làm đất căn cứ xây dựng hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiếncủa toàn tỉnh
Năm 1950 tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên đã được hợp nhất thành tỉnhVĩnh Phúc Đảng bộ tỉnh vừa xây dựng lực lượng kháng chiến, vừa chốngđịch càn quét, bình định, từng bước phát triển chiến tranh du kích và xâydựng căn cứ kháng chiến vùng địch hậu đã cùng với nhân dân cả nước đánhbại các chiến dịch Trung Du năm 1950, chiến dịch Hoàng Hoa Thám, chiếndịch Quang Trung.Xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện cho cuộckháng chiến bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ Liên Khu ủy Việt Bắc chỉ thị
Trang 25cho Vĩnh Phúc “ phải hoạt động mạnh hơn nữa nhằm vào nơi địch sơ hở màtiêu diệt, tranh thủ củng cố cơ sở, phối hợp đắc lực với Điện Biên Phủ” , Liênkhu ủy còn giao nhiệm vụ cho Vĩnh Phúc phải vừa chiến đấu, vừa đảm bảohoàn thành nhiệm vụ cung cấp lương thực, công dân, phương tiện cho chiếndịch theo nhiệm vụ và kế hoạch của hội đồng cung cấp khu đã giao [1.245].
Chấp hành chỉ thị của liên khu ủy Việt Bắc, trong khi chiến dịch ĐiệnBiên Phủ diễn ra ác liệt, Đảng bộ Vĩnh Phúc đã tổ chức tốt lực lượng chiếnđấu đánh địch ở khắp các địa phương trong tỉnh, đồng thời huy động với mứccao nhất sức người sức của cho chiến dịch lịch sử này Với khẩu hiệu “Tất cảcho tiền tuyến” , ”tất cả để chiến thắng” Vĩnh Phúc đã huy động gần một vạndân công trẻ, khỏe cùng nhiều phương tiện chuyên trở lương thực, thực phẩmthuốc men, vũ khí đạn dược ra mặt trận
Nắm được thời cơ thuận lợi, theo chỉ thị của Trung ương và liên khu ủyViệt Bắc, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc quyết định “nhanh chóng mở luôn đợt hoạtđộng mùa hè tiêu diệt sinh lực địch làm tan lát hệ thống ngụy quân, ngụyquyền phối hợp đắc lục với cuộc đấu tranh ngoại giao ở hộ nghị Giơnevơ” [1-247] Để có thêm lực lượng tấn công địch, liên khu tiếp tục tăng cường choVĩnh Phúc một trung đoàn và một tiểu đoàn thuộc đại đoàn 312 Ban chỉ huymặt trận VĨnh Phúc cũng được thành lập gồm đại đoàn 312 cùng trung đoàn246…Và tỉnh ủy chỉ đạo trung toàn tỉnh
Sau một thời gian chuẩn bị, đợt tấn công quân sự mùa hè chính thứcđược mở màn vào đầu tháng 7 theo chủ trương của tỉnh ủy Trong đợt hoạtđộng này ta tấn công tiêu diệt các vị trí then chốt của địch, kết hợp với đấutranh chính trị làm tan rã hàng ngũ địch
Ngày 7-7 ta bắt đầu hoạt động Trong những trận đầu ra quân, ta đánhđịch trên cả 3 tuyến chiếm đóng của chúng, tiêu diệt các vị trí Man Để, Vật
Trang 26Cách (Yên lạc), Vân Tập, Thanh Dã (Tam Dương)…bao vây dinh lũy củabọn quốc dân Đảng phản động ở Thổ Tang, Vĩnh Tường.
Nhân lúc địch hoang mang cực độ, tỉnh ủy phát động cuộc đấu tranhchính trị rộng lớn nhằm làm tan rã hàng ngũ giặc, hỗ trợ cho tác chiến quân
sự giành thắng lợi to lớn hơn Để cuộc đấu tranh chính trị phát triển rộngkhắp,
Ngày 17-7-1954, ta kết thúc đợt hoạt động quân sự mùa hè
20-7-1954, hiệp định Gionevo được ký kết.Tình hình binh lính địch trên địabàn Vĩnh Phúc hoang mang giao động chưa từng thấy Để tranh thủ phá khốingụy quân ngụy quyền của địch trước khi ngừng bắn, tỉnh ủy đã tổ chức mộtđợt tấn công địch vận với khẩu hiệu đề ra “mỗi cán bộ.mỗi chiến sĩ, mỗingười dân là một địch vận viên” phong trào địch vận đã được phát động rộngrãi ở các huyện thị trong toàn tỉnh, địch vận bằng loa, miệng, biên thư….vàvận động gia đình ngụy biên lên tận đòn bốt và kêu gọi người dân trở về
Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trên mặt trận VĩnhPhúc, quân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã không ngại hy sinh, không nề gian khổ,phối hợp với bộ đội chủ lực đánh địch 6.122 trận lớn nhỏ trong đó có nhữngtrận đánh nổi tiếng đi vào lịch sự: trận Khoan bộ-Lập thạch trên dòng sông Lônăm 1947, trận Xuân Trạch-Lập thạch…Trong 9 năm kháng chiến quân vàdân Vĩnh phúc đã tiêu diệt 15.887 tên địch, bắn thương 3.957 tên, bắt sống6.590 tên, bức hàng 2.070 tên [1-250]…phá hủy nhiều phương tiện chiếntranh của địch
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cảu quân dân Vĩnh Phúc thắnglợi trước hết là có sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Đảng bộ Vĩnh Phúc
đã động viên được sức mạnh của nhân dân, các dân tộc trong tỉnh đứng lênkháng chiến theo khẩu hiệu của chủ tịch Hồ Chí Minh “ Thà hy sinh tất cả,chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” là nhân tố quyết
Trang 27định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp anh dũng của nhândân Vĩnh Phúc.
Đồng thời cuộc kháng chiến của Vĩnh Phúc còn thường xuyên nhậnđược sự chỉ đạo sáng xuất kịp thời của liên khu ủy Việt Bắc, sự phối hợp, dìudắt tác chiến có hiệu quả của bộ đội chủ lực Từng thắng lợi của các địaphương đều có vai trò đóng góp rất lớn của bộ đội chủ lực, đặc biệt là các trậnđánh tiêu diệt các cứ điểm lớn của địch
Cuộc kháng chiến ở tỉnh là một bộ phận của cuộc kháng chiến toànquốc Do vậy, những biến chuyển của tình hình địch, ta trên phạm vi cả nước,cùng vớ chiến thắng trên khắp các mặt trận cũng là một nguyên nhân kháchquan dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lượctrên địa bàn tỉnh
Với thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến 9 năm gian khổ chống Phápxâm lược , trải qua muôn vàn khó khăn gian khổ “ Vừa kháng chiến, vừa kiếnquốc” ngay tại quê hương mình Trong cuộc chiến đấu ấy, nhiều tên đất tênlàng của quê hương Vĩnh Phúc đã đi vào lịch sử oai hùng của dân tộc và gắnvới chiến công vang dội của Quân đội nhân dân Việt Nam Quân dân tỉnhVĩnh phúc đã cùng nhân dân cả nước góp sức mình vào chiến thắng ĐiệnBiên Phủ Hiệp định Gionevo được ký kết, Đảng bộ và nhân dân tỉnh cùng cảnước bước vào giai đoạn cách mạng mới, xây dựng miền Bắc Xã Hội ChủNghĩa, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc
Nhân dân Vĩnh Phúc đã anh dũng trong chiến đấu và sáng tạo trong laođộng sản xuất Với truyền thống quý báu như vậy là tiền đề và điều kiện đểtỉnh bước vào giai đoạn sau là vừa sản xuất vừa đấu tranh chống Mỹ giànhđộc lập dân tộc và thống nhất nước nhà Đặc biệt là phát triển nền kinh tếtruyền thống của tỉnh là nông nghiệp để có lương thực thực ổn định đời sống
Trang 28Chương II: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRONG THỜI KỲ (1954-1975)
2.1 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo quá trình cải cách ruộng đất và hàn gắn vết thương chiến tranh( 1954-1957).
2.1.1 Chủ trương của Đảng lao động Việt Nam.
Sau khi hiệp định giơnevơ được ký kết, miền Bắc nước ta được hoàntoàn giải phóng Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới Đảng chủtrương đưa miền Bắc quá độ đi lên xây dựng CNXH, làm hậu phương đểnhân dân miền Nam tiếp tục chống Mĩ và tay sai, hoàn thành cách mạng dântộc dân chủ tiến tới thống nhất tổ quốc Đảng chủ trương khôi phục kinh tếmiền Bắc nước ta nhằm : “… hàn gắn vết thương chiến trranh, phục hồi kinh
tế quốc dân, giảm bớt những khó khăn về đời sống của nhân dân, phát triểnkinh tế một cách có kế hoạch và từng bước, mở rộng việc giao lưu kinh tếgiãu thành thị và thôn quê”[12-294] Khôi phục và phát triển sản xuất nôngnghiệp được Đảng nhấn mạnh “là vấn đề then chốt, là cơ sở của việc cảithiện đời sống nhân dân, đảm bảo lương thực cho nhân dân , phồn thịnh kinh
tế, mở rộng giao lưu hàng hóa”[12-294, 295], cải tạo và từng bước phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội, hoàn thành cải cách ruộng đất và cải tạo XHCN
Miền Bắc đi lên xây dựng CNXH từ xuất phát điểm thấp, từ một nướcnông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn lạc hậu, lại bị chiếntranh tàn phá nặng nề: 14 vạn ha ruộng đất hoang hóa, các công trình thủy lợiđều bị phá hoại thiên tai mất mùa liên tiếp xảy ra, giao thông hư hại nặng…
Đúng trước tình hình đó, Hội nghị Bộ chính trị tháng 9/1954 đã chỉrõ:Công việc trước mắt là ổn định đời sống nhân dân, chống chính sáchcưỡng ép di cư vào Nam của địch, hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồinền kinh tế quốc dân Trong đó, phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp
Trang 29là vấn đề trọng tâm Đây là chủ trương đúng đắn của Đảng có ý nghĩa lớntrong việc cải thiện đời sống nhân dân, tạo tiền đề cho công nghiệp và xâydựng mô hình quản lý nông nghiệp phù hợp với tình hình đất nước.
Việc khôi phục kinh tế nông nghiệp có liên quân mật thiết với việc giảiquyết vấn đề ruộng đất nhằm giải phóng lực lượng sản xuất của hàng triệunông dân, thực hiện khẩu hiệu: “người cày có ruộng”
Chủ trương trên được Đảng ta nêu rõ, bổ xung và hoàn chỉnh trong Hộinghị Trung ương 6(7-1954), hội nghị bộ chính trị (9-1954), Hội nghị Trungương 7(3-1955), Hội nghị Trung ương 8 (8-1955), Hội nghị Trung ương 11(12-1956), Hội nghị Trung ương 12(3-1957)
Nghị quyết hội nghị lần thứ VII ban chấp hành trung ương khóa II 1955) nêu rõ chủ trương: để củng cố miền Bắc , trước hết phải hoàn thành cảicách ruộng đất và coi đây là chính sách bất di bất dịch Để đẩm bảo cho côngcuộc cải cách giành được thắng lợi, Đảng xác định rõ phương pháp tiến hành
(5-là : “ dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệpvới phú nông , xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất có từng bước, có phân biệt,
có lãnh đạo” [13-425, 426]
Hội nghị lần thứ VIII ban chấp hành trương ương Đảng khẳng định: cảicách ruộng đất quan hệ đến củng cố miền Bắc, chẳng những đưa lại quyềnlàm chủ ruộng đất cho nông dân, mà còn tạo điều kiện cho công cuộc khôiphục và phát triển sản xuất , củng cố quốc phòng, củng cố cơ sở của Đảng vàchính quyền ở nông thôn
2.1.2 Đảng bộ tỉnh vĩnh phúc lãnh đạo hàn gắn vết thương chiến tranh, cải cách ruộng đất.
Theo quy định của Hiệp định Giơnevơ và hội nghị Trung Giã, ngày 10-1954 , những tên lính cuối cùng đã rút khỏi Vĩnh Phúc Sau ngày giải
Trang 308-có tư tưởng lệch lạc, không cảnh giác âm mưu của địch , nhiều gia đình bịcưỡng ép vào Nam, nạn đói sảy ra, đến 4-1955, đã lên tới 5 vạn người[1.256] Ruộng đất bị bỏ hoang nhiều Sau giải phóng, tỉnh Vĩnh Phú có
33611 mẫu ruộng bị hoang hóa, chiếm 8% diện tích canh tác toàn tỉnh[5.214]
Đứng trước những khó khăn như vậy, Đảng bộ và nhân dân quán triệtchủ trương của trung ương, tập trung mọi lực lượng để khôi phục lại nền kinh
tế bị suy thoái do chiến tranh mà chủ yếu là khôi phục sản xuất nông nghiệp
để giải quyết vấn đề lương thực thực phẩm nhằm ổn định đời sống nhân dân
Giải quyết nạn đói là một yêu cầu cấp bách Hội nghị tỉnh ủy VĩnhPhúc họp ngày 10-1-1955 chủ trương “Nhất thiết phải giải quyết cho đượcnạn đói Không để nạn đói diễn ra trầm trọng”.Đảng bộ và chính quyền VĩnhPhúc đã tổ chức nhiều hội nghị cán bộ để quán triệt chủ trương của Trungương Xây dựng kế hoạch thực hiện ở tầng cấp
Ngày 20-1-1955, Hội nghị tỉnh ủy họp mở rộng với bí thư các huyện vàcán bộ xung quanh tỉnh họp thảo ra kế hoạch chống đói
Từ ngày11-13/2/1955 , Hội nghị mở rộng của tỉnh ủy tiếp tục họp và đề
ra chủ trương về công tác chống đói và đề ra chủ trương : vận động nhân dânkhắc phục mọi khó khăn dể đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, tranh thủ trồngrau màu ngắn ngày, đó là biện pháp chống đói trước mắt và khắc phục nạnđói một cách triệt để
Để giải quyết nạn đói trước mắt Đảng bộ tỉnh đã phát động nhiềuphong trào “nhường cơm xẻ áo, lá lành đùm lá rách”để chống đói Chínhquyền tỉnh một mặt giúp nhân dân sản xuất, mặt khác đã giành một số tiềnbạc , lương thực, cứu trợ vùng bị đói nặng theo phương trâm “cứu đói nhưcứu hỏa” và nguyên tắc hợp lý, công bằng, đúng đối tượng Việc cứu đói đã
Trang 31gắn liền với vận động nhân dân về tập trung phòng bệnh Hết quí I năm 1954Vĩnh Phúc làm 3 đợt cứu tế 123, 268kg thóc, 36709m vải.
Từ ngày 17-20/10/1954 tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã bàn nhiều biện pháp khôiphục kinh tế sau chiến tranh trông đó nêu rõ nhiệm vụ trọng tâm là: “Ra sứcthực hiện những công tác nhằm khôi phục lại nền kinh tế địa phương đểchống đói, nâng cao dần đời sống nhân dân Chủ yếu là phục hồi và phát triểnsản xuất nông nghiệp Đồng thời chú trọng phục hồi và phát triển côngthương nghiệp” [1.260]
Để chống đói lâu dài, Đảng bộ tỉnh lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh sảnxuất vụ mùa thắng lợi.; “phong trào thi đua sản xuất tiết kiệm mùa xuân” củachủ tịch Hồ Chí Minh
Để cứu đói, vấn đề vỡ hoang được chú trọng, sau chiến tranh ruộng đất
bị hoang hóa nhiều, tổng diện tích hoang hóa lên tới 47.222 mẫu.[3.80]
Chỉ thị trung ương Đảng 29-6-1954 về nhiệm vụ khôi phục và pháttriển sản xuất nông nghiệp năm 1954 : “phải làm cho ruộng hết hoang” là mấuchốt chính của việc tăng gia sản xuất lương thực hiện nay
Thực hiện chủ trương của tỉnh ủy 10-1954 đến 12-1954, nhân dân cáchuyện Lập Thạch, Vĩnh Tường, Tam Dương, Yên Lạc, Yên Lãng và BìnhXuyên đã góp 7 vạn ngày công tu bổ toàn bộ hệ thống nông giang Liễn Sơn.Tổng khối lượng đào đắp lên tới 17 nghìn m3, vét 16500m3 bùn, đắp 367 đập.làm mới 205 cống
Đầu 1955, nhờ sử dụng sức lao động và vật tư hợp lý, sự sáng tạo tronglao động lên việc khôi phục công trình thủy lợi Liễn Sơn nhanh chóng đượcjhoàn thành Đó là kết quả lớn nhất của Đảng bộ nhân dân Vĩnh Phúc về khôiphục kinh tế sau chiến tranh đáp ứng nhu cầu tưới nước cho 88 nghìn mẫuruộng của 6 huyện phía Bắc tỉnh Phục vụ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp
Trang 32Thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế này, Đẩng bộ tỉnh quyết định phát độngnhân dân giải quyết vấn đề ruộng hoang.
Công tác vỡ hoang được đẩy mạnh, từ tháng 7/1954 đến tháng 6/1955
đã tiến hành 3 đợt vỡ hoang đưa 70% diện tích đất hoang hóa vào sử dụng
Cùng với công tác cứu đói, việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp đã đẩylùi được nạn đối từ năm 1955-1957 diện tích gieo trồng không ngừng tăng.Năm 1957 là 98375 ha, năng suất lúa bình quân năm 1955 là 1619kg/ha.Tổng sản lượng lương thực đạt 154883 tấn năm 1955 [21.82]
Như vậy, việc khôi phục năng lực sản xuất nông nghiệp trên địa bàntỉnh sau chiến tranh có ý nghĩa rất to lớn và quan trọng: “nó có nhiệm vụ hàngắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế quốc dân , nâng cao đời sốngnhân dân , phát triển kinh tế của ta có kế hoạch Nó còn quan hệ trực tiếp đếncuộc đấu tranh giành hòa bình thống nhất nước nhà.[1.253]
Muốn phát triển sản xuất nông nghiệp thì phải tiến hành cải cách ruộngđất Cùng với nhiệm vụ trọng tâm là khắc phục hậu quả chiến tranh phát triểnsản xuất thì nhiệm vụ phát động quần chúng giảm tô , tiến tới cải cách ruộngđất theo chủ trương của Trung ương cũng được tiến hành khẩn trương
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp , do điều kiện chiến tranh nên tỉnhchỉ thực hiện được giảm tô ở 10 xã vùng tự do huyện Lập Thạch:YênDương.Bồ Lý, Hợp Lý, Minh Khai, Nguyễn Huệ, Quang trung, Đôn Nhân,Lãng Công, Bạch Hải và Phương Khoan Từ 3-3 đến 2/6/1954 ở những xãnày ta đã phát động nhân dân đấu tranh lật đổ uy thế chính trị của địa chủphong kiến Đồng thời dựa trên cơ sở pháp lý buộc địa chủ giảm tô thực hiệngiảm tức
Khi hòa bình lập lại 11-1954 , tỉnh phát động quần chúng giảm tô ở 32
xã thuộc huyện Vĩnh Tường vào đợt 6 và đợt 7 là đợt cuối cùng ở 81 xã ở tất
cả các huyện trong tỉnh, có 10 xã chưa giảm tô
Trang 337/3/1955 tỉnh đã kết thúc đợt phát động quần chúng đấu tranh giảm tô,giảm tức.
Qua đợt phát động giảm tô, ta đã phát hiện 1307 địa chủ, buộc địa chủthoái 1959312 kg thóc chia cho gần 9000 nhân khẩu Uy thế chính trị và kinh
tế của địa chủ bị giảm đi một bước Những quyền lợi thiết thân của ngườinông dân được thực hiện phần nào Tạo thuận lợi để ta hoàn thành nhiệm vụcải cách ruộng đất , đánh đổ giai cấp địa chủ, thực hiện mục tiêu “Người cày
có ruộng”
Thực hiện nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ 7 và 8 năm 1955 vềcủng cố miền Bắc mà nhiệm vụ trọng tâm là cải cách ruộng đất Theo sự chỉđạo của ban cải cách ruộng đất của Trung ương , tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành cảicách trong 2 đợt (đợt 3 và đợt 4) Nhiệm vụ này do đoàn ủy IV trực tiếp chỉđạo Đợt 3 tiến hành từ ngày 8-2-1955 đến 10-5-1955 ở 65 xã thuộc huyệnLập thạch , Vĩnh Tường và 2 xã thuộc huyện Tam Dương
Đợt 4 tiến hành từ ngày 7-7-1955 đến 7-10-1955 trong phạm vi rộng ở
111 xã ở tất cả các huyện còn lại
Giữa tháng 10-1957 , công cuộc cải cách đã được hoàn thành trên địabàn tỉnh
Trên phạm vi 410 xã thuộc vùng trung du và một số xã miền núi
Cải cách ruộng đất đã đem lại kết quả to lớn Giai cấp địa chủ phongkiến bị đánh đổ, quyền phong kiến chiếm hữu ruộng đất vĩnh viễn bị xóa bỏ
Trang 34cụ và 634 tấn lương tực [1.267] Toàn bộ số trâu bò, nông cụ chia cho 40.883
hộ nông dân Ước mơ người cày có ruộng được thực hiện trên địa bàn tỉnh
Nông dân đã hoàn toàn thoát khỏi ách áp bức bóc lột của phong kiếnhàng nghìn năm , trở thành người làm chủ nông thôn Khối liên minh côngnông được tăng cường và củng cố, làm cơ sở vững chắc cho chính quyến vàmặt trận Qua cải cách ruộng đất, hàng nghìn cán bộ đảng viên được rènluyện Hơn 4000 quần chúng tích cực thuộc thành phần nông dân được kếtnạp vào Đảng
Đánh giá thắng lợi của cải cách ruộng Nghị quyết hội nghị lần thứ 10,ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) 9/1956 ghi: “ hiện nay ở miền Bắcgiai cấp địa chủ căn bản đã bị đánh đổ Ruộng đất về tay nông dân.Hơn 10triệu nông dân lao động đã vươn mình và trở thành người làm chủ nôngthôn…chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất bị xóa bỏ Đó là một cuộcchuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội” [14-593] Nguyện vọng lâuđời của quần chúng nhân dân và khẩu hiệu người cày có ruộng đã được thựchiện
Sau khi cải cách ruộng đất ta đã mắc phải một số sai lầm hết sức nghêmtrọng Tỉnh ủy cũng đã đánh giá “chủ trương phát động quần chúng thựchiện cải cách ruộng đất là đúng, nhưng trong quá trình thực hiện chỉ đạo giảm
tô, cải cách ruộng đất Chúng ta đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng viphạm nguyên tắc của Đảng và nhà nước Làm cho uy tín của Đảng và nhànước bị giảm sút”…[1.267]
Tư tưởng thành phần chủ nghĩa mang tư tưởng nông dân, chỉ thấy lợiích của người nông dân mà không biết đoàn kết với các giai cấp khác
Số hộ và số cán bộ đảng viên bị xử oan sai nhiều đã gây không khínặng nề, căng thẳng ở nhiều nơi nhất là ở nông thôn, mâu thuẫn thù oán lẫn
Trang 35nhau nhân dân hoài nghi về Đảng và nhà nước, kẻ địch lợi dụng gây mâuthuẫn.
Nguyên nhân của những sai lầm đó là: Không nắm vững những biếnđổi ở nông thôn miền Bắc tử sau cách mạng tháng tám và trong kháng chiếnchống Pháp, dập khuôn một cách máy móc kinh nghiệm của nước ngoài
Hội nghị lần thứ mười của ban chấp hành Trung ương Đảng đã kiênquyết sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức để pháthuy kết quả đã đạt được
Thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng và liên khu ủy Việt Bắc,Vĩnh Phúc tiến hành từng bước sửa sai cho phù hợp với thực tiễn địa phương
Vĩnh Phúc có 181 xã phải sửa sai toàn diện nhưng do thiếu cán bộ nênchỉ sửa sai được ở 113 xã ở đợt một và 68 xã ở đợt hai
Cuối tháng 10-1957, công tác sửa sai ở Vĩnh Phúc đã căn bản hoànthành
Chủ trương và biện pháp thực hiện sửa sai đúng đắn đã làm cho tìnhhình ở mọi nơi trong tỉnh bớt căng thẳng, mâu thuẫn Khối đại đoàn kết toàndân được tăng cường
Như vậy, những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức
có nghiêm trọng về nhiều mặt Nhưng sau khi phát hiện sai lầm Đảng vàchính phủ đã kiên quyết sửa chữa Chính sách sửa sai được cụ thể hóa và phùhợp với quyền lợi của nhân dân, lãnh đạo lại chặt chẽ, cán bộ và nhân dânđoàn kết, quyết tâm sửa chữa sai lầm, nên đến nay, công tác sửa sai toàn diệnvẫn tốt đẹp
Trong 3 năm khôi phục kinh tế 1954-1957, đã hoàn thành cơ bản nhữngnhiệm vụ còn lại của giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ tạo những tiền đề
để bước đầu chuyển sang giai đoạn cách mạng CNXH Trong nông nghiệp ta
Trang 36được giải quyết Đó là một thành tích lớn của Đảng và nhân dân Vĩnh Phúctrong thời gian qua.
2.2 Đảng bộ tỉnh lãnh đạo kinh tế tư nhân thành kinh tế tập thể (1958- 1960)
Ở miền Bắc, căn cứ vào hoàn cảnh thực tế và yêu cầu quyền lợi kinh tế,chính trị của nông dân, củng cố khối liển minh công- nông, mở rộng mặt trậndân tộc thống nhất Đảng và chính phủ quyết định “ Đẩy mạnh phát độngquần chúng thực hiện cải cách ruộng đất”, “cải tạo quan hệ sản xuất, bước đầuphát triển kinh tế- xã hội” (1958- 1960), trong đó có cải tạo nông nghiệp
Từ thực tiễn miền Bắc sau chiến tranh, Đảng và nhà nước đã quyếtđịnh thực hiện kế hoạch 3 năm( 1955- 1957), nhằm hàn gắn vết thương chiếntranh, khôi phục kinh tế Trong quá trình thực hiện kế hoạch Đảng và nhànước chủ trương khuyến khích, vận động nhân dân tham gia các tổ đổi công.Thông qua các hội nghị tổ đổi công toàn quốc lần thứ nhất (5/1955), lần thứ 2(3/1956), lần 3(5/1957) Tại Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần 8khóa II, Đảng chủ trương xây dựng thí điểm một số hợp tác xã (HTX) nôngnghiệp, lấy đó làm cơ sở thực tiễn để định hướng công cuộc cải tạo XHCNđối với nông nghiệp ở miền Bắc
Giữa tháng 11/1958, Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành trung ươngĐảng khóa II đã đề ra Nghị quyết quan trọng về nhiệm vụ kế hoạch phát triểnkinh tế- xã hội 3 năm 1958- 1960 ở miền Bắc Nhiệm vụ trước mắt ở miềnBắc là đẩy mạnh cải tạo XHCN đối với thành phần kinh tế cá thể của nôngdân, thợ thủ công và các thành phần kinh tế tư bản, tư doanh; đồng thời ra sứcphát triển thành phần kinh tế quốc doanh, làm cho thành phần kinh tế này giữvai trò nền tảng của nền kinh tế quốc dân
Cụ thể nhiệm vụ trọng tâm:
Trang 37Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy sản xuấtnông nghiệp làm khâu chính, chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề lương thực,đồng thời rất chú trọng sản xuất công nghiệp.
Ra sức cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương tư bản tưdoanh theo CNXH, khâu chính là đẩy mạnh hợp tác hóa nông nghiệp
Tiếp đó, Hội nghị lần thứ 16 Ban chấp hành Trung ương Đảng (4/1959)
đã xác định những vấn đề cơ bản về đường lối giai cấp của Đảng: “ Dựa hẳnvào bần nông và trung nông lớp dưới, đoàn kết chặt chễ với trung nông, hạnchế sự bóc lột về kinh tế cho phú nông, cải tạo tư tưởng cho phú nông, ngănchặn điạ chủ ngóc đâug dậy; tiếp tục mở đường cho địa chủ lao động thànhcon người mới; kiên quyết đưa nông dân vào con đường hợp tác hóa nôngnghiệp tiến lên CNXH”[16-371]
Nguyên tắc: tự nguyện cùng có lợi, quản lý dân chủ và phương châmtiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH được quán triệt và thực hiện.Quốc hội khóa I (kỳ họp thứ 10) 6/1959, xác định: “ Hợp tác hóa nông nghiệp
là con đường duy nhất đưa nông dân tiến lên chủ nghĩa xã hội”
Thực hiện chủ trương của Đảng, phong tào hợp tác hóa phát triển mạnhcuối năm 1958 ở thí điểm 134 xã và đến năm 1960 cơ bản hoàn thành việcđưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể
Vĩnh Phúc được chọn làm nơi xây dượng thí điểm Hợp tác xã nông nghiệp
Thực hiện kế hoạch nhà nước năm 1958 và phương hướng mục tiêu cảitạo nông nghiệp theo hướng XHCN, củng cố và xây dựng hợp tác xã sản xuấtnông nghiệp, hợp tác xã mua bán và hợp tác xã tín dụng của tỉnh, các cấp ủyĐảng đã tăng cường công tác lãnh đạo và thu được những kết quả quan trọng
Ở Vĩnh Phúc, phong trào xây dựng tổ đổi công được tiến hành trongcuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và được kiên trì, củng cố,
Trang 38huyện Đa Phúc, Tam Dương Kháng chiến thắng lợi, phong trào tổ đổi côngtiếp tục được nhân rộng và phát triển mạnh mẽ ở khắp các huyện trong tỉnh.Năm 1954, toàn tỉnh có 3.564 tổ đổi công, đến năm 1956 tăng lên 13.923 tổđổi công [2-315].
Trên cơ sở tổ đổi công phát triển mạnh, để từng bước đưa nông dân cáthể vào con đường làm ăn tập thể theo tinh thần của Đảng, trong thời gian tiếnhành những sai lầm, khuyết điểm trong cải cách ruộng đất, Trung ương đãchọn một điểm ở Vĩnh Phúc để xây dựng thí điểm HTX nông nghiệp bậcthấp
Tháng 5/1956 một số đoàn cán bộ Trung ương và của tỉnh đã về xãChấn Hưng ( Vĩnh Tường) làm thử HTX đầu tiên ở Xóm Suôi Sau một thờigian tuyên truyền giáo dục có 14 hộ gia đình (gồm 53 nhân khẩu, 25 lao độngchính) đã tình nguyện tham gia HTX thí điểm này
Tư liệu sản xuất được tập thể hóa gồm: 24 mẫu 6 sào, 11 thước ruộng,canh tác 2 vụ lúa mùa, 6 con trâu, bò; và một số nông cụ thiết yếu[1-278]Kết thúc vụ mùa năm 1956, có 10 hộ xin ra HTX nhưng năng suất lúa ở HTXcao hơn hộ cá thể
Qua việc xây dựng HTX thí điểm ở Chấn Hưng, các cấp bộ trên và tỉnhđánh giá:
Việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp bằng con đường làm
ăn tập thể là việc làm mới mể đối với nông dân Do vậy, công tác tuyêntruyền, vận động phải rất quan trọng Ở HTX Chấn Hưng thì chỉ thiên về nóicái tốt, cái thuận lợi nên khi gặp khó khăn trong quản lý và sản xuất thì mọingười lung túng, hoang mang
Chưa có đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành kinh tế tập thể Xã viênkhông quen lối làm ăn tập thể, chi bộ Đảng chưa làm tròn vai trò đối vớiHTX
Trang 39Những vấn đề rút kinh nghiệm trên có ý nghĩa quan trọng trong việcphát triển HTX.
Từ kinh nghiệm thí điểm ở Xóm Suôi, năm 1957, tỉnh Vĩnh Phúc xây dựngthêm 4 HTX mới Tổng số HTX trong tỉnh lên 5 HTX nông ngiệp bậc thấpgồm 80 hộ tham gia
Do bị ảnh hưởng bởi những sai lầm trong cải cách ruộng đất nên năm
1957 chỉ còn lại 713 tổ
Trước tình hình đó: 21/10/1957, ban bí thư trung ương Đảng ra chỉ thị57: “ Về củng cố, khôi phục, phát triển tổ đổi công”, phong trào tổ đổi công ởVĨnh Phúc từng bước đi vào chất lượng
Đến cuối năm 1958, tỉnh có 11.191 tổ đổi công, gồm 72.779 hộ, chiếm
66, 09% tổng số hộ nông dân trong toàn tỉnh, tạo điều kiện tiền đề thuận lợicho việc thực hiện HTX nông nghiệp trong thời gian tiếp theo trên địa bàntỉnh[1-280]
Từ năm 1958, phong tào hợp tác hóa nông nghiệp ở Vĩnh Phuc bắt đầuthực hiện ở nhiều nơi Một số hợp tác xã trở thành điển hình tiên tiến: hợp tác
xã Lai Sơn đã được vinh dự Bác Hồ về thăm ngày 30/3/1958 Người đã dặnĐảng bộ và nhân dân: phải đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, muốn đẩymạnh sản xuất thì phải vào tổ đổi công, tiến lên hợp tác xã sản xuất nôngnghiệp…
Mác từng nói: “Hợp tác xã không chỉ nghiên cứu sức sản xuất cá nhân
mà còn sáng tạo ra một thứ sức mạnh mới chỉ có thể là tập thể”[16-308]
Đến năm 1958, tỉnh có 244 hợp tác xã nông nghiệp ở 99 xã, với 5835
hộ tham gia chiếm 5, 52% số hộ nông dân toàn tỉnh [1-281] Từ đây, phongtrào tổ đổi công phát triển mạnh, nhiều tổ đổi công chuyển lên thành hợp tác
xã nông nghiệp
Trang 40Xác định hợp tác hóa nông nghiệp là khâu chính trọng tâm: Hợp táchóa nông nghiệp là con đường duy nhất đưa nông dân tiến lên CNXH, VĩnhPhúc đã phấn đấu đến 12/1959 tỉnh đã xây dựng được 798 hợp tác xã, thu hút44.662 hộ tham gia, chiếm 40, 38 tổng số nông dân toàn tỉnh.
Quán triệt Nghị quyết Trung ương lần thứ XIV của Trung ương Đảngtháng 11-1958: “tiến tới năm 1960 là hoàn thành đưa nông dân vào hợp tác xãnông nghiệp bậc thấp và đưa một phần hợp tác xã sơ cấp lên bậc cao” Trên
cơ sở kinh nghiệm tổ đổi công phát triển Hội nghị tỉnh uy mở rộng họp 23đến 30/1/1959 đề ra nhiệm vụ: Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, bước đầu xâydựng công nghiệp địa phương và hết sức coi trọng phát triển tiểu thủ côngnghiệp, hướng thủ công nghiệp phục vụ nông nghiệp
Ra sức cải tạo nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp tưdoanh
Trên cơ sở phát triển sản xuất, nâng cao thêm một bước đời sống vậtchất và văn hóa của nhân dân lao động
Căn cứ vào nhiệm vụ chung của trung ương và căn cứ vào tình hình địaphương Đảng bộ tỉnh xác định: “ Lấy nhiệm vụ cải tạo XHCN là trọng tâm,phải lấy việc hợp tác hóa nông nghiệp là khâu chính, đồng thời phải chú trọngcải tạo thành phần kinh tế tư bản tư doanh ở thành thị”[1-.282]
Tỉnh ủy xác định cải tạo XHCN là một cuộc đấu tranh giai cấp gay go,quyết liệt, phức tạp nên “ phải tăng cường giáo dục tư tưởng XHCN, làm chomọi người phân rõ ranh giới giữa con đường XHCN và chủ nghĩa cá nhân,giữa nhân dân ta và kẻ thù của nhân dân làm sao cho tư tưởng XHCN chiếm
ưu thế” [1-283]
Quán triệt Nghị quyết của trung ương và sau một năm phấn đấu theotinh thần nghị quyết của tỉnh ủy, với khí thế cách mạng sôi nổi của quầnchúng Đảng bộ tỉnh đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền bồi dưỡng cán