1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân cao đẳng điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại trường cao đẳng hàng hải i

91 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 868 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt trong những năm học gần đây, thực hiện theo Quyết định số43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo GDĐT[11], khoa Điều khiển tàu biển, Trường Cao đẳng Hàng hải

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân Cao đẳng Điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại Trường Cao đẳng Hàng hải I” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kì công trình nào khác Tài liệu tham khảo và nội dungtrích dẫn đảm bảo sự đúng đắn, chính xác, trung thực và tuân thủ các quy định

về quyền sở hữu trí tuệ

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đãđược chỉ rõ nguồn gốc

Hải Phòng, ngày 10 tháng 3 năm 2015

Tác giả luận văn

Vũ Ngọc Hùng

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian nỗ lực, cố gắng nghiên cứu một cách nghiêm túc, luận

văn “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân Cao đẳng Điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại Trường Cao đẳng Hàng hải I” đã

được hoàn thành đúng thời hạn

Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn PGS TS.Phạm Kỳ Quang đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, động viên và cung cấp tàiliệu cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy giáo, cán bộ, chuyên viên của ViệnĐào tạo sau đại học, khoa Hàng hải, Thư viện,… Trường Đại học Hàng hảiViệt Nam Đồng thời sự động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè và đồngnghiệp để tôi hoàn thành luận văn cao học theo đúng quy định./

Hải Phòng, ngày 10 tháng 3 năm 2015

Tác giả

Vũ Ngọc Hùng

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOANi

1.1 Căn cứ pháp lý để xây dựng chương trình đào tạo theo hệ tín chỉ 6

1.2 Phương pháp đào tạo theo học chế tín chỉ 8

1.2.1 Lịch sử của giờ tín chỉ 8

1.2.2 Khái niệm tín chỉ 10

1.2.3 Những lợi thế của phương thức đào tạo theo tín chỉ 12

1.2.4 Vai trò người dạy 14

1.2.5 Vai trò của người học 15

1.2.6 Các nhược điểm của học chế tín chỉ 16

1.3 Những vấn đề cần giải quyết đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực Hàng hải ở Việt Nam hiện nay 17

1.4 Công tác Đào tạo huấn luyện hàng hải ở các quốc gia trong khu vực, trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay 20

Trang 4

1.5 Kết luận chương 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO SINH VIÊN NGÀNH CAO ĐẲNG ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN THEO HỆ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG HÀNG HẢI I 30

2.1 Những nét chính về Trường Cao đẳng Hàng hải I 30

2.2 Chương trình Đào tạo cử nhân Điều khiển tàu biển ở Trường Cao đẳng Hàng hải I theo hệ tín chỉ hiện nay 31

2.2.1 Mục tiêu đào tạo 31

2.2.2 Đối tượng tuyển sinh và thời gian đào tạo 34

2.2.3 Khung chương trình đào tạo 34

2.2.4 Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp49

2.3 Đánh giá công tác Đào tạo cử nhân Cao đẳng Điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại trường Cao đẳng Hàng hải I 50

2.3.1 Phương pháp đào tạo 51

2.3.2 Đánh giá về đội ngũ giáo viên 52

2.3.3 Đánh giá về đội ngũ sinh viên 56

2.3.4 Đánh giá về cơ sở vật chất và tài liệu phục vụ công tác Đào tạo

58

2.3.5 Đánh giá về công tác quản lý sinh viên 60

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỬ NHÂN CAO ĐẲNG ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN THEO HỆ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG HÀNG HẢI I 63

3.1 Đổi mới phương pháp giảng dạy 63

3.2 Đổi mới phương pháp học tập của sinh viên 65

3.3 Xây dựng quy hoạch và phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên của khoa Điều khiển tàu biển 66

3.3.1 Nâng cao vai trò của giảng viên cố vấn học tập 66

Trang 5

3.3.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên chất lượng 68

3.4.3 Đẩy mạnh hợp tác về Giáo dục và Đào tạo, chủ động hội nhập quốc

tế về lĩnh vực huấn luyện Hàng hải 74

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

GD & ĐT Giáo dục và Đào tạo

GTVT Giao thông vận tải

GVCVHT Giảng viên cố vấn học tập

ISO Quy trình quản lý chất lượng

IMO International Martime Organization

Tổ chức hàng hải quốc tếKIMFT

Korea Institude of Maritime and FisheriesTechnology

Học viện Hàng hải và đánh cá Hàn Quốc

MARPOL 73/78

International Convention for the Prevention ofPollution From Ships, 1973 as modified by theProtocol of 1978

Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển

1973, được sửa đổi bởi Nghị định thư 1978MLC 2006 Maritime Labour Convention 2006

Công ước Lao động Hàng hải 2006NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Thanh tra chính quyền cảng

Trang 7

2.2 Chương trình khung đào tạo Cao đẳng Điều khiển tàu

2.9 Bảng chuyển đổi thang điểm theo hệ tín chỉ 472.10 Bảng quy đổi thang điểm chữ và số 49

2.11 Bảng 2.11 Phân bố số lượng cán bộ, giảng viên theo Tổ

Bảng 2.12 Số lượng sinh viên Khoa Điều khiển tàu biển từ 2008 ÷

Bảng 3.1 Dự kiến kế hoạch bồi dưỡng trình độ khoa học và

chuyên môn cho cán bộ, giảng viên 2015 ÷ 2020 57

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nguồn nhân lực của mỗi quốc gia có vai trò vô cùng quan trọng trongviệc tạo ra giá trị vật chất và giá trị văn hóa cho quốc gia đó Việc phát huytối đa nguồn nhân lực, không ngừng mở rộng số lượng, nâng cao chất lượng

để đem lại sức mạnh cho đất nước Cho nên cần có biện pháp cụ thể sử dụnghiệu quả nguồn nhân lực, nhằm đạt được mục tiêu ở từng giai đoạn nhất định

Trong quản lý nguồn nhân lực, đào tạo và phát triển nguồn nhân lựcđóng vị trí then chốt, nhằm mục đích phát huy hết khả năng tiềm ẩn trong mỗicon người, góp phần tăng cường sức mạnh và đóng góp của cá nhân cho tổchức, cho quốc gia Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực hànghải ở nước ta hiện nay càng có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết, từng bướcthực hiện thành công nghị quyết hội nghị lần thứ tư ban chấp hành trung ươngĐảng khóa X về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 [8] Theo đó, ngànhhàng hải có vai trò rất lớn và mang tính quốc tế hóa cao Mục tiêu phát triểnkinh tế biển đến năm 2020 là kinh tế biển và vùng ven biển đóng góp 50 ÷55% tổng GDP của cả nước, trong đó ngành hàng hải có vị trí hàng đầu Mộttrong những mục tiêu ngành hàng hải cần tập trung thực hiện đó là đào tạo,huấn luyện để phát triển nguồn nhân lực vận tải biển như sau:

Nâng cao chất lượng và mở rộng các hình thức đào tạo, huấn luyệnnguồn nhân lực hàng hải theo hướng bảo đảm cân đối giữa đào tạo lý thuyếtvới huấn luyện thực hành; tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, huấn luyệnnhằm đáp ứng đầy đủ nguồn nhân lực đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế biển

và kinh tế hàng hải nói riêng

Cung cấp đủ lực lượng lao động làm việc trong các lĩnh vực của ngànhhàng hải và các ngành liên quan khác của kinh tế biển: dầu khí, thuỷ sản, dulịch, nghiên cứu biển, khảo sát và thăm dò tài nguyên biển, ; tăng nhanh số

Trang 10

lượng thuyền viên và những người lao động khác thuộc ngành hàng hải xuấtkhẩu làm việc ở nước ngoài phù hợp với nhu cầu trong từng giai đoạn

Phát triển bảo đảm chất lượng, uy tín của các trường đại học, cao đẳng,trung học và những cơ sở đào tạo, huấn luyện nguồn nhân lực hàng hải kháctrong cả nước Phấn đấu phát triển hệ thống đào tạo, huấn luyện nguồn nhânlực hàng hải của Việt Nam tiến tới ngang tầm với hệ thống đào tạo, huấnluyện hàng hải có uy tín, chất lượng của các quốc gia trong khu vực và trênthế giới

Thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước,cũng như nhiệm vụ mà Bộ giao thông vận tải (GTVT) đã giao, để đào tạo,huấn luyện nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng được nhu cầu phát triển củađất nước nói chung và ngành hàng hải nói riêng, trong những năm qua, côngtác đào tạo và huấn luyện của Trường Cao đẳng Hàng hải I không ngừng phấnđấu, đổi mới để vươn lên, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; đã đạtđược thành tựu đáng kể đóng góp nguồn nhân lực dồi dào cho nền kinh tế củađất nước và ngành hàng hải Chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao,quy mô đào tạo ngày càng lớn mạnh

Đặc biệt trong những năm học gần đây, thực hiện theo Quyết định số43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT)[11], khoa Điều khiển tàu biển, Trường Cao đẳng Hàng hải I đã chuyển từhình thức đào tạo theo niên chế sang hình thức đào tạo theo hệ tín chỉ Do nhàtrường mới chuyển sang đào tạo theo hệ tín chỉ từ năm học 2013 - 2014 nêncòn tồn tại một số vấn đề như: Phương pháp giảng dạy mang tính chất truyềnthống, chưa phát huy được hiệu quả của phương pháp học tập tích cực mà đàotạo theo hệ tín chỉ mang lại, sinh viên hạn chế về tính chủ động, sáng tạotrong học tập đặc biệt là khả năng tự học, kỹ năng thực hành chưa được cảithiện, tinh thần gắn bó với nghề chưa cao, chưa có tính chuyên nghiệp, yếu về

Trang 11

ngoại ngữ, khả năng sử dụng tin học còn chậm,… gây thiệt hại cho chủ tàu,công ty cho thuê tàu và người lao động Tinh thần và thái độ đôi khi thiếunhiệt tình, thiếu tác phong công nghiệp,… các chủ tàu thường đào tạo và huấnluyện lại gây ra sự lãng phí lớn về thời gian và kinh tế.

Chính vì thế việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu giải pháp

nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân Cao đẳng Điều khiển tàu biển theo hệ

tín chỉ tại Trường Cao đẳng Hàng hải I” mang ý nghĩa thời sự và có tính cấp

thiết, phù hợp với xu thế phát triển chung của ngành hàng hải, đáp ứng đượcnhu cầu đòi hỏi thực tiễn xã hội trong giai đoạn hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Xác định cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về vấn đề chất lượng đào tạo,huấn luyện hàng hải

Phân tích, đánh giá chất lượng đào tạo cử nhân Cao đẳng Điều khiểntàu biển hiện nay về: Nội dung, chương trình đào tạo; đội ngũ giảng viên; độingũ sinh viên; cơ sở vật chất, để đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượngđào tạo cử nhân Cao đẳng Điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại Trường Caođẳng Hàng hải I phù hợp với công ước STCW 78/95 sửa đổi 2010

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sinh viên và giảng viên khoa Điềukhiển tàu biển, Trường Cao đẳng Hàng hải I Ngoài ra, tham khảo ý kiến độingũ lao động ngành Điều khiển tàu biển sau khi tốt nghiệp làm việc trong vàngoài nước, đội ngũ thuyền viên, sỹ quan làm việc tại các công ty vận tải biểntrong nước và xuất khẩu

Từ đó, dự đoán có cơ sở khoa học và thực tiễn đánh giá chất lượng,chương trình đào tạo hiện nay, đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng đàotạo theo hệ thống tín chỉ

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trang 12

Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu quy định, nghị quyết, giáotrình, tài liệu, luật, bộ luật, tiêu chuẩn đánh giá, quy trình quản lý chất lượng(ISO),

Phương pháp nghiên cứu bổ trợ: Thống kê, biểu bảng, hình vẽ

Từ những nghiên cứu trên, tác giả luận văn đã tiến hành phân tích, đánhgiá thực trạng công tác đào tạo, huấn luyện sinh viên Điều khiển tàu biển; đốichiếu, so sánh với tiêu chuẩn về kiến thức, năng lực theo quy định của côngước STCW 78/95 sửa đổi 2010, kết hợp tham khảo các chương trình mẫu củaIMO, chương trình đào tạo của một số quốc gia trong khu vực và trên thếgiới; áp dụng phương pháp tiếp cận mục tiêu để xây dựng mới chương trìnhđào tạo, huấn luyện sinh viên Điều khiển tàu biển một cách toàn diện nhằmthỏa mãn mục tiêu đã đề ra, phù hợp với thực tiễn đòi hỏi, đáp ứng sự pháttriển của ngành hàng hải Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực

và quốc tế

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học

Cơ sở từ chương trình khung đào tạo cao đẳng điều khiển tàu biển theo

hệ tín chỉ đã sửa đổi theo công ước STCW 78/95 sửa đổi 2010 và cơ sở pháp

lý của việc nâng cao chất lượng đào tạo, huấn luyện hàng hải ngành Điềukhiển tàu biển, phù hợp với xu thế phát triển, xu thế hội nhập, từng bước tiếntới đạt chuẩn chất lượng quốc tế về đào tạo, huấn luyện hàng hải để xây dựngthành chương trình khung đào tạo cao đẳng Điều khiển tàu biển theo hệ tínchỉ

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Phát huy những ưu điểm của chương trình đào tạo cử nhân Cao đẳngĐiều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ hiện nay, đánh giá kết quả học tập, đánhgiá chất lượng đào tạo, huấn luyện Từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao

Trang 13

chất lượng đào tạo sinh viên ngành Điều khiển tàu biển tại Trường Cao đẳngHàng hải I phù hợp với thực tiễn, đáp ứng sự phát triển của ngành Hàng hảiViệt Nam.

Thực hiện đường lối đúng đắn của Đảng, tiếp tục nâng cao chất lượnggiáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thốngtrường lớp và hệ thống quản lý giáo dục thực hiện: “Chuẩn hóa, hiện đại hóa,

xã hội hóa” tạo điều kiện cho sinh viên ra trường nói riêng và người lao độngnói chung có nhiều cơ hội tìm việc làm Góp phần hoàn thành mục tiêu,nhiệm vụ của Trường Cao đẳng Hàng hải I về đào tạo, huấn luyện hàng hải

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH

ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN 1.1 Căn cứ pháp lý để xây dựng chương trình đào tạo theo hệ tín chỉ

Theo quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 vềviệc đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ Đây làphương pháp đào tạo lấy người học làm trung tâm, người học là người tiếpnhận kiến thức nhưng đồng thời cũng là người chủ động tạo kiến thức cho nênphát huy được tính chủ động sáng tạo của người học, hướng tới đáp ứngnhững nhu cầu của thị trường lao động ngoài xã hội

Ngày 01/01/2012, Công ước STCW 78/95 sửa đổi 2010 bắt đầu có hiệulực Đây là công ước quốc tế quan trọng về đào tạo, huấn luyện và cấp chứngchỉ chuyên môn cho thuyền viên của tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO), bắtbuộc các quốc gia thành viên của công ước phải tuân thủ, trong đó có ViệtNam

Để nâng cao chất lượng đào tạo, huấn luyện thuyền viên và đáp ứngyêu cầu của Công ước STCW 78/95 sửa đổi 2010, ngày 16/02/2012, BộGTVT ra quyết định số 317/QĐ-BGTVT thành lập hội đồng thẩm định cácchương trình đào tạo, huấn luyện thuyền viên theo Công ước STCW 78/95sửa đổi 2010 Trước đó, Bộ GTVT đã có chỉ thị về việc nâng cao chất lượngcông tác đào tạo, huấn luyện thuyền viên đáp ứng yêu cầu của Công ướcSTCW 78/95 sửa đổi 2010

Theo đó, Bộ GTVT yêu cầu Cục Hàng hải Việt Nam (HHVN) hoànthiện dự thảo (lần 2) 04 thông tư thay thế các văn bản quy phạm pháp luật liênquan đến công tác đào tạo, huấn luyện thuyền viên, trình Bộ GTVT và Bộ Y

tế thẩm định, ban hành

Căn cứ các tiêu chuẩn về đào tạo, huấn luyện thuyền viên quy định tạiCông ước STCW 78/95 sửa đổi 2010 và các văn bản quy phạm pháp luật của

Trang 15

Việt Nam liên quan được ban hành trước ngày 01/4/2012 để hoàn thành đề ántriển khai Công ước STCW 78/95 sửa đổi 2010 nhằm đáp ứng yêu cầu củaCông ước, trình Bộ GTVT trước ngày 01/5/2012.

Bên cạnh đó, Cục HHVN tiếp tục nghiên cứu, đổi mới công tác quản lýthuyền viên; bồi dưỡng, thi và cấp giấy chứng nhận khả năng chuyên môn chothuyền viên đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng, đảm bảo khách quantrong thi, kiểm tra và tạo thuận lợi cho các thuyền viên, doanh nghiệp trongviệc cấp, đổi, gia hạn giấy chứng nhận khả năng chuyên môn; phối hợp vớicác cơ quan liên quan tuyên tuyền, phổ biến về những sửa đổi của Công ướcSTCW 78/95 tới các chủ tàu, thuyền viên sau khi các văn bản quy phạm phápluật về việc triển khai Công ước STCW 78/95 sửa đổi 2010 được ban hành

Trong Chỉ thị về việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo, huấn luyệnthuyền viên đáp ứng yêu cầu của Công ước STCW 78/95 sửa đổi 2010, BộGTVT yêu cầu cơ sở đào tạo, huấn luyện thuyền viên cần khẩn trương triểnkhai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng (ISO) trong cơ sở đào tạo, huấnluyện thuyền viên trước ngày 01/7/2012; chuẩn bị đội ngũ giáo viên, giáotrình, tài liệu giảng dạy, cơ sở vật chất để đáp ứng yêu cầu của Công ướcSTCW 78/95 sửa đổi 2010

Các cơ sở đào tạo phải dự thảo báo cáo gửi IMO về nội dung công việcđược phân công và gửi Cục HHVN để tổng hợp trước ngày 01/7/2012; triểnkhai đào tạo, huấn luyện thuyền viên theo đúng các chương trình đào tạo,huấn luyện được Bộ GTVT ban hành

Hàng năm, các cơ sở đào tạo, huấn luyện thuyền viên tổ chức đánh giánội bộ về việc thực hiện Công ước STCW 78/95 sửa đổi 2010; đẩy mạnh sựphối hợp giữa các cơ sở đào tạo, huấn luyện thuyền viên trong nước và hợptác quốc tế trong đào tạo, huấn luyện thuyền viên

Trang 16

Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Trường Cao đẳng Hàng hải Ichuẩn bị để Hội đồng thẩm định của Bộ GTVT tổ chức họp thẩm định chươngtrình đào tạo, huấn luyện đã được giao; tiếp thu ý kiến góp ý của hội đồngthẩm định để hoàn thiện dự thảo và trình Bộ GTVT ban hành.

Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, huấn luyện thuyền viên là nhiệm

vụ quan trọng nhằm thực hiện khâu đột phá về cung cấp nguồn nhân lực hànghải chất lượng cao, đảm bảo trật tự an toàn giao thông, giảm thiểu tai nạnhàng hải

1.2 Phương pháp đào tạo theo học chế tín chỉ

Tín chỉ là một phương thức đào tạo có nhiều ưu thế so với phương thứcđào tạo truyền thống, được áp dụng từ lâu tại các nước tiên tiến trên thế giới.Tại Việt Nam cách đây một vài năm đã có một số trường đại học chủ động ápdụng phương thức đào tạo tiên tiến này

1.2.1 Lịch sử của giờ tín chỉ

Trước hết cần phải khẳng định rằng phương thức đào tạo theo tín chỉ làsản phẩm trí tuệ của người Mỹ [21], được hình thành và phát triển để phục vụcho các mục đích cụ thể của nền giáo dục nước này Theo thời gian, từ lúc tínchỉ khởi đầu được thiết kế ra để chuẩn hóa những thước đo khả năng học tậpcủa học sinh phổ thông trung học, đáp ứng số lượng học sinh trung học phổthông ghi danh vào học đại học ngày càng tăng, đến nay nó đã được phát triển

và trở thành một hệ thống đào tạo, một thước đo toàn diện trong giáo dục đạihọc ở Mỹ

Vượt ra ngoài biên giới nước Mỹ, đào tạo theo tín chỉ bắt đầu được ápdụng mạnh mẽ trước hết ở các nước Tây Âu từ những năm 1960 Trước đó,chương trình truyền thống trong các trường đại học ở Châu Âu, đặc biệt là ởTây Âu hầu như do giáo viên quyết định Nó có xu hướng áp đặt, có rất ít khảnăng cho người học lựa chọn các học phần Hơn 40 quốc gia Châu Âu có các

Trang 17

cơ sở đào tạo đại học, vì vậy việc áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉcũng khác nhau Trong nhiều nước, đặc biệt là các nước Bắc Âu các chươngtrình đại học được mô tả theo tín chỉ tương đương với những gì được mô tảtrong các chương trình đại học ở Mỹ Ở Phần Lan chẳng hạn, “độ dài của cácchương trình cử nhân được tính theo tín chỉ (opintoiikko, nghĩa đen là "tuầnhọc tập") Một tín chỉ (1 tuần học tập) gồm khoảng 40 giờ làm việc trong đóbao gồm các hoạt động như giảng bài của giáo viên và các hình thức hoạtđộng khác như thảo luận, làm bài tập, xêmina, tự học ở nhà hay trong thưviện, Số tín chỉ một sinh viên tích lũy để được cấp bằng cử nhân là 120.Thụy Điển cũng phát triển hệ thống điểm tín chỉ (poang) dựa trên hệ thốngđiểm tín chỉ của Mỹ trong đó một tín chỉ bao gồm khoảng 40 giờ học tập và

số lượng tín chỉ một sinh viên phải tích lũy để được cấp bằng cử nhân là 120

÷ 140 Hệ thống tín chỉ ở các nước như Hà Lan, Na Uy và Băng Đảo cũngtương tự như vậy, với khối lượng học tập của sinh viên trên một học kì đượctính theo đơn vị tín chỉ (vettall) ở Na Uy, điểm học tập (studiepunten) ở HàLan và tín chỉ học tập (namseiningar) ở Băng Đảo Tuy nhiên, ở Băng Đảo,

do phần nhiều lượng thời gian học tập được thực hiện trong bóng tối, cho nênviệc học toàn thời được tính là 50 giờ một tuần chứ không phải là 40 như cácnước khác Ở Pháp, người ta cũng sử dụng đơn vị tín chỉ (unite de valeur –nghĩa đen là đơn vị giá trị) để đo khả năng hoàn thành công việc học tập củasinh viên theo học kì cho cả khối những học phần bắt buộc và khối những họcphần lựa chọn Ở Anh, người ta còn đi xa hơn nữa, một mặt họ áp dụngphương thức Đào tạo theo tín chỉ, mặt khác họ chủ trương môđun hóa toàn bộchương trình Đào tạo đại học

Ở Châu Á, tín chỉ cũng được áp dụng mạnh mẽ, bắt đầu từ Nhật Bản,Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Indonesia,Phillipine, Trung Quốc Phương thức đào tạo theo tín chỉ cũng được áp dụng

Trang 18

mạnh mẽ ở các nước thuộc Khối Liên hiệp Anh ở Nam Thái Bình Dương nhưAustralia, New Zealand,

Việc áp dụng hệ thống đào tạo theo tín chỉ phản ánh quan điểm lấyngười học làm trung tâm, người học là người tiếp nhận kiến thức nhưng đồngthời cũng là người chủ động tạo kiến thức, hướng tới đáp ứng những nhu cầucủa thị trường lao động ngoài xã hội Nó cho phép họ chọn trong số nhữnghọc phần được thiết kế trong chương trình, nhiều trong số những học phần đó

có thể thay thế được với nhau và hữu ích như nhau

1.2.2 Khái niệm tín chỉ

Trong kho tàng các tư liệu nghiên cứu, có khoảng hơn 60 khái niệm vềtín chỉ Có khái niệm coi trọng khía cạnh định tính, có khái niệm coi trọngkhía cạnh định lượng, có khái niệm nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinhviên, có khái niệm lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương trình học.Một khái niệm về tín chỉ được các nhà quản lí và các nhà nghiên cứu giáo dục

ở Việt Nam biết đến nhiều nhất có lẽ là của học giả người Mỹ gốc TrungQuốc James Quan thuộc Đại học Washington Trong buổi thuyết trình về hệthống đào tạo theo tín chỉ tại Đại học Khoa học Công nghệ Hoa Trung, VũHán mùa hè năm 1995, học giả James Quan trình bày cách hiểu của ông về tínchỉ như sau [21]:

Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của mộtngười học bình thường để học một học phần cụ thể, bao gồm: (1) thời gian lênlớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác

đã được quy định ở thời khóa biểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiêncứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài ; đối với các học phần lí thuyếtmột tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéodài trong một học kì 15 tuần; đối với các học phần ở studio hay phòng thí

Trang 19

nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn

tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần

Có bảy điểm cần phải làm rõ từ khái niệm về tín chỉ như sau:

Thứ nhất, hoạt động dạy - học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình

thức: lên lớp, thực hành, và tự học Trong ba hình thức tổ chức dạy - học này,hai hình thức đầu được tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giáo viên và sinhviên (giáo viên giảng bài, hướng dẫn, sinh viên nghe giảng, thực hành, thựctập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, ), hình thức thứ ba không có sự tiếpxúc trực tiếp giữa giáo viên và sinh viên (giáo viên giao nội dung để sinh viên

tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành) Ba hình thức tổ chức dạy - học nàytương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành vàgiờ tín chỉ tự học Theo đó, một giờ tín chỉ lên lớp bao gồm 1 tiết (50 phút)giáo viên giảng bài và 2 tiết sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở nhà; một giờ tínchỉ thực hành bao gồm 2 tiết giáo viên hướng dẫn, điều khiển và giúp đỡ sinhviên thực hành, thực tập và và 1 tiết sinh viên tự học, tự chuẩn bị; và một giờtín chỉ tự học bao gồm 3 tiết sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự thực hànhtheo những nội dung giáo viên giao và những gì sinh viên thấy cần phảinghiên cứu hoặc thực hành thêm (những hoạt động học tập này có thể đượcthực hiện ở nhà hoặc ở trong phòng thí nghiệm, trong studio, )

Thứ hai, trong ba hình thức tổ chức dạy - học, cụ thể là trong ba kiểu

giờ tín chỉ, lượng kiến thức sinh viên thu được có thể khác nhau nhưng đểthuận tiện cho việc tính toán (giờ chuẩn cho giáo viên, kinh phí cho từng họcphần, nhân lực để phục vụ cho dạy - học, ), ba kiểu giờ tín chỉ này được coi

là có giá trị ngang nhau

Thứ ba, có hai thuật ngữ dễ gây nhầm lẫn; đó là, một giờ tín chỉ (a

credit hour) và một tín chỉ (a credit) Trong cách hiểu của chúng ta hiện nay,tín chỉ và giờ tín chỉ là hai khái niệm có nội dung khác nhau Theo đó, một tín

Trang 20

chỉ gồm 15 giờ tín chỉ, thực hiện trong một học kì, kéo dài 15 tuần, mỗi tuần

01 giờ tín chỉ

Thứ tư, có thể có những học phần chỉ gồm một kiểu giờ tín chỉ, nhưng

có thể có những học phần gồm nhiều hơn một kiểu giờ tín chỉ Trong mọitrường hợp, công thức tính cho mỗi học phần là không đổi: 1 + 0 + 2 cho họcphần thuần lí thuyết, 0 + 2 + 1 cho học phần thuần thực hành, thực nghiệm, và

0 + 0 + 3 cho học phần thuần tự học

Thứ năm, người học trong phương thức đào tạo theo tín chỉ được cấp

bằng theo hình thức tích lũy đủ tín chỉ Theo thông lệ chung của Giáo dục đạihọc ở Mỹ, một sinh viên được cấp bằng cử nhân khi anh ta tích lũy được 120

÷ 140 tín chỉ

Thứ sáu, khái niệm tín chỉ trên mới chỉ đo năng lực học tập của người

học thông qua thời lượng và theo số lượng tín chỉ được tích lũy, nó chưa đođược các mục tiêu hay chất lượng đầu ra của quá trình học tập Tuy nhiên,người học được cấp bằng không phải chỉ phụ thuộc vào số tín chỉ mà họ tíchlũy đủ mà còn phục thuộc vào điểm trung bình chung quy định cho từng học

kì, từng kiểu văn bằng (cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ) Những quy định nàyphần lớn là do từng trường đại học quyết định

Đặc điểm cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là, khác với

phương thức đào tạo truyền thống, phương thức đào tạo theo tín chỉ xem tựhọc như là một thành phần hợp pháp trong cơ cấu giờ học của sinh viên:ngoài việc nghe giảng và thực hành trên lớp, sinh viên được giao những nộidung để tự học, tự thực hành, tự nghiên cứu; những nội dung này được đưavào thời khóa biểu để phục vụ cho công tác quản lí và quan trọng hơn, chúngphải được đưa vào nội dung các bài kiểm tra thường xuyên và bài thi hết họcphần

1.2.3 Những lợi thế của phương thức đào tạo theo tín chỉ

Trang 21

Như có thể thấy, trong phương thức đào tạo truyền thống, một chươngtrình cử nhân gồm từ 200 ÷ 210 đơn vị học trình, mỗi đơn vị học trình gồm 15tiết tiếp xúc trực tiếp trên lớp giữa giáo viên và sinh viên (tương đương với

3000 ÷ 3150 tiết) Đây là một chương trình được cho là “lấy công làm lãi”,chú trọng vào việc nhồi kiến thức của giáo viên sang sinh viên, không tínhđến thời lượng tự học của sinh viên và do đó bỏ qua khả năng tự học, tự tìmtòi và phát triển tri thức của họ Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, tựhọc, tự nghiên cứu của sinh viên được coi trọng được tính vào nội dung vàthời lượng của chương trình Đây là phương thức đưa giáo dục đại học, caođẳng về với đúng nghĩa: người học tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhétkiến thức của người dạy, và do đó, phát huy được tính chủ động, sáng tạo củangười học Đây là lợi thế thứ nhất của phương thức đào tạo theo tín chỉ

Lợi thế thứ hai của phương thức đào tạo theo tín chỉ liên quan đến độ

mềm dẻo và linh hoạt của chương trình Chương trình được thiết kế theophương thức đào tạo tín chỉ bao gồm một hệ thống những học phần thuộckhối kiến thức chung, những học phần thuộc khối kiến thức chuyên ngành,những học phần thuộc khối kiến thức cận chuyên ngành Mỗi khối kiến thứcđều có số lượng những học phần lớn hơn số lượng các học phần hay số lượngtín chỉ được yêu cầu; sinh viên có thể tham khảo giáo viên hoặc cố vấn họctập để chọn những học phần phù hợp với mình, để hoàn thành những yêu cầucho một văn bằng và để phục vụ cho nghề nghiệp tương lai của mình

Lợi thế thứ ba do chính đặc điểm “tích lũy tín chỉ” trong phương thức

đào tạo theo tín chỉ mang lại Sinh viên được cấp bằng khi đã tích lũy đượcđầy đủ số lượng tín chỉ do trường đại học quy định; do vậy họ có thể hoànthành những điều kiện để được cấp bằng tùy theo khả năng và nguồn lực (thờilực, tài lực, sức khỏe, ) của cá nhân

Trang 22

Lợi thế thứ tư là, phương thức đào tạo theo tín chỉ phản ánh được

những mối quan tâm và những yêu cầu của người học như là những người sửdụng kiến thức và nhu cầu của các nhà sử dụng lao động trong các tổ chứckinh doanh và tổ chức Nhà nước

Lợi thế thứ năm là, như đã đề cập ở trên, phương thức đào tạo theo tín

chỉ hầu như đã trở thành phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Chuyển sangphương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ tạo được sự liên thông ngang, liên thôngdọc trong cùng một cơ sở đào tạo và có thể giữa các cơ sở đào tạo đại học,cao đẳng trong và ngoài nước

1.2.4 Vai trò người dạy

Trong phương thức đào tạo truyền thống, người dạy có một số vai trò,trong đó hai vai trò nổi bật nhất là “người toàn trí” (người biết mọi tri thức vềhọc phần liên quan) và “người quyết định mọi hoạt động dạy - học trong lớphọc” Trong vai trò thứ nhất, người dạy được xem như là nguồn kiến thức duynhất, và người học chỉ cần tiếp thu được nguồn kiến thức này từ người dạy là

đủ Trong vai trò thứ hai, người dạy được xem như là người có toàn quyềnquyết định dạy cái gì (nội dung) và dạy như thế nào (phương pháp); ngườihọc được xem là những người nghe giảng bài, ghi chép và học thuộc những gìđược dạy, không được phép can thiệp vào những công việc của người dạy

Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, hai vai trò đã nêu ở trên ở mộtmức độ nào đó vẫn được duy trì Tuy nhiên, người dạy phải đảm nhiệm thêm

ít nhất ba vai trò nữa đó là: (i) cố vấn cho quá trình học tập; (ii) người thamgia vào quá trình học tập; và (iii) người học và nhà nghiên cứu

Với tư cách là cố vấn cho quá trình học tập, khi giảng bài cũng như khihướng dẫn thảo luận, người dạy phải chọn những vấn đề cốt lõi, quan trọng đểgiảng mà nếu không có người dạy thì người học khó có thể lĩnh hội được, tạođiều kiện cho người học tiếp thu và khám phá tiếp kiến thức

Trang 23

Trong vai trò của người tham gia vào quá trình dạy - học, người dạyhoạt động như là một thành viên tham gia vào quá trình học tập ở trên lớp vớicác nhóm người học Với tư cách vừa là cố vấn vừa là người tham gia vào quátrình học tập, người dạy còn có thêm một vai trò bổ sung nữa; đó là, nguồntham khảo cho người học, giúp họ tháo gỡ những khó khăn trong quá trìnhhọc tập và nghiên cứu.

Trong vai trò là người học và người nghiên cứu, với tư cách là mộtthành viên tham gia vào các hoạt động học tập ở trên lớp, người dạy, ở mộtmức độ nào đó, có điều kiện trở lại vị trí của người học, hiểu và chia sẻ nhữngkhó khăn và trách nhiệm học tập với họ Có thực hiện được vai trò của ngườihọc thì người dạy mới có thể phát huy được vai trò tích cực của người học,lựa chọn được phương pháp và thủ thuật giảng dạy phù hợp Ngoài ra, thôngqua nghiên cứu, người học sẽ ý thức được rằng dạy - học là một nhiệm vụ liênnhân, một nhiệm vụ mà cả người dạy và người học đều có trách nhiệm thamgia, trong đó học có vai trò trung tâm, dạy có vai trò hỗ trợ, và mục tiêu họctập chi phối toàn bộ quá trình dạy - học

1.2.5 Vai trò của người học

Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, người học phải được tạo điềukiện để thực sự trở thành người đàm phán tích cực và có hiệu quả:

(i) với chính mình trong quá trình học tập;

(ii) với mục tiêu học tập;

(iii) với các thành viên trong nhóm và trong lớp học;

(iv) với người dạy

Sinh viên đại học, cao đẳng trong xã hội hiện đại không chỉ là nhữngngười thu nhận kiến thức thụ động từ giáo viên và từ sách vở mà điều quantrọng là họ phải là những người biết cách học như thế nào Kiến thức thườngđược xác định lại khi sinh viên khám phá nhiều hơn về nó và trong khi xây

Trang 24

dựng kế hoạch học tập cho riêng mình, sinh viên có thể nhận ra rằng cácchiến lược học tập trước đó của họ có thể không còn phù hợp nữa và có thể bịthay thế bằng các chiến lược học tập mới phù hợp hơn Quá trình điều chỉnhnày được gọi là quá trình đàm phán với chính mình trong quá trình học tập đểđạt được những mục tiêu mà học phần đề ra Hơn nữa, học không hoàn toàn

là một hoạt động cá nhân; nó xảy ra trong một môi trường văn hóa xã hội nhấtđịnh trong đó sự tương tác giữa những người học với nhau có vai trò hết sứcquan trọng trong thu nhận và tạo kiến thức Xem học như là một vấn đề cánhân thì không khác nào xem quá trình này xảy ra trong chân không, và có lẽcách nhìn này không phù hợp với thế giới hiện đại, một thế giới trong đó hộinhập và toàn cầu hóa đang đang là xu thế tất yếu Thực tế này yêu cầu ngườihọc phải có thêm một vai trò nữa đó là vai trò của người cùng đàm phán trongnhóm và trong lớp học Vì dạy - học theo trường lớp thường là một quá trìnhcộng sinh, cho nên ngoài những vai trò đã kể trên, người học trong phươngthức đào tạo theo tín chỉ còn phải đảm nhiệm thêm một vai trò quan trọng nữa

đó là: người tham gia vào môi trường cộng tác dạy - học Trong vai trò này,người học được xem như là một thành phần hợp pháp trong quá trình dạy -học Họ hoạt động vừa như là những cộng sự với người dạy trong việc xácđịnh nội dung và phương pháp giảng dạy, vừa như là người cung cấp thôngtin phản hồi về bản thân mình như là những người học (trình độ, khó khăn,thuận lợi, nhu cầu, chờ đợi, mong muốn về học phần, ) cho người dạy đểngười dạy có thể điều chỉnh nội dung, phương pháp và thủ thuật giảng dạyphù hợp, tăng hiệu quả dạy - học

1.2.6 Các nhược điểm của học chế tín chỉ

Qua các khảo sát và báo cáo của các trường, học chế tín chỉ vẫn cònnhiều điểm tồn tại như sau:

Trang 25

Cắt vụn kiến thức: Phần lớn các modul được quy định khá nhỏ, cỡ 3hoặc 4 tín chỉ, nên không có đủ thời gian để trình bày kiến thức đầy đủ.

Khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên: Vì các lớp học theo Modulkhông ổn định, khó xây dựng các tập thể gắn kết chặt chẽ nên việc tổ chứcsinh hoạt đoàn thể của sinh viên gặp khó khăn

Các mô hình đào tạo liên thông giữa các chương trình, các trường trong

và ngoài nước đến nay vẫn chưa có hoặc chưa phát triển mạnh

Đội ngũ cố vấn học tập còn chưa chuyên nghiệp, chưa phát huy hết vaitrò cố vấn cho người học

Các hạn chế kể trên cho thấy rằng hệ thống tín chỉ của các trường đạihọc, cao đẳng hiện nay ở ta chưa thật sự là các hệ thống có tính “chuyển đổi”như của các nước Ngay cả trong giai đoạn hiện nay, khi hệ thống chuyển đổitín chỉ đã được phổ biến rộng rãi ở các nước, nhiều trường đại học, cao đẳngcủa ta vẫn trong tình trạng “đóng cửa” và loay hoay với những mô hình đã thểhiện nhiều bất cập của mình Những áp dụng còn tính chất “nửa vời” hiện naycho thấy sự yếu kém của một cơ chế “bao cấp” còn sót lại và sự chưa triệt đểcủa quyết tâm đổi mới giáo dục đại học, cao đẳng của chúng ta

1.3 Những vấn đề cần giải quyết đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực Hàng hải ở Việt Nam hiện nay

Theo số liệu thống kê của Cục Đăng kiểm Việt Nam: “Tại thời điểm30/4/2013, đội tàu vận tải biển treo cờ Việt Nam có khoảng 570 chiếc, tổngtrọng tải 4,028 triệu DWT

Riêng tàu của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam Vinalines, doanhnghiệp chủ lực trong vận tải biển Việt Nam có khoảng 141 tàu vận tải biển,tổng trọng tải 2,961 triệu DWT

Có khoảng 1.140 tàu nhỏ với tổng trọng tải 2,1 triệu DWT (tổng dungtích đội tàu dưới 14.000) quản lý khai thác Đó là chưa kể 60 tàu treo cờ nước

Trang 26

ngoài với tổng trọng tải 1,1 triệu DWT do các doanh nghiệp Việt Nam mua vàquản lý khai thác” Từ số liệu trên cho thấy vận tải biển Việt Nam đã pháttriển mạnh trong những năm qua cả về số lượng tàu, trọng tải tàu và cả về cácdoanh nghiệp quản lý khai thác vận tải biển, đồng thời cũng cho ta thấy sựquá manh mún và phân tán của vận tải biển Việt Nam Sự phát triển quá nóng

và phân tán này đã và đang làm cho vận tải biển Việt Nam phải đối mặt vớinhiều thách thức

Một trong những thách thức lớn với các chủ tàu Việt Nam đang phảiđối mặt đó là tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực có năng lựcthực sự và có tâm huyết với ngành, với nghề, kể cả nguồn nhân lực làm côngtác quản lý khai thác tàu trong các doanh nghiệp và cả sỹ quan thuyền viênlàm việc trên tàu Nhiều sỹ quan, thuyền viên được đào tạo chính quy trongcác trường đại học, cao đẳng, trung cấp, nhưng chỉ được đào tạo lý thuyếtchưa qua thực hành Một số sỹ quan, thuyền viên có tay nghề cao, có kinhnghiệm nhưng không tâm huyết với nghề Nhiều giám đốc doanh nghiệp vậntải biển không được đào tạo chuyên ngành, không biết ngoại ngữ Với gần

100 tàu treo cờ Việt Nam bị PSC lưu giữ ở các cảng nước ngoài trong năm

2012 vì nhiều khiếm khuyết rất đơn giản là minh chứng rất cụ thể cho khẳngđịnh trên

Bên cạnh đó, nhiều năm qua các công ty vận tải nước ngoài có nhu cầuthuyền viên rất lớn từ Việt Nam, họ đã chào mời nhiệt tình nhưng các công tyxuất khẩu lao động thuyền viên nước ta hiện nay không đáp ứng được sốlượng lớn mà chỉ là con số nhỏ giọt Hiện không có con số thống kê chínhthức được công bố về thuyền viên xuất khẩu trong những năm qua nhưng theotính toán sơ bộ, trên cơ sở số lượng thuyền viên được đào tạo trong toàn quốc

và số thuyền viên đang làm việc trên đội tàu Việt Nam, qua tìm hiểu ở một sốcông ty xuất khẩu lao động thuyền viên, thì có thể sơ bộ tổng hợp số lượng

Trang 27

thuyển viên Việt Nam xuất khẩu trong những năm qua duy trì chừng 3000đến 3500 người hàng năm.

Một nghiên cứu của Viện Vận tải quốc tế Nhật Bản và quỹ tài trợ NhậtBản được công bố vào tháng 5 năm 2010 dự báo về nhu cầu cung ứng thuyềnviên trên cơ sở phát triển đội tàu toàn thế giới như sau:

Đến 2020 đội tàu toàn thế giới sẽ có 38.197 tàu (có GT từ 5000 trởlên), tức tăng thêm 2.754 tàu so với 2010 Nếu tính trung bình cho mỗi tàucần 8 đến 9 sỹ quan, 14 đến 16 thuyền viên trợ giúp (thủy thủ, thợ máy, phụcvụ) thì nhu cầu thuyền viên toàn thế giới đến năm 2020 là 1.173.004 người,tức tăng 32.153 sĩ quan và 46.881 thuyền viên trợ giúp, so với tổng số1.093.968 người vào năm 2010 Dự báo của các tổ chức quốc tế khác cũng cócon số tương tự Như vậy thị trường thuê mướn lao động thuyền viên vẫnđang rộng mở Đó là thị trường hấp dẫn cho những ai muốn tham gia vào thịtrường đầy tính cạnh tranh và hấp dẫn này

Vì vậy, để thuyền viên Việt Nam có đủ điều kiện xuống tàu nước ngoàilàm việc với số lượng ngày càng tăng thì hệ thống đào tạo trong nước, cáccông ty vận tải biển và các trung tâm xuất khẩu thuyền viên Việt Nam cầnlàm tốt những công việc gì? Do đặc điểm của vận tải biển mang tính toàn cầu,nên giáo dục đào tạo thuyền viên có một thuận lợi rất lớn, so với nhiều ngànhkhác, đó là yêu cầu, tiêu chuẩn của giáo dục đào tạo đã được đặt khuôn mẫu,định hình thông qua Công ước quốc tế STCW 78/95 sửa đổi 2010 rất cơ bản,đầy đủ và chi tiết về cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu giáo trình, chấtlượng thầy giáo Không khó để nhận thấy rằng, đối với các chuyên ngànhkhác, các quốc gia đều có chuẩn giáo dục đào tạo riêng, không quốc gia nàogiống quốc gia nào, càng không có một Công ước quốc tế về tiêu chuẩn đàotạo chung áp đặt cho các quốc gia Riêng đối với ngành vận tải biển, conđường để giáo dục đào tạo thuyền viên hiệu quả đã được Công ước quốc tế áp

Trang 28

đặt sẵn, chỉ cần đổi mới các biện pháp tổ chức thực hiện thấu đáo theo conđường đó thì sự nghiệp đào tạo thuyền viên nước ta sẽ thành công Chất lượngđào tào tạo thuyền viên của một quốc gia tốt xấu sẽ được đánh giá bằng chính

số lượng thuyền viên được chấp nhận trên thị trường lao động quốc tế, bằngchính con số các sự cố, tai nạn, tàu bị lưu giữ,… và hiệu quả hoạt động củađội tàu quốc gia

Để vượt qua những thách thức đó, có rất nhiều công việc phải làm màkhông ít người đã nói tới Việc đầu tiên là nhân cơ hội triển khai Công ướcSTCW 78/95 sửa đổi 2010 [17] cần đánh giá lại toàn bộ quá trình giáo dụcđào tạo thuyền viên nhất là từ khi tham gia Công ước năm 1991, đặc biệt lànhững năm gần đây, rút ra những bài học sâu sắc, khách quan từ các yếu kém,thất bại Thách thức lớn nhất của vận tải biển trong thời gian tới không phải làvốn đầu tư cho ngành mà khó hơn, đó là vấn đề năng lực quản lý vận tải biển

và chiến lược diáo dục đào tạo nhân tài - nguồn nhân lực chất lượng cao đểđưa nước ta trở thành một quốc gia vận tải biển hùng mạnh xứng tầm mộtquốc gia biển

Căn cứ vào xu thế phát triển của ngành Hàng hải Việt Nam trong tươnglai, rút ra được những nhu cầu về nguồn nhân lực, cả về số lượng cũng nhưchất lượng, đòi hỏi phải có những biện pháp để kịp thời đáp ứng Trong đó,việc cải tiến chương trình, phát triển đào tạo và huấn luyện thuyền viên đượccoi là vấn đề cấp thiết, đó cũng là vấn đề tiên quyết góp phần chủ đạo trongviệc phát triển ngành hàng hải Khái quát nhất, đó là mở rộng quy mô giáodục đào tạo chú ý mở các cơ sở ở các vùng ven biển; đổi mới, rút ngắnchương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, xây dựng đội ngũ thầy giáo cótâm và có tầm đồng thời kiểm soát chặt chẽ chất lượng đầu ra

1.4 Công tác Đào tạo huấn luyện hàng hải ở các quốc gia trong khu vực, trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay

Trang 29

1.4.1 Trung Quốc

Mặc dù Trung Quốc là một quốc gia hàng hải lâu đời, nhưng thực sựphát triển từ năm 1960 khi mà nền ngoại thương được thừa nhận đóng mộtvai trò quan trọng trong nền kinh tế nước này Từ khi chấp nhận chính sách

“mở cửa”, nền ngoại thương Trung Quốc tăng trưởng một cách mạnh mẽ đòihỏi nhu cầu cấp thiết về quy mô vận tải biển xuyên quốc gia

Chính sách mở cửa đã mở ra cơ hội rộng lớn cho thuyền viên TrungQuốc xâm nhập vào thị trường người đi biển toàn thế giới Thách thức và vậnhội đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển nguồn nhân lực hàng hải củaTrung Quốc

Trung Quốc coi việc đào tạo nhân tài ngành hàng hải là một quốc sách,quan tâm đặc biệt công tác quản lý và phát triển nguồn nhân lực này Chính vìvậy, Quốc vụ viện Trung Quốc đã thông qua Pháp lệnh “Các quy định về

thuyền viên của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” (Regulations of the

People's Republic of China on Seafarers) do Thủ tướng Ôn Gia Bảo ký ban

hành năm 2007 Pháp lệnh gồm 8 Chương, 73 Điều khoản, trong đó quy địnhchi tiết về nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý và lợi ích hợp pháp, địa vị xã hội,trách nhiệm xã hội, quản lý, giáo dục đào tạo, bồi dưỡng nhân tài… đối vớithuyền viên nhằm phát triển ngành hàng hải, đảm bảo an toàn, an ninh và bảo

vệ môi trường biển

Những thập kỷ qua, Trung Quốc đã đưa ra nhiều biện pháp xây dựng

kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, nhân tài hàng hải và luôn điều chỉnh đểbắt kịp sự phát triển của công nghệ và phát triển kinh tế Kế hoạch phát triểnnguồn nhân lực hàng hải của Trung Quốc, nhắm vào những yếu tố sau đây:

- Nguồn nhân lực cần thiết cho sự phát triển của ngành Hàng hải Quốcgia;

Trang 30

- Giáo dục đào tạo hàng hải phải đổi mới, nhắm tới khách hàng nội địa

và xuất khẩu lao động (“innovative” and “customer-oriented” MET) trên cơ

sở triển khai, thực hiện triệt để STCW 78/95 sửa đổi 2010 của IMO và cácsửa đổi mà Trung Quốc là quốc gia tham gia Công ước;

- Giáo dục đào tạo nhằm mục đích thúc đẩy kinh tế địa phương, tạocông ăn việc làm cho thanh niên và xóa nghèo tại vùng kém phát triển;

- Chuẩn mực của lực lượng lao động hàng hải quốc gia, tính chất vàquy mô của việc làm, phân loại trình độ, kỹ năng của người đi biển và xuhướng phát triển của lĩnh vực này;

- Xu hướng phát triển kỹ thuật mới của ngành công nghiệp Hàng hải,đặc biệt chú ý việc thay đổi phương pháp khai thác tàu và những biến đổi vềnhân sự cũng như nội dung việc làm trên các loại tàu khác nhau;

- Các trang thiết bị dùng cho giáo dục đào tạo hàng hải;

- Yêu cầu tương lai về các loại hình và các cấp chức danh khác nhaucủa thuyền viên;

- Xu hướng phát triển của nền kinh tế đất nước và tiêu chuẩn cuộc sốngcủa nhân dân

- Đặt chất lượng đào tạo lên hàng đầu

Hệ thống giáo dục đào tạo Hàng hải hiện nay ở Trung Quốc định hìnhtheo 3 hệ [18]:

i) Đại học 4 năm, lấy bằng cử nhân;

ii) Chương trình không học vị và cao đẳng nghề 3 năm;

iii) Trường dạy nghề gồm Trung học kỹ thuật 3 năm và sơ cấp

Trong đó, chương trình đào tạo đại học được xây dựng theo yêu cầu lấybằng cấp cử nhân, kéo dài 4 năm, bao gồm khoảng 140 tín chỉ, vẫn tổ chức thitốt nghiệp cuối khóa và thời gian thực tập là 9 tháng Ngoài các môn hàng hải

và kỹ thuật cơ khí thông thường, còn tăng cường các môn toán, vật lý, chuyên

Trang 31

sâu về lý thuyết Hàng hải, cơ khí và tăng cường nhiều kiến thức về thươngmại hàng hải và lý thuyết quản lý Điều đó giúp sinh viên tốt nghiệp có thể đisâu vào các nghề nghiệp khác có liên quan đến hàng hải như hoa tiêu, quản lý

an toàn Hàng hải, các viện nghiên cứu, quản lý chuyên ngành hàng hải, quản

lý VTS, quản lý công ty vận tải, sau khi họ không còn đi biển nữa

Các khóa học đều được đào tạo theo chương trình mẫu IMO (Model

Courses) [16] theo STCW 78/95 sửa đổi 2010 của IMO tổng cộng 44 chương

trình được quán triệt đầy đủ trong chương trình, kế hoạch, tài liệu giảngdạy, … trong hệ thống giáo dục đào tạo thuyền viên

Chương trình Giáo dục và Đào tạo thuyền viên được thực hiện tại cácviện, trường hàng hải dưới sự kiểm soát song trùng của Bộ Giáo dục và BộGiao thông vận tải (Bộ chủ quản) Học sinh tốt nghiệp được nhận bằng cấp vàhọc vị sau khi thỏa mãn các điều kiện “Tiêu chuẩn Giáo dục và tốt nghiệpquốc gia” Mặt khác việc đào tạo phải thỏa mãn yêu cầu “Giáo dục và Đào tạoHàng hải” theo Công ước quốc tế STCW 78/95 sửa đổi 2010 , do cơ quan chủquản (Bộ Giao thông) ban hành Đây là điều kiện đầu tiên của người tốtnghiệp các viện/trường để được phép tham gia vào các kỳ sát hạch quốc gialấy “Chứng chỉ khả năng chuyên môn” của thuyền viên Riêng các trung tâmđào tạo thuyền viên hoàn toàn do Cục Hàng hải quản lý

Để thực hiện công việc giáo dục và đào tạo, các viện/trường giáo dụcđào tạo thuyền viên và các trung tâm huấn luyện phải thỏa mãn các điều kiệnsau đây:

i) Trang thiết bị và công cụ đào tạo phải đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật vàchức năng theo quy định của cơ quan chủ quản;

ii) Kế hoạch, chương trình và tài liệu giảng dạy phải phù hợp với quyđịnh hiện hành của cơ quan chủ quản;

Trang 32

iii) Cán bộ giảng dạy phải có học vị thích hợp, kinh nghiệm đi biển,kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn Thầy giáo phải có khả năngđầy đủ cho chương trình đào tạo huấn luyện tương ứng.

1.4.2 Hàn Quốc

Hiện nay ở Hàn Quốc có nhiều trường đào tào về Hàng hải, ngoài 02

trường Đại học là Đại học Hàng hải Hàn Quốc (Korea Maritime University)

và trường Đại học Hàng hải Mokpo [23], còn có các trường như trường Đại

học Jeju (ở trường này có khoa Hàng hải) Ngoài ra họ còn có 02 trường Trung học Hàng hải (Maritime high school) ở Incheon và Pusan, trường Học

viện Hàng hải và Thủy sản (KIMFT) - trường này giống như trung tâm huấnluyện thuyền viên có nghĩa là các thuyền viên học các chứng chỉ thì về trườngnày học, ngoài ra hiện nay trường này cũng có sinh viên (là các sinh viên đãtốt nghiệp 1 trường đại học nào đấy mà chưa có việc làm ổn định, muốn đitàu)

Sinh viên của 2 trường Đại học đào tạo 4 năm, học lý thuyết ở trường 3năm, 1 năm cuối là học ngay ở tàu thực tập [23] Sau khi ra trường là sinhviên đảm nhận chức danh sỹ quan trên tàu

Đối với những học sinh học ở trường Trung học Hàng hải, họ học 2năm lý thuyết ở trường, 6 tháng họ đi thực tập trên tàu của trường KIMFT,sau khi đi thực tập 6 tháng ở tàu thực tập, họ liên hệ và phỏng vấn vào cáccông ty tàu biển Nếu phỏng vấn được thì họ thực tập tiếp trên tàu thuộc công

ty vận tải biển 6 tháng và sau đấy trở thành sỹ quan Hàng hải

1.4.3 Trường SUNY Maritime – Mỹ

Chương trình đào tạo ngành Hàng hải của trường SUNY Maritime –

Mỹ cũng chia ra làm 2 ngành Boong và Máy [24], học viên có thể chọn để lấychứng chỉ sỹ quan luôn Chương trình đào tạo cử nhân bao gồm khoảng 135tín chỉ Trong đó hàng năm học viên sẽ đi thực tập trên tàu thực tập trong

Trang 33

khoảng 7 tuần vào mùa hè hàng năm, tùy vào thời gian chuyến đi mà các sinhviên đăng ký sẽ được tính một số tín chỉ nhất định, như hè năm 2011 là 6 tínchỉ.

1.4.4 Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những quốc gia có hệ thống đào tạo hàng hảitiên tiến trên thế giới [1], [3] Nhật Bản không những đào tạo thuyền viênphục vụ cho ngành Hàng hải của đất nước mà còn đào tạo thuyền viên chocác nước khác trong khu vực và thế giới Mô hình đào tạo ngành hàng hải củaNhật Bản được mô tả chi tiết trong hình 1.1

Chương trình đào tạo của Nhật Bản thực sự đạt tiêu chuẩn theo Côngước STCW 78/95 của IMO và tiêu chuẩn quốc gia Tư tưởng đào tạo – huấnluyện Hàng hải mang tính toàn cầu, an toàn, tiết kiệm, ứng dụng tối đa côngnghệ phần mềm, đào tạo chất lượng và sáng tạo, mục tiêu cuối cùng là làmcho sinh viên sau khi tốt nghiệp phải biết tự giải quyết được công việc

Trang 34

Hình 1.1 Mô hình đào tạo của ngành Hàng hải Nhật Bản

1.4.5 Singapore

Chương trình đào tạo và huấn luyện nghề hàng hải của Singapore làchất lượng và hiệu quả, song do đặc thù và quy mô nhỏ nên số lượng thuyềnviên tốt nghiệp rất ít so với yêu cầu, phần lớn họ đào tạo cho một số quốc giatrong khu vực như: Philippine, Myanma, Indonesia [1], [3] và thời gian đàotạo theo bảng 1.1

Bảng 1.1 Thời gian đào tạo hàng hải Singapore theo các cấp

đi tàu thực tế trên biển.

Trường Cao đẳng Hàng hải

- Thời gian đào tạo: 03 năm.

Sau khi tốt nghiệp:

+ Theo học một khóa học 2 năm

về kỹ thuật Hàng hải, sau đó được xuống tàu đảm nhận chức danh Sỹ quan.

+ Học khóa huấn luyện nghiệp

vụ Hàng hải 6 tháng, rồi xuống tàu đi thực tập Sỹ quan từ 6 – 12 tháng rồi mới được đảm nhận chức danh Sỹ quan.

Trang 35

Hiện nay, đội ngũ kỹ sư và sỹ quan thuyền viên (dân sự, quân sự) củanước ta được đào tạo, huấn luyện thông qua các trường đào tạo đó là: TrườngĐại học Hàng hải Việt Nam; Trường Đại học Giao thông Vận tải thành phố

Hồ Chí Minh; Trường Cao đẳng Hàng hải I; Trường Cao đẳng nghề Báchnghệ Hải Phòng và một số trường khác; Các công ty và tập đoàn Hàng hảitrong nước thực hiện, thêm vào đó là một số sinh viên các trường Hàng hải ởnước ngoài về [6]

Kể từ khi Bộ Luật về Tiêu chuẩn huấn luyện, cấp chứng chỉ chuyênmôn và đảm nhận chức danh thuyền viên trên tàu biển Việt Nam ban hành,công tác đào tạo, huấn luyện Hàng hải nước ta đã có nhiều chuyển biến rõ rệt,công tác điều hành, quản lý chặt chẽ hơn, đồng bộ và thống nhất trên toànquốc Các cơ sở đào tạo Hàng hải có nhiều bước nhảy vọt về số lượng, quy

mô đào tạo ngày càng mở rộng, cơ sở vật chất được bổ sung, đội ngũ giáoviên được nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ đáp ứng được mộtphần nhân lực cho sự phát triển của ngành Hàng hải và kinh tế đất nước, đónggóp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

Trang 36

Hình 1.2 Các trường Đào tạo, huấn luyện Hàng hải ở Việt Nam hiện nay [6]Tất cả các cơ sở đào tạo – huấn luyện Hàng hải từ Cao đẳng lên Đạihọc đều chịu sự quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo nên đặc điểm nổi bật vềchất lượng chuyên môn như sau:

i) Tổ chức thi tuyển đầu vào của sinh viên theo quy chế của Bộ Giáodục và Đào tạo ban hành

Chính phủ

NN&PTNT

Bộ Quốc phòng

Hợp tác quốc tế

- Trường Đại học Nha Trang

- Các trường trung học, trường CNTS thủy sản TW

và địa phương

Quân chủng HQ

- Học viện Hải quân

- Các trường THKTNV Hải Quân

Hệ thống Nhà nước

Liên kết Đào tạo trong

và ngoài nước

- Trường Cao đẳng Hàng hải I

- Một số trường CĐ khác.

Trang 37

ii) Thời gian đào tạo tương đối dài: Đại học 4,5 năm, Cao đẳng 3 năm(thể hiện qua bảng 1.2) và sau khi ra trường học viên chưa đảm nhận đượcchức danh sỹ quan.

iii) Nội dung chương trình đào tạo gồm các môn: Cơ sở, chuyên môn,tiếng Anh, thực tập tại xưởng, trên tàu, các trung tâm mô phỏng, khu huấnluyện cơ bản, phòng thực hành Tuy nhiên, chưa có sự gắn kết một cách chặtchẽ về chuyên môn, nghiệp vụ các cấp học, thời gian thực hành thực tập chưathực sự mang lại hiệu quả như mong đợi

Bảng 1.2 Thống kê thời gian đào tạo chính quy bậc học Hàng hải tại Việt

Tổng số tiết

Tổng số lý thuyết

Tổng số tiết bài tập, thực hành

Số tiết Tỷ lệ

(%) Số tiết

Tỷ lệ (%)

Thứ nhất, công tác Đào tạo – huấn luyện ở các quốc gia này hầu hết

tuân thủ theo đúng quy định của SCTW 78/95 sửa đổi Manila 2010 Mặc dùcách thức, biện pháp, mục tiêu mà các quốc gia áp dụng có thể khác nhau chophù hợp với luật pháp quốc gia mình, nhưng hầu hết hình thức đào tạo là theo

hệ tín chỉ với tổng số lượng từ 130-140 tín chỉ cùng với thời gian đào tạo là 4năm cho bậc đại học, 3 năm cho cao đẳng

Trang 38

Thứ hai, nội dung chương trình đào tạo – huấn luyện có sự đa dạng,

mềm dẻo, linh hoạt, thống nhất và chuẩn mực trong quản lý, có sự chú trọngđến thời gian thực hành, thực tập trên tàu

Thứ ba, thực hiện công tác đào tạo nhằm phục vụ tốt cho sự chuyển đổi

nghề nghiệp; tạo cơ hội cho người học, mang lại lợi ích và hiệu quả cho cánhân người học, xã hội

Thư tư, thời gian đào tạo phù hợp cho từng cấp học, các kỹ sư sau khi

tốt nghiệp có thể đảm nhận ngay các chức danh sỹ quan vận hành trên tàubiển

Xuất phát từ những lý do khách quan và chủ quan đã nêu trên Tôi xinmạnh dạn lựa chọn đề tài, sự lựa chọn ấy là đúng đắn, rất cấp thiết, phù hợpvới xu thế phát triển chung của ngành Hàng hải, đáp ứng được nhu cầu đòihỏi thực tiễn

1.5 Kết luận

Trong chương 1 đề tài đã tập trung vào phân tích: Căn cứ pháp lý đểxây dựng chương trình đào tạo theo hệ tín chỉ, khái niệm về đào tạo theo hệtín chỉ; những lợi ích của phương thức đào tạo theo tín chỉ; vai trò của ngườidạy và người học; các nhược điểm của học chế tín chỉ; những vấn đề cần giảiquyết để đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực Hàng hải ở Việt Namhiện nay; phân tích công tác đào tạo huấn luyện Hàng hải ở các quốc gia trongkhu vực, trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay

Đó là cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng đàotạo cử nhân Cao đẳng Điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại Trường Cao đẳngHàng hải I nói riêng và ở Việt Nam nói chung

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO SINH VIÊN NGÀNH CAO ĐẲNG ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN THEO HỆ TÍN CHỈ Ở

TRƯỜNG CAO ĐẲNG HÀNG HẢI I 2.1 Những nét chính về Trường Cao Đẳng Hàng Hải I

Trường Cao đẳng Hàng hải tiền thân là Trường Công nhân kỹ thuậtĐường biển được thành lập ngày 04/5/1972 theo Quyết định số 889/QĐ/TC-BGTVT của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải

Trường đổi tên thành Trường Kỹ thuật và Nghiệp vụ hàng hải I theoQuyết định số 747/ QĐ/TCCB-LĐ ngày 27/4/1990 của Bộ trưởng Bộ Giaothông vận tải và Bưu điện

Trường phát triển và được nâng cấp đào tạo lên bậc trung cấp chuyênnghiệp theo Quyết định số 3199/QĐ /TCCB ngày 02/12/1996 của Bộ trưởng

Bộ Giao thông vận tải và được đổi tên thành Trường Trung học Hàng hải I;

Ngày 01/2/2007 theo Quyết định số 661/QĐ-BDGĐT của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường được nâng cấp lên bậc đào tạo Cao đẳngchính quy và được đổi tên thành Trường Cao đẳng Hàng hải I

Hiện nay Trường Cao đẳng Hàng hải I là một trong hai cơ sở đào tạo vềhàng hải trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam Trường là một đơn vị có sốlượng cán bộ công nhân viên lớn của Cục Hàng hải Trường có 2 cơ sở đàotạo, cơ sở chính đặt tại số 498- Đà Nẵng - thành phố Hải Phòng, cơ sở 2 đặttại Phường Đồng Hòa - quận Kiến An - Thành phố Hải Phòng

Mục tiêu phấn đấu của nhà trường là không ngừng xây dựng và pháttriển các chương trình huấn luyện về hàng hải đạt tiêu chuẩn IMO và phù hợpvới xu hướng phát triển của ngành vận tải biển

Trang 40

2.2 Chương trình Đào tạo cử nhân Điều khiển tàu biển ở Trường Cao đẳng Hàng hải I theo hệ tín chỉ hiện nay

2.2.1 Mục tiêu đào tạo

+ Về kiến thức

- Có kiến thức về Kinh tế chính trị, triết học Mác – Lênin, Chủ nghĩa

xã hội khoa học, Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam và Tư tưởng Hồ Chí Minh,Vật lý; Hóa học; Cơ lý thuyết; Sức bền vật liệu; Điện tàu thủy; Máy tàu thủyGiáo dục quốc phòng an ninh vận dụng đúng đắn và sáng tạo vào thực tiễncuộc sống;

- Có kiến thức cơ bản về kết cấu, bố trí chung thân tàu; tính toán ổnđịnh, quản lý các không gian chứa hàng; xếp dỡ vận chuyển và bảo quản hànghóa, khai thác và điều khiển tàu; Thiên văn; Địa văn; La bàn từ; Khí tượng;Điều động tàu; vận hành bảo quản trang thiết bị trên boong, thiết bị cứu sinhcứu hỏa; Xử lý tình huống khẩn cấp trên biển; thiết bị hàng hải nhưRadar/Arpa, ECDIS, máy thu GPS, La bàn điện, Máy đo sâu, Tốc độ kế, Máylái tự động, các hệ thống báo động, báo động an ninh, thiết bị thông tin lên lạc

…;

- Có kiến thức về luật Hàng hải; Quy tắc tránh va; các công ước Quốc

tế về Hàng hải; bảo hiểm Hàng hải; An toàn lao động; An toàn; An ninh Hànghải; Bảo vệ môi trường và ứng dụng tốt vào thực tiễn nghề nghiệp;

- Có trình độ ngoại ngữ; tin học; có sức khỏe đáp ứng yêu cầu côngviệc

+ Về kỹ năng

- Thực hiện được các công việc thường xuyên về công tác thuyềnnghệ, vận hành bảo quản tàu và các trang thiết bị trên boong, thiết bị cứu sinh,thiết bị cứu hỏa;

Ngày đăng: 20/04/2016, 21:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Phạm Viết Cường (2003), Giải pháp nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh quốc tế của xuất khẩu thuyền viên Việt Nam tới năm 2010, Luận văn thạc sỹ kỹ thuật, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh quốc tế của xuất khẩu thuyền viên Việt Nam tới năm 2010
Tác giả: Phạm Viết Cường
Năm: 2003
[2]. Phạm Xuân Dương (2006), Nhu cầu nguồn nhân lực Hàng hải trên thế giới, Tạp chí Visaba Time số 86, tháng 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu nguồn nhân lực Hàng hải trên thế giới
Tác giả: Phạm Xuân Dương
Năm: 2006
[3]. Đỗ Công Hoan (2007), Nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất lượng Đào tạo kỹ sư Điều khiển tàu biển trường Đại học Hàng hải Việt Nam giai đoạn 2006-2012, Luận văn thạc sỹ kỹ thuật, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất lượng Đào tạo kỹ sư Điều khiển tàu biển trường Đại học Hàng hải Việt Nam giai đoạn 2006-2012
Tác giả: Đỗ Công Hoan
Năm: 2007
[5]. Trịnh Xuân Tùng (2012), Nghiên cứu nâng cao chất lượng Đào tạo kỹ sư Điều khiển tàu biển theo hệ Tín chỉ (Quy chế 43) tại khoa Điều khiển tàu biển - trường Đại học Hàng hải giai đoạn 2012-2017 và các năm tiếp theo, Luận văn thạc sỹ kỹ thuật, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nâng cao chất lượng Đào tạo kỹ sư Điều khiển tàu biển theo hệ Tín chỉ (Quy chế 43) tại khoa Điều khiển tàu biển - trường Đại học Hàng hải giai đoạn 2012-2017 và các năm tiếp theo
Tác giả: Trịnh Xuân Tùng
Năm: 2012
[6]. TS. Đặng Văn Uy (2007), Nâng cao năng lực Đào tạo – huấn luyện Hàng hải các cấp ở Việt Nam, đề tài cấp bộ, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực Đào tạo – huấn luyện Hàng hải các cấp ở Việt Nam
Tác giả: TS. Đặng Văn Uy
Năm: 2007
[7]. TS. Đặng Văn Uy, Ths. Phạm Xuân Dương (2006), Dự báo nguồn nhân lực Hàng hải ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 và định hướng 2020 , Tạp chí Visaba Time số 87, tháng 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo nguồn nhân lực Hàng hải ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 và định hướng 2020
Tác giả: TS. Đặng Văn Uy, Ths. Phạm Xuân Dương
Năm: 2006
[8]. Chính phủ (2003), Quyết định số 1195/2003/QĐ-ĐT “Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến 2010 và định hướng 2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến 2010 và định hướng 2020”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
[9]. Chính phủ (2005), Nghị quyết số 09/2005/NQ-CP về việc phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giai đoạn 2005 - 2010”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giai đoạn 2005 - 2010”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
[10]. Chính phủ (2005), Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP “Về đổi mới toàn diện cơ bản Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về đổi mới toàn diện cơ bản Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
[11]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT “Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
[12]. Trường Cao đẳng Hàng hải I (2013), Quyết định số 868/QĐ-CĐHHI- ĐT&CTSV “Quy chế Đào tạo đại học chính quy theo hệ thống tín chỉ”, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế Đào tạo đại học chính quy theo hệ thống tín chỉ
Tác giả: Trường Cao đẳng Hàng hải I
Năm: 2013
[13]. Chương trình khung Đào tạo cử nhân Điều khiển tàu biển – trường Cao đẳng Hàng hải I theo hệ tín chỉ, Khoa Điều khiển tàu biển (2015), Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình khung Đào tạo cử nhân Điều khiển tàu biển – trường Cao đẳng Hàng hải I theo hệ tín chỉ
Tác giả: Chương trình khung Đào tạo cử nhân Điều khiển tàu biển – trường Cao đẳng Hàng hải I theo hệ tín chỉ, Khoa Điều khiển tàu biển
Năm: 2015
[14]. Thống kê số lượng sinh viên Khoa điều khiển tàu biển, Phòng Đào tạo – công tác sinh viên, Trường Cao đẳng Hàng hải I (2015), Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê số lượng sinh viên Khoa điều khiển tàu biển
Tác giả: Thống kê số lượng sinh viên Khoa điều khiển tàu biển, Phòng Đào tạo – công tác sinh viên, Trường Cao đẳng Hàng hải I
Năm: 2015
[15]. Thống kê số liệu Giáo vụ Khoa Điều khiển tàu biển, Khoa Điều khiển tàu biển, Trường Cao đẳng Hàng hải I (2015), Hải Phòng.Tiếng Anh [16]. Model Courses Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê số liệu Giáo vụ Khoa Điều khiển tàu biển
Tác giả: Thống kê số liệu Giáo vụ Khoa Điều khiển tàu biển, Khoa Điều khiển tàu biển, Trường Cao đẳng Hàng hải I
Năm: 2015
[18]. Tiếu Văn Kinh (2013), Tìm hiểu hệ thống Giáo dục Đào tạo thuyền viên của Trung Quốchttp://www1.vinamarine.gov.vn (12/03/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu hệ thống Giáo dục Đào tạo thuyền viên của Trung Quốc
Tác giả: Tiếu Văn Kinh
Năm: 2013
[19]. Ngô Lực Tải (2013), Nguồn nhân lực kỹ năng cao: Nền tảng để kinh tế biển Việt Nam phát triển bền vữnghttp://www1.vinamarine.gov.vn (12/03/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nguồn nhân lực kỹ năng cao: Nền tảng để kinh tế biển Việt Nam phát triển bền vững
Tác giả: Ngô Lực Tải
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.12  Số lượng sinh viên Khoa Điều khiển tàu biển từ 2008 ÷ - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân cao đẳng điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại trường cao đẳng hàng hải i
Bảng 2.12 Số lượng sinh viên Khoa Điều khiển tàu biển từ 2008 ÷ (Trang 6)
Bảng 1.2. Thống kê thời gian đào tạo chính quy bậc học Hàng hải tại Việt - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân cao đẳng điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại trường cao đẳng hàng hải i
Bảng 1.2. Thống kê thời gian đào tạo chính quy bậc học Hàng hải tại Việt (Trang 36)
Bảng 2.2 Chương trình khung đào tạo Cao đẳng Điều khiển tàu biển theo hệ  tín chỉ - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân cao đẳng điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại trường cao đẳng hàng hải i
Bảng 2.2 Chương trình khung đào tạo Cao đẳng Điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ (Trang 43)
Bảng 2.4 Kế hoạch giảng dạy học kỳ II - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân cao đẳng điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại trường cao đẳng hàng hải i
Bảng 2.4 Kế hoạch giảng dạy học kỳ II (Trang 48)
Bảng 2.5 Kế hoạch giảng dạy học kỳ III - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân cao đẳng điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại trường cao đẳng hàng hải i
Bảng 2.5 Kế hoạch giảng dạy học kỳ III (Trang 49)
Bảng 2.6 Kế hoạch giảng dạy học kỳ IV - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân cao đẳng điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại trường cao đẳng hàng hải i
Bảng 2.6 Kế hoạch giảng dạy học kỳ IV (Trang 50)
Bảng 2.7 Kế hoạch giảng dạy học kỳ V - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân cao đẳng điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại trường cao đẳng hàng hải i
Bảng 2.7 Kế hoạch giảng dạy học kỳ V (Trang 51)
Bảng 2.8 Kế hoạch giảng dạy học kỳ VI - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân cao đẳng điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại trường cao đẳng hàng hải i
Bảng 2.8 Kế hoạch giảng dạy học kỳ VI (Trang 51)
Bảng 2.9 Bảng chuyển đổi thang điểm theo hệ tín chỉ - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân cao đẳng điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại trường cao đẳng hàng hải i
Bảng 2.9 Bảng chuyển đổi thang điểm theo hệ tín chỉ (Trang 53)
Bảng 2.10 Bảng quy đổi thang điểm chữ và số - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân cao đẳng điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại trường cao đẳng hàng hải i
Bảng 2.10 Bảng quy đổi thang điểm chữ và số (Trang 55)
Bảng 2.11 Phân bố số lượng cán bộ, giảng viên theo Tổ môn - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân cao đẳng điều khiển tàu biển theo hệ tín chỉ tại trường cao đẳng hàng hải i
Bảng 2.11 Phân bố số lượng cán bộ, giảng viên theo Tổ môn (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w