Đề tài được thực hiện với mục đích thể hiện rõ ràng giúp cho người sử dụng đặc biệt là sinh viên trong quá trình học tập trong nhà trường có khả năng sử dụng thành thạo các chức năng của
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
Người hướng dẫn: Ths Nguyễn Đức Long
HẢI PHÒNG - 2015
Trang 4LỜI CẢM ƠN Được sự giao phó của nhà trường - Khoa Hàng Hải, đề tài đã được em thực hiện với sự hướng dẫn tận tình của thạc sĩ Nguyễn Đức Long cùng với
sự đóng góp của các thầy trong bộ môn Máy Điện-Vô Tuyến Điện trường Đại Học Hàng Hải Việt Nam
Em xin chân thành cám ơn những sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô đã giúp cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Mặc dù đã cố gắng hết sức để hoàn thành đề tài nhưng do kinh nghiệm và tuổi đời còn trẻ nên đề tài vẫn không thể tránh khỏi những sai xót.Vì vậy, em kính mong được sự đóng góp của các thầy cô và bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cám ơn!
Trang 5
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan rằng đề tài được chính mình thực hiện dưới sự hướng dẫn của thạc sĩ Nguyễn Đức Long Các số liệu, dữ liệu, hình ảnh, tài liệu tham khảo sử dụng đều là trung thực, khách quan và không trùng hoặc sao chép với bất cứ đề tài tốt nghiệm nào trước đó!
Hải Phòng, ngày 19 tháng 11 năm 2015
Sinh Viên
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 2
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH MÔ PHỎNG 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.2 Thực tiễn và yêu cầu giảng dạy 3
1.2.1 Phương pháp học truyền thống 3
1.2.2 Khai thác yếu tố tích cực trong các phương pháp dạy học truyền thống 5
1.2.3 Đặc điểm và lợi thế của bài giảng điện tử chương trình mô phỏng 6
1.2.4 Phương pháp học tích cực và đặc điểm của phương pháp 7
1.2.5 Một số yêu cầu khi sử dụng phương pháp dạy học tích cực 8
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÒNG THỰC HÀNH MÔN MÁY VÔ TUYẾN ĐIỆN HÀNG HẢI VÀ KỸ THUẬT XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH MÔ PHỎNG 10
2.1 Đặc điểm và vai trò của môn học thực hành máy vô tuyến điện hàng hải 10
2.1.1 Đặc điểm của học phần 10
2.1.2 Vai trò của phần thực hành máy vô tuyến điện hàng hải 10
2.2 Thực trạng cơ sở vật chất trong phòng thực hành môn máy vô tuyến điện hàng hải nói chung và thiết bị Navtex 11
2.2.1 Thực trạng trang bị thiết bị 11
2.2.2 Nhu cầu sinh viên sử dụng phòng thực hành máy vô tuyến điện 13
2.3 Yêu cầu khách quan đổi mới nhằm nâng cao chất lượng thực hành 14
2.4 Quy trình xây dựng chương trình mô phỏng 16
2.4.1 Yêu cầu chung về nội dung, công cụ để xây dựng chương trình mô phỏng-Thực hành máy Navtex SNX-300 16
2.4.2 Sử dụng phần mềm Powerpoint 2007 xây dựng chương trình mô phỏng 17
2.4.2.1 Làm việc với Slide Master 17
2.4.2.2 Phương thức đưa hình ảnh, âm thanh lên chương trình 21
2.4.2.3 Xây dựng mặt máy mô phỏng cho máy thu Navtex SNX-300 21
2.4.2.4 Thiết lập đường dẫn liên kết 23
2.4.2.5 Sử dụng linh hoạt các hiệu ứng cho chương trình mô phỏng 24
2.4.3 Sử dụng phần mềm Adobe Presenter 7.0 để hỗ trợ xây dựng chuơng trình mô phỏng 25
2.4.3.1 Thêm đối tượng là hình ảnh, âm thanh 25
2.4.3.2 Xây đựng bộ câu hỏi tương tác, vấn đáp 26
2.4.3.3 Thiết kế phần câu hỏi nhiều lựa chọn (Multiple choice) 29
2.4.3.4 Thiết lập câu hỏi dạng đúng – sai (True – False) 31
2.4.3.5 Câu hỏi dạng điền vào chỗ trống 32
2.4.4 Yêu cầu về kiểm tra nội dung và đưa chương trình vào chạy thử 33
CHƯƠNG 3 GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH MÔ PHỎNG THỰC HÀNH MÁY THU NAVTEX SNX-300 35
3.1 Nội dung giảng dạy học phần thực hành máy thu Navtex 35
Trang 73.2 Khai thác sử dụng chương trình thực hành máy thu Navtex 36
3.2.1 Nội dung thực hành 36
3.2.2 Quy trình khai thác Chương trình mô phỏng 37
3.2.3 Phân tích ưu nhược điểm của nội dung thực hành 41
3.2.4 Kết quả đánh giá thực nghiệm chương trình 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
Kết luận 44
Kiến nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Máy Navtex FURUNO NX-500 19Hình 2.2 Máy thu Navtex NT-900 20Hình 2.3 Màn hình Slide Master 26Hình 2.4 Thiết kế slide Master 27Hình 2.5 Chọn và tạo khung hình trong Slide 28Hình 2.6 Chèn hiệu ứng âm thanh, hình ảnh 29Hình 2.7 Chèn hình ảnh máy thu Navtex SNX-300 30Hình 2.8 Xây dựng núm nút mô phỏng cho máy 31Hình 2.9 Tạo đường dẫn liên kết 32 Hình 2.10 Thiết kế các hiệu ứng 33 Hình 2.11 Công cụ chèn hiệu ứng trong Adobe 33Hình 2.12 Lựa chọn hiệu ứng âm thanh 34Hình 2.13 Màn hình bộ tạo câu hỏi 35Hình 2.14 Bộ câu hỏi tương tác 36Hình 2.15 Kiểu câu hỏi tương tác 37Hình 2.16 Thiết lập bộ câu hỏi 38Hình 2.17 Màn hình feedback 39Hình 2.18 Dạng câu hỏi Đúng – Sai 40Hình 2.19 Dạng câu hỏi hoàn thành câu 41Hình 3.1 Giao diện tổng quan chính của chương trình 44
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.2 Giao diện nội dung chính thực hành 45Hình 3.3 Giao diện thực hành máy thu Navtex SNX-300 46Hình 3.4 Giao diện thực hành máy thu Navtex SNX-300 47Hình 3.5 Lựa chọn cài đặt chọn trạm 48
Trang 10MỞ ĐẦU
Với sự phát triển không ngừng của khoa học thì các trang thiết bị trang bị cho ngành hàng hải cũng càng ngày được trang bị mới và hiện đại hơn Tuy nhiên để đáp ứng cho sinh viên được thực hành, khai thác các hệ thống này để sau khi ra trường đáp ứng nhu cầu thực tế là điều rất khó khăn Và trên thực tế hiện nay sinh viên Khoa hàng hải khi đi thực hành thì chỉ khai thác và
sử dụng trên các máy móc thiết bị đã cũ, không phù hợp với thực tế, bên cạnh
đó lượng sinh viên lại đông, thiết bị trang bị không nhiều cho nên lượng sinh viên được khai thác một cách thuần thục thực tế là không nhiều Bên cạnh đó thiết bị cũ thường xuyên trục trặc nếu không có sự khắc phục kịp thời thì không có thiết bị để thực hành
Việc xây dựng một chương trình mô phỏng là một nhu cầu cần thiết cho thời điểm hiện tại, nó cung cấp cho người học một cách đầy đủ về tính mới của thiết bị, người học ngoài giờ học trên lớp thì vẫn có thể tham khảo ở nhà
và dành thời gian trao đổi, tương tác với giáo viên nhiều hơn
Ngoài ra, xây dựng chương trình mô phỏng vào thời điểm hiện tại cũng là phù hợp với những yêu cầu về đổi mới về dạy và học trên đại học, giúp cho người học rút ngắn được thời gian mà trong khi đó vẫn có thể nắm bắt được khối lượng kiến thức đầy đủ với yêu cầu
Đề tài được thực hiện với mục đích thể hiện rõ ràng giúp cho người sử dụng đặc biệt là sinh viên trong quá trình học tập trong nhà trường có khả năng sử dụng thành thạo các chức năng của thiết bị Đồng thời đề tài cũng tổng hợp và chỉ rõ ra các mặt còn hạn chế của thiết bị trong quá trình khai thác, từ đó giúp cho người khai thác,sử dụng thiết bị được tốt hơn tránh những lầm lẫn không đáng có
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các chức năng,núm nút của máy thu Navtex Bao gồm cấu tạo, toàn bộ các bộ phận cấu thành trong hệ thống
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào nghiên cứu chức năng chính,cách khai thác sử dụng của thiết bị được lắp đặt trên tàu biển, quy trình hoạt động và một số lưu ý khi khai thác vận hành của thiết bị để đạt hiệu quả
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Tìm và tập hợp các tài liệu về thiết bị trong phòng thực hành, máy thu Navtex với nguồn quốc tế và Việt Nam có liên quan, từ đó xây dựng lại toàn
bộ nguyên lý hoạt động của thiết bị thông qua sử dụng linh hoạt các phần mềm hỗ trợ như Power point, Adobe Presenter, Adobe Flash Tác giả kết hợp tham khảo kiến thức của những người đã từng lắp đặt, khai thác và sử dụng thiết bị trên tàu, với kiến thức của bản thân về việc sử dụng trang thiết bị và dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo, để xây dựng lên chương trình mô phỏng giúp người học - sinh viên có thể sử dụng, khai thác thiết bị đạt hiệu quả cao
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài sẽ nêu rõ các chức năng-núm nút của thiết bị, xây dựng quy trình hướng dẫn sử dụng chi tiết và qua đó phân tích các mặt còn hạn của thiết bị giúp cho người hàng hải hiểu rõ hơn về thiết bị nhằm khai thác hiệu quả hơn
Đề tài là tài liệu tham khảo bổ ích trong việc giảng dạy, học tập chuyên môn cho thuyền viên, sinh viên và các chuyên ngành kỹ thuật liên quan
Trang 12CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG
CHƯƠNG TRÌNH MÔ PHỎNG 1.1 Cơ sở lý luận
“Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã được ban hành tại Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI (Nghị quyếtsố 29-NQ/TW) Đổi mới giáo dục đại học là yêu cầu cấp thiết của nền giáo dục Việt Nam hiện nay nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Rất nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy sinh viên Việt Nam nói chung hiện nay đang yếu ở các nhóm; kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc theo dự án, kỹ năng sử dụng máy tính, kỹ năng viết báo cáo tham luận, kỹ năng vận dụng vào thực tế nhưng lại mạnh hơn ở các nhóm: phân tích và giải thích, giải quyết vấn đề, nghe ghi và hiểu bài giảng”
Để đổi mới được thì mọi hoạt động của trường đại học phải có những thay đổi nhiều mặt trong đó có hoạt động chuẩn bị giáo án, bài giảng Trong nội dung luận văn này tác giả xin đề cập đến việc xây dựng và ứng dụng chương trình mô phỏng cho môn học thực hành Máy Vô Tuyến Điện thuộc
Bộ môn Máy điện – VTĐ Khoa Hàng hải, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
1.2 Thực tiễn và yêu cầu giảng dạy
1.2.1 Phương pháp học truyền thống
“Học theo niên chế: học theo đơn vị là năm học, chương trình học của một ngành học được quy định học trong một số năm Sinh viên phải hoàn thành một số lượng kiến thức ấn định bắt buộc trong năm học đó, khối kiến thức học được bố trí với đơn vị đo là đơn vị học trình”
Người dạy học là trung tâm, người học xoay quanh quỹ đạo của người dạy: Chương trình học, thời gian, tiến độ và nội dung thường được ấn định
Trang 13sẳn, sinh viên thường bị động Sinh viên tham gia với vai trò bị động Sinh viên phải hoàn thành nội dung học đã được ấn định theo năm học;
Tổ chức theo học kỳ Một năm học có thể 2 hoặc 3 học kỳ
Cấu trúc, thành những học phần; lịch trình thực hiện chính xác, Sinh viên tích lũy kiến thức theo học phần, tích lũy số tín chỉ theo học kỳ Học theo niên chế tín chỉ viên rất khó được xét để học trước kỳ hạn dù điều kiện và năng lực tốt, sinh cần chấp hành tốt các quy định đã đề ra từ đầu chương trình, các yêu cầu của trường, khoa, giảng viên, tuân thủ đúng các quy định
về lên lớp và giờ giảng
Tham khảo giảng viên chủ nhiệm lớp tại các buổi hợp lớp hàng tháng Tuy nhiên, vai trò chủ nhiệm thường không rõ nét;
Sinh viên phải chủ động nghiên cứu kỹ các tài liệu của nhà trường như
sổ tay sinh viên, nắm vững chương trình đào tạo, các học phần phải học trước, các học phần học song hành, phần kiến thức giáo dục đại cương, phần kiến thức giáo dục chuyên ngành…
Sinh viên nên tham khảo kỹ càng các buổi hướng dẫn về quy định, quy chế, cách thức bố trí các môn học cũng như cần thường xuyên gặp gỡ cố vấn học tập
Khả năng tự học chịu ảnh hưởng trực tiếp của chương trình, khoa và giảng viên giảng dạy trên lớp theo chương trình quy định khung có sẳn của trường, khoa, của bộ môn từ đầu năm học về chuyên ngành học;
Thường phải hoàn thành chương trình học theo số năm quy định, có thể kéo dài nhưng rất khó rút ngắn do số môn tự chọn ít và thướng theo quy định thuận tiện cho quản lý của khoa, trường nên khó chọn lựa môn học theo thực
tế của nhà tuyển dụng
Sinh viên cùng một lớp học có chung thời khóa biểu, được quy định cụ
Trang 14thể.v.v… Tổ chức lớp học chặt chẽ, sinh viên có thể vận dụng vào sự sắp xếp của cán sự lớp về thời gian học, cách học các môn.
1.2.2 Khai thác yếu tố tích cực trong các phương pháp dạy học truyền thống
Đối mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học viên không có nghĩa là gạt bỏ, loại trừ, thay thế hoàn toàn các phương pháp dạy học truyền thống
“Phương pháp thuyết trình là một trong những phương pháp dạy học truyền thống được thực hiện trong các hệ thống nhà trường đã từ lâu Đặc điểm cơ bản nổi bật của phương pháp thuyết trình là thông báo - tái hiện Vì vậy, phương pháp thuyết trình còn có tên gọi là phương pháp thuyết trình thông báo - tái hiện”
Để thu hút sự chú ý của người học và tích cực hóa phương pháp thuyết trình ngay khi mở đầu bài học giảng viên có thể thông báo vấn đề dưới hình thức những câu hỏi có tính chất định hướng Trong qúa trình thuyết trình bài giảng, ở cấp độ trường đại học giảng viên có thể thực hiện một số hình thức thuyết trình thu hút sự chú ý của học viên như sau:
Giảng viên đưa vào bài học một số giả thuyết hoặc quan điểm có tính chất mâu thuẫn với vấn đề đang nghiên cứu nhằm xây dựng tình huống có vấn
đề thuộc loại giả thuyết Kiểu nêu vấn đề này đòi hỏi học viên phải lựa chọn quan điểm đúng, sai và có lập luận vững chắc về sự lựa chọn của mình Đồng thời học viên phải biết cách phê phán, bác bỏ một cách chính xác, khách quan những quan điểm không đúng đắn, chỉ ra tính không khoa học và nguyên nhân của nó
Hiện nay, chương trình giảng dạy đang có khuynh hướng sử dụng ngày càng nhiều các phương tiện công nghệ thông tin, làm tăng sức hấp dẫn và hiệu quả Hàng loạt các phương tiện hỗ trợ giảng viên như: máy chiếu, băng ghi
Trang 15âm, băng ghi hình, đĩa CD, phần mềm máy vi tính Tiến tới mọi giảng viên phải có khả năng soạn bài giảng trên máy vi tính được nối mạng, biết sử dụng đầu máy đa năng để thực hiện bài giảng của mình một cách sinh động, hiệu qủa, phát huy cao nhất tính tích cực học tập của học viên Các ứng dụng công nghệ này hoàn toàn có thể giúp tận dụng, phát huy các ưu thế của phương pháp dạy học tích cực, đồng thời vẫn kế thừa những ưu điểm của phương pháp dạy học trước đây
1.2.3 Đặc điểm và lợi thế của bài giảng điện tử chương trình mô phỏng
Nhằm mục đích nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập Cùng với
nó là yêu cầu về cải tiến toàn diện về học tập và giảng dạy nhằm phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay thì Chương trình mô phỏng là một trong những phương thức đang được sử dụng một cách rộng rãi và đang được đánh giá mang lại hiệu quả cao không những cho sinh viên mà còn mang lại sự tiện ích cho cán bộ giảng dạy
Chương trình mô phỏng giúp giảng viên tiết kiệm được chi phí mua sắm thiết bị, giải quyết được vấn đề bố trí phòng thực hành Bên cạnh đó, chuơng trình mô phỏng còn là phương tiện giảng dạy hiệu quả, giúp giảng viên truyền đạt dễ dàng nhờ hình ảnh trực quan rất cụ thể và sinh động, giúp sinh viên dễ dàng nắm bắt vấn đề
Đối với sinh viên thì chuơng trình mô phỏng có thể tự học ở nhà và khi
đó sẽ có thời gian nghiên cứu tìm hiểu chi tiết hơn, cặn kẽ hơn hiểu vấn đề một cách sâu hơn
Chương trình mô phỏng được đánh giá sẽ làm cơ sở xây dựng giáo trình điện tử phục vụ cho phương thức đào tạo mới phù hợp với tình hình thực
tế và nhu cầu đào tạo hiện nay
Trang 161.2.4 Phương pháp học tích cực và đặc điểm của phương pháp
Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học viên Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động
"dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giảng viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giảng viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt
ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp làm ra kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học viên không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập
Áp dụng phương pháp này ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường
sẽ đáp ứng yêu cầu học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi sinh viên
Tuy vậy, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học cũng vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo truyền đạt tói sinh viên
Trang 171.2.5 Một số yêu cầu khi sử dụng phương pháp dạy học tích cực
Chương trình học:
Phải giảm tải khối lượng kiến thức tạo điều kiện cho thầy và trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực, giảm bớt những kiến thức buộc sinh viên phải thừa nhận hoặc phải ghi nhớ máy móc; tăng cường các bài toán nhận thức để sinh viên tự giải; giảm bớt những câu hỏi tái hiện, tăng cường loại câu hỏi phát triển trí thông minh; giảm bớt những kết luận áp đặt, tăng cường những gợi ý để sinh viên tự nghiên cứu phát triển bài học
Thiết bị dạy học
Thiết bị giảng dạy là điều kiện không thể thiếu được cho việc triển khai chương trình, việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của sinh viên Để đáp ứng yêu cầu này phương tiện thiết bị giảng dạy phải tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm
Cơ sở vật chất của nhà trường cũng cần hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức giảng dạy được thay đổi dễ dàng, linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng
Đối với giảng viên
Giảng viên phải được đào tạo bài bản để thích ứng với những thay đổi
về chức năng, nhiệm vụ rất đa dạng và phức tạp của mình, phải nhiệt tình với công cuộc đổi mới giáo dục Giảng viên vừa phải có kiến thức chuyên môn sâu, có trình độ sư phạm lành nghề, biết ứng xử các tình huống, biết sử dụng các công nghệ tin vào giảng dạy, biết định hướng phát triển của sinh viên theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo được sự tự do của sinh viên trong hoạt động nhận thức
Đối với sinh viên
Trang 18Dưới sự giảng dạy của giảng viên, sinh viên phải dần dần có được những phẩm chất và năng lực thích ứng với phương pháp giảng dạy tích cực như: giác ngộ mục đích học tập, tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm
về kết quả học tập của mình và kết quả chung của lớp, biết tự học và tranh thủ học ở mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi cách, phát triển các loại hình tư duy biện chứng, lôgíc, tư duy kĩ thuật …
và có hiệu quả hơn
Trang 19CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÒNG THỰC HÀNH MÔN MÁY VÔ TUYẾN ĐIỆN HÀNG HẢI VÀ KỸ THUẬT XÂY DỰNG CHƯƠNG
TRÌNH MÔ PHỎNG 2.1 Đặc điểm và vai trò của môn học thực hành máy vô tuyến điện hàng hải
2.1.1 Đặc điểm của học phần
Học phần Máy vô tuyến điện Hàng Hải là học phần quan trọng trong quá trình đào tạo thủy thủ, nó bao gồm những thiết bị điện máy vô tuyến điện quan trọng được trang bị trên một con tàu như: Máy thu Navtex,facsimile,máy thu GPS,radar…
Học phần thực hành Máy điện hàng hải 3 được bố trí 5 buổi thực hành, mỗi buổi thực hành là 2 tiết, và thông thường mỗi lớp học viên thường từ 13 tới 18 sinh viên, như vậy với các trang thiết bị được trang bị hạn hẹp thời gian không có nhiều nên lượng sinh viên chủ yếu được giới thiệu là chính chứ thực
tế khai thác sử dụng thành thạo là chưa cao
2.1.2 Vai trò của phần thực hành máy vô tuyến điện hàng hải
Trong quá trình hàng hải thì an toàn hàng hải luôn là yếu tố được đặt lên hàng đầu Đồng thời với nó là điều khiển được con tàu an toàn và kinh tế thì người khai thác phải hiểu biết và sử dụng được các trang thiết bị trên tàu một cách hiệu quả
Đóng góp vào việc duy trì an toàn trong vận hành tàu thì học phần máy
vô tuyến điện hàng hải cung cấp cho sinh viên ngành Điều khiển tàu biển những kiến thức cơ bản và đầy đủ từ những hiều biết cơ bản về các thiết bị máy điện trên buồng lái, cách bố trí các trang thiết bị, cách vận hành nó như thế nào, và làm sao để khai thác những thiết bị một cách đơn giản nhưng vẫn hiệu quả mang lại lợi ích kinh tế cao Ngoài ra học phần cũng chỉ ra những lỗi
Trang 20thường mắc phải trong quá trình khai thác sử dụng, cách nhận biết và khắc phục.
2.2 Thực trạng cơ sở vật chất trong phòng thực hành môn máy vô tuyến điện hàng hải nói chung và thiết bị Navtex
2.2.1 Thực trạng trang bị thiết bị
Để phục vụ cho việc thực hành của sinh viên, phòng thực hành máy điện được trang bị các dụng cụ, trang thiết bị như: Radar KODEN 3800,máy thu Navex NT-900,máy thu Navtex NCR-330, Máy Navtex NT-900, Máy Navtex FURUNO NX-500,máy Navtex,máy thu-phát song VHF m59,máy thu-phát sóng VHF-DSC,máy thu GPS FURUNO GP-32…ngoài ra còn một
số máy cũ với một số bộ phận rời của thiết bị
Hình 2.1 Máy Navtex FURUNO NX-500
Trang 21Hình 2.2 Máy thu Navtex NT-900Thực tế hiện nay thiết bị máy điện trong phòng thực hành đều không thể khai thác hết các chức năng của nó, do một số nguyên nhân như sau:
Máy cũ đã đưa vào sử dụng từ lâu cho nên một số núm nút, một số chức năng không dùng được
Mỗi phòng thực hành chỉ có một thiết bị cho nên không đáp ứng được lượng sinh viên sử dụng máy một cách thuần thục Trong khi đó chưa kể một
số hỏng hóc không được sửa chữa kịp thời, với tần xuất sử dụng lớn và ý thực
sử dụng của một số sinh viên còn chưa cao, nên thực tế nhiều dụng cụ bị hư hỏng, nhiều chức năng
Thời gian thực hành ngắn, khi đó người học khó lĩnh hội đầy đủ kiến thức chuyên sâu
Máy móc trong phong thực hành còn thiếu, tài liệu phòng thực hành chưa đầy đủ, chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực hành cần thiết, một số thiết bị
Trang 22dược bổ sung thay thế nhưng chưa đúng chủng loại, chưa phù hợp với yêu cầu thực tế
Qua thống kê trên có thể thấy thực trạng cơ sở vật chất chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của công tác hướng dẫn thực hành, chất lượng thực hành vì vậy chưa cao, nhiều nội dung thực hành sinh viên chỉ được giới thiệu mà không được thực hành do thiếu dụng cụ Việc bổ xung cơ sở vật chất phòng thực hành máy vô tuyến điện là một yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy thực hành
2.2.2 Nhu cầu sinh viên sử dụng phòng thực hành máy vô tuyến điện
Hầu hết phòng thực hành môn máy vô tuyến điện đều được sử dụng trong các kỳ học của năm học, đối tượng đi thực hành cũng nhiều hệ khác nhau như Đại học chính quy, Đại học hệ liên thông, sinh viên hệ Cao đẳng, chưa kể tới lượng sinh viên lớn trong khoa đi thực tập thủy thủ và thực tập sỹ quan trên các phòng thực hành Như vậy lượng sử dụng là lớn và liên tục Dưới đây là bảng thống kê nhu cầu sử dụng qua 2 năm học gần đây nhất, năm học 2013 – 2014, năm 2014 – 2015
Trang 23Năm học Học phần Số nhóm
học phần
Số nhóm thực hành
Số ca thực hành
Bảng 2.1 Bảng thống kê lượt thực hành học phần tại bộ môn
Nhu cầu thực hành tại phòng thực hành Máy vô tuyến điện hàng hải cao cho thấy cơ sở vật chất phòng thực hành cũng cần được đầu tư, bổ xung thường xuyên nếu không sẽ nhanh chóng bị xuống cấp, hư hỏng Những hư hỏng cần được thay thế sửa chữa ngay để đáp ứng nhu cầu thực hành hiện tại
2.3 Yêu cầu khách quan đổi mới nhằm nâng cao chất lượng thực hành
Trong bối cảnh chất lượng giảng dạy và hướng dẫn thực hành của nhà trường nói chung chưa cao, việc đổi mới về phương pháp, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng và sử dụng các công nghệ, máy móc tiên
Trang 24tiến cũng là một biện pháp và yêu cầu bắt buộc để nâng cao chất lượng giảng dạy hiện nay Việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, việc đổi mới, thống nhất
về quan điểm, phương pháp, quy trình giảng dạy trong hướng dẫn thực hành tại phòng thực hành là tất yếu
Đây là một yêu cầu của thực tế, nhằm trang bị những kỹ năng nghề nghiệp cần thiết cho sinh viên, giúp sinh viên ra trường nhanh chóng làm quen và hoàn thành tốt công việc trên tàu
Việc đổi mới các quy trình về hướng dẫn thực hành sẽ thống nhất trong toàn bộ giáo viên hướng dẫn, trợ giảng về quy cách, thời gian, thời lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng thực hành của sinh viên, đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng được học thực hành cho sinh viên đồng thời là yếu tố khách quan phát huy ý thức trách nhiệm, lòng đam mê nghề nghiệp, đồng thời cũng là để kiểm nghiệm chất lượng cán bộ giảng dạy, hướng dẫn thực hành
Vận dụng các quy trình mới trong hướng dẫn thực hành sẽ tạo sự chính xác, chắc chắn trong các thao tác, từ đó tránh nhàm chán và gây hứng thú cho người học trong học tập
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy, ứng dụng các phần mềm mới, chuyên dụng vào công tác hướng dẫn thực hành, sử dụng các phương pháp giảng dạy kết hợp sử dụng trình chiếu trực quan, dễ tiếp cận và chi phí thấp
Ngoài việc đổi mới quy trình trong hướng dẫn thực hành gắn liền với thực tế công việc chúng ta cần phải xây dựng các công cụ hỗ trợ phục vụ học tập và thực hành của sinh viên được phong phú và sinh động bám sát được nhu cầu thực tế công việc
Với điều kiện còn hạn chế về cơ sở vật chất của phòng thực hành, việc xây dựng 1 chương trình mô phỏng là hết sức cần thiết, đây là công cụ thiết bị
Trang 25phụ trợ với tính trực quan cao để cải thiện việc dạy và học thực hành cho phòng thực hành bộ môn Máy điện – VTĐ
2.4 Quy trình xây dựng chương trình mô phỏng
2.4.1 Yêu cầu chung về nội dung, công cụ để xây dựng chương trình mô phỏng-Thực hành máy Navtex SNX-300
Để xây dựng được một chương trình mô phỏng có quy mô và chất lượng thì nội dung của chương trình phải được chuẩn bị một cách tỉ mỉ và cẩn thận Nội dung chuẩn bị đòi hỏi phải rõ ràng, chính xác, có nguồn gốc đáng tin cậy… việc bố trí nội dung trong chương trình phải rõ ràng, mạch lạc, người xem thấy dễ hiểu Ngôn ngữ sử dụng đơn giản, các phần sắp xếp sinh động, hợp lý và logic
Đối với học phần thực hành máy thu Navtex thì nội dung yêu cầu cho chương trình phải gồm một số phần như sau:
Học phần thực hành Máy Navtex
- Phải chuẩn bị đầy đủ hình vẽ, các kết cấu thực tế, các chi tiết của thiết bị
- Xây dựng hình ảnh, của từng nội dung thực hành như các chức năng,núm nút…
- Chuẩn bị hình ảnh, clip thực tế, mô phỏng sinh động giúp cho sinh viên dễ dàng hình dung nội dung chương trình mô phỏng
- Thiết kế nội dung câu hỏi ôn tập, các câu hỏi tương tác nhanh ngay sau các phần trong môn học từ đơn giản tới phức tap, tăng dần theo độ khó và sự tư duy của sinh viên
- Xây dựng đa dạng bộ câu hỏi ôn tập cho sinh viên như câu hỏi tự luận, câu hỏi trắc nghiệm, bài tập thực hành…
Hiện nay công cụ hỗ trợ xây dựng 1 chương trình mô phỏng tương đối nhiều, nhưng phổ biến và dễ sử dụng nhất vẫn là phần mềm Powerpoint và
Trang 26mạnh, cho phép người sử dụng có thể chèn các hiệu ứng, âm thanh,hình ảnh sinh động Bên cạnh đó phần mềm này còn cho phép tạo ra những bộ câu hỏi tương tác phục vụ kiểm tra, tổng kết lại những kiến thức đã học.
2.4.2 Sử dụng phần mềm Powerpoint 2007 xây dựng chương trình mô phỏng
Power point là chương trình có ứng dụng trong giảng dạy gần gũi và quen thuộc đối với giáo viên và học sinh - sinh viên, đây là một cung cụ đơn giản, tiện ích, dễ sử dụng, người dạy, người học đều có thể chỉnh sửa một cách linh động phù hợp với nhiều hoàn cảnh điều kiện khác nhau
2.4.2.1 Làm việc với Slide Master
Để soạn thảo với Slide Master thì trên màn hình sử dụng bình thường
ta nhấn vào View lúc này sẽ xuất hiện màn hình mới và ta chỉ cần nhấn vào Slide Master là được Mọi thao tác soạn thảo diễn ra bình thường trên Slide Master
Ứng dụng tiện ích khi ta soạn thảo trên Slide Master là ta có thể quản lý được nội dung bài giảng của ta đang soạn thảo, và khi ta xuất ra Slide trình chiếu thì Slide này không tự ý chỉnh sửa được Nếu muốn chỉnh sửa thì yêu cầu phải vào lại Slide Master sau đó thiết lập lại
Trang 27Hình 2.3 Màn hình Slide MasterCác bước để thực hiện trên Slide Master như sau:
Trên màn hình trình chiếu thông thường ta chọn thẻ View
- Chọn View – chọn Slide Master lúc này ta hoàn toàn thao tác và quản lý File của mình trên Slide Master
Soạn thảo nội dung trình bày trên màn hình thông thường, với các hiệu ứng, chèn âm thanh, hình ảnh…
Bước 1: Chọn
ViewBước 2: Chọn Slide MasterBước 3: Thao tác trên màn hình Layout
Trang 28Hình 2.4 Thiết kế slide Master-Xây dựng khung hình-giao diện các Slide gồm các bước
-Chọn Home-Chọn drawing-chọn Shapes-chon dạng khung hình slide thích hợp sau đó click chuột trái rồi di chuyển con chuyệt đến vị trí cần tạo sau đó click chuột trái và điều chỉnh kích thước khung hình mong muốn
Trang 29Hình 2.5 Chọn và tạo khung hình trong Slide