1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá những thành tích và tồn tại trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại việt nam nói chung và đối với ngành vận tải, kho bãi nói riêng trong thời gian qua

42 682 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 618,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm đầu tư nước ngoài Đầu tư nước ngoài là một quá trình trong đó có sự di chuyển vốn từ quốcgia này sang quốc gia khác, dưới hình thức bằng tiền, tài sản hữu hình hoặc vôhình để t

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn hiện nay với xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, hoạt độngcủa nền kinh tế thế giới ngày càng trở lên đa dạng và phức tạp của gần 200 quốcgia (194 quốc gia chính thức được công nhận) với toàn bộ các hoạt động kinh tếcủa khoảng 7 tỷ người dân đang sinh sống Trong đó hoạt động đầu tư nướcngoài được xem là nguồn lợi lớn đang được chú trọng đối với cả nước đầu tư vànước nhận đầu tư Đứng trước những chuyển biến ngày càng phức tạp này, đểhội nhập với nền kinh tế thế giới, một tất yếu khách quan là Việt Nam cũng phải

có những sự chuyển mình để theo kịp thời cuộc, để theo kịp nền kinh tế khu vực

và thế thới

Với việc coi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phậnquan trọng của nền kinh tế, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP, sau gần 30 nămthu hút đầu tư (1988-2014), Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành công Mộttrong những yếu tố cơ bản làm nên sức hút về đầu tư nước ngoài trong gần 30năm qua của nước ta, đó là chủ trương nhất quán của Chính phủ trong việc coiđầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu quan của nền kinh tế Đặc biệt, Luật Đầu

tư nước ngoài được ban hành năm 1987 và Luật Đầu tư chung hợp nhất LuậtĐầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 2005 đã tạo ra

sự đồng nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư, tạo sân chơi bình đẳng giữa cácnhà đầu tư Mặc dù đã đạt được những kết quả khả quan, song đầu tư nướcngoài trong những năm qua cũng đã bộc lộ những tồn tại cần hoàn thiện để đạtmục tiêu thu hút mạnh mẽ hơn nữa nguồn vốn này

Để xây dựng Việt nam trở thành một trong những điểm hấp dẫn các nhà đầu tư trong khu vực, cần phải nhận thức rõ thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt nam, từ đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu, khoa học nhằm nâng cao hiệu quả của đầu tư nước ngoài để từ đó tìm ra các giải pháp nhằm thúc đẩy việc thu hút đầu tư nước ngoài phù hợp với thực tiễn Đó là

lý do thôi thúc tôi lựa chọn đề tài: “Đánh giá những thành tích và tồn tại

Trang 2

trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung và đối với ngành vận tải, kho bãi nói riêng trong thời gian qua”

Do thời gian và kiến thức có hạn, nên không thể tránh khỏi những sai sót,hạn chế, vì vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo

2 Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đầu tư nước ngoài Đánh giá thực trạnghoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và hoạt động đầu tư nước ngoài đối vớingành vận tải, kho bãi trong thời gian qua Trên cơ sở phân tích thực trạng đó, chỉ

ra những tồn tại và nguyên nhân, tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm nângcao hiệu quả của hoạt động đầu tư nước ngoài đối với ngành vận tải, kho bãi tạiViệt Nam trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, hoạtđộng đầu tư nước ngoài đối với ngành vận tải, kho bãi

Phạm vi thời gian: 3 năm từ 2010 đến 2014

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Qua việc trình bày, phân tích và luận giải những nội dung đã được xácđịnh, đề tài có những đóng góp sau đây:

- Đưa ra biện pháp có tính ứng dụng cao trong thực tiễn nhằm khắc phụcnhững mặt hạn chế, tăng cường điểm mạnh trong hoạt động đầu tư nước ngoàiđối với ngành vận tải, kho bãi tại Việt Nam trong thời gian tới

Trang 3

Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh những nguồn lực hiện tại (tiền, sức laođộng, của cải vật chất, trí tuệ… ) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho chủđầu tư trong tương lai Về mặt địa lý có hai loại hoạt động đầu tư đó là: hoạtđộng đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư nước ngoài.

1.2 Đầu tư nước ngoài.

1.2.1 Khái niệm đầu tư nước ngoài

Đầu tư nước ngoài là một quá trình trong đó có sự di chuyển vốn từ quốcgia này sang quốc gia khác, dưới hình thức bằng tiền, tài sản hữu hình hoặc vôhình để thực hiện các dự án đầu tư nhằm đưa lại lợi ích cho các bên tham gia.Nói một cách cụ thể, đầu tư nước ngoài là phương thức đầu tư vốn, tài sản ởnước ngoài để tiến hành sản xuất kinh doanh, dịch vụ với mục đích kiếm lợinhuận và những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định

1.2.2 Bản chất của đầu tư nước ngoài

Về bản chất, đầu tư nước ngoài chính là một hình thức xuất khẩu tư bản,thông qua hoạt động này, nhà tư bản tổ chức sản xuất ở nước ngoài và sản phẩmđược sản xuất ra tại nước ngoài đó sẽ thay thế một phần cho việc xuất khẩu hànghóa Do đó có thể thấy, đầu tư nước ngoài là một hình thức cao hơn xuất khẩuhàng hóa Tuy nhiên, hai hình thức xuất khẩu này lại có mối quan hệ mật thiếtvới nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau trong chiến lược xâm nhập, chiếm lĩnh thịtrường của các nhà đầu tư nước ngoài Hoạt động buôn bán hàng hóa ở nước sởtại là bước đi tìm kiếm thị trường, tìm hiểu luật lệ để có cơ sở ra quyết định đầu

tư Ngược lại, hoạt động đầu tư tại các nước sở tại là điều kiện để các nhà đầu tư

Trang 4

nước ngoài xuất khẩu máy móc, vật tư, nguyên liệu và khai thác tài nguyên thiênnhiên của nước đó.

1.2.3 Tính tất yếu khách quan của đầu tư nước ngoài

Đầu tư nước ngoài là một tất yếu khách quan do sự phân bổ và sử dụngcác yếu tố sản xuất giữa các nước là khác nhau Trong tiến trình phát triển củanền kinh tế thế giới, nhiều quốc gia đã đạt được nhiều thành tựu to lớn vào sảnxuất và khai thác các dạng tài nguyên thiên nhiên Khi trình độ phát triển kinh tếđạt đến mức cao, nhu cầu về vốn ở trạng thái bão hòa, dư thừa, cơ hội đầu tư ít,chi phí cao thì khi đó các quốc gia có nhu cầu đầu tư vào các quốc gia khác trênthế giới nhằm tận dụng những lợi thế về lao động, tài nguyên thiên nhiên, thịtrường… của những nước đó

Ngoài ra, đầu tư nước ngoài còn là một biện pháp hữu hiệu để thâm nhập vào thịtrường nước khác mà vẫn tránh được các rào cản về thuế và phi thuế của nướcnhận đầu tư

Trong nền kinh tế mở ngày nay, các nước đang phát triển thường có nhucầu về vốn và công nghệ rất cao, trong khi các nước phát triển cũng cần chuyểgiao công nghệ cho các đối tác khác để chuẩn bị cho ra đời một sản phẩm mớivới công nghệ sản xuất mới, chính đầu tư nước ngoài là giải pháp tốt thỏa mãnvới quan hệ cung, cầu cho cả hai bên

Đối với bên có vốn đầu tư: Họ cần tìm nơi đầu tư có lợi, cần tránh hàngrào hải quan trong buôn bán quốc tế, cần khuyếch trương thị trường và mở rộngphạm vi kinh doanh Trong khi đó đối với bên tiếp nhận vốn: Do thiếu vốn tíchlũy, do nhu cầu tăng trưởng nhanh, nhu cầu đổi mới kỹ thuật, công nghệ và tiếpnhận kinh nghiệm quản lý tiên tiến để khai thác tài nguyên và tạo thêm việc làmcho dân cư Đối với các nước đang phát triển, những nước này còn có yêu cầu

về dịch chuyển cơ cấu kinh tế xây dựng khu các công nghệ cao, thực hiện côngcuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Chính vì những nguyên nhân trên, đầu tư nước ngoài là một tất yếu khách quanđối với tất cả các nước trên toàn thế giới

Trang 5

1.2.4 Vai trò của đầu tư nước ngoài

Đầu tư nước ngoài ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quátrình phát triển kinh tế và thương mại ở các nước đi đầu tư và các nước tiếp nhậnvốn đầu tư

Đối với quốc gia có vốn đầu tư ra nước ngoài:

Đứng trên góc độ quốc gia, đầu tư nước ngoài là cách để các quốc gia có thể mởrộng và nâng cao quan hệ hợp tác về nhiều mặt đối với các quốc gia nhận đầu

tư Khi một nước đầu tư sang nước khác một mặt hàng thì nước đó thường cónhững ưu thế nhất định về mặt hàng đó như về chất lượng, năng suất, giá cảcùng với chính sách hướng xuất khẩu của nước này, thêm vào đó là có sự sẵnsàng hợp tác chấp nhận đầu tư của nước sở tại cùng với những nguồn lực thíchhợp cho sản phẩm đó Mặt khác, khi đầu tư, quốc gia có vốn đầu tư nước ngoài

có rất nhiều lợi ích về kinh tế cũng như về chính trị đối với nước nhận đầu tư:

Thứ nhất, quan hệ hợp tác với nước sở tại được tăng cường và vị thế của nước đi

đầu tư được nâng lên trên trường quốc tế

Thứ hai, mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, khi trong nước sản phẩm

đang thừa mà nước sở tại lại thiếu

Thứ ba, giải quyết công ăn việc làm cho một số lao động, vì khi đầu tư sang

nước khác, thì nước đó phải cần có những người hướng dẫn, hay còn gọi là cácchuyên gia trong lĩnh vực này Đồng thời tránh được việc khai thác các nguồnlực trong nước, như tài nguyên thiên nhiên hay ô nhiễm môi trường

Thứ tư, đó là vấn đề chính trị Các nhà đầu tư nước ngoài có thể lợi dụng những

kẽ hở của pháp luật, sự yếu kém về quản lý hay sự ưu đãi của Chính phủ nước

sở tại để có những mục đích khác như gây ảnh hưởng về chính trị, do thám

Mặt khác, dưới góc độ của doanh nghiệp có vốn đầu tư ra nước ngoài Mục đíchcủa doanh nghiệp cũng như mục đích của một quốc gia thường là lợi nhuận.Ngoài ra, một lợi thế khác nữa là các nước đầu tư ra nước ngoài có thể bán đượcnhững máy móc, thiết bị, công nghệ cũ kỹ lạc hậu hoặc đã bị hao mòn vô hìnhqua thời gian với giá cao nhưng lại là mới đối với những nước nhận đầu tư

Đối với nước nhận đầu tư nước ngoài:

Trang 6

Đầu tư từ nước ngoài đưa lại những lợi ích to lớn cho quốc gia nhận đầu tư, đặcbiệt nước nhận đầu tư là quốc gia chậm và đang phát triển.

Thứ nhất, là vấn đề chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý (chuyển

giao nguồn lực) Đối với một nước lạc hậu, trình độ sản xuất kém, năng lực sảnxuất chưa được phát huy kèm với cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn thì việc tiếpthu được một nguồn vốn lớn, công nghệ phù hợp để tăng năng suất và cải tiếnchất lượng sản phẩm, trình độ quản lý chặt chẽ là một điều hết sức cần thiết

Trong nền sản xuất hiện đại ngày nay thì công nghệ chính là trung tâmcủa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với một đất nước đang pháttriển Các quốc gia này cần phải có vốn và công nghệ để có thể thực hiện được

sự nghiệp đó Những hoạt động chuyển giao công nghệ (bao gồm cả năng lựcquản lý và marketing) thường khó đo lường hơn và phần lớn chuyển giao chỉdiễn ra thông qua các hợp đồng cấp giấy phép sản xuất khác nhau đã tăng lênnhanh hơn so với sự chuyển giao công nghệ thông qua các dự án đầu tư nướcngoài Các nước nhận được vốn đầu tư nước ngoài với công nghệ mới tiên tiếnhơn sẽ làm tăng năng suất và thu nhập quốc dân, các ngành sản xuất cạnh tranhhơn từ đó làm cho việc sử dụng các nguồn lực có hiệu quả kinh tế hơn Khôngnhững thế những công nghệ này còn cho ra những sản phẩm có chất lượng caohơn, tính năng đa dạng hơn, bền hơn và với những mẫu mã đa dạng, hàng hóalúc này sẽ nhiều và tất nhiên dẫn đến rẻ hơn so với trước, từ đó thúc đẩy tổngcầu của nền kinh tế tăng kéo theo GDP tăng lên

Ngoài ra, việc nhận đầu tư nước ngoài phát triển còn góp phần khuyếnkhích năng lực kinh doanh trong nước Do có các nhà đầu tư nước ngoài xuấthiện vào các thị trường truyền thống mà các nhà đầu tư trong nước đang chiếmgiữ phần lớn, nhưng ưu thế này sẽ không kéo dài mãi, khi mà ưu thế về nguồnlực của nhà đầu tư nước ngoài hơn hẳn Đó chính là một trong những thử tháchtất yếu của nền kinh tế thị trường đối với các nhà sản xuất trong nước, không có

kẻ yếu nào có thể tồn tại nếu nó không tự mình mạnh lên để không bị tự đài thảitrong cơ chế này

Trang 7

Tiếp cận với thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp chắc chắn phải thiếtlập với giao dịch, các đối tác mới là các nhà đầu tư nước ngoài Từ đó thúc đẩycác công cuộc đầu tư giữa các nước Như vậy, quá trình đầu tư nước ngoài vàthương mại quốc tế là một quá trình luôn luôn thúc đẩy nhau, hỗ trợ nhau vàcùng phát triển.

Đầu tư nước ngoài còn góp phần tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấukinh tế của nước nhận đầu tư theo chiều hướng tích cực hơn Nó thường tậptrung vào những ngành công nghệ cao, có sức cạnh tranh như công nghiệp haythông tin Nếu là một nước nông nghiệp thì bây giờ trong cơ cấu kinh tế cácngành đòi hỏi cao hơn như công nghiệp và dịch vụ đã tăng lên về tỷ trọng và sứcđóng góp cho ngân sách, GDP và cho xã hội nói chung Ngoài ra, về cơ cấu lãnhthổ, nó có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùnglãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng nghèo đói, pháthuy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, đưa những tiềm năng chưa đượckhai thác vào quá trình sản xuất và dịch vụ, làm bàn đạp thúc đẩy những vùngkhác cùng phát triển

Bên cạnh những lợi ích trên, đầu tư nước ngoài cũng mang lại không ítnhững bất lợi đối với nước nhận đầu tư:

Trước hết, vốn đầu tư nước ngoài thường rất hạn chế và tập trung vào những

lĩnh vực mang tính ngắn hạn nhằm sinh lợi nhuận nhanh do vậy nền kinh tế pháttriển thiếu tính bền vững Hơn nữa, các nhà đầu tư trực tiếp thường thiếu sựtrung thành đối với thị trường đầu tư, mà chỉ quan tâm đến lợi nhuận, do vậyluồng vốn đầu tư trực tiếp cũng rất bất ổn định, đặc biệt xảy ra hiện tượng khicần vốn đầu trực tiếp thì nó lại rất ít làm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh tế chungcủa đất nước nhận đầu tư

Thứ hai là công nghệ không thích hợp, giá cao một cách giả tạo, không tương

xứng với chất lượng cũng như tính hiện đại của công nghệ, nhiều dây chuyềncông nghệ còn lạc hậu, tiêu thụ mất nhiều năng lượng và dễ gây ô nhiễm môitrường Nguyên nhân gây ra hiện tượng này là do các nước đang phát triểnthường ở vào vị trí thương lượng yếu hơn trong đàm phán, đặc biệt là khi các

Trang 8

nước đang phát triển thiếu lực lượng cán bộ chuyên môn cao để có thể xác địnhđược mức độ phù hợp của công nghệ

Ngoài ra, đầu tư nước ngoài về phía nước nhận đầu tư còn gặp phải nhữngbất lợi khác như vấn đề về ô nhiễm môi trường cùng với tài nguyên bị cạn kiệt

và những lợi dụng về chính trị Đây là những vấn đề tất yếu mà nước nhận đầu

tư phải hứng chịu khi quá trình đầu tư nước ngoài diễn ra

1.2.5 Hình thức của hoạt động đầu tư nước ngoài

Hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện dưới 3 hình thức, đó là: Đầu

tư trực tiếp (Foreign Direct Investment – FDI), đầu tư gián tiếp (PortfolioInvestment) và tín dụng thương mại

Đầu tư trực tiếp (Foreign Direct Investment – FDI:

Mua trái phiếu

Đầu tư gián tiếp

Các khoản cho vay

Trang 9

Đây là phương thức đầu tư mà trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản

lý vốn đã bỏ ra Thực chất trong đầu tư trực tiếp những người bỏ vốn ra vànhững nhà quản lý sử dụng vốn là những chủ thể nên chính các chủ thể này hoàntoàn chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư của chính họ, và kết quả đầu tư có thểlãi, có thể lỗ, có nghĩa là khi đầu tư trực tiếp, người bỏ vốn đồng thời là nhàquản lý, sử dụng vốn chấp nhận nguyên tắc lời ăn lỗ chịu

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư nước ngoài được thựchiện khi quyền sử dụng gắn liền với quyền sở hữu đối với tài sản đầu tư Đầu tưnước ngoài trực tiếp cũng có thể hiểu như là quá trình điều hành một công ty bởimột công ty hoặc một tổ chức ở nước khác

Trên cơ sở phân chia quyền sở hữu, đầu tư trực tiếp nước ngoài được chiathành liên doanh (Joint venture) và sở hữu toàn bộ (Whole foreign ownership –100% foreign capital) Khi có từ hai tổ chức, trong đó có ít nhất một bên là ViệtNam phân chia quyền sở hữu tài sản đầu tư, hoạt động đầu tư đó gọi là liêndoanh Khi chỉ có công ty nước ngoài nắm quyền sở hữu tài sản đầu tư thì hoạtđộng đầu tư đó gọi là sở hữu tòa bộ của nước ngoài hay là công ty 100% vốnnước ngoài

Động lực thúc đẩy các nhà kinh doanh và Chính phủ thực hiện đầu tưnước ngoài trực tiếp là nhu cầu mở rộng thị trường và tìm kiếm các nguồnnguyên liệu và lao động nước ngoài của các nước xuất khẩu tư bản

Tuy việc mở rộng thị trường và tìm kiếm nguồn nguyên liệu và lao độngnước ngoài có thể được thực hiện bởi nhiều hình thức kinh doanh quốc tế.Nhưng tại sao nhiều nhà kinh doanh lại chọn hình thức đầu tư nước ngoài trựctiếp, vì đầu tư nước ngoài trực tiếp có những thế mạnh rất riêng, rất thu hút

Đầu tư nước ngoài trực tiếp mặc dù vẫn chịu sự chi phối của Chính phủnhưng có phần ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên hơn so với hìnhthức tín dụng quốc tế

Bên nước ngoài trực tiếp tham gia quá trình kinh doanh của xí nghiệp nên họ cóthể trực tiếp kiểm soát hoạt động và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho

Trang 10

việc đầu tư Do đó có thể thấy mức độ khả thi của dự án khá cao, đặc biệt trongviệc tiếp cận thị trường thế giới để mở rộng xuất khẩu.

Do quyền lợi của chủ đầu tư nước ngoài gắn chặt với dự án nên có thể lựa chọn

kỹ thuật, công nghệ thích hợp, nâng cao dần trình độ quản lý, tay nghề cho côngnhân ở nước tiếp nhận đầu tư

Bên cạnh đó, đầu tư nước ngoài trực tiếp có những hạn chế đó là mọi hoạtđộng đầu tư diễn ra theo cơ chế thị trường mà nhà đầu tư nước ngoài có nhiềukinh nghiệm trong việc ký hợp đồng dẫn đến nhiều thua thiệt cho nước nhận đầu

tư, nước chủ nhà không chủ động được việc bố trí cơ cấu đầu tư theo ngànhcũng như theo vùng lãnh thổ

Trên thực tiễn diễn ra ngày nay, có nhiều hình thức đầu tư trực tiếp nướcngoài, trong đó các chủ đầu tư trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, sử dụngvốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi đủ vốn đã bỏ ra và đượcthực hiện dưới các dạng: hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, doanh nghiệpliên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Đầu tư gián tiếp (Portfolio Investment):

Đây là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư không trực tiếp tham giaquản lý vốn bỏ ra Thực chất của đầu tư gián tiếp là người bỏ vốn nước ngoàikhông trực tiếp quản lý và sử dụng vốn Ở đây quyền sở hữu và quyền sử dụngvốn tách rời nhau, chủ nước ngoài chỉ được góp số vốn tối đa nào đó dưới hìnhthức mua cổ phiếu sao cho họ không thể điều hành được dự án mà họ bỏ vốn

Đặc điểm của hình thức này là người bỏ vốn (các tổ chức hoặc cá nhân) luôn cólợi nhuận do thu lãi suất cho vay trong mọi tình huống về kết quả đầu tư (cảtrong trường hợp lãi và lỗ), và đều không có trách nhiệm pháp lý Chỉ có nhàquản trị và sử dụng vốn là người chịu trách nhiệm pháp lý về kết quả đầu tư

Hình thức đầu tư này có ưu điểm là khi có sự cố trong kinh doanh xảy ra vớidoanh nghiệp có vốn nước ngoài thì các chủ đầu tư ít bị thiệt hại vì vố đầu tưđược phân tán trong những người mua cổ phiếu, trái phiếu Trong khi đó, bêntiếp nhận vốn đầu tư hoàn toàn chủ động sử dụng vốn kinh doanh theo ý đồ củamình

Trang 11

Cũng như hình thức đầu tư trực tiếp, hình thức này cũng có hạn chế về khả năngthu hút vốn kỹ thuật, công nghệ của chủ đầu tư nước ngoài vì họ bị khống chếmức độ đóng góp vốn tối đa Mặt khác, do bên nước ngoài không trực tiếp thamgia điều hành dự án nên hiệu quả sử dụng vốn thường thấp.

Đầu tư gián tiếp nước ngoài hiện nay cũng rất đa dạng về hình thức: mua cổphiếu của doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp cổ phần có vốn đầu tư nướcngoài

Tín dụng thương mại nước ngoài:

Là khoản tiền được các Tổ chức Quốc tế hoặc Chính phủ của các nước trợgiúp (thường là các nước chậm và đang phát triển) nhằm thúc đẩy phát triểnkinh tế, văn hóa, giáo dục và bảo vệ môi trường Các khoản hỗ trợ triển chínhthức, viện trợ chính thức và các khoản viện trợ khác Trong đó có hỗ trợ pháttriển chính thức (ODA) là dòng tài chính được cung cấp bởi Chính phủ (trungương hoặc địa phương) của quốc gia này tới Chính phủ quốc gia khác nhằm mụcđích hỗ trợ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phúc lợi của các nước ODAthường mag tính ưu đãi cao và có cả yếu tố không hoàn lại Ngoài ra còn có việntrợ chính thức OA, các dòng vốn chính thức khác OOFS, tín dụng quốc tế

1.2.6 Đặc điểm cơ bản của đầu tư nước ngoài hiện nay.

Hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp được nhận định có sự thay đổi theo

xu hướng như sau:

Thứ nhất, các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu chảy vào các nước

công nghiệp phát triển, hay còn gọi là các nước công nghiệp phát triển đầu tưlẫn nhau là chủ yếu Từ đặc điểm này dẫn đến làn sóng hợp nhất, thôn tính cáccông ty diễn ra chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển

Thứ hai, có sự thay đổi lớn trong tương quan lực lượng các chủ đầu tư quốc tế.

Nếu trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan là những nướcđứng đầu xuất khẩu vốn trên thế giới thì đến giữa thế kỷ, Mỹ đã chiếm vị trí số 1trên thế giới về đầu ra nước ngoài, và xếp sau Mỹ là Anh, Pháp, đặc biệt lànhững năm 70 trở lại đây Nhật Bản đã trở thành một cường quốc về đầu tư

Trang 12

Thứ ba, ngày càng có sự thay đổi sâu sắc trong lĩnh vực đầu tư Khi đầu tư vào

các nước phát triển các chủ đầu tư thường chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực dịch

vụ, mà chủ yếu tập trung vào thương mại và tài chính và những ngành kỹ thuậtmới như công nghệ thông tin, thiết bị viễn thông sản xuất ô tô, công nghệ sinhhọc… Hoạt động đầu tư quốc tế chủ yếu thông qua việc sát nhập, mua lại đểthành lập các siêu công ty độc quyền chi phối hoạt động kinh doanh toàn cầu

Thứ tư, các nhà đầu tư giảm lòng tin vào thị trường chứng khoán Trong 3 năm

lien tiếp hàng loạt sự bê bối về tài chính diễn ra ở các công ty Mỹ như Enron,Global Crosing, Worldcom… khiến trên cả 3 thị trường chứng khoán lớn nhấtthế giới đó là Mỹ, EU, Nhật đều giảm mạnh Theo tin của báo Economist ngày16/11/2002 trong năm 2001 giá cổ phiếu bình quân giảm 2% ở thị trường Mỹ,27% ở thị trường EU và 16% ở thị trường Nhật Sự giảm sút của thị trườngchứng khoán này, đã tác động tiêu cực tới nỗ lực của các nhà đầu tư

Thứ năm, ngày càng xuất hiện và phát triển nhiều các hình thức mới trong hoạt

động đầu tư nước ngoài, đó là: hợp đồng licencing, hợp đồng quản lý công trìnhđầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn, hợp đồng phân chia sản phẩm

Trang 13

CHƯƠNG 2:

NHỮNG THÀNH TÍCH VÀ TỒN TẠI TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ ĐỐI VỚI LĨNH VỰC VẬN TẢI, KHO BÃI NÓI RIÊNG TRONG THỜI GIAN QUA.

2.1 Tính tất yếu khách quan của đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thế giới đang tiến dần đến mộtchỉnh thể thống nhất Nó tạo điều kiện cho các nước tham gia vào sân chơichung rộng lớn trên môi trường kinh tế, chính trị - xã hội thuận lợi cho sự pháttriển của mình Quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ kéo theo sự gia tăng củacác hoạt động đầu tư nước ngoài Các quốc gia ngày càng ưu tiên cho sự pháttriển kinh tế với sự gia tăng các hình thức hợp tác kinh tế quốc tế như trao đổithương mại, chuyển giao khoa học – công nghệ và đặc biệt là hợp tác đầu tư.Các nước công nghiệp phát triển đang ra sức tiềm kiếm thị trường đầu tư thuậnlợi để đem lại lợi nhuận cao Trong khi đó, các nước đang phát triển trong đó cóViệt Nam là một thị trường đáng chú ý đối với các nhà đầu tư vì đầu tư vào cácnước đang phát triển, các nhà đầu tư có thể giảm được chi phí do sử dụng laođộng và nguồn tài nguyên rẻ, ngoài ra các nhà đầu tư có thể giải quyết định tìnhtrạng thừa vốn và kéo dài tuổi thọ của các sản phẩm của doanh nghiệp ở thịtrường này Trong khu vực Đông Á – Tây Thái Bình Dương, Việt Nam có vị tríđịa lý chính trị quan trọng với nhiều ưu thế hấp dẫn các nhà đầu tư Như vậy, sựphát triển mạnh mẽ của hoạt động đầu tư nước ngoài, nhu cầu đầu tư của cácnước công nghiệp phát triển và sự hấp dẫn của thị trường Việt Nam đã thúc đẩyđầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Mặt khác, từ năm 1986 Việt Nam đã nhận thức được một trong các giải pháp đểthoát khỏi khủng hoảng, thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa – hiệnđại hóa đất nước, từng bước tham gia quá trình toàn cầu hóa đó là phát triểnkinh tế đối ngoại Trong đó thu hút đầu tư là vấn đề quan trọng vì nó đáp ứngđược những đòi hỏi của tình hình thực tiễn Việt Nam

Trang 14

Từ những lý luận trên, yêu cầu phát triển nội tại và thực tiễn khách quantrong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đã và đang đòi hỏiViệt Nam cần tới nguồn đầu tư nước ngoài để hội nhập cùng dòng chảy kinh tế -

xã hội trên thế giới Do đó đầu tư nước ngoài là xu thế tất yếu, là con đườnghiệu quả nhất mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải làm khi có đủ điều kiện, buộcphải thực hiện bởi các sức ép bên trong, bên ngoài nước, và nước ta cũng khôngphải ngoại lệ

2.2 Những thành tích và tồn tại trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong những năm gần đây

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, phát triển nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hoạt động đầu tưnước ngoài có vai trò hết sức quan trọng Trong những năm qua hoạt động kinh

tế này đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Thuhút đầu tư nước ngoài như một tất yếu quan trọng đánh dấu quá trình mở cửatrong đường lối đổi mới được khởi xướng từ năm 1986 với nội dung cốt lõi làchuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ nền kinh tế kín sang nềnkinh tế mở, chủ động hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạtđược những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội

Theo Báo cáo Tổng kết 25 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI của Bộ

Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 2/2013, sau 25 năm Việt Nam đã thu hútđược 14.550 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốnđăng ký đạt gần 211 tỷ USD, vốn thực hiện đạt gần 100 tỷ USD

Trang 15

(Bảng 1: Cột giá trị bên trái: vốn đăng ký; cột giá trị bên phải: vốn thực hiện)

năm 2011

12 tháng

4.2 Xuất khẩu (không kể dầu

năm 2012

12 tháng

Trang 16

4 Xuất khẩu

4.2 Xuất khẩu (không kể dầu

(Bảng 2: Số liệu tính từ 16/12/2011 đến 15/12/2013, Cục Đầu tư nước ngoài

-Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

2013

Qúy I năm

4.2 Xuất khẩu (không kể dầu

(Bảng 3: Số liệu Quý I/2014 tính từ 01/01/2014 đến 20/03/2014, Cục Đầu tưnước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Trong Quý I năm 2014, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đãgiải ngân được 2,850 tỷ USD, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2013 Tính đếnngày 20 tháng 3 năm 2014 cả nước có 252 dự án mới được cấp GCNĐT vớitổng vốn đăng ký là 2,046 tỷ USD, bằng 61,4% so với cùng kỳ năm 2013, và có

82 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 1,287

tỷ USD, bằng 39,3% so với cùng kỳ năm 2013 Tổng vốn đăng ký cấp mới vàtăng thêm là 3,334 tỷ USD, bằng 50,4% so với cùng kỳ năm 2013

Trang 17

Qua những số liệu thống kê trên có thể phần nào thấy được khu vực kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh

tế Việt Nam, là khu vực có tốc độ phát triển vô cùng năng động

2.2.1 Về mặt kinh tế

Trước hết, đầu tư nước ngoài đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tưphát triển, góp phần khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trongnước, tạo ra thế và lực phát triển mới cho nền kinh tế:

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì thực hiện đườnglối đổi mới, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hộinhập kinh tế quốc tế, tạo hình ảnh tích cực đối với các nhà đầu tư Mặt kháckhông ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách luật pháp về đầu tư nước ngoài tạokhuôn khổ pháp lý đầy đủ, rõ ràng và thông thoáng hơn cho hoạt động đầu tưnước ngoài Công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của các bộ, ngành vàchính quyền địa phương đã tích cực, chủ động hơn giúp đẩy nhanh lộ trình ápdụng cơ chế một giá, hỗ trợ nhà đầu tư giảm chi phí sản xuất, tiếp tục thực hiệnviệc cải cách hành chính, quan tâm hơn tới việc tháo gỡ khó khăn cho việc triểnkhai dự án Từ đó, đã phần nào phản ánh kết quả đáng khích lệ trong hoạt độngđầu tư nước ngoài tại nước ta

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tốc độ tăng GDP của doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài so với cùng kỳ năm trước tăng dần như sau:

Trang 18

Tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế còn thể hiện thông qua bổsung vốn cho tổng đầu tư xã hội Giai đoạn 2001-2012 khu vực FDI đã bổ sung69,47 tỷ USD chiếm 22,75% tổng vốn đầu tư của cả nước Riêng năm 2013 có

472 lượt dự án được cấp phép từ các năm 2012 đã điều chỉnh đăng ký bổ sungthêm vốn với tổng mức tăng thêm đạt 7,3 tỉ đô la Mỹ, tăng 30,8% so với năm

2012 (Số liệu tổng cục thống kê)

Thứ hai, đầu tư nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơcấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp ngày càng phù hợp vớiquy luật và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam theo hướng côngnghiệp hóa – hiện đại hóa, tạo ra sự cân đối mới trên phạm vi nền kinh tế quốcdân và giữa các ngành, vùng, nhằm phát huy nội lực của nền kinh tế trong khivẫn coi trọng yếu tố ngoại lực

Trong 25 năm qua, đầu tư nước ngoài đóng một vai trò quan trọng cho sựtăng trưởng của nền kinh tế nói chung và cho ngành công nghiệp nói riêng.Trong đó từng bước trở hành nguồn đầu tư quan trọng của Quốc gia, góp phầnphát triển các ngành côntg nghiệp và tạo công ăn việc làm cho người lao động.Khu vực FDI đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Côngnghiệp hóa – Hiện đại hóa Chuyển dịch cơ cấu của khu vực công nghiệp đượcgắn liền với sự phát triển các ngành theo hướng đa dạng hóa, từng bước hìnhthành một số ngành trọng điểm và mũi nhọn như điện, dầu khí, hóa chất, viễnthong, công nghiệp nặng, công nghiệp phục vụ xuất khẩu… có tốc độ độ pháttriển cao, thuận lợi về thị trường, có khả năng xuất khẩu Tỷ trọng của khu vựccông nghiệp trong GDP tăng dần trong các năm qua đã thực sự trở thành độnglực cho phát triển kinh tế quốc dân Năm 2010, khu vực công nghiệp và xâydựng chiếm 41,09% tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế năm 2010 Theogiá so sánh của năm 2010, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước theongành công nghiệp và xây dựng ngày càng được tăng theo như sau: năm 2012tăng 5,75% và năm 2013 tăng 5,43%

Như vậy đến nay, khu vực FDI này đã tạo ra hơn 45% giá trị sản xuấtcông nghiệp, góp phần hình thành một số ngành chủ lực của nền kinh tế như

Trang 19

viễn thông, khai thác, chế biến dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin, thép, ximăng…

Ngoài những đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, khu vực FDI còn gópphần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua việc áp dụng khoa học kỹ thuậtvào sản xuất nông nghiệp, nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn

Khu vực FDI cũng được đánh giá là kênh chuyển giao công nghệ quantrọng, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế Theo thống kê, từnăm 1993 đến nay, Việt Nam có 951 hợp đồng chuyển giao công nghệ được phêduyệt/đăng ký, trong đó 605 hợp đồng là của khu vực doanh nghiệp FDI, chiếm63,6% tổng số hợp đồng chuyển giao công nghệ được phê duyệt/đăng ký Đó lànhững tiền đề quan trọng làm cho tác động lan tỏa của khu vực FDI đối với nềnkinh tế tăng lên theo chiều hướng tích cực, được thực hiện thông qua mối lienkết sản xuất giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, qua đó tạođiều kiện thuận lợi để doanh nghiệp trong nước tiếp cận với chuyển giao côngnghệ

Tác động lan tỏa của đầu tư nước ngoài đến các thành phần kinh tế khác trongnền kinh tế: Qua các số liệu thống kê trên Bảng 1 và Bảng 2 có thể thấy hiệu quảhoạt động của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được nâng cao một cách rõ rệttrong những năm qua qua số lượng các doanh nghiệp tăng vốn đầu tư và mởrộng quy mô sản xuất Đầu tư nước ngoài có tác động lan tỏa đến các thành phầnkhác của nền kinh tế, mà cụ thể là những tác động tích cực thông qua sự lien kếtgiữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước

Sự tác động này có thể theo chiều dọc trong ngành dọc hoặc theo chiều nganggiữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành Trong một góc nhìn khác, cácdoanh nghiệp đầu tư nước ngoài cũng tạo dộng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp trong nước nhằm thích ứng với bối cảnh toàn cầu hóa

Đầu tư nước ngoài đóng góp không nhỏ vào việc cải thiện cán cân thanhtoán quốc tế, tăng cường xuất khẩu và tăng thu cho ngân sách Nhà nước

Trang 20

FDI cũng đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách (14,2 tỷ USD trong giaiđoạn 2001 – 2010 và riêng năm 2012 đóng góp khoảng 3,7 tỷ USD)

FDI cũng góp phần quan trọng vào xuất khẩu Việc tăng cường thu hútđầu tư nước ngoài hướng về xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho việc tiếp cận và mởrộng thị trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu của Việt Nam:

Kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN tăng nhanh: trong thời kỳ 1996-2000đạt trên 10,6 tỷ USD (không tính xuất khẩu dầu thô), tăng hơn 8 lần so với 5năm trước đó; trong 3 năm 2001-2003, xuất khẩu của khu vực ĐTNN đạt 14,6 tỷUSD, riêng năm 2003 đạt 6,34 tỷ USD, chiếm 31,4% tổng giá trị xuất khẩu của

cả nước Xuất khẩu của khu vực ĐTNN chiếm tới 84% giá trị xuất khẩu mặthàng điện tử, 42% đối với mặt hàng giày dép và 25% hàng may mặc Tỷ trọngxuất khẩu so với doanh thu của doanh nghiệp ĐTNN cũng đã tăng nhanh: bìnhquân thời kỳ 1991-1995 đạt 30%; thời kỳ 1996-2000 đạt 48,7%; trong ba năm2001-2003 đạt khoảng 50% Xuất khẩu của khu vực ĐTNN (kể cả dầu khí)trong năm 2010 dự kiến đạt 38,8 tỷ USD, tăng 27,8% so với cùng kỳ và chiếm53,1% tổng xuất khẩu cả nước Nếu không tính dầu thô, khu vực ĐTNN dự kiếnxuất khẩu 33,9 tỷ USD, chiếm 46% tổng xuất khẩu và tăng 40,1% so với cùng

kỳ 2009, Xuất khẩu của khu vực ĐTNN (kể cả dầu khí) trong 12 tháng đầu năm

2011 đạt 54,46 tỷ USD, tăng 39% so với cùng kỳ năm 2010 và chiếm 56,57%kim ngạch xuất khẩu Xuất khẩu của khu vực ĐTNN (kể cả dầu khí) trong 12tháng đầu năm 2012 dự kiến đạt 73,4 tỷ USD, tăng 33,2% so với cùng kỳ năm

2011 và chiếm 64% tổng kim ngạch xuất khẩu, Xuất khẩu của khu vực ĐTNN

(kể cả dầu thô) trong 12 tháng đầu năm 2013 dự kiến đạt 88,423 tỷ USD, tăng22,4% so với cùng kỳ năm 2012 và chiếm 66,9% tổng kim ngạch xuất khẩu Xuấtkhẩu không kể dầu thô đạt 81,187 tỷ USD, tăng 26,8% so với cùng kỳ 2012 vàchiếm 61,42% tổng kim ngạch xuất khẩu Từ đó, tổng nộp ngân sách nhà nước từkhu vực này ngày càng tăng đáng kể.Ngoài ra, khu vực đầu tư nước ngoài đã gópphần mở rộng thị trường trong nước; thúc đẩy các hoạt động dịch vụ phát triểnnhanh, đặc biệt là khách sạn, du lịch, các dịch vụ thu ngoại tệ, dịch vụ tư vấn

Trang 21

pháp lý, công nghệ; tạo cầu nối cho các doanh nghiệp trong nước tham gia xuấtkhẩu tại chỗ hoặc tiếp cận với các thị trường quốc tế

Ngoài các thành tích đã nêu trên, đầu tư nước ngoài còn tác động tích cực đếncác cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãnglai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mởrộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máymóc, nguyên vật liệu…

tư nước ngoài này, Việt Nam đã từng bước hình thành đội ngũ cán bộ, quản lý,công nhân kỹ thuật có trình độ cao, có tay nghề, tiếp cận được với khoa học, kỹthuật, công nghệ cao, có tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động tốt, học tậpđược phương thức quản lý tiên tiến

Mặt khác, hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam cũng đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mớicông nghệ, phương thức quản lý, chú trọng đến việc đào tạo cán bộ kỹ thuật, cán

bộ quản lý và công nhân lành nghề, thúc đẩy nền kinh tế vận hành theo cơ chếthị trường, thúc đẩy việc phát triển các hoạt động văn hóa, y tế, thể dục thể thaocũng như tác động tích cực đến tâm lý, tập quán của người dân Việt Nam Trongthời gian gần đây, một kết quả đáng mừng là một số chuyên gia Việt Nam làmviệc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã dần thay thế các chuyêngia nước ngoài trong việc đảm nhiệm các vị trí quản lý doanh nghiệp quan trọnghay trong việc điểu khiển các quy trình công nghệ tiên tiến

2.2.3 Về mặt môi trường.

Theo kết quả điều tra của Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, hầu hết các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam

Ngày đăng: 20/04/2016, 21:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trang web của Cục đầu tư nước ngoài: http://fia.mpi.gov.vn/ Link
3. Trang web của Tổng cục thống kê – Bộ Kế hoạch và đầu tư:http://www.gso.gov.vn/ Link
5. Trang web báo đầu tư : http://baodautu.vn/ Link
1. . Giáo trình Kinh tế quốc tế, TS. Dương Văn Bạo, Nhà xuất bản Hàng Hải, 2014 Khác
4. Giáo trình Kinh tế quốc tế, GS.TS Đỗ Đức Bình, TS. Ngô Thị Tuyết Mai, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Viện Thương mại và kinh tế quốc tế, 2012 Khác
6. Luật đầu tư nước ngoài và văn bản hướng dẫn thi hành, Nhà xuất bản Tài chính, 2003 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.2.5. Hình thức của hoạt động đầu tư nước ngoài - Đánh giá những thành tích và tồn tại trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại việt nam nói chung và đối với ngành vận tải, kho bãi nói riêng trong thời gian qua
1.2.5. Hình thức của hoạt động đầu tư nước ngoài (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w