Đối với đất nớc ta, trong điều kiện nh hiện nay, khi côngcuộc đổi mới quản lý kinh doanh đang đợc tiến hành từng bớc nhằm nâng caohiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế
Trang 1Lời nói đầu
Thế kỷ XXI đã đến - Một thế kỷ mới mở ra với sự phát triển nh vũ bãocủa công nghệ thông tin Thế giới cũng đang chứng kiến một chuyển biến cótính chất lịch sử thoát khỏi các quan điểm về tổ chức kinh tế công thức Tạicác quốc gia đang phát triển, thời đại dựa vào khu vực kinh tế quốc doanh để
đa nền kinh tế đến thịnh vợng hầu nh đã kết thúc, hoạt động của các doanhnghiệp nhà nớc đã thể hiện nh một gánh nặng tài chính hơn là các nhân tố tạophồn vinh
Cổ phần hoá hiện đang đợc xem nh là một xu thế nổi lên trong thập kỷvừa qua, khác hẳn so với việc mở rống ở hữu nhà nớc vào những năm 1960-1970
ở Việt Nam, vấn đề cổ phần hoá hiện nay cũng đợc xem là một trongnhững vấn đề còn gây nhiều tranh cãi, không chỉ ở việc thực hiện nó trongthực tế mà ngay cả trong lý luận vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải đề cập
đến
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không thể đề cập đến mọi khíacạnh của cổ phần hoá mà chỉ mong muốn đợc đa ra một số ý kiến của mìnhxunh quanh việc thực thi các chính sách pháp luật về cổ phần hoá doanhnghiệp nhà nớc ở Việt Nam Bài viết này chắc chắn sẽ còn rất nhiều thiếu sót,rất mong đợc sự góp ý, sửa đổi, bổ sung của các thầy cô để bài viết đợc hoànchỉnh hơn
Trang 2Mục lục
Trang
I/ Cơ sở khoa học và kinh nghiệm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
I.1/ Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là sự lựa chọn tất yếu
I.2/ Kinh nghiệm cổ phần hoá ở một số nớc trên thế giới
II/ Doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam và thực trạng cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam
II.1/ Thực trạng doanh nghiệp nhà nớc trong bớc chuyển sang kinh tế
thị trờng
II.2/ Thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam
II.3/ Nguyên nhân dẫn đến cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở nớc
ta chậm
III/ Thuận lợi, khó khăn khi tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nớc ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay
III.1/ Thuận lợi
Trang 3I Đặt vấn đề.
Kinh nghiệm của nhiều nớc về vấn đề này cho thấy rằng cổ phần hoá làmột bộ phận của quá trình cải cách toàn bộ nền kinh tế và vì vậy, nó đòi hỏiphải đợc suy xét và hành động mang tính chiến lợc cao Điều đó thể hiện ởviệc phả i lựa chọn, phải cân nhắc trên cơ sở định hớng các mục tiêulâu dài vềxác lập cơ cấu kinh tế, phải lựa chọn mục tiêu nào cho phù hợp với điều kiệnkinh tế của mỗi nớc Đối với đất nớc ta, trong điều kiện nh hiện nay, khi côngcuộc đổi mới quản lý kinh doanh đang đợc tiến hành từng bớc nhằm nâng caohiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng mở cửakhông thể không gắn liền với quá trình cải tổ khu vực kinh tế nhà nớc, trong
đó có vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc, chính phủ không thể khônglập ra hoặc uỷ quyền cho một cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo vàquyết định toàn bộ các vấn đề liên quan đến vấn đề này trên cơ sở những quan
điểm đổi mới và định hớng phát triển đất nớc của Đảng và Nhà nớc
* Tính quá trình của việc thực hiện cổ phần hoá.
Việc nghiên cứu cổ phần hoá ở các nớc trên thế giới cho thấy: cổ phầnhoá diễn ra nh một quá trình gồm nhiều giai đoạn Trên thực tế thì không cómột sự phân định rõ ràng nào giữa các giai đoạn, tuy nhiên quan niệm cổ phầnhoá đợc xem nh là một quá trình với nhiều giai đoạn có ý nghĩa chỉ đạo về mặtthực tế
- Nó truyền đạt một cách rõ ràng và dễ hiểu những biện pháp và nhiệm
vụ cơ bản, phức tạp đến những ngời còn cha quen với cổ phần hoá
- Nó cho phép các nhà phân tích hoạt động, hoạch định và phối hợpchính sách lỡng định đợc những gì sẽ xảy ra trong giai đoạn kế tiếp
- Nó cho thấy cần phải gạt bỏ những t tởng nóng vội “Muốn làm tất cảtrong một lúc” của những ngời cực đoan cấp tiến và khuyến khích tính thậntrọng với các giải pháp trình tự phù hợp đối với một công việc còn cha quenvới các quan chức chính phủ
Quá trình vừa làm vừa điều chỉnh và hoàn thiện trong công việc này
tỏ ra thích hợp với cả chính phủ đang cần thời gian để nắm bắt và kiểm soátcũng nh công chúng đang cần có thời gian để tin vào sự ổn định lâu dài về
Trang 4chính sách của chính phủ Với các nớc đang phát triển nơi mà cơ sở hạ tầng vàkiến trúc thợng tầng còn thấp kém, thị trờng chứng khoán còn làmột vấn đềhoàn toàn mới mẻ thì tính chất lâu dài, quá trình, nhiều giai đoạn và phải thựchiện trong nhiều năm là điều không thể tránh khỏi Tính quá trình còn đợcnhấn mạnh hơn nữa khi chú ý đến tiến trình cổ phần hoá với các điều kiện tiếnhành cổ phần hoá Mặt khác, vì quá trình chuyển đổi từ sở hữu nhà nớc sangcác lĩnh vực khác nhau nhằm cơ cấu lại nền kinh tế giữa khu vực kinh tế nhànớc và khu vực kinh tế t nhân trong nền kinh tế hạn hẹp ở Việt Nam hiện nay,cần phải xác định đợc rằng: cổ phần hoá là một quá trình lâu dài vừa làm vừarút kinh nghiệm và có những bớc đi cụ thể Dod dó, việc quán triệt tính quátrình của cổ phần hoá là hết sức quan trọng và cần thiết để chống những ttởng nóng vội, chủ quan duy ý chí muốn tiến hành cổ phần hoá trong ngàymột ngày hai.
* Môi trờng pháp lý của việc thực hiện cổ phần hoá.
Với những tính chất của cổ phần hoá nh đã nói ở trên tất cả các nớc đềuphải tạo ra một khuôn khổ pháp lý cần thiết cho việc tiến hành cổ phần hoá
Đó là các bộ luật quan trọng liên quan đến việc cổ phần hoá nh: Luật công ty,luật thơng mại, luật phá sản, luật đầu t Khi các doanh nghiệp nhà nớc đã đợc
cổ phần hoá thì các doanh nghiệp nhà nớc sẽ hoạt động theo những quy trìnhtrong luật công ty
ở nớc ta, hệ thống pháp luật vẫn còn khá rờm rà, phức tạp, thủ tục pháp
lý cha tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình cổ phần hoá đợc diễn ra một cáchnhanh chóng, có hiệu quả Nhiều chính sách đang trong quá trình thay đổi khó
có thể đoán trớc về lãi suất, tỷ giá hối đoái, thuế quan càng làm tăng thêm
độ rủi ro và tính không chắc chắn đối với nhà đầu t khi tham gia vào cácdoanh nghiệp đợc cổ phần hoá Chính vì thế, cần thiết phải có sự bổ sung, sựsửa đổi và ban hành các bộ luật quan trọng để từng bớc tạo điều kiện trongquá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam thực hiện có kếtquả
* Phí tổn của quá trình thực hiện cổ phần hoá.
Để thực hiện chơng trình cổ phần hoá thành công, thực tiễn các nớc chothấy là nhà nớc cần phải chịu một khoản phí tổn nhất định Điều đó giải thích
Trang 5sự khác nhau giữa nhà nớc và t nhân Đối với t nhân, sau khi đã bán cổ phầncủa mình đã thu lợi và không còn trách nhiệm gì đối với doanh nghiệp thì ng-
ợc lại, nhà nớc vẫn phải quan tâm đến doanh nghiệp sau khiđã cổ phần hoá,cũng nh những vấn đề chính trị nảy sinh nh là hậu quả của quá trình này.Những khoản chi phí này là cần thiết và có tác dụng đảm bảo sự ổn định kinh
tế, chính trị, xã hội cho việc thực hiện vào chơng trình có tầm quan trọng lâudài trong quá trình cải cách kinh tế ở các nớc
Đối với đất nớc ta cũng cần phải xác định những khoản phí tổn khôngthể cắt giảm đợc, nhất là những vấn đề việc làm mới và đào tạo lại, bảo hiểmxã hội đối với ngời lao động trong các doanh nghiệp đợc cổ phần hoá, các vấn
đề về t vấn, kiểm toán, quảng cáo, môi giới đầu t trong và ngoài nớc đối vớivấn đề cổ phần hoá Điều này là hoàn toàn cần thiết để bảo đảm thực hiện ch-
ơng trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc đạt đợc kết quả ở nớc ta
II Doanh nghiệp nhà n ớc ở Việt Nam và thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n ớc ở Việt Nam.
II.1/ Thực trạng doanh nghiệp nhà nớc trong bớc chuyển sang kinh
tế thị trờng.
II.1.a/ Thực trạng doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam trong bớc chuyển sang kinh tế thị trờng.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nớc, và là nớc
có khoảng trên 14.000 xí nghiệp, công ty (sau cải tạo XHCN) thuộc sở hữunhà nớc Trong đó có khoảng 5% xí nghiệp có quy mô trên 1000 công nhân,40% xí nghiệp có quy mô từ 100 đến dới 1000 công nhân, còn lại là xí nghiệp
có quy mô dới 100 công nhân Về máy móc, thiết bị, công nghệ đều cũ kỹ, lạchậu đã sử dụng đợc vài ba thế hệ, kể cả các xí nghiệp do Liên Xô và các nớcXHCN khác viện trợ
Qua nhiều lần tổ chức sắp xếp lại sản xuất theo các nghị định của chínhphủ, đến nay còn khoảng trên 6000 xí nghiệp - công ty với số vốn hơn 72.000
tỷ đồng, chiếm 56% tổng số vốn nhng các xí nghiệp đó chỉ làm ra 43% GDP,
đóng góp khoảng trên 60% nguồn vốn ngân sách nhà nớc Có trên 1,7 triệu lao
động chiếm khoảng trên 35% tổng số lao động trong các thành phần kinh tế
Trang 6Số doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả chiếm khoảng từ 35 - 40% sốdoanh nghiệp làm ăn không ổn định, doanh thu và lợi nhuận thấp hoặc chỉ duytrì sản xuất để nuôi đội ngũ CBCNV chiếm khoảng từ 30 - 37% số doanhnghiệp còn lại làm ăn bấp bênh, thua lỗ có nhiều nguy cơ phá sản.
Bên cạnh đó, thu nhập của ngời lao động làm việc trong các doanhnghiệp nhà nớc nhìn chung còn thấp, đời sống cha đảm bảo, các vấn đề về bảo
hộ lao động đối với ngời lao động vẫn còn là một vấn đề cần đợc giải quyết.Trong khi đó, công nhân phải làm việc trong những điều kiện khá căng thẳng,thờng là trên dới 10 giờ/1 ngày nhng thu nhập bình quân chỉ đạt trên dới500.000đ/1 tháng
II.1.b/ Hạn chế trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nớc ở Việt nam.
Nhìn chung hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc cha cao,cha ngang tầm với tiềm năng hiện có vốn và lao động Do cơ chế, chính sáchhiện hành còn nhiều chỗ, nhiều bộ phận cha phù hợp, đã kìm hãm sức sảnxuất, hiệu quả kinh doanh và tốc độ tăng trởng của từng doanh nghiệp nhà n-ớc
Trong cơ cấu thành phần kinh tế, doanh nghiệp nhà nớc vẫn chiếm đại
bộ phận trong các ngành quan trọng nh công nghiệp, tài chính tín dụng, dịch
vụ, nắm hầu hết vai trò đối tác Việt Nam trong cơ sở hợp tác với nớc ngoài.Nhng một bộ phận doanh nghiệp nhà nớc hiện nay không đủ điều kiện tốithiểu để hoạt động nh thiếu vốn một cách trầm trọng, trang thiết bị thì quá thôsơ, chậm đổi mới về công nghệ, yếu về năng lực quản lý Nhìn chung, khảnăng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nớc kể cả các tổng công ty nhà nớccòn yếu, nên chỉ hoạt động chủ yếu ở trong nớc, cha đủ tiềm lực về kinh tế vàkhả năng quản lý để có thể vơn ra hoạt động có hiệu quả tại nớc ngoài
Chúng ta đã thực hiện các đợt sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nớc
nh-ng yêu cầu sắp xếp theo nh-ngành vẫn cha đạt kết quả, số lợnh-ng doanh nh-nghiệp nhànớc thành những chất lợng hiệu quả kinh tế thấp, khả năng hội nhập còn rấthạn chế
Hệ thống quản lý nặng nề, kém linh hoạt cha đáp ứng đợc yêu cầu củacơ chế thị trờng Các quyết định đầu t, các phơng án sản xuất kinh doanh vàtiêu thụ sản phẩm có quá nhiều quy định thủ tục rờm rà Chế độ tập thể
Trang 7quyết định, trên thực tế không ai chịu trách nhiệm, gây tổn thất thoát lớn đốivới tài sản của nhà nớc.
Hiệu quả kinh tế trong các doanh nghiệp nhà nớc rất thấp nhiều doanhnghiệp nhà nớc không bảo tồn đợc vốn, tốc độ chu chuyển củavốn chậm, sứccạnh tranh yếu Có những doanh nghiệp trớc khi giải thể còn mắc nợ hàngtrăm triệu đồng Hiện tợng các doanh nghiệp “ăn vào vốn” vẫn còn khá phổbiến Nh vậy, sự tồn tại của khu vực kinh tế nhà nớc quá lớn trở thành gánhnặng đối với ngân sách nhà nớc
II.1.c/ Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc.
Từ thực trạng trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc cho chúngta(một bài học kinh nghiệm quý báu:
- Các doanh nghiệp ăn nên làm ra (35 - 40%) trớc hết là những doanhnghiệp có đội ngũ cán bộ chủ chốt các đạo đức tốt, hết lòng vì sự nghiệp cáchmạng XHCN, là những doanh nghiệp chuẩn bị đợc đội ngũ cán bộ giỏi, độingũ công nhân lành nghề những ngời đáp ứng đợc yêu cầu của thị trờng vàkhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Đồng thời đó cũng là các doanhnghiệp từng bớc đợc đầu t thay thế về cơ bản trang thiết bị mới, cho năng suấtchất lợng cao
- Các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ một phần do đội ngũ cán bộ năng lựckém, đầy nhiệt tình với công việc là những doanh nghiệp cha đợc đầu t, sảnphẩm làm ra tiêu thụ chậm hoặc khó tiêu thụ, làm ăn kém hiệu quả
Nhìn chung, hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớcvẫn còn thấp kém,cha ngang tầm với tiềm năng hiện có về vốn và lao động Sở dĩ thực trạng hoạt
động của các doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam còn kém hiệu quả là do:
- Trớc hết chính sách tạo vốn cho doanh nghiệp cha đợc thuận lợi, nhànớc là ngời sở hữu mà không cấp đủ vốn cho doanh nghiệp hoạt động Hiệnnay, quy định cấp cho doanh nghiệp nhà nớc bằng 30% nhu cầu về vốn lu
động Nhng thực tế, các doanh nghiệp chỉ nhận đợc trên dới 20% vào nhữngtháng cuối năm
Trang 8- Về phân phối sau sản xuất, vì cha phân biệt đợc vốn do nhà nớc cấp vàvốn do doanh nghiệp tự trang trải nên không tạo ra động lực đối với tập thểngời lao động và không khuyến khích tốt tiềm năng của doanh nghiệp.
- Về phân phối sau giá thành sản phẩm: Nhà nớc thu quá lớn chiếmkhoảng 70 - 80% Phần để lại cho doanh nghiệp không đủ để trang trải tái
đầu t công nghệ và lao động có trí tuệ Do đó, doanh nghiệp không đủ tiền, đủkhả năng để(đầu t lại) trang bị lại máy móc, thiết bị gây ảnh hởng trầmtrọng tới việc làm ăn kém hiệu quả của doanh nghiệp, trong đó không ít doanhnghiệp có nguy cơ bị phá sản
- Các cơ quan quản lý nhà nớc cũng nh các cơ quan luật pháp can thiệpquá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp Chính sự can thiệp quá sâu của nhànớc vào hoạt động của các doanh nghiệp chẳng những không làm giảm, ngănchặn đợc nạn tham nhũng mà còn là yếu tố dẫn đến tham nhũng, tăng cờngcác vụ việc tham nhũng Các chuyên gia hàng đầu trên thế giới có đa ra kếtluận: “nớc nào, quốc gia nào đạt đợc sự can thiệp của nhà nớc đến các doanhnghiệp ít nhất, thì nớc đó có tốc độ phát triển cao nhất” Không can thiệpkhông có nghĩa là nhà nớc buông lỏng quản lý, mà ở chỗ nhà nớc phải biếtthiết kế hàng rào luật pháp sao cho hợp lý, kín kẽ nhất để cho các doanhnghiệp tự lựa chọn phơng án sản xuất Can thiệp sâu nh nớc ta, vừa hạn chếtính năng động, sáng tạo của doanh nghiệp vừa là tạo nhiều sơ hở dễ bị lợidụng xé rào để tham nhũng
- Một số cán bộ quản lý nhà nớc còn quan niệm không đúng về cạnhtranh, cho rằng phải làm cho doanh nghiệp nhà nớc và doanh nghiệp trong nớctham gia cạnh quyết liệt với hàng ngoại nhập để phát triển vơn lên hoà nhậpvào nền kinh tế thị trờng Họ quên rằng, làm việc gì cũng phải đi từng bớc, b-
ớc trớc tạo điều kiện để bớc sau phát triển Giai đoạn đầu của quá trình chuyểnsang nền kinh tế thị trờng hãy tập sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trongnớc và cũng ra thời gian tạo ra tiền đề để tiến xa một bớc trên thơng trờngquốc tế
II 1.d/ Biện pháp để đổi mới, cơ cấu lại cách thức hoạt động của doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam.
Trang 9Từ thực trạng và hạn chế trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớccho thấy cần phải có những giải pháp để sắp xếp, cơ cấu lại hoạt động củadoanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam.
*Khẩn trơng tiến hành phân loại và tiếp tục sắp xếp lại doanh nghiệp Nhànớc.
Hiện nay, chơng trình này đang đợc soạn thảo với những quan điểm cơbản dựa trên các nghị quyết của Đảng ở Hội nghị trung ơng 2 và Hội nghị đạibiểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng (khoá VII), các nghị quyết của quốchội (khoá IX) Nghị định 388/HĐBT, Nghị quyết 315/HĐBT của Chính phủ
Để đáp ứng yêu cầu sắp xếp lại khu vực kinh tế nhà nớc để đáp ứng đợc vai tròchủ đạo và định hớng sự phát triển nền kinh tế thị trờng ở nớc ta, có thể chialàm 3 nhóm doanh nghiệp nhà nớc với những giải pháp đổi mới khác nhau:
- Nhóm thứ nhất: Gồm những doanh nghiệp nhà nớc quan trọng cần đợcnhà nớc duy trì hoặc tổ chức lại và đầu t để ngày càng nâng cao hiệu quả và
* Củng cố và hoàn thiện các công ty nhà nớc (bao gồm các tổng công
ty đợc thành lập theo quyết định 91/TTg và quyết định 90/TTg).
Trong lúc những mô hình kiểu cũ nh liên hiệp các xí nghiệp, tổng công
ty đã bộc lộ rõ sự bất cập và không thích ứng thì việc tìm ra mô hình tổ chứcmới nhằm phát huy đợc vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc trên cơ sở nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng cờng sức mạnh, sức cạnh tranh của
Trang 10nhà nớc là rất bức xúc Việc thí điểm thành lập một số tổng công ty nhà nớc làmột chủ trơng nhất quán của Đảng và Nhà nớc ta.
* Thực hiện các biện pháp lành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp nhà nớc.
Thực hiện quy định khung pháp lý cho các doanh nghiệp nhà nớc đợchuy động thêm vốn từ nhiều nguồn, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng
và về trả nợ vốn vay
Bên cạnh đó, cần phải chấn chỉnh công tác kế toán doanh nghiệp, sớmban hành chế độ kiểm toán bắt buộc và chế độ công khai tài chính doanhnghiệp Xử lý dứt điểm các khoản nợ dây da trớc đây của doanh nghiệp Cácdoanh nghiệp kinh doanh thua lỗ không đợc nâng tiền lơng, tiền thởng
Đổi mới chế độ phân phối, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp nângcao hiệu quả, u tiên dành lợi nhuận để tái đầu t, lập quỹ dự phòng rủi ro, thựchiện rộng rãi chế độ lơng khoán, xây dựng chế độ thù lao cho hội đồng quảntrị và giám đốc doanh nghiệp, gắn lợi ích và trách nhiệm vật chất với hiệu quảkinh doanh, quy định rõ trách nhiệm của thành viên hội đồng quản trị, giám
đốc và kế toán trởng trong trờng hợp để doanh nghiệp nhà nớc bị phá sản
* Lập kế hoạch hội nhập (kinh tế) quốc tế.
Việc lập kế hoạch hội nhập quốc tế cần phải căn cứ vào tiến trình thamgia của nớc ta vào các tổ chức quốc tế, các cam kết quốc tế, theo lịch trìnhtừng bớc cắt giảm thuế quan và theo hớng dẫn của Bộ thơng mại, Bộ tài chính.Các doanh nghiệp cần nắm bắt những yêu cầu này trong việc lập kế hoạch đổimới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao chất lợng và hạ giá thành sản phẩmtrong sản xuất kinh doanh
* Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Có thể nói, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là giải pháp quan trọng
để xử lý vấn đề sở hữu trong doanh nghiệp Qua cổ phần hoá, sở hữu tại doanhnghiệp sẽ đợc chuyển từ sở hữu Nhà nớc sang sở hữu hỗn hợp Chính vì thế sẽgiảm bớt sự tác động trực tiếp của nhà nớc vào hoạt động của các doanhnghiệp Và chính từ đây cũng dẫn đến những thay đổi quan trọng về tình hình
tổ chức, quản lý cũng nh phơng hớng hoạt động của công ty Doanh nghiệp
Trang 11nhà nớc sau khi cổ phần hoá sẽ chuyển thành công ty cổ phần hoạt động theoluật công ty.
Cổ phần hoá cũng là biện pháp có hiệu quả để sử dụng đồng vốn đợc tốtnhất Việc cổ phần hoá sẽ ngày càng thu hút đợc nhiều vốn nên hoạt động sảnxuất kinh doanh có hiệu quả, nhất là khi đã hình thành thị trờng chứng khoán
Bên cạnh đó, việc tiến hành cổ phần hoá sẽ góp phần tạo động lực mớitrong quản lý doanh nghiệp Khi tiến hành cổ phần hoá, hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp thành công hay thất bại liên quan một cách chặtchẽ đến quyền lợi của ngời lao động Do đó, ngời lao động sẽ có trách nhiệmcao hơn đối với hoạt động của doanh nghiệp, quan tâm đến công việc củacông ty và lao động tích cực với tinh thần trách nhiệm cao
II.2/ Thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam.
II.2.a/ Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc - một yêu cầu bức thiết của cải cách doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam.
Nghị quyết hội nghị Trung ơng 4 (khoá VIII) đã dành một phần quantrọng cho mục tiêu đổi mới mạnh mẽ các doanh nghiệp, phấn đấu đa chúngthực sự trở thành lực lợng chủ đạo dẫn dắt các doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế khác cũng phát hiện, làm nòng cốt để thực hiện thành công tiếntrình CNH, HĐH đất nớc và hội nhập kinh tế thế giới có hiệu quả
Tiếp theo, chính phủ đã có chỉ thị 20/TTg ngày 21 - 4 - 1998 đề ra kếhoạch cụ thể triển khai thực hiện và quyết tâm thông qua đợt sắp xếp này đểhình thành một cơ cấu doanh nghiệp nhà nớc hợp lý, đợc quản lý tốt Cổ phầnhoá là một chủ trơng quan trọng của quá trình đổi mới, sắp xếp lại doanhnghiệp nhà nớc
II.2.b/ Mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam.
Tháng 4 - 1992, Bộ tài chính trình Chính phủ 5 mục tiêu cổ phần hoádoanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam, chính phủ chỉ giữ lại 3 mục tiêu (nh QĐ202/CT ngày8 - 6 - 1992)
Ngày 7 - 5 - 1996, chính phủ đã ban hành Nghị định 28CP xác định 2mục tiêu cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nớc
Trang 12Có thể nói, việc đặt ra quá nhiều mục tiêu sẽ gây cản trở cho tiến trình
cổ phần hoá do việc thực hiện là khó Mặt khác, có những mục tiêu không cầnthiết phải nêu ra vì nếu đạt các mục tiêu chính thì tất yếu sẽ kéo theo các mụctiêu phụ Chính vì thế, việc giảm bớt từ 5 mục tiêu xuống 3 và nay là 2 mụctiêu là một tiến bộ đợc thể nghiệm qua thực tế Theo đó, chính phủ đã xác
định 2 mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc hiện nay là vốn huy
động đợc nhiều vốn ở trong nớc và nớc ngoài để đáp ứng nhu cầu kinh doanh
và phát triển của các doanh nghiệp nhà nớc) và vai trò làm chủ thực sự của
ng-ời lao động (quy định tại điều 1- Nghị định 28/Cp)
II.2.c/ Điều kiện để các doanh nghiệp nhà nớc tiến hành cổ phần hoá.
Theo QĐ 202/CT (Ban hành ngày 8 - 6 - 1992) thì các doanh nghiệpnhà nớc có đủ 3 điều kiện sau mới có thể cổ phần hoá:
Ba điều kiện trên về cơ bản là đúng nhng còn một vài chỗ cha đầy đủ
- Điều kiện 1: “Có quy mô vừa”, nếu suy luận thì ta thấy doanh nghiệpnhà nớc có quy mô nhỏ cũng đợc cổ phần hoá, vậy nên chăng khi quy định:
“Các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ”
- Về điều kiện 2 chủ yếu là nói đến doanh nghiệp làm ăn có lãi Nh vậy,
ít nhiều cũng gián tiếp hạn chế việc cổ phần hoá các doanh nghiệp làm ăn thua
lỗ, kém hiệu quả Trong khi đó, vấn đề của chúng ta đặt ra là cần phải cổ phầnhoá các doanh nghiệp nhà nớc làm ăn thua lỗ, hoạt động kém hiệu quả
Khắc phục những hạn chế của QĐ 202/CT, chính phủ đã ban hành kịpthời nghị định 28/CP để sửa đổi, bổ sung cho QĐ 202/CT Theo quy định tạinghị định 28/CP ban hành ngày 7 - 5 - 1996 của chính phủ về chuyển một sốdoanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần, các doanh nghiệp nhà nớc thoảmãn ba điều kiện dới đây sẽ là đối tợng đợc lựa chọn để cổ phần hoá: