Kết quả của luận án này có một số đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể: - Về mặt lý luận: Dựa vào kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu, trong đó các nhân tố ảnh hưởng được tác g
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HỒNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN - BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HỒNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN - BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Ngành: Kế toán
Mã số: 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS MAI THỊ HOÀNG MINH
TS HUỲNH LỢI
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI CẢM ƠN iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2
5 Đóng góp mới của nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu của luận án 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN VỀ ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 7
1.1 Các cách tiếp cận về phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo các nghiên cứu trước đây 7
1.1.1 Đo lường chất lượng BCTC theo đặc điểm chất lượng 7
1.1.2 Đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận (Earning Quality) 10
1.2 Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận 23
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 23
1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 28
1.3 Khe hổng nghiên cứu 39
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 43
2.1 Giải thích một số thuật ngữ và các khái niệm 43
2.1.1 Chất lượng thông tin (Information quality) 43
2.1.2 Biến kế toán dồn tích (Accrual) 43
2.1.3 Quản trị lợi nhuận (Earning Management) 44
2.1.4 Giá trị thích hợp của thông tin kế toán (Value relevance of accounting information) 46
2.1.5 Chất lượng lợi nhuận (Earning quality) 47
2.1.6 Chất lượng BCTC (Financial reporting quality) 49
2.2 Lý thuyết nền tảng có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC .53
2.2.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) 53
2.2.2 Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource dependency theory) 56
2.2.3 Lý thuyết chi phí chính trị (Political cost theory) 56
2.2.4 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory) 57
2.2.5 Lý thuyết Chi phí độc quyền (Exclusive cost theory) 58
2.2.6 Lý thuyết hợp đồng (Contractual theory) 59
2.3 Mô hình nghiên cứu 59
2.3.1 Mô hình nghiên cứu của luận án .59
2.3.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 63
Trang 4CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 68
3.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 68
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 68
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 69
3.2 Mô hình hồi quy và đo lường biến trong mô hình 71
3.2.1 Mô hình hồi quy 71
3.2.2 Đo lường biến trong mô hình 73
3.3 Thiết kế nghiên cứu 80
3.3.1 Mẫu nghiên cứu 80
3.3.2 Thu thập dữ liệu 82
3.3.3 Quy trình phân tích dữ liệu 83
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 89
4.1 Phân tích thực trạng chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay .89
4.1.1 Phân tích thực trạng chất lượng BCTC đo lường theo QTLN 89
4.1.2 Phân tích thực trạng chất lượng BCTC đo lường theo giá trị thích hợp của thông tin kế toán .96
4.2 Mô tả các biến nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC 99
4.3 Kết quả phân tích tương quan và hồi qui 103
4.3.1 Phân tích tương quan 103
4.3.2 Kết quả phân tích hồi qui mô hình 1 104
4.3.3 Kết quả phân tích hồi qui mô hình 2 114
4.4 Tổng hợp kết quả phân tích cả 2 mô hình và bàn luận kết quả 123
4.4.1 Nhóm nhân tố liên quan đến cơ cấu sở hữu 128
4.4.2 Nhóm nhân tố liên quan đến cơ cấu QTCT 130
4.4.3 Nhóm nhân tố liên quan đến cơ cấu vốn 133
4.4.4 Nhóm nhân tố liên quan đến thị trường 134
4.4.5 Nhóm nhân tố liên quan đến hiệu quả công ty 135
CHƯƠNG 5 NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ 138
5.1 Nhận xét chung 138
5.2 Đề xuất một số kiến nghị liên quan đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam 142
5.2.1 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 142
5.2.2 Đối với các công ty kiểm toán độc lập 146
5.2.3 Đối với các công ty niêm yết 148
5.2.4 Đối với các đối tượng khác sử dụng thông tin trên BCTC 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 155
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu trong luận án là trung thực Những kết quả của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả Nguyền Thị Phương Hồng
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS-TS Mai Thị Hoàng Minh và TS Huỳnh Lợi, người hướng dẫn khoa học của tác giả, cô và thầy đã tận tình dìu dắt và hướng dẫn trong suốt thời gian tác giả thực hiện luận án này Những nhận xét, đánh giá và chỉ bảo của cô và thầy thực sự là vô cùng quý giá đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận án, đặc biệt, những lời động viên và khuyến khích của cô và thầy là sự khích lệ kịp thời và hữu ích giúp tác giả vượt qua những khó khăn trong quá trình thực hiện luận án này
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn tập thể thầy cô thuộc Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh, đặc biệt là các Thầy Cô Khoa Kế toán- Kiểm toán, đã tận tình giảng dạy hướng dẫn tác giả hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ của nhà trường Qua
đó đã giúp tác giả có được những kiến thức, những kinh nghiệm cần thiết để thực hiện luận
án
Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới lãnh đạo và các đồng nghiệp thuộc Khoa Kế toán Kiểm toán trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh đã luôn động viên
và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận án
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình của tác giả Trong suốt những năm qua, gia đình luôn động viên khích lệ và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận án này
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nội dung
BCKT Báo cáo kiểm toán
BCTC Báo cáo tài chính
BCTN Báo cáo thường niên
BTC Bộ Tài chính
BKS Ban Kiểm soát
CBTT Công bố thông tin
CEO Giám đốc điều hành
CF Khuôn mẫu lý thuyết chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
DA Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
DN Doanh nghiệp
FASB Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ
FEM Mô hình tác động cố định
FGLS Ước lượng bình phương bé nhất tổng quát
GAAP Nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung
GLS Ước lượng bình phương bé nhất tổng quát
HĐQT Hội đồng quản trị
HNX Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
IASB Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính quốc tế
IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
KTV Kiểm toán viên
NDA Nondiscretionary accruals
NSD Người sử dụng
Trang 8OLS Ước lượng bình phương bé nhất
QSH Quyền sở hữu
QTCT Quản trị công ty
QTLN Quản trị lợi nhuận
REM Mô hình tác động ngẫu nhiên
TGĐ Tổng Giám đốc
TTCK Thị trường chứng khoán
TTKT Thông tin kế toán
UBCKNN Ủy Ban Chứng Khoán Nhà nước
UBKT Ủy ban kiểm toán
US GAAP Nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung của Mỹ
VACPA Hội KTV hành nghề Việt Nam
VAS Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
2SLS Ước lượng bình phương bé nhất 2 giai đoạn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC (Đo lường theo chất
lượng lợi nhuận) từ các nghiên cứu trước 34
Bảng 2.1 Các giả thuyết nghiên cứu và mối quan hệ với các lý thuyết nền tảng có liên quan 63
Bảng 3.1 Danh sách biến độc lập và phương pháp đo lường 76
Bảng 3.2 Mô tả mẫu các công ty sử dụng phân tích đo lường chất lượng BCTC 81
Bảng 3.3 Mô tả mẫu các công ty sử dụng phân tích các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC 81
Bảng 4.1 Thực trạng chất lượng BCTC (QTLN) 90
Bảng 4.2 So sánh chất lượng BCTC (QTLN) với một số quốc gia khác 90
Bảng 4.3 Thực trạng chất lượng BCTC (QTLN) theo ngành năm 2012 92
Bảng 4.4 Thực trạng chất lượng BCTC (QTLN) theo ngành năm 2013 93
Bảng 4.5 Thực trạng chất lượng BCTC (QTLN) theo ngành năm 2014 95
Bảng 4.6 Thực trạng chất lượng BCTC (Giá trị thích hợp của TTKT) 97
Bảng 4.7 So sánh chất lượng BCTC (Giá trị thích hợp của TTKT) với một số quốc gia khác 98
Bảng 4.8 Bảng thống kê mô tả các biến loại công ty kiểm toán và tình trạng niêm yết 100
Bảng 4.9 Bảng thống kê mô tả biến kiêm nhiệm giữa TGĐ và chủ tịch HĐQT và ngành nghề 100
Bảng 4.10 Bảng thống kê mô tả các biến độc lập (định lượng) 101
Bảng 4.11 Ma trận tương quan mô hình 1 103
Bảng 4.12 Ma trận tương quan mô hình 2 104
Bảng 4.13 Bảng kết quả hồi quy mô hình Pooled OLS của mô hình 1 106
Bảng 4.14 Bảng kết quả so sánh giữa mô hình Pooled OLS với FEM của mô hình 1 107
Bảng 4.15 Bảng kết quả so sánh giữa mô hình Pooled OLS với REM của mô hình 1 108
Bảng 4.16 Bảng tổng hợp các kiểm định lựa chọn mô hình 1 109
Bảng 4.17 Giá trị VIF của 2 mô hình 110
Bảng 4.18 Bảng kết quả hồi quy mô hình FGLS của mô hình 1 113
Bảng 4.19 Bảng kết quả hồi quy mô hình Pooled OLS của mô hình 2 115
Bảng 4.20 Bảng kết quả so sánh giữa mô hình Pooled OLS với FEM của mô hình 2 116
Bảng 4.21 Bảng kết quả so sánh giữa mô hình Pooled OLS với REM của mô hình 2 117
Bảng 4.22 Bảng kết quả so sánh giữa FEM với REM của mô hình 2 119
Bảng 4.23 Bảng tổng hợp các kiểm định lựa chọn mô hình 2 119
Bảng 4.24 Bảng kết quả hồi quy mô hình FGLS của mô hình 2 123
Trang 10Bảng 4.25 Bảng kết quả ước tính FGLS của 2 mô hình 124 Bảng 4.26 Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thiết 125
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các CT niêm yết trên
TTCK VN 62
Biểu đồ 4.1 Thực trạng chất lượng BCTC (QTLN) theo năm 2012 93
Biểu đồ 4.2 Thực trạng chất lượng BCTC (QTLN) theo năm 2013 94
Biểu đồ 4.3 Thực trạng chất lượng BCTC (QTLN) theo năm 2014 96
Biểu đồ 4.4 Biểu đồ phần dư có phân phối chuẩn mô hình 1 111
Biểu đồ 4.5 Biểu đồ phần dư có phân phối chuẩn mô hình 2 120
Trang 12
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Vấn đề nghiên cứu
Thông tin tài chính của các công ty niêm yết được rất nhiều đối tượng quan tâm, sử dụng, vì vậy nâng cao chất lượng thông tin tài chính sẽ giúp người sử dụng ra quyết định thích hợp
Có thể nói rằng chất lượng thông tin tài chính của các công ty niêm yết không chỉ bị ảnh hưởng bởi các đối tượng tác động đến quá trình thu thập, xử lý, thiết lập, kiểm soát thông tin tài chính do các nhân tố bên trong công ty như người quản lý, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban điều hành và kiểm toán nội bộ mà còn chịu ảnh hưởng bởi sự kiểm soát
từ các yếu tố bên ngoài công ty như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Hội Nghề nghiệp, Bộ Tài chính, cơ quan thuế, kiểm toán độc lập và kiểm toán Nhà nước
Chính vì vậy, trong thời gian vừa qua Việt Nam đã ban hành và chỉnh sửa bổ sung nhiều quy định nhằm tăng cường kiểm soát chất lượng thông tin tài chính của các công ty như Thông tư 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 thay thế Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ trưởng BTC về việc ban hành Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng và thay thế Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/03/2007 của Bộ trưởng BTC về việc ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên
Sở giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán, Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 ngày 29/03/2011 Quốc hội với những quy định chặt chẽ hơn đối với nghề kiểm toán tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 về việc phê duyệt chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và Bộ Tài chính vừa mới ban hành Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 thay thế Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/4/2012 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán và ngoài ra, vào ngày 25/06/2012 Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành Quyết định số 515/QĐ-UBCK về việc ban hành quy trình thực hiện công bố thông tin trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban chứng khoán Nhà nước và báo cáo Ủy ban chứng khoán Nhà nước cho các đối tượng tham gia thị trường chứng khoán và Bộ tài chính cũng đã ban hành quy định về kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán theo Thông tư số 157/2014/TT-BTC ngày 23/10/2014
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, xã hội đang rất lo ngại về chất lượng thông tin
Trang 13tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay Các lo ngại này xuất phát từ việc báo cáo tài chính có sai phạm trọng yếu nhưng kiểm toán không phát hiện được hoặc có sự chênh lệch lợi nhuận lên hàng trăm tỷ đồng giữa báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán Chẳng hạn như trường hợp mà Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã đình chỉ đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng là của Công ty Cổ phần Dược phẩm Viễn Đông Công ty này đã đưa vào bản cáo bạch chào bán cổ phiếu một số thông tin sai lệch và bỏ sót các thông tin quan trọng, gây hiểu nhầm và ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư Các sai phạm ở một số công ty niêm yết khác như là công khai tình hình tài chính nhưng không có báo cáo kiểm toán đính kèm theo, một số báo cáo tài chính đã được kiểm toán thì báo cáo kiểm toán cũng chưa đảm bảo chất lượng điển hình như vụ kết quả kiểm toán chưa chính xác của các công ty kiểm toán độc lập đối với công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết…
Nhìn chung, khá nhiều công ty niêm yết công khai báo cáo tài chính thiếu trung thực, chưa đầy đủ và kịp thời theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, như một số nhà nghiên cứu trên thế giới đã nhận định, BCTC chất lượng cao sẽ giảm sự bất cân xứng thông tin và kết quả sẽ giảm chi phí sử dụng vốn (Glosten và Milgrom, 1985; Amihud và Mendelson, 1986; Diamond và Verrecchia, 1991; Bhattacharya và các cộng sự, 2003 và Barth và các cộng sự, 2013) Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng chất lượng BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay là thật sự cần thiết
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài luận án “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán – Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” Đây là vấn đề mang tính thời sự, nhằm cải thiện chất lượng thông tin tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam, góp phần
lành mạnh hóa thị trường và thúc đẩy nền kinh tế phát triển
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
a Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK tại Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị đối với các đối tượng liên quan đến việc trình bày và công bố, sử dụng và quản lý chất lượng BCTC của các công ty
Trang 14niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay
b Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của luận án đặt ra ở trên, nội dung chính của luận án cần phải trả lời được các câu hỏi sau:
1 Thực trạng thực chất lượng BCTC đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay là gì?
2 Các nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng BCTC đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay?
3 Cần đề xuất một số kiến nghị nào đối với các đối tượng liên quan đến việc trình bày và công bố, sử dụng và quản lý chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay?
5 Đóng góp mới của nghiên cứu
Trước thực trạng đáng lo ngại về chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, luận án này có tính cấp thiết cao Kết quả của luận án này có một số đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể:
- Về mặt lý luận:
Dựa vào kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu, trong đó các nhân tố ảnh hưởng được tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước và 4 nhân tố mới được tác giả đưa thêm vào, luận án hoàn thành sẽ bổ sung thêm lý thuyết mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính được đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan Đặc biệt, kết quả kiểm định của luận án cho thấy, trong số 17 nhân tố có tác động đến chất lượng BCTC thì có 4 nhân tố mới được tác giả đưa vào để kiểm định đó là tính trì hoãn của BCTC, khả năng thanh toán nhanh, thời gian niêm yết và tình trạng niêm yết (sàn giao dịch), cả 4 nhân tố mới này đềucó ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm
yết trên TTCK Việt Nam
- Về mặt thực tiễn:
+ Kết quả nghiên cứu cho thấy, thực trạng chất lượng về BCTC đánh giá thông qua chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay chưa cao
Trang 15Theo tìm hiểu của tác giả, luận án này là một trong số những nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam đánh giá thực trạng chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK thông qua phương pháp tiếp cận đo lường BCTC bằng chất lượng lợi nhuận, đặc biệt đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên cả 2 cơ sở là cơ sở kế toán và cơ sở thị trường cùng với việc sử dụng dữ liệu thứ cấp (số liệu được trình bày trên BCTC) được cập nhật mới nhất giai đoạn
2012 - 2014 (số liệu trên BCTC cập nhật đến năm 2014), vì vậy, kết quả phân tích thực trạng chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK trong luận án này phản ánh đúng thực tế theo số liệu các công ty công bố trên BCTC chứ không dựa trên quan điểm đánh giá của các đối tượng về chất lượng BCTC như các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam
+ Với mô hình đề xuất có khá nhiều các nhân tố tác động đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết được đưa vào để kiểm định và kết quả của luận án cho thấy có đến 17 trong tổng số 23 nhân tố được kiểm định có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công
ty niêm yết trên TTCK Việt Nam
+ Dựa trên kết quả về đánh giá thực trạng chất lượng BCTC trong giai đoạn
2012-2014, chi tiết theo từng năm và thậm chí chi tiết theo từng ngành, kết quả về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các Công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, những kết quả này là cơ sở khoa học khá hữu ích cho các đối tượng quan tâm như các nhà quản trị công ty, KTV, các nhà đầu tư, cơ quan ban hành chính sách, ủy ban chứng khoán Nhà nước, các sở giao dịch chứng khoán tham khảo để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC các công ty niêm yết tại Việt Nam cũng như tham khảo trong việc sử dụng thông tin trên BCTC nhằm đưa ra các quyết định có liên quan một
cách hiệu quả
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, cụ thể là báo cáo tài chính đã được kiểm toán và công bố, báo cáo thường niên của các công ty niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2014
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK tại Việt Nam niêm yết trên cả 2 sàn giao dịch
Trang 16HOSE và HNX (Không nghiên cứu về các công ty tài chính như Ngân hàng, công ty chứng khoán )
+ Phạm vi về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn 3 năm 2012 - 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, trong đó phương pháp chính là phương pháp nghiên cứu định lượng, cụ thể là nghiên cứu này được thực hiện dựa vào các lý thuyết nền tảng phổ biến trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán như lý thuyết ủy nhiệm, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết hợp đồng… và các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam liên quan đến chất lượng BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC, đồng thời sử dụng phương pháp định tính thảo luận với các chuyên gia làm cơ sở đưa thêm
nhân tố mới vào mô hình nghiên cứu và kiểm định mô hình nghiên cứu này tại Việt Nam
6 Kết cấu của luận án
Chương này sẽ tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về các cách tiếp cận các phương pháp đo lường chất lượng BCTC và các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC, trên cơ sở đó đưa ra những kết quả đạt được và vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, từ
đó nêu ra được khe hổng nghiên cứu cho luận án
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương này trình bày một số khái niệm, thuật ngữ quan trọng có liên quan và các lý thuyết nền tảng có liên quan, trên cơ sở các lý thuyết này và tổng quan các nghiên cứu trước ở chương I, đề xuất mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày các nội dung về quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên
Trang 17cứu, kỹ thuật phân tích dữ liệu và thiết kế nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương này tập trung vào việc phân tích và bàn luận về kết quả của nghiên cứu
Chương 5 Nhận xét và đề xuất kiến nghị
Chương này đưa ra nhận xét chung và trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị đối với các đối tượng liên quan đến việc sử dụng, tạo lập và quản lý chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN
VỀ ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Nội dung chính của chương này, tác giả tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về cách tiếp cận các phương pháp đo lường chất lượng BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK, để trên cơ
sở đó tác giả tìm ra khe hổng nghiên cứu đề xuất hướng nghiên cứu của luận án, vì vậy, nội
dung của chương này bao gồm:
- Các cách tiếp cận về phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo các nghiên cứu trước đây;
- Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC;
- Khe hổng nghiên cứu
1.1 Các cách tiếp cận về phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo các nghiên cứu trước đây
Trong bất kỳ một nghiên cứu nào có liên quan đến chất lượng BCTC, mặc dù chất lượng BCTC đóng vai trò là nhân tố tác động hay nhân tố bị tác động thì việc đo lường chất lượng BCTC là rất quan trọng, vì nó quyết định đến hiệu quả một cuộc nghiên cứu Tuy nhiên, chất lượng BCTC là khó có thể quan sát trực tiếp được, xuất phát từ đặc điểm này, trong các nghiên cứu trước đây cũng đã sử dụng nhiều phương pháp đo lường khác nhau và có thể chia làm 2 nhóm phương pháp chính: Đo lường theo đặc điểm chất lượng BCTC và đo lường theo chất lượng lợi nhuận
1.1.1 Đo lường chất lượng BCTC theo đặc điểm chất lượng
Phương pháp đo lường chất lượng BCTC thông qua đặc điểm chất lượng nhằm đánh giá các khía cạnh và kích thước của thông tài chính và thông tin phi tài của BCTC nhằm xác định tính hữu ích của thông tin tài chính đó Phương pháp đo lường chất lượng
Trang 19BCTC theo đặc điểm chất lượng đó là chất lượng BCTC được đánh giá dựa trên các thang
đo được xây dựng dựa trên các đặc điểm chất lượng của FASB đó là 2 đặc điểm cơ bản: Thích hợp và đáng tin cậy và 2 đặc điểm thứ yếu: Nhất quán và có thể so sánh, các đặc điểm chất lượng của IASB đó là có thể hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh được và các đặc điểm theo quan điểm của dự án hội tụ của FASB và IASB đó là 2 đặc điểm nền tảng: Thích hợp và trình bày trung thực và 4 đặc điểm bổ sung bao gồm có thể so sánh, có thể kiểm chứng, tính kịp thời và có thể hiểu được
Có nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo đặc điểm chất lượng như trên Các nghiên cứu này xoay quanh những vấn đề như đánh giá các đặc điểm chất lượng, các nhân tố ảnh hưởng đến đặc điểm chất lượng hay các đặc điểm chất lượng trên khía cạnh quan điểm của người sử dụng nói chung hay KTV, nhà đầu tư nói riêng…
Nghiên cứu đầu tiên mà tác giả muốn đề cập đến là nghiên cứu của Beest và các cộng sự (2009) Nghiên cứu này đánh giá định lượng các đặc điểm chất lượng của BCTC dựa trên các đặc điểm cơ bản và các đặc điểm bổ sung theo CF Nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu từ 231 BCTC của các công ty niêm yết ở các sàn chứng khoán ở Mỹ, Anh và
Hà Lan năm 2005-2007, sử dụng BCTC để đánh giá 21 chỉ tiêu chất lượng chi tiết Các đặc điểm chất lượng được ước lượng mức độ thông qua các chỉ tiêu cấu thành dựa trên thang đo năm mức độ Likert Hơn nữa, nghiên cứu của Beest và các cộng sự còn tiến hành xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy nhằm kiểm định các hệ số hồi quy, phương trình hồi quy, hiện tượng đa cộng tuyến giữa các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC Nghiên cứu này cũng góp phần cải thiện việc đánh giá các đặc điểm chất lượng của thông tin và đưa ra các giải pháp cần thiết
Beest và Braam (2011) tiếp tục có một nghiên cứu về đặc điểm chất lượng, nhưng lần này nghiên cứu tập trung vào sự khác biệt của các đặc điểm giữa hai hệ thống chuẩn mực IFRS và US GAAP hay cũng là sự khác biệt giữa BCTC của Anh và Mỹ Nghiên cứu được xây dựng trên 31 nhân tố dựa trên các đặc điểm chất lượng và tiến hành lấy mẫu khảo sát từ 71 BCTC của các DN ở Anh và 71 báo cáo khác ở Mỹ trong năm 2009 Kết quả cho thấy: nhìn chung, báo cáo của Anh thích hợp, trình bày trung thực và dễ hiểu hơn
so với báo cáo của Mỹ Tuy nhiên, các báo cáo của Mỹ có khả năng so sánh được cao hơn các báo cáo của Anh
Trang 20Trong nghiên cứu Beest và các cộng sự (2009) và một số nghiên cứu khác của Jara
và các cộng sự (2011), Bauwhede (2001) cũng nghiêm cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến các đặc điểm chất lượng Đa số các nghiên cứu ứng dụng phương pháp nghiên cứu của Jonas and Blanchet (2000) Một trong những mục đích của nghiên cứu Beest và các cộng
sự (2009) là xây dựng thang đo cho các đặc điểm chất lượng: tính thích hợp, trình bày trung thực, có thể so sánh được, kịp thời, có thể hiểu được Sau khi thu thập dữ liệu dựa vào các BCTC, nghiên cứu này tiến hành xây dựng hàm hồi quy về những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC Các nhân tố ảnh hưởng đến đặc điểm chất lượng được đề cập đến là CMKT, quốc gia, ngành nghề, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, năm… Mẫu nghiên cứu của Beest các cộng sự (2009) là 120 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán của Mỹ, Anh, Hà Lan trong năm 2005 và 111 công ty trong năm 2007 được lấy từ các ngành kinh doanh khác nhau Đồng thời, các công ty này áp dụng theo hai khung CMKT
là IFRS và US GAAP Cũng trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến 2007, có sự chênh lệch về số lượng công ty niêm yết là do có 9 công ty rời sàn hoặc một trong các công ty này chưa công bố BCTC trước ngay thời điểm thu thập số liệu của nghiên cứu Do vậy, các biến độc lập có liên quan là CMKT (IFRS và US GAAP), quốc gia (Mỹ, Anh, Hà Lan), ngành nghề, năm Sau đó, Beest và các cộng sự (2009) thực hiện các kiểm định cần thiết trong phương pháp hồi quy OLS để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố cũng như
độ tin cậy của mô hình
Tiếp cận theo một hướng khác, nghiên cứu của Saheli & Nassirzadeh (2012) chỉ ra
sự khác nhau giữa các quan điểm về đặc điểm chất lượng trên nhiều khía cạnh tiếp cận Nghiên cứu cung cấp những thống kê thực nghiệm từ việc khảo sát các nhà đầu tư ở Iran
về các đặc điểm chất lượng – những người có hiểu biết về kế toán và không có hiểu biết về
Tasios (2012) đã thực hiện nghiên cứu của mình thông qua việc tiếp cận ý kiến từ
Trang 21các KTV đối với các đặc điểm chất lượng Quá trình thu thập ý kiến được tiến hành rất cẩn thận từ việc xây dựng bảng câu hỏi đến việc xử lý số liệu Nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của các đặc điểm chất lượng đối với KTV ở Hy Lạp
Một nghiên cứu nữa về quan điểm của KTV và nhà đầu tư đối với tầm quan trọng của các đặc điểm chất lượng của thông tin là nghiên cứu của Obaidat (2007) đã xây dựng bảng khảo sát để thu thập ý kiến từ 25 nhà đầu tư và 29 KTV Kết quả cho thấy, tất cả các đặc điểm chất lượng đều ảnh hưởng đến các quyết định và tồn tại sự khác nhau trong ý kiến của KTV, nhà đầu tư về mức độ quan trọng của các nhân tố chất lượng
Không nhằm vào các mục đích đo lường chất lượng lợi nhuận, đánh giá các yếu tố chi tiết của BCTC, mục đích hướng đến của phương pháp trên là đánh giá mức độ hữu ích của thông tin thông qua các đặc điểm chất lượng Lợi ích có được từ phương pháp là sự tập trung nghiên cứu vào các đặc điểm chất lượng, trong khi các mô hình khác tập trung vào các khía cạnh của việc quản trị lợi nhuận hay giá cả của cổ phiếu Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là khó xác định thang đo cho các đặc điểm chất lượng, đồng thời, chính
vì đánh giá này dựa trên cơ sở thang đo nên nó còn có hạn chế là kết quả thu thập được không có độ tin cậy cao vì nó phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người đánh giá và mang tính cảm tính cao như người đánh giá này cho điểm chỉ tiêu này đối với BCTC cao nhưng
có thể theo quan điểm của người khác là chưa cao
1.1.2 Đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận (Earning Quality)
Phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận có ưu điểm chính là đáng tin cậy, bởi khác với phương pháp đo lường theo đặc điểm chất lượng mà các nghiên cứu khác đã áp dụng, đó là theo quan điểm của người đánh giá dựa trên dữ liệu thứ cấp (số liệu trên BCTC và BCTN) hoặc theo quan điểm của người được khảo sát (đối với nghiên cứu sử dụng khảo sát quan điểm và dữ liệu thu thập được là dữ liệu sơ cấp) và điều này có thể dẫn đến việc đánh giá chất lượng BCTC sẽ phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của họ và như vậy có thể kết quả nghiên cứu sẽ không phản ánh đúng thực trạng chất lượng của BCTC mà các công ty đã công bố, còn theo phương pháp đánh dựa trên chất lượng lợi nhuận, các dữ liệu phục vụ cho việc phân tích này dựa trên thông tin sẵn có trong báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các công ty (dữ liệu thứ cấp) và việc đánh giá chất lượng BCTC được thực hiện trực tiếp trên các dữ liệu sẵn có này Ngoài ra, đo
Trang 22lường chất lượng BCTC thông qua chất lượng lợi nhuận cũng rất hữu ích dựa trên quan điểm người sử dụng BCTC, các nhà đầu tư, chủ nợ và các nhà soạn thảo chuẩn mực kế toán
Để lượng hóa chất lượng BCTC từ việc đo lường chất lượng BCTC thông qua chất lượng lợi nhuận, các tác giả trước đây thường sử dụng 2 nhóm mô hình đó là mô hình biến
kế toán dồn tích và mô hình giá trị thích hợp của TTKT Nội dung tiếp theo, tác giả trình bày cụ thể về các mô hình đo lường thường sử dụng trong các nghiên cứu trước đây liên quan đến chất lượng lợi nhuận, cụ thể như sau:
1.1.2.1 Một số mô hình đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên biến kế toán dồn tích
bất thường
Có khá nhiều mô hình đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên biến kế toán dồn tích bất thường và các mô hình này được nhà nghiên cứu sau phát triển dựa trên các mô hình trước, cụ thể như sau:
Mô hình c ủa Healy (1985)
Mô hình của Healy (1985) sử dụng giá trị trung bình của tổng dồn tích (TA) được chia cho tổng tài sản trễ một năm (At-1) trong giai đoạn nghiên cứu như là một cách đo lường của NDA Ở đây, mô hình của biến kế toán dồn tích không điều chỉnh được trong năm t (NDAt) là:
t-Phần dồn tích có thể điều chỉnh (DAt) là chênh lệch giữa tổng dồn tích trong năm t
và biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (cả hai đều được chia cho tổng tài sản trễ một năm)
Trang 23Mô hình c ủa DeAngelo (1986)
DeAngelo (1986) cho rằng sự biến đổi về biến kế toán dồn tích giữa hai kỳ chính là lợi nhuận được điều chỉnh (DA) Vậy thì phần DA là chênh lệch giữa TA giữa năm t và năm t-1 Vì vậy, phần biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh là biến kế toán dồn tích của năm trước (TAt-1), mô hình của NDAt là:
NDAt = TAt-1
Phần dồn tích có thể điều chỉnh (DAt) là chênh lệch giữa tổng dồn tích trong năm t
và biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh năm t, mô hình của nó là:
DAt = TAt – NDAt = TAt – TAt-1 (2)
Mô hình của DeAngelo để ước tính NDA sẽ thật sự đúng nếu NDA không thay đổi theo thời gian và trung bình DA bằng 0 ở kỳ mà mình ước tính Nhưng NDA lại thường phụ thuộc vào mức độ hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp Và nếu doanh nghiệp đang ở thời kì tăng trưởng thì NDA sẽ có sự biến động từ năm này sang năm khác Nhược điểm này được khắc phục thông qua cải tiến mô hình nhằm kiểm soát phần NDA thay đổi do thay đổi mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Cách thực hiện là đem NDA tính được theo mô hình của DeAngelo chia cho cho doanh thu Mô hình tính
DA lúc này trở thành:
DAt = (TAt / Doanh thu t-1) – (TAt-1 / Doanh thu t-2)
Mô hình c ủa Jones (1991)
Jones (1991) được xây dựng trên dựa trên kế thừa mô hình của Healy (1985) và mô
hình của DeAngelo (1986) Tuy nhiên, Jones đề xuất một mô hình để kiểm soát các tác động của những thay đổi trong hoàn cảnh kinh tế của một công ty lên các biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh Mô hình của Jones là:
TAit = α1+ α2 ∆REVit + α3PPEit+ εi (3)
Trang 24điều chỉnh, từ đó xác định biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh đều liên quan đến việc tính toán tổng dồn tích (TA) Theo tiến trình nghiên cứu trước đó của các nhà nghiên cứu như Healy (1985) hay Jones (1991) thì cách tiếp cận bảng cân đối kế toán để tính tổng dồn tích được sử dụng, cụ thể như sau:
TAit = ∆CAit - ∆Cashit - ∆CLit + ∆DCLit – DEPit
∆CAit: Thay đổi trong tài sản lưu động trong năm t;
∆Cashit: Thay đổi trong khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền trong năm t;
∆CLit: Thay đổi về công nợ hiện tại trong năm t;
∆DCLit: Thay đổi trong nợ vay được bao gồm trong nợ ngắn hạn trong năm t;
DEPit: Khấu hao và chi phí khấu trừ trong năm t
Bên cạnh đó, Collins & Hribar (2002) lập luận rằng việc sử dụng cách tiếp cận bảng cân đối kế toán này để tính toán tổng dồn tích là kém hiệu quả hơn trong những trường hợp nhất định so với cách tiếp cận báo cáo lưu chuyển tiền tệ Bởi vì dữ liệu báo cáo lưu chuyển tiền tệ chỉ có sẵn chỉ từ năm 1987 nên một khoảng thời gian chỉ có thể sử dụng cách tiếp cận bảng cân đối kế toán trên cho việc tính toán tổng dồn tích Tuy nhiên, sau thời gian đó, khi mà dữ liệu về lưu chuyển tiền tệ đã có sẵn, thì cách tính tổng dồn tích dựa trên lưu chuyển tiền tệ được áp dụng nhiều với đặc điểm dễ hiểu, đơn giản và dễ thực hiện Công thức tính TA theo cách tiếp cận này là:
TAIt = NIIt – CFOIt
NIIt: Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong năm t;
CFOIt: Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trong năm t
∆REVit: Doanh thu của công ty i trong năm t trừ doanh thu trong năm t-1;
PPEit: Nguyên giá bất động sản, nhà máy và các trang thiết bị của công ty i tại thời
điểm cuối năm t;
α1, α2, α3: Các thông số cụ thể của từng công ty
Các thông số cụ thể công ty, α1, α2, và α3, thu được bằng cách sử dụng mô hình sau đây trong thời gian tính toán:
Trang 25Trong đó a1, a2 và a3 dùng để chỉ ước tính OLS cho α1, α2, và α3, và εi là phần còn lại, đại diện các phần có thể điều chỉnh của từng doanh nghiệp cụ thể của tổng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
Mô hình c ủa Jones đã qua điều chỉnh (Dechow và các cộng sự, 1995)
Mô hình của Jones đã qua điều chỉnh được thực hiện để loại bỏ xu hướng phỏng đoán của mô hình Jones (1991) trong việc đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh xảy ra lỗi khi sự điều chỉnh được thực hiện trên việc ghi nhận doanh thu (Dechow và các cộng sự, 1995) Trong mô hình đã điều chỉnh, các khoản biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được ước tính trong năm sự kiện (năm mà quản trị lợi nhuận được đưa ra giả thuyết):
TAit = α1 + α2(∆REVit - ∆RECit)+ α3PPEit + εi (4)
Trong đó:
∆RECit: Các khoản phải thu thuần của công ty i trong năm t trừ các khoản phải thu
thuần trong năm t-1
Sự tham gia của ∆RECit được Dechow và các cộng sự (1995) đã giải thích rằng:
Mô hình gốc của Jones ngầm giả định rằng sự điều chỉnh không được thực hiện trên doanh thu trong cả hai giai đoạn ước tính hoặc giai đoạn sự kiện phát sinh Mô hình của Jones đã qua điều chỉnh lại ngầm giả định rằng tất cả các thay đổi về doanh thu bán chịu trong giai đoạn sự kiện phát sinh là kết quả của QTLN Điều này được dựa trên những lý luận rằng QTLN dễ dàng hơn để bằng cách thực hiện theo sự điều chỉnh trên việc ghi nhận doanh thu về bán hàng chịu hơn là so với việc QTLN bằng cách thực hiện điều chỉnh trên ghi nhận doanh thu về bán hàng bằng tiền mặt Tóm lại, Dechow và các cộng sự (1995) cho rằng doanh số bán hàng không được quản lý trong giai đoạn ước tính, nhưng mà toàn bộ
sự thay đổi trong các khoản phải thu trong năm sự kiện đại diện cho QTLN Nhưng có một điều quan trọng để lưu ý trong việc sử dụng mô hình này là sự ước lượng α1, α2, α3 sẽ vẫn thu được từ mô hình gốc của Jones chứ không phải từ mô hình đã điều chỉnh Sự điều chỉnh duy nhất trong mô hình ban đầu của Jones là sự thay đổi trong doanh thu được điều chỉnh với sự thay đổi trong các khoản phải thu trong năm sự kiện
Trang 26Mô hình theo d ữ liệu chéo (DeFond & Jiambalvo ,1994)
Hai mô hình chéo mà nghiên cứu này đề cập là mô hình chéo của Jones và mô hình chéo của Jones đã điều chỉnh Hai mô hình này tương tự như các mô hình Jones (1991) và
mô hình của Jones (1991) đã điều chỉnh, một cách tương ứng, ngoại trừ các thông số của
mô hình được tính bằng cách sử dụng dữ liệu chéo, chứ không phải dữ liệu theo chuỗi thời gian
Việc lựa chọn giữa bản theo chuỗi thời gian và bản chéo trong mô hình của Jones
do đó đại diện cho sự cân bằng, và nó là một câu hỏi thực nghiệm mà sự lựa chọn sẽ dựa trên sự xem xét mô hình nào thích hợp hơn Ví dụ, trong khi giả định cơ bản của mô hình theo chuỗi thời gian là độ dài của chu kỳ kinh doanh của một công ty không đổi theo thời gian lập dự toán và năm sự kiện, thì cơ sở cho mô hình chéo theo không gian là giả định rằng tất cả các công ty trong cùng một ngành có một chu kỳ hoạt động tương tự Như phân tích ở trên, trong thực tế cả hai giả định không có khả năng để sử dụng cho mọi doanh nghiệp
So với mô hình của Jones và mô hình của Jones đã qua điều chỉnh thì mô hình chéo này có ưu điểm là giúp việc ước tính các tham số, α1, α2, và α3 được thực hiện lại cho mỗi năm và không yêu cầu các mẫu quan sát phải được quan sát trong nhiều năm theo Jones (1991) thì ít nhất là mười bốn (14) năm, tuy nhiên nó cũng có nhược điểm so với hai mô hình trên là các tham số, α1, α2, và α3 không được ước lượng cụ thể cho từng công ty mà
là chung cho cả ngành nên nếu các công ty trong ngành không có chu kì hoạt động tương
tự nhau sẽ dẫn đến việc tính toán không chính xác và yêu cầu đặt ra là số lượng công ty mỗi ngành quan sát phải đủ lớn (trong nghiên cứu của Lai (2011) thì ít nhất là hai mươi công ty quan sát)
So với các mô hình khác, mô hình này được sử dụng khá nhiều trong các nghiên cứu trước đây liên quan đến chất lượng BCTC, đặc biệt là nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận nói riêng và chất lượng BCTC nói chung
Mô hình Jones điều chỉnh với tỷ lệ giá sổ sách trên giá thị trường và dòng lưu chuyển
ti ền thuần
Larcker và Richardson (2004) đã thêm tỷ lệ giá sổ sách trên giá thị trường của vốn chủ sở hữu và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh vào mô hình 4
Trang 27TAit = α1 + α2(∆REVit - ∆RECit) + α3PPEit + α4BMit + α5CFOit + εi (5)
Trong đó:
BMit: Tỷ lệ giá sổ sách trên giá thị trường của vốn chủ sở hữu của công ty i trong năm t
CFOit: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty i trong năm t
Mô hình Jones điều chỉnh với ROA
Beneish (1997) không ủng hộ mô hình Jones (1991) và của Jones đã qua điều chỉnh (1995) bởi vì chúng không bao gồm các chỉ số hoạt động Chính vì vậy, Barth và các cộng
sự (2001) đề nghị mô hình để ước tính dồn tích có thể điều chỉnh mà sẽ xem xét hiệu quả kinh tế hiện tại và quá khứ của công ty Tiếp đó, Kothari và các cộng sự (2005) phát triển một mô hình xác định dồn tích có thể điều chỉnh phản ánh hạn chế này Họ đề xuất một mô hình mà biến kế toán dồn tích có liên quan tới hoạt động quá khứ và hiện tại của công ty được đo lường thông qua lợi nhuận trên tài sản (ROA).Và ở đây hiệu quả hoạt động của công ty được xem như một biến độc lập trong việc ước tính biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
Mô hình của Kothari và các cộng sự (2005) như sau:
TAt= α1+ α2(∆REVit - ∆RECit) + α3PPEit + α4ROAit-1 + εit (6)
Trong đó:
ROAit – 1: Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản của công ty i trong năm t-1
Mô hình c ủa Raman & Shahrur (2008)
McNichols (2000) không đồng ý với tất cả các mô hình nêu trên, vì theo ông, chúng
bỏ qua các cơ hội phát triển của công ty Ngoài lợi nhuận trên tài sản theo mô hình của Kothari và các cộng sự (2005), Raman & Shahrur (2008) đề xuất một mô hình xác định các biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh mà sẽ xem xét các cơ hội phát triển của công ty Raman & Shahrur (2008) đề xuất sử dụng các tỷ lệ giá trị sổ sách trên thị trường như một cách đo lường của các cơ hội phát triển Mô hình này được ước lượng như sau:
TAit = α1 + α2(∆REVit - ∆RECit )+ α3PPEit + α4ROAit – 1 + α5BMKit +εit (7)
Trang 28Trong đó:
BMKt: Tỉ lệ giá trị sổ sách trên thị trường được xác định bởi tỷ lệ của tổng tài sản trên tổng tài sản trừ đi giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu cộng với giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu khác cũng đo lường QTLN theo mô hình của Dechow & Dichev (2002), theo mô hình này chất lượng lợi nhuận dựa trên cơ sở tính chính xác của dồn tích tiên đoán dòng tiền hoạt động trong tương lai
Mô hình c ủa Dechow & Dichev (2002)
Từ quan điểm khác với các tác giả trên, Dechow & Dichev (2002) cho rằng chức năng phù hợp của biến kế toán dồn tích đến dòng lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh là quan trọng chính yếu và do đó, biến kế toán dồn tích dự đoán được khoản thu được cũng như khoản phải trả dòng tiền trong tương lai và ngược lại, khi tiền kỳ trước được ghi nhận trong biến kế toán dồn tích và nhận được hoặc phải trả trong kỳ này Dựa trên lý luận này, họ đã xây dựng mô hình như sau:
TCAit = φ0 + φ1 CFOit-1 + φ2 CFOit + φ3 CFOit+1 + νit
TCA: Tổng dồn tích, và TCA = ∆CA – ∆CL – ∆Cash + ∆STDEBT
∆CA: Thay đổi trong tài sản lưu động trong năm;
∆CL: Thay đổi nợ ngắn hạn trong năm;
∆Cash: Thay đổi trong khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền trong năm;
∆STDEBT: Thay đổi trong nợ vay được bao gồm trong nợ ngắn hạn trong năm;
CFO: Dòng tiền lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh
Mô hình c ủa McNichols (2002) và của Francis và các cộng sự (2005)
TCAit = φ0 + φ1 CFOit-1 + φ2 CFOit + φ3 CFOit+1 + φ4 ∆REVit + φ5 PPEit + νit
TCA: Tổng dồn tích, và TCA = ∆CA – ∆CL – ∆Cash + ∆STDEBT
∆CA: Thay đổi trong tài sản lưu động trong năm;
∆CL: Thay đổi nợ ngắn hạn trong năm;
∆Cash: Thay đổi trong khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền trong năm;
Trang 29∆STDEBT: Thay đổi trong nợ vay được bao gồm trong nợ ngắn hạn trong năm; CFO: Dòng tiền lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh
∆REV: Thay đổi khoản doanh thu
PPE: Nguyên giá bất động sản, nhà máy và các trang thiết bị tại thời điểm cuối năm
Mô hình đo lường QTLN thực
QTNL thực là doanh nghiệp có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua việc dàn xếp một
số giao dịch thực tế xảy ra trong năm hiện hành và có thể sự giàn xếp này là không có lợi đối với DN trong dài hạn
Theo các nghiên cứu như Roychowdhury (2006) và Gunny (2010) về QTLN thực, QTLN thực được chia thành 3 phần doanh thu, sản phẩm và chi phí, chi tiết theo 3 mô hình sau:
CFOit /TAit-1 = α0 (1 /TAit-1) + α1 (Sit /TAit-1) + α2 (∆Sit /TAit-1) + ε it (1) PCit/TAit-1=α0(1/TAit-1) +α1(Sit/TAit-1) + α2(∆Sit/TAit-1) + α2(∆Sit-1/TAit-1)+δit (2)
DEit/TAit-1=α0(1/TAit-1)+α1(Sit-1/TAit-1) + λit (3)
Trong đó:
CFO it: Dòng tiền từ hoạt động của công ty i trong năm t
PCit: Giá vốn của hàng bán + Thay đổi của hàng tồn kho của công ty i trong năm t DEit: Chi phí quảng cáo, bán hàng, chi phí chung và quản lý
Sit: Doanh thu công ty i trong năm t
TAit: Tổng tài sản công ty i vào cuối năm t
ACFO = Giá trị tuyệt đối của phần dư từ phương trình (1)
APC = Giá trị tuyệt đối của phần dư từ phương trình (2)
ADE = Giá trị tuyệt đối của phần dư từ phương trình (3)
Mức QTLN thực (REM) = ACFO + APC + ADE
Như vậy, một số nghiên cứu cho rằng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh là mô hình tốt nhất dùng để ước tính biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh so với các mô hình
Trang 30khác (Guay và các cộng sự, 1996; Jaggi & Leung, 2007; Ashbaugh và các cộng sự, 2003)
và trong các mô hình đo lường theo biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh thì theo nghiên cứu của Dechow và các cộng sự (1995) về việc so sánh các mô hình để đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh để thông qua đó đo lường QTLN, kết quả cho thấy mô hình của Jones đã điều chỉnh là tốt nhất để phát hiện QTLN Bên cạnh đó, Kothari và các cộng
sự (2005) phát triển mô hình khác dựa trên mô hình Jones điều chỉnh, họ đề xuất một mô hình mà biến kế toán dồn tích có liên quan tới hoạt động quá khứ và hiện tại của công ty được đo lường thông qua lợi nhuận trên tài sản (ROA) và hiệu quả hoạt động của công ty được xem như một biến độc lập trong việc ước tính biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh Tuy nhiên, Keung & Shih (2014) lại cho rằng, một trong những hạn chế của mô hình là sai sót của mô hình này sẽ có mối liên hệ ngược chiều với kế toán dồn tích có thể điều chỉnh đúng
Vì vậy, tác giả chọn mô hình của Jones đã qua điều chỉnh của Dechow và các cộng
sự (1995) và sử dụng dữ liệu chéo theo nghiên cứu của DeFond & Jiambalvo (1994) Các nghiên cứu Teoh và các cộng sự (1998), Myers và các cộng sự (2003), Xie và các cộng sự (2003), Hsu & Koh (2005), Aboody và các cộng sự (2005), Qinghua và các cộng sự (2007), Jiang và các cộng sự (2008), Jaggi và các cộng sự (2009), Alves (2014), Gonzalez và các cộng sự (2014), Aygun và các cộng sự (2014), Gonza´lez, J S., and Meca, E G (2014), cũng đã sử dụng mô hình này để đo lường biến phụ thuộc QTLN trong các nghiên cứu của
họ
1.1.2.2 Một số mô hình đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên giá trị thích hợp của thông tin kế toán
Mô hình tỷ suất sinh lợi
Mô hình này được phát triển bởi Easton & Harris (1991) và được một số nhà nghiên cứu sử dụng để nghiên cứu về tính hữu dụng của thông tin kế toán như Chen và các cộng
sự (2001) và Lang & Peter (1994) Mô hình như sau:
Rit = β0 + β1EPSit + β2EPS1it + εit
Rit = Tỷ suất sinh lợi cổ phiếu
β0= Hệ số chặn;
Trang 31β1, β2, và β3: Các hệ số;
BVit: Giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu của công ty i trong năm t;
EPSit: Lợi nhuận/Cổ phiếu của công ty i trong năm t;
EPS1it: Thay đổi lợi nhuận/Cổ phiếu;
và Labelle (1998) tại Pháp, nghiên cứu của Graham and King (2000) tại Đông Nam Á và nghiên cứu của Chen và các cộng sự (2001) tại Trung Quốc
Mô hình này chỉ ra rằng giá trị của cổ phiếu là chức năng của 2 biến trên BCTC là giá trị sổ sách của cổ phiếu và lợi nhuận trên cổ phiếu và các thông tin thích hợp khác không hoặc chưa đạt được do hệ thống chế độ, chuẩn mực và các quy định của kế toán
BVit: Giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu của công ty i trong năm t;
EPSit: Lợi nhuận/Cổ phiếu của công ty i trong năm t; εit : Phần dư
Mô hình giá - Mô hình EBO điều chỉnh (Modified Edward Bell Ohlson model) hay còn gọi là mô hình Ohlson điều chỉnh
Pit = β0 + β1BVit + β2EPSit + β3EPS1it + εit
Trang 32Trong đó:
P = Giá thị trường cổ phiếu
β0= Hệ số chặn;
β1, β2: Các hệ số;
EPSit: Lợi nhuận/Cổ phiếu của công ty i trong năm t;
EPS1it: Thay đổi lợi nhuận/Cổ phiếu;
εit : Phần dư
Mô hình EBO điều chỉnh bổ sung thêm so với mô hình EBO gốc một biến gọi là sự thay đổi trong thu nhập (EPS1) Điều này là do thực tế giá cổ phiếu đại diện cho giá trị thị trường của công ty, trong khi con số kế toán đại diện cho công ty giá trị dựa trên các thủ tục kế toán Khi cả hai khái niệm liên quan chặt chẽ, tức là, những thay đổi trong thông tin
kế toán tương ứng với những thay đổi trong giá trị thị trường của công ty, nó được giả định rằng thông tin thu nhập cung cấp thông tin thích hợp và đáng tin cậy (Nichols & Wahlen, 2004) Phương pháp này cũng được sử dụng để kiểm tra tính bền vững của lợi nhuận, khả năng tiên đoán, và sự thay đổi như các yếu tố về chất lượng báo cáo (Francis và các cộng
sự, 2004, Schipper & Vincent, 2003)
Theo Barth và các cộng sự (2001), Choi, Collins (1997) và Nichols & Wahlen (2004) cho rằng mô hình giá trị thích hợp đo lường được chất lượng thông tin BCTC bởi vì
nó tập trung mối quan hệ giữa những con số kế toán với phản ứng của thị trường cổ phiếu Ngoài ra, theo Bernard (1995), mô hình Ohlson đã đóng góp sự phát triển quan trọng nhất trong các nghiên cứu thị trường vốn trong năm thập niên 90 và nó cung cấp một nền tảng cho việc xác định lại mục tiêu thích hợp của các nghiên cứu giá trị Theo Beisland (2009) cho rằng “… mô hình giá trị thích hợp của TTKT được sử dụng bởi các nhà đầu tư để ước tính giá trị công ty Một mục tiêu của BCTC là giúp các nhà đầu tư trong việc định giá vốn chủ sở hữu Thông tin tài chính thích hợp khi những con số kế toán phải có mối liên hệ với giá trị công ty hiện hành Nếu không có mối quan hệ giữa những con số kế toán và giá trị công ty, TTKT không thể cho là thích hợp và như vậy BCTC không thể thực hiện một trong những mục tiêu chính của BCTC…”1
Trang 33
Vì vậy, dựa trên những phân tích ở trên, trong số các mô hình sử dụng để đo lường chất lượng lợi nhuận, tác giả đã lựa chọn mô hình EBO điều chỉnh là 1 trong 2 mô hình đo lường chất lượng BCTC trong luận án này Các nghiên cứu của Abubakar (2011), Hassan (2012) và Ahmed (2012) cũng đã sử dụng mô hình này để đo lường biến phụ thuộc, chất lượng BCTC trong nghiên cứu của họ
Có rất nhiều nghiên cứu trước đây đo lường chất lượng BCTC bằng chất lượng lợi nhuận, cả những nghiên cứu sử dụng chất lượng BCTC là biến phụ thuộc cũng như với vai trò là biến độc lập
Theo Choi và Pae (2011) trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa đạo đức kinh doanh và chất lượng BCTC tại Hàn Quốc đã đo lường chất lượng BCTC theo 3 cách đó là quản trị lợi nhuận (sử dụng biến kế toán dồn tích), thận trọng kế toán và tính chính xác của dồn tích tiên đoán dòng tiền hoạt động trong tương lai
Theo Gajevszky (2015) trong nghiên cứu về đánh giá chất lượng BCTC tại Romania đã đo lường chất lượng BCTC thông qua chất lượng lợi nhuận bằng mô hình biến
kế toán dồn tích của Dechow và các cộng sự (1995) và mô hình của Kothari và các cộng
sự (2005)
Trong nghiên cứu của Darabi và các cộng sự (2012) nghiên cứu về nhân tố vốn trí tuệ ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính, tác giả này đã sử dụng mô hình của Dechow và Dichev (2002) để đo lường chất lượng BCTC
Hashim (2012) với nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa đến chất lượng BCTC tại Malaysia, nghiên cứu này cũng đã sử dụng mô hình chất lượng biến kế toán dồn tích của Dechow & Dichev (2002) để đo lường biến phụ thuộc chất lượng BCTC
Một nghiên cứu khác của Alzoubi (2012) về đặc điểm của HĐQT và chất lượng BCTC của các công ty niêm yết Jordanian, khuôn mẫu khái niệm đề nghị, tác giả cũng đã
sử dụng quản trị lợi nhuận để đo lường chất lượng BCTC
Ngoài ra, còn khá nhiều các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC đã sử dụng chất lượng lợi nhuận để đo lường biến phụ thuộc này được tác giả trình bày trong nội dung kế tiếp
Trang 341.2 Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Có khá nhiều các nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC, đặc biệt là chất lượng lợi nhuận trong BCTC, các nhân tố này bao gồm cả các nhân
tố bên trong và bên ngoài công ty
Một nghiên cứu khá hữu ích của Dechow và các cộng sự (2010) nghiên cứu về đo lường chất lượng lợi nhuận, các nhân tố ảnh hưởng và kết quả của chất lượng lợi nhuận tổng hợp từ trên 300 nghiên cứu trên thế giới, điều đáng quan tâm trong kết quả của nghiên cứu này đã tổng hợp và phân loại các nhân tố ảnh hưởng chất lượng lợi nhuận nói riêng và chất lượng BCTC nói chung ra 6 nhóm nhân tố: (1) đặc điểm công ty bao gồm hiệu quả công ty, tình trạng nợ, sự tăng trưởng và đầu tư, quy mô công ty, (2) thực tiễn bao gồm phương pháp kế toán, phương pháp trên cơ sở nguyên tắc với trên cơ sở quy định và thực tiễn BCTC khác, (3) quản trị công ty và kiểm soát nội bộ bao gồm hội đồng quản trị, tỷ lệ
sở hữu vốn, chế độ đãi ngộ, cơ chế kiểm soát nội bộ , (4) Kiểm toán bao gồm rủi ro kinh doanh, loại công ty kiểm toán, tính độc lập của kiểm toán , (5) động lực của thị trường vốn bao gồm động lực khi công ty tăng vốn, mục tiêu lợi nhuận đạt được, và (6) các nhân
tố bên ngoài khác như yêu cầu của thị trường vốn, quá trình chính trị, các quy định liên quan đến thuế và mỗi nghiên cứu thường tập trung vào một trong các nhóm nhân tố trên
Một nghiên cứu của Qinghua và các cộng sự (2007) về mối quan hệ giữa ủy ban kiểm toán, đặc điểm của HĐQT với chất lượng BCTC, nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường chứng khoán Trung Quốc, các tác giả này đã đo lường chất lượng BCTC của các công ty niêm yết thông qua mức quan trị lợi nhuận bằng mô hình Jones đã điều chỉnh và theo dữ liệu chéo với mẫu được chọn là 1192 công ty trong năm 2002, họ đã sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả và hồi quy tuyến tính đa biến để phân tích kết quả của mình Các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC được Qinghua và các cộng sự (2007) chia thành 3 nhóm: Thứ nhất, đặc điểm thành phần HĐQT bao gồm (1) tỷ lệ % giám đốc độc lập trong HĐQT, (2) kiêm nhiệm TGĐ và chủ tịch HĐQT, (3) tỷ lệ % giám đốc độc lập trong HĐQT bằng và cao hơn 1/3 và (4) tỷ lệ % giám đốc độc lập trong HĐQT cao hơn 1/3 Thứ hai, đặc điểm chuyên gia của HĐQT bao gồm (1) thành viên HĐQT có
Trang 35chuyên môn tài chính và (2) có tồn tại UBKT Thứ ba, đặc điểm hành vi của HĐQT bao gồm (1) tính thường xuyên cuộc họp của HĐQT, (2) Tỷ lệ sở hữu của HĐQT, (3) Tỷ lệ % giám đốc đồng thời giữ vị trí kiểm soát công ty của cổ đông Ngoài ra, nghiên cứu còn phân tích ảnh hưởng của các nhân tố khác (biến kiểm soát) đến chất lượng BCTC như quy
mô công ty, đòn bẩy tài chính, chủ sở hữu của nhà quản lý, lỗ trong năm trước, biến động bất thường của hiệu quả công ty, động cơ cho quyền chào bán ngay, sự tập trung quyền sở hữu
Một nghiên cứu khác tại Malaysia của Radzi và các cộng sự (2011) thực hiện về mối quan hệ giữa các nhân tố như quy mô công ty kiểm toán (loại công ty kiểm toán), sự thiết lập kiểm toán nội bộ, giám đốc công ty là cựu KTV cao cấp, phí kiểm toán, quy mô công ty, số lượng công ty con, số chứng chỉ kiểm toán viên, đối tác kiểm toán công ty và trì hoãn kiểm toán với chất lượng BCTC với mẫu được lựa chọn 113 công ty niêm yết trên TTCK Malaysia, các tác giả cũng đã sử dụng mô hình Jones đã điều chỉnh theo dữ liệu chéo để đo lường chất lượng BCTC
Một nghiên cứu gần đây tại Bồ Đào Nha do Alves (2014) thực hiện về ảnh hưởng của tính độc lập của HĐQT đến chất lượng lợi nhuận, ngoài ra tác giả này cũng đã phân tích thêm mối quan hệ của các nhân tố khác đó là đòn bẩy tài chính, dòng lưu chuyển tiền thuần, cơ hội đầu tư (cơ hội phát triển), loại công ty kiểm toán và quy mô công ty Mô hình Jones điều chỉnh được tác giả này sử dụng để đo lường chất lượng lợi nhuận 33 công ty phi tài chính trong giai đoạn 2003-2010 trên thị trường vốn của Bồ Đào Nha được tác giả lựa chọn trong mẫu nghiên cứu Kết quả nhất quán cho cả 2 phương pháp sử dụng chỉ có nhân tố loại công ty kiểm toán không ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận, các nhân tố còn lại đều có ảnh hưởng
Một số nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận và chất lượng BCTC khác tại một số quốc gia trên thế giới, các nghiên cứu này cũng đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận, tuy nhiên, họ sử dụng mô hình của Dechow & Dichev (2002) để đo lường Chẳng hạn như trong một nghiên cứu của Hassan (2013) về đặc điểm giám sát và chất lượng BCTC của các công ty sản xuất niêm yết tại Nigerian, tác giả này đã sử dụng mô của Dechow & Dichev (2002) để đo lường chất lượng BCTC, với mẫu được lựa chọn là 32 công ty niêm yết trên TTCK Nigerian, số liệu thu thập giai đoạn 2007-2011 Kết quả tìm ra được các nhân tố Đòn bẩy tài chính, Tính độc lập của BGĐ, tỷ
Trang 36lệ sở hữu bởi tổ chức, quy mô, tính độc lập, số cuộc họp có ảnh hưởng thuận chiều, duy nhất tỷ lệ sở hữu bời nhà quản lý có ảnh hưởng ngược chiều với chất lượng BCTC
Một số nghiên cứu xem xét nhân tố kế hoạch thưởng đối với hành vi QTLN cũng như các quyết định về kế toán của nhà quản lý được thực hiện bởi Healy (1985), Gaver và các cộng sự (1995), Holthausen và các cộng sự (1995), kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu cho thấy các nhà quản lý có nhiều khả năng sẽ thực hiện QTLN để tối đa hóa tiền thưởng của họ
Một nghiên cứu của Abed và các cộng sự (2012), nghiên cứu trên mẫu 329 công ty quan sát trong 3 năm 2006-2009 niêm yết trên TTCK Amman tại quốc gia Ả Rập, kết quả nghiên cứu tìm thấy được trong 7 nhân tố được xem xét chỉ có 2 nhân tố có ảnh hưởng đến QTLN đó là quy mô của HĐQT có ảnh hưởng thuận chiều đến QTLN với mức ý nghĩa thống kê 5% và loại ngành công nghiệp có cũng có ảnh hưởng thuận chiều đến QTLN nhưng với mức ý nghĩa thống kê 10%, các nhân tố còn lại tính độc lập của HĐQT, sự kiêm nhiệm giữa TGĐ và chủ tịch HĐQT, sự tập trung quyền sở hữu, đòn bẩy tài chính và quy
mô công ty không có ảnh hưởng đến QTLN trong nghiên cứu này
Một số nghiên cứu khác về các nhân tố ảnh hưởng đến QTLN đo lường bằng mô hình Jones đã điều chỉnh như nghiên cứu về quản trị công ty, đặc điểm công ty với QTLN (được các tác giả coi là chất lượng BCTC) thực hiện bởi Waweru và Riro (2013), phân tích
dữ liệu bảng 148 quan sát của 37 công ty niêm yết trên TTCK Nairobi trong giai đoạn 2006-2010 thuộc nước Kenyan ở Châu Phi QTLN được các tác giả sử dụng mô hình của Korathi và các cộng sự (2005) để đo lường Các nhân tố thuộc QTCT được các tác giả xem xét bao gồm cấu trúc sở hữu (sự tập trung quyền sở hữu), tính độc lập của UBKT và thành phần HĐQT (tính độc lập của HĐQT), các nhân tố thuộc đặc điểm công ty là quy mô công
ty, hiệu quả công ty và đòn bẩy tài chính Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 3 nhân tố cấu trúc sở hữu, tính độc lập của HĐQT và đòn bẩy tài chính có tác động đến QTLN
Ahmed (2013) nghiên cứu về ảnh hưởng của 4 nhân tố thuộc đặc điểm của HĐQT gồm số cuộc họp của HĐQT, tính độc lập của HĐQT, mức độ chuyên môn tài chính của HĐQT và sự kiêm nhiệm chủ tịch HĐQT và TGĐ với QTLN cũng đo lường bằng mô hình Jones đã điều chỉnh Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu 71 công ty niêm yết trên TTCK Bursa Malaysia giai đoạn 2001-2005 Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có nhân tố mức độ
Trang 37chuyên môn tài chính có ảnh hưởng, 3 nhân tố còn lại không có bằng chứng có ảnh hưởng đến QTNL
Một nghiên cứu được thực hiện gần đây bởi Aygun và các cộng sự (2014) về ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu vốn và quy mô HĐQT đến QTLN, mẫu nghiên cứu bao gồm 230 công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Istanbul tại Turkey giai đoạn 2009-2012 Kết quả nghiên cứu tìm thấy trong 6 nhân tố được xem xét có đến 6 nhân tố bao gồm quyền sở hữu bởi nhà quản lý, bởi tổ chức, quy mô HĐQT, lợi nhuận, đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng đến QTLN, duy nhất nhân tố quy mô công ty không có ảnh hưởng đến QTLN
Một mô hình đo lường khác cũng đã được sử dụng để đo lường chất lượng lợi nhuận nói riêng và chất lượng BCTC nói chung đó là mô hình EBO của Ohlson (1995),
mô hình này thuộc nhóm mô hình giá trị thích hợp của TTKT, khác với các mô hình trên, chúng đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên cơ sở kế toán, mô hình EBO này đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên cơ sở thị trường và cũng có một số nhà nghiên cứu đã sử dụng trong nghiên cứu của mình như của Hassan (2012) nghiên cứu 3 nhân tố thuộc cấu trúc công ty đến chất lượng BCTC như quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và sự phân tán của cổ đông, kết quả phân tích tìm thấy cả 3 nhân tố đều có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC, trong đó, quy mô công ty và mức độ phân tán cổ đông có tác động cùng chiều trong khi đó đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều đến chất lượng BCTC
Một nghiên cứu khác của Habib & Azim (2008) về mối quan hệ giữa QTCT và giá trị thích hợp của TTKT, các tác giả đã sử dụng mô hình EBO để đo lường giá trị thích hợp của TTKT và các nhân tố QTCT được xem xét bao gồm tính độc lập của HĐQT, quy mô của HĐQT, tính kiêm nhiệm giữa chủ tịch HĐQT, TGĐ, quy mô của UBKT, tính độc lập của UBKT, trình độ học vấn của UBKT, số lượng cuộc họp của UBKT, công ty kiểm toán Big 5 và phí dịch vụ phi kiểm toán Ngoài ra, các biến kiểm soát cũng được nhóm tác giả xem xét đó là lợi nhuận công ty, quy mô công ty, cơ hội phát triển và đòn bẩy tài chính Kết quả hồi quy cho thấy cấu trúc QTCT tốt sẽ tăng giá trị thích hợp của thông tin kế toán của 500 công niêm yết hàng đầu của úc giai đoạn 2001 - 2003
Nghiên cứu của Jamaluddin và các cộng sự (2009) nghiên cứu dựa trên số quan sát
560 công ty năm giai đoạn 1999 - 2001 tại Malaysia về sự cải thiện QTCT của Malaysia ảnh hưởng đến giá trị thích hợp của giá trị sổ sách cổ phiếu và lợi nhuận sử dụng mô hình
Trang 38EBO của Ohlson (1995), kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng thực tiễn thay đổi các quy định tại Malaysia đã không có tác động vào giá trị thích hợp của giá trị sổ sách cổ phiếu và lợi nhuận Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu cũng tìm thấy quy mô của HĐQT, tính độc lập của HĐQT và số lượng thành viên hồi giáo trong HĐQT không có ảnh hưởng đến giá trị thích hợp của TTKT, tuy nhiên, nhân tố chủ tịch HĐQT có kiêm nhiệm TGĐ có ảnh hưởng ngược chiều đến giá trị thích hợp của thông tin trên BCTC
Ngoài ra, một số nghiên cứu sử dụng đồng thời nhiều mô hình để đo lường chất lượng BCTC khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến nó như nghiên cứu của Klai (2011) về mối quan hệ giữa QTCT và chất lượng BCTC của các công ty tại quốc gia Tunisia Nghiên cứu trên mẫu 22 công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Tunis Chất lượng BCTC được tác giả đo lường theo cả 2 mô hình: Mô hình McNichols (2002) và mô hình của Ball và Brown (1968) và Collins & Kothari (1989), có 4 nhân tố được tác giả cho rằng là đại diện cơ chế kiểm soát chính của QTCT là kiểm soát bởi nước ngoài, tập trung vốn chủ sở hữu, kiểm soát bởi gia đình và kiểm soát bởi Nhà nước và các tổ chức tài chính, kết quả nghiên cứu cho thấy kiểm soát bởi nước ngoài, thành viên trong gia đình và sự tập trung quyền sở hữu có ảnh hưởng giảm đến chất lượng BCTC, ngược lại, kiểm soát bởi tổ chức tài chính và nhà nước cải thiện chất lượng BCTC Ngoài ra, 3 nhân tố được xem là các biến kiểm soát gồm quy mô công ty và cơ hội phát triển ảnh hưởng giảm và đòn bẩy tài chính ảnh hưởng tăng chất lượng BCTC
Nghiên cứu của Chalaki và các cộng sự (2012) về đặc điểm QTCT và chất lượng BCTC được đo lường theo 2 mô hình đó là mô hình của McNichols (2002) và mô hình của Collins và Kothari (1989), nghiên cứu được thực hiện trên mẫu 136 công ty trên TTCK Tehran, dữ liệu thu thập 9 năm (2003-2011), kết quả của nghiên cứu này khá đặc biệt tất cả các nhân tố được phân tích không có tác động đến chất lượng của BCTC bao gồm quy mô của HĐQT, tính độc lập của HĐQT, sự tập trung vốn chủ sở hữu, quyền sở hữu của tổ chức và các nhân tố được xem là các biến kiểm soát như quy mô công ty kiểm toán, quy
mô công ty và tuổi của công ty cũng không có tác động đến chất lượng BCTC
Ngoài ra, còn khá nhiều nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC, tác giả đã tổng quan các kết quả nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới theo bảng 1.1 bên dưới
Trang 39Như vậy, trên thế giới cũng đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về các nhân
tố ảnh hưởng chất lượng BCTC, trong đó, chất lượng BCTC cũng đã được đo lường bằng nhiều cách khác nhau, mỗi nghiên cứu thường tập trung vào một hoặc vài nhóm nhân tố như QTCT, đặc điểm công ty Hầu hết các nghiên cứu này sử dụng mô hình hàm hồi quy
và sử dụng phương pháp ước lượng OLS (Houqe và các cộng sự, 2010; Radzi và các cộng
sự, 2011; Liu, 2012; Waweru & Riro, 2013; Hassan, 2013; Johl và các cộng sự, 2013; Aygun và các cộng sự, 2014), nghiên cứu đều sử dụng phương pháp OLS, nghiên cứu của Alves (2014) sử dụng phương pháp 2SLS Một số nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng FEM (Soliman & Ragab, 2013; Rahman và các cộng sự, 2008) và có nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng GLS (Alkdai & Hanefah, 2012; Rafiee và các cộng sự, 2014))
1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, chủ đề liên quan đến chất lượng BCTC cũng được một số nhà nghiên cứu quan tâm, các công trình nghiên cứu này cụ thể như sau:
Luận án tiến sỹ của Nguyễn Phúc Sinh (2008) về nâng cao tính hữu ích của BCTC
DN Việt Nam, mục đích của nghiên cứu này là nhằm xác định phương hướng, quan điểm
và đề xuất các giải pháp để nâng cao tính hữu ích của BCTC tại Việt Nam
Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Đình Hùng (2010), nghiên cứu về hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam, tác giả phân tích các thành phần, mối quan hệ và cơ chế hoạt động của hệ thống này
Một nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2012) về mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết ở sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh với mẫu nghiên cứu gồm 54 doanh nghiệp niêm yết năm 2010, dựa theo kết quả phân tích của nghiên cứu này, tác giả cho rằng mô hình Jones điều chỉnh không hiệu quả trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE, tuy nhiên, kết quả này lại trái ngược với kết quả nghiên cứu của Nguyen (2015) đã
sử dụng dữ liệu nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn bao gồm 1.025 quan sát của 267 công ty trong giai đoạn 2008 – 2011 cũng của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE thì dựa trên kết quả phân tích, tác giả này đã kết luận mô hình Jones điều chỉnh phù hợp trong việc phát hiện QTLN tại Việt Nam Ngoài ra, trong nghiên cứu của mình, Phạm Thị Bích Vân
Trang 40đã có đề xuất mô hình mới dựa trên mô hình của Jones điều chỉnh để nhận diện điều chỉnh lợi nhuận tại các DN niêm yết trên HOSE, tác giả này đã thay biến tài sản cố định bằng biến khấu hao tài sản cố định và đưa thêm biến dự phòng vào mô hình, dựa vào kết quả phân tích hồi quy, tác giả đã kết luận mô hình này phù hợp với mô hình của Jones đối với các DN niêm yết trên HOSE Theo tác giả, cần có thêm những nghiên cứu trong tương lai
để kiểm định lại kết luận này vì theo số liệu phân tích hồi quy của nghiên cứu trên, mặc dù giá trị Sig của mô hình có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, hệ số R2 tăng hơn nhưng điều quan trọng là biến thêm vào mô hình lại không có ý nghĩa thống kê (Sig = 0.298), điều này cho thấy, biến dự phòng là biến mới đưa thêm vào mô hình không ảnh hưởng đến phát hiện điều chỉnh lợi nhuận tại các DN Việt Nam
Nghiên cứu của Đường Nguyễn Hưng (2013) về hành vi quản trị lợi nhuận đối với thông tin lợi nhuận công bố trên BCTC, trong bài viết này tác giả chỉ dừng lại ở việc phân tích các khái niệm về QTLN, mục đích và các hướng điều chỉnh lợi nhuận tại các doanh nghiệp nói chung
Nguyễn Thị Hồng Nga (2013) đánh giá việc tuân thủ các quy định về trình bày BCTC của các DN nhỏ và vừa tại Việt Nam hiện nay, tác giả đã khảo sát nhằm thu thập thông tin về mức độ ảnh hưởng và hiểu biết của các nhà quản lý đến việc trình bày BCTC tại các DN vừa và nhỏ, ngoài ra, trong nghiên cứu này, qua kết quả khảo sát cũng cho thấy mức độ áp dụng và các nhân tố ảnh hưởng các yêu cầu của việc lập và trình bày BCTC Các tác giả Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Kim Oanh (2014) đã có một nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, theo các tác giả “việc áp dụng các CSKT khác nhau sẽ mang lại những thông tin khác nhau được trình bày trên BCTC, nên bên cạnh việc lựa chọn CSKT phù hợp theo chuẩn mực, DN còn phải lựa chọn CSKT có thể giúp họ “quản trị” lợi nhuận, mang lại những thông tin có lợi nhất cho họ, kết quả khảo sát về quan điểm của các đối tượng là
kế toán viên và kiểm toán viên của nghiên cứu này cho thấy trong 7 nhân tố được đưa ra
có thì theo họ có 4 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các chính sách kế toán đó là chi phí thuế TNDN, mức vay nợ, tình trạng niêm yết trên sàn giao dịch và sự ổn định giữa các mức lợi nhuận, 3 nhân tố còn lại, theo quan điểm của họ không có ảnh hưởng, hợp đồng vay nợ, chính sách thưởng dành cho nhà quản trị và mức độ sử dụng các hợp đồng liên quan chỉ tiêu lợi nhuận