1. Sự cần thiết của đề tài Ngay từ khi mới dành được độc lập, Bác Hồ đã đã coi giải phóng phụ nữ là giải phóng được một phần hai sức lao động trong toàn xã hội. Ngay trong bản tuyên ngôn độc lập, Người đã đề cập đến quyền bình đẳng nam, nữ, trong đó có quyền bình đẳng về lao động. Kể từ đó phụ nữ được tham gia lao động vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngày nay lực lượng lao động nữ trong giới trí thức chiếm tới 48%, trong lao động công nghiệp chiếm tới 53%, và trong lao động nông nghiệp là 60%. Lao động nữ giữ một vị trí cao hơn cả nam giới trong rất nhiều ngành nghề. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới vai trò của phụ nữ càng được phát huy trong tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên xuất phát từ đặc điểm lao động nữ là ngoài việc thực hiện những nghĩa vụ lao động họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ. Bởi thế họ có những đặc điểm riêng về giới tính (sức khoẻ, tâm sinh lý) chỉ phù hợp trong những điều kiện lao động nhất định. Do vậy, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản, chính sách đối với lao động nữ nhằm bảo vệ quyền lợi và quyền bình đẳng cho phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng. Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào mọi lĩnh vực kinh tế xã hội của đất nước. Trong quá trình này, lực lượng lao động nữ không những lớn mạnh cả về số lượng mà cả về chất lượng. Sự chú ý đối với họ ngày càng gia tăng từ các quan điểm nghiên cứu chính sách, nghiên cứu về giới. Lực lượng lao động Nữ đa số còn trẻ, có sức khỏe, chăm chỉ, cần cù, khéo léo… trong công việc cũng như trong đời sống gia đình, đóng góp đáng kể vào tiến trình phát triển của đất nước. Mặt khác, trong thời kỳ hội nhập toàn cầu hiện nay, lao động Nữ đang có nhiều điều kiện được học tập, tiếp xúc với công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, làm nâng cao năng suất lao động, giúp giải phóng bớt được sức lao động cho phụ nữ. Nhờ đó, lao động nữ càng có điều kiện thuận lợi hơn để chăm sóc bản thân và gia đình, góp phần vào sự bình ổn của xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cùng với mặt trái của cơ chế thị trường đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống của phụ nữ nói chung và nguồn lao động nữ nói riêng. Một bộ phận phụ nữ còn không được học hành cơ bản, thiếu việc làm, thiếu kỹ năng chuyên môn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức khoa học để làm việc và sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Bên cạnh đó là tình trạng gia tăng các tệ nạn xã hội như bạo hành phụ nữ, buôn bán phụ nữ, mại dâm, nghiện hút,...và sự bất bình đẳng giữa nam, nữ trong một bộ phận xã hội còn biểu hiện tương đối nặng nề. Từ đó gây ảnh hưởng đến hiệu quả lao động của lao động nữ. Đồng thời các văn bản, chính sách đối với lao động nữ trước đây đã bộc lộ những hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình đất nước trong thời kỳ mới thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Các chính sách đó chủ yếu mới chỉ nhìn nhận từ góc độ bình đẳng giới, chưa bao quát cả ở góc độ phát triển kinh tế xã hội, và có những điểm không còn phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Do vậy, Nhà nước cần phải tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi và hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ nhằm đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng cho lao động Nữ, khai thác và sử dụng nguồn lao động nữ có hiệu quả, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước. Với lý do trên, tác giả chọn đề tài: “ Hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ kinh tế, nhằm góp phần làm sáng rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá đúng những kết quả đạt được và hạn chế, yếu kém thông qua việc thực hiện chính sách đối với lao động nữ để nghiên cứu. Đồng thời mạnh dạn đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách này. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến các vấn đề của phụ nữ Việt Nam nói chung và lực lượng lao động nữ nói riêng. Ngay trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã đề cập đến bình đẳng giới, và nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng đề cập đến việc bảo vệ quyền lợi của lao động nữ. Có một số đề tài nghiên cứu về chính sách lao động nữ nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề “Hoàn thiện chính sách đối với nguồn lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam”. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Mục đích nghiên cứu của luận văn là qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, để đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện chích sách đối với lao động Nữ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Để thực hiện được mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ: Phân tích, làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Đánh giá đúng thực trạng chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ thông qua việc đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém,bất cập trong quá trình thực hiện chính sách Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với lao động Nữ đã được triển khai từ trước tới nay và các đối tượng tham gia lao động trong phạm vi điều chỉnh của Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam. Nghiên cứu hệ thống chính sách đối với lao động nữ với tư cách là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các chính sách đối với lao động nữ của Việt Nam. Phạm vi về mặt thời gian chủ yếu là từ giai đoạn sau đổi mới kinh tế, đặc biệt là từ khi có Bộ Luật lao động năm 1995 đến nay, trong đó tập trung đánh giá là từ năm 2000 đến nay. Phần kiến nghị, phương hướng giải pháp cho đến năm 2020. 5. Phương pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩ Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, phương pháp khảo sát, thống kê, so sánh.. để làm rõ nội dung nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài là: nghiên cứu và phân tích tài liệu sẵn có liên quan đến đề tài, nghiên cứu thực tế, phỏng vấn, điều tra xã hội học và phân tích thống kê. Kết hợp với phương pháp tiếp cận liên ngành đối với nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới, lao động và việc làm ở nước ta hiện nay. 6, Dự kiến đóng góp mới của luận văn Góp phần khái quát hoá và làm rõ một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động nữ và chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam. Phân tích, đánh giá được thực trạng chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam và làm rõ những hạn chế, bất cập của các chính sách cũng như nguyên nhân của thực trạng đó. Đề xuất quan điểm và các giải pháp khắc phục được những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách đã ban hành và triển khai thực hiện, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam. 7. Kết cấu luận văn Tên đề tài : Hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam. Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau : Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng về chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Quan điểm và những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam trong thời gian tới.
Trang 1- Vi c th c hi n o t o ngh d phòng cho lao ng n c ng r t h n ch ệ ự ệ đà ạ ề ự độ ữ ũ ấ ạ ế
K t qu i u tra 100 doanh nghi p có s d ng ông lao ng n cho th y ế ả đ ề ệ ử ụ đ độ ữ ấ
ch có 5% doanh nghi p th c hi n o t o ngh d phòng cho lao ng n ỉ ệ ự ệ đà ạ ề ự độ ữ
K t qu ph ng v n sâu 3 trong s 5 doanh nghi p có o t o ngh d ế ả ỏ ấ ố ệ đà ạ ề ựphòng n y thì th y th c ch t ây l o t o l i vì ngay sau khi o t o laoà ấ ự ấ đ à đà ạ ạ đà ạ
ng n chuy n sang ngh m i ngay Ví d lo i hình HTX, lao ng n
l m ngh may chuy n sang l m ngh thú nh i bông, hay nh xí nghi p à ề ể à ề ồ ưở ệ
d t kim ông xuân H n i o t o lao ng n ngh d t chuy n sang ệ Đ à ộ đà ạ độ ữ ề ệ ểmay Khi ph ng v n ng i lao ng n thì không có ai ỏ ấ ườ độ ữ đượ đà ạc o t o ngh ề
d phòng theo quy nh c a pháp lu t Tuy nhiên m t s ngh c bi t ự đị ủ ậ ở ộ ố ề đặ ệ
ng i lao ng ã t b th i gian v kinh phí c a mình h c ngh d ườ độ đ ự ỏ ờ à ủ để ọ ề ựphòng (nh ngh ti p viên h ng không, di n viên xi c, Balê).ư ề ế à ễ ế 452.2.2 V chính sách tuy n d ng lao ngề ể ụ độ 462.2.5 V chính sách b o hi m xã h iề ả ể ộ 593.2.1.2 Gi i pháp v t ng c ng o t o ngh d phòng cho lao ng nả ề ă ườ đà ạ ề ự độ ữ 82
Trang 2AT-VSLĐ An toàn – Vệ sinh lao động
Bộ LĐ, TB và XH Bộ Lao động, Thương binh và xã hội
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DNCVĐTNN Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 3- Vi c th c hi n o t o ngh d phòng cho lao ng n c ng r t h n ch ệ ự ệ đà ạ ề ự độ ữ ũ ấ ạ ế
K t qu i u tra 100 doanh nghi p có s d ng ông lao ng n cho th y ế ả đ ề ệ ử ụ đ độ ữ ấ
ch có 5% doanh nghi p th c hi n o t o ngh d phòng cho lao ng n ỉ ệ ự ệ đà ạ ề ự độ ữ
K t qu ph ng v n sâu 3 trong s 5 doanh nghi p có o t o ngh d ế ả ỏ ấ ố ệ đà ạ ề ựphòng n y thì th y th c ch t ây l o t o l i vì ngay sau khi o t o laoà ấ ự ấ đ à đà ạ ạ đà ạ
ng n chuy n sang ngh m i ngay Ví d lo i hình HTX, lao ng n
l m ngh may chuy n sang l m ngh thú nh i bông, hay nh xí nghi p à ề ể à ề ồ ưở ệ
d t kim ông xuân H n i o t o lao ng n ngh d t chuy n sang ệ Đ à ộ đà ạ độ ữ ề ệ ểmay Khi ph ng v n ng i lao ng n thì không có ai ỏ ấ ườ độ ữ đượ đà ạc o t o ngh ề
d phòng theo quy nh c a pháp lu t Tuy nhiên m t s ngh c bi t ự đị ủ ậ ở ộ ố ề đặ ệ
ng i lao ng ã t b th i gian v kinh phí c a mình h c ngh d ườ độ đ ự ỏ ờ à ủ để ọ ề ựphòng (nh ngh ti p viên h ng không, di n viên xi c, Balê).ư ề ế à ễ ế 452.2.2 V chính sách tuy n d ng lao ngề ể ụ độ 462.2.5 V chính sách b o hi m xã h iề ả ể ộ 593.2.1.2 Gi i pháp v t ng c ng o t o ngh d phòng cho lao ng nả ề ă ườ đà ạ ề ự độ ữ 82
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Ngay từ khi mới dành được độc lập, Bác Hồ đã đã coi giải phóng phụ
nữ là giải phóng được một phần hai sức lao động trong toàn xã hội Ngaytrong bản tuyên ngôn độc lập, Người đã đề cập đến quyền bình đẳng nam, nữ,trong đó có quyền bình đẳng về lao động Kể từ đó phụ nữ được tham gia laođộng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Ngày nay lực lượng laođộng nữ trong giới trí thức chiếm tới 48%, trong lao động công nghiệp chiếmtới 53%, và trong lao động nông nghiệp là 60% Lao động nữ giữ một vị trícao hơn cả nam giới trong rất nhiều ngành nghề Ngày nay, trong công cuộc
đổi mới vai trò của phụ nữ càng được phát huy trong tất cả các lĩnh vực Tuy nhiên xuất phát từ đặc điểm lao động nữ là ngoài việc thực hiện những nghĩa
vụ lao động họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ Bởi thế họ có nhữngđặc điểm riêng về giới tính (sức khoẻ, tâm sinh lý) chỉ phù hợp trong nhữngđiều kiện lao động nhất định Do vậy, Nhà nước ta đã ban hành một số vănbản, chính sách đối với lao động nữ nhằm bảo vệ quyền lợi và quyền bìnhđẳng cho phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng
Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo cơ hội cho phụ nữtham gia ngày càng nhiều vào mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước.Trong quá trình này, lực lượng lao động nữ không những lớn mạnh cả về sốlượng mà cả về chất lượng Sự chú ý đối với họ ngày càng gia tăng từ cácquan điểm nghiên cứu chính sách, nghiên cứu về giới Lực lượng lao động Nữ
đa số còn trẻ, có sức khỏe, chăm chỉ, cần cù, khéo léo… trong công việc cũngnhư trong đời sống gia đình, đóng góp đáng kể vào tiến trình phát triển củađất nước Mặt khác, trong thời kỳ hội nhập toàn cầu hiện nay, lao động Nữ
Trang 5đang có nhiều điều kiện được học tập, tiếp xúc với công nghệ, kỹ thuật tiêntiến, hiện đại, làm nâng cao năng suất lao động, giúp giải phóng bớt được sứclao động cho phụ nữ Nhờ đó, lao động nữ càng có điều kiện thuận lợi hơn đểchăm sóc bản thân và gia đình, góp phần vào sự bình ổn của xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cùng với mặt trái của cơ chế thị trường đãlàm nảy sinh nhiều vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống của phụ nữ nóichung và nguồn lao động nữ nói riêng Một bộ phận phụ nữ còn không đượchọc hành cơ bản, thiếu việc làm, thiếu kỹ năng chuyên môn, thiếu kinh nghiệm,thiếu kiến thức khoa học để làm việc và sản xuất kinh doanh có hiệu quả Bêncạnh đó là tình trạng gia tăng các tệ nạn xã hội như bạo hành phụ nữ, buôn bánphụ nữ, mại dâm, nghiện hút, và sự bất bình đẳng giữa nam, nữ trong một bộphận xã hội còn biểu hiện tương đối nặng nề Từ đó gây ảnh hưởng đến hiệuquả lao động của lao động nữ Đồng thời các văn bản, chính sách đối với laođộng nữ trước đây đã bộc lộ những hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu củatình hình đất nước trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.Các chính sách đó chủ yếu mới chỉ nhìn nhận từ góc độ bình đẳng giới, chưabao quát cả ở góc độ phát triển kinh tế - xã hội, và có những điểm không cònphù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Do vậy, Nhà nước cần phải tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi và hoàn thiệnchính sách đối với lao động nữ nhằm đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng cholao động Nữ, khai thác và sử dụng nguồn lao động nữ có hiệu quả, góp phầnđẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài: “ Hoàn thiện chính sách đối với lao
động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” làm luậnvăn thạc sỹ kinh tế, nhằm góp phần làm sáng rõ thêm cơ sở lý luận và thựctiễn, đánh giá đúng những kết quả đạt được và hạn chế, yếu kém thông qua
Trang 6việc thực hiện chính sách đối với lao động nữ để nghiên cứu Đồng thời mạnhdạn đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách này.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến các vấn đềcủa phụ nữ Việt Nam nói chung và lực lượng lao động nữ nói riêng Ngaytrong Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã đề cập đến bình đẳng giới, và nhiềuchỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng đề cập đến việc bảo vệ quyền lợi của laođộng nữ Có một số đề tài nghiên cứu về chính sách lao động nữ nhưng chưa
có đề tài nào nghiên cứu vấn đề “Hoàn thiện chính sách đối với nguồn laođộng nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là qua nghiên cứu lý luận và thựctiễn, để đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện chích sách đối với laođộng Nữ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
Để thực hiện được mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn về hoànthiện chính sách đối với lao động nữ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
- Đánh giá đúng thực trạng chính sách của Nhà nước đối với lao động
nữ thông qua việc đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém,bất cậptrong quá trình thực hiện chính sách
- Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sáchđối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách của Đảng, Nhànước đối với lao động Nữ đã được triển khai từ trước tới nay và các đối tượngtham gia lao động trong phạm vi điều chỉnh của Bộ Luật Lao động nướcCHXHCN Việt Nam
Trang 7- Nghiên cứu hệ thống chính sách đối với lao động nữ với tư cách làmột bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống cơ chế chính sách của Đảng vàNhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các chính sách đối với lao động nữcủa Việt Nam Phạm vi về mặt thời gian chủ yếu là từ giai đoạn sau đổi mớikinh tế, đặc biệt là từ khi có Bộ Luật lao động năm 1995 đến nay, trong đó tậptrung đánh giá là từ năm 2000 đến nay Phần kiến nghị, phương hướng giảipháp cho đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, phương pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩ Mác - Lê Nin và tư tưởng HồChí Minh Kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, phương phápkhảo sát, thống kê, so sánh để làm rõ nội dung nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài là: nghiên cứu và phân tích tàiliệu sẵn có liên quan đến đề tài, nghiên cứu thực tế, phỏng vấn, điều tra xã hộihọc và phân tích thống kê Kết hợp với phương pháp tiếp cận liên ngành đối vớinghiên cứu vấn đề bình đẳng giới, lao động và việc làm ở nước ta hiện nay
6, Dự kiến đóng góp mới của luận văn
- Góp phần khái quát hoá và làm rõ một số vấn đề cơ sở lý luận và thựctiễn về lao động nữ và chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ trong quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
- Phân tích, đánh giá được thực trạng chính sách của Nhà nước đối vớilao động nữ trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở ViệtNam và làm rõ những hạn chế, bất cập của các chính sách cũng như nguyênnhân của thực trạng đó
- Đề xuất quan điểm và các giải pháp khắc phục được những hạn chế,bất cập của cơ chế, chính sách đã ban hành và triển khai thực hiện, đồng thời
Trang 8đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ trongquá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam.
7 Kết cấu luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách đối với lao động
nữ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng về chính sách đối với lao động nữ trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Quan điểm và những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính
sách đối với lao động nữ trong quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 91.1.1 Lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động nữ
1.1.1.1 Khái niệm lực lượng lao động xã hội
Từ năm 1996 đến nay, trong các cuộc điều tra Lao động Việc làm hàngnăm trên cả nước luôn sử dụng khái niệm về lực lượng lao động như sau:
Lực lượng lao động bao gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang cóviệc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm Lực lượng lao động trong độ tuổi laođộng (còn gọi là dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động ) bao gồmnhững người trong độ tuổi lao động đang có việc làm hoặc không có việc làm(thất nghiệp) nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc
Như vậy, có thể hiểu theo nghĩa hẹp (có giới hạn về độ tuổi lao động)thì: lực lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khảnăng lao động, đang có việc làm và những người chưa có việc làm nhưng cónhu cầu tìm kiếm việc làm Ở Việt nam, độ tuổi lao động được qui định từ 15tuổi đến hết 60 tuổi đối với nam và từ 15 tuổi đến hết 55 tuổi đối với nữ
Hiểu theo nghĩa rộng, lực lượng lao động bao gồm những người có khảnăng lao động đang trong độ tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi laođộng, (tức là từ 15 tuổi trở lên theo qui định của Việt Nam) nhưng hiện đanglàm việc hoặc thất nghiệp nhưng có nhu cầu làm việc
1.1.1.2 Khái niệm lực lượng lao động Nữ
Từ khái niệm lực lượng lao động ở trên có thể hiểu khái niệm lực lượnglao động nữ như sau:
Trang 10Lực lượng lao động nữ bao gồm những người phụ nữ từ đủ 15 tuổi trởlên có khả năng lao động, đang có việc làm hoặc chưa có việc làm nhưng cónhu cầu tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc.
Lực lượng lao động nữ trong độ tuổi lao động bao gồm những ngườiphụ nữ từ 15 tuổi đến 55 tuổi, có khả năng lao động, hiện đang có việc làmhoặc chưa có việc làm nhưng đang tìm kiếm việc làm
1.1.1.3 Đặc điểm của lao động Nữ
+ Trước tiên là đặc điểm thiên chức làm mẹ : Do chức năng tự nhiêncủa giới tính, phụ nữ có thiên chức mang thai và sinh con, nuôi con bằngdòng sữa của mình Mỗi người phụ nữ nếu sinh hai con thì thường là phải mất
từ 5 đến 10 năm đề dành tâm trí và sức lực cho việc sinh nở và chăm sóc concái Đây chính là trở ngại lớn nhất đối với lao động nữ khi tham gia thị trườnglao động so với lao động nam
+ Thứ hai là đặc điểm sức khỏe sinh lý: Phụ nữ thường là thấp bé, nhẹcân, chân yếu tay mềm lại phải đảm nhận thiên chức làm mẹ nên không thíchhợp với công việc nặng nhọc, độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe người mẹ vàthai nhi như những công việc trên cao, công việc dưới nước hoặc tiếp xúc vớihóa chất độc hại Bên cạnh đó, đặc tính của phụ nữ lại rất dịu dàng, khéo tay,cần cù, chịu khó nên rất thích hợp các nghề thêu ren, giáo dục, dịch vụ, thủcông truyền thống và chế biến nông sản, thực phẩm,
+ Thứ ba là đặc điểm về xã hội: So với nam giới, điều kiện sinh hoạt
ăn, ở của lao động nữ thường phức tạp hơn Lao động nữ thường có trình độhọc vấn, trình độ chuyên môn thấp hơn lao động nam Thêm vào đó là tính rụt
rè, tự ti, an phận và khó thích nghi được với những điều kiện làm việc nưthường xuyên đi công tác xa nhà, làm việc ban đêm, nghề có tính chất nguyhiểm, là những trở ngại đối với lao động nữ
Trang 111.1.2 Chính sách lao động Nữ và nội dung của chính sách lao động Nữ
1.1.2.1 Chính sách xã hội và chính sách lao động Nữ
* Quan niệm về chính sách xã hội
Chính sách là sự thể chế hóa, cụ thể hóa tư tưởng, quan điểm của chủthể lãnh đạo, phù hợp với bản chất chế độ chính trị - xã hội, phản ánh lợi ích
và trách nhiệm của Nhà nước, cộng đồng xã hội, phản ánh lợi ích giữa conngười với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục đích cao nhất
là phục vụ con người Dưới giác độ quản lý nhà nước, chính sách là công cụquan trọng để giải quyết các vấn đề của đất nước, điều chỉnh các mối quan hệchính trị - xã hội trong từng giai đoạn phát triển cụ thể của đất nước
Như vậy có thể nói rằng: chính sách xã hội là tổng thể những biện pháp,
cách thức, phương thức của nhà nước tác động vào lĩnh vực xã hội Nhằm đưa các hoạt động xã hội phát triển theo những mục tiêu nhất định trong những giai đoạn nhất định
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 6 đã nêu rõ « chính sách xã hội baotrùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáodục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, Coi nhẹ chính sách xãhội tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xãhội » Chính sách xã hội tác động và liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt độnglớn của xã hội, đến những đối tượng khác nhau, và một trong số các đối tượngđược hưởng thụ chính sách xã hội chính là lực lượng lao động nữ nói riêng vàphụ nữ nói chung
* Quan niệm về chính sách đối với lao động nữ
Phụ nữ chiếm một nửa của nhân loại, vì vậy ở mỗi quốc gia phụ nữluôn là đối tượng tác động, điều chỉnh của hệ thống chính sách Chính sáchlao động nữ nằm trong hệ thống chính sách xã hội Chính sách lao động nữ cóthể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau
Trang 12Lao động nữ trước hết là người lao động xã hội, vì vậy hệ thống chínhsách về lao động của Đảng và Nhà nước ta đều trực tiếp hoặc gián tiếp có tácđộng đến lao động nữ Có thể nói, chính sách đối với lao động nữ là hệ thốngcác chủ trương, quan điểm đã được thể chế hóa dưới nhiều hình thức, nhằmtạo điều kiện cho người phụ nữ phát huy năng lực của mình trên mọi lĩnh vựcchính trị-kinh tế-văn hóa-xã hội và đảm bảo công bằng xã hội giữa phụ nữ
và nam giới
Về mặt nhận thức, chính sách đối với lao động nữ được hiểu như một
bộ phận của chính sách xã hội nói chung là sự kết hợp và lựa chọn của cácnhà hoạch định chính sách trước các tương quan nhiều chiều giữa hiệu quảkinh tế và công bằng xã hội, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài Vềnguyên tắc, lao động nữ sẽ có những điều kiện vật chất, tinh thần, môi trườngkhi kinh tế phát triển và chính sách xã hội chung được đảm bảo Ngoài mụcđích là xây dựng và phát huy công bằng xã hội giữa hai giới thì chính sách đốivới lao động nữ còn nhằm khắc phục sự bất bình đẳng, thiếu công bằng vàphát triển mất cân đối giữa phụ nữ thuộc các nhóm xã hội, nghề nghiệp, dân
tộc và các vùng khác nhau.
Vậy, chính sách lao động Nữ là một bộ phận của chính sách xã hội,
được áp dụng đối với phụ nữ trong độ tuổi lao động nhằm phát huy vai trò của lao động Nữ trong qua trình phát triển kinh tế xã hội.
Chính sách xã hội đối với lao động nữ chỉ có thể phát huy tác dụng khitính đến các chức năng riêng có của phụ nữ trong một thể hoàn chỉnh luônđộng và tạo điều kiện để người phụ nữ lựa chọn hoặc kết hợp theo cái mà họthấy có lợi nhất cho gia đình và bản thân
1.1.2.2 Nội dung của chính sách đối với lao động Nữ
Phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng là nhóm người dễ bị thươngtổn theo các mức độ khác nhau Trong nền kinh tế thị trường, họ thuộc một
Trang 13trong những nhóm bất lợi và cần có sự hỗ trợ của Chính phủ, của xã hội vàcủa cộng đồng Vì vậy, hệ thống luật pháp, chính sách việc làm cho lao động
nữ đã quy định một số biện pháp ưu tiên để bù đắp thiệt thòi của họ và giúpcho lao động nữ khắc phục các rào cản về giới, khuyến khích lao động nữ vừahoàn thành tốt các công tác xã hội và vai trò làm mẹ, làm vợ trong gia đình
Trong hơn 40 năm qua đã có khoảng 45 vạn văn bản của Nhà nước đề
cập đến các chính sách xã hội đối với lao động nữ Sự đổi mới của đất nước
đã làm cho các chính sách nói chung và chính sách lao động nữ nói riêngcũng dần được đổi mới, hoàn thiện để phù hợp với điều kiện mới, trong đó BộLuật Lao động (1995) đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trìnhxây dựng chính sách về lao động nữ Chương X của Bộ Luật Lao động gồm
10 điều qui định các quyền lợi cụ thể của lao động nữ có liên quan đến chứcnăng, đặc điểm riêng của phụ nữ, ( từ Điều 109 đến Điều 118)
Nội dung của các văn bản chính sách và pháp luật này rất phong phú,trong đó tập trung vào một số vấn đề chính của lĩnh vực lao động nữ bao gồm:
xã hội, góp phần bình ổn xã hội
Trang 14Hiến pháp Việt Nam trong tất cả các giai đoạn lịch sử đều ghi nhậnquyền bình đẳng của phụ nữ đối với nam giới, ‘Nhà nước có chính sách laođộng phù hợp với điều kiện của phụ nữ Phụ nữ và nam giới có việc làm nhưnhau thì tiền lương ngang nhau Phụ nữ có quyền nghỉ trước và sau khi sinh
đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương ’ (Điều 109 - Luật LĐ)
Chính sách này còn quy định về chế độ làm việc của lao động nữ vàtrách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc nghiên cứu nghề màngười lao động nữ không thể làm việc liên tục cho đến tuổi nghỉ hưu, lập kếhoạch đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ Ngoài ra, Nghị định này còn
có những quy định có tính chất khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nhiều laođộng nữ sẽ được Nhà nước xét giảm thuế, ưu tiên hỗ trợ vay vốn để doanhnghiệp chi cho việc cải thiện điều kiện làm việc cho lao động nữ ( Điều 110 -Luật LĐ)
Trong mỗi thời kỳ khác nhau, Chính phủ sẽ đề ra những chính sáchviệc làm cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, cải thiện đờisống, mở rộng hoặc thu hẹp việc làm của lĩnh vực, ngành này hay ngànhkhác, tạo môi trường để người chủ sử dụng lao động và lao động nữ gặp nhau
* Chính sách về tuyển dụng lao động
Trước đây, khi nền kinh tế đang trong thời kỳ bao cấp thì vấn đề việclàm được sắp xếp theo sự phân công của Nhà nước phù hợp với trình độchuyên môn, học vấn của mỗi người, trong đó có cả lực lượng lao động nữ.Tuy nhiên khi chuyển sang thời kỳ kinh kế thị trường và công nghiệp hóa thì
đã có những sự tác động lớn với vấn đề tuyển dụng lao động Thị trường laođộng ở nước ta bắt đầu hình thành và phát triển, do quan hệ cung cầu, ngườilao động bao giờ cũng yếu thế hơn so với người sử dụng lao động và phảichấp nhận sự cạnh tranh trong thị trường lao động Trong cuộc cạnh tranh gaygắt này, lao động nữ thường rơi vào thế bất lợi hơn so với nam giới
Trang 15Đặc điểm riêng của lao động nữ là sinh con và thường phải chăm sóccon cái, gia đình, đồng thời tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào ý thứccủa người Á Đông, người sử dụng lao động cũng thường cho rằng sử dụng laođộng nữ sẽ vừa phải tốn thêm chi phí trợ cấp lúc thai sản, vừa thiếu nhân lựclúc lao động nữ nghỉ chế độ thai sản nên dễ gây ảnh hưởng tới hiệu quả côngviệc vì vậy, họ thường thích sử dụng lao động nam hơn Chính vì vậy, trongchính sách tuyển dụng, nhà nước yêu cầu người sự dụng lao động phải ưu tiên
sử dụng lao động nữ nếu người lao động nữ có đủ tiêu chuẩn tuyển chọn côngviệc phù hợp với cả nam lẫn nữ (Khoản 2, Điều 111- Luật LĐ )
* Chính sách về an toàn, vệ sinh lao động
Trong quá trình lao động sản xuất, luôn có rất nhiều nguy cơ tiềm ẩngây tai nạn lao động, hậu quả thường là để lại những di chứng hoặc thương tậtvĩnh viễn cho người lao động, cũng có thể là những bệnh nghề nghiệp gây ảnhhưởng xấu tới sức khỏe về lâu dài người lao động, thậm chí là mất cả tínhmạng Đối với lao động nữ thì hậu quả sẽ càng nặng nề hơn Do vậy, vấn đề
an toàn và môi trường vệ sinh trong lao động phải luôn được các cơ quanchức năng, chủ doanh nghiệp và cả người lao động quan tâm, thực hiện tốtnhằm tránh tối đa các hậu quả xấu có thể xảy ra
Ngoài những qui đinh về chế độ bảo hộ lao động nói chung thì chínhsách này qui định riêng những điều khoản về bảo vệ lao động nữ như khôngphải làm trong các ngành, nghề độc hại, không phù hợp với đặc điểm laođộng nữ Chính phủ cũng đã ban danh mục các nghề, công việc nặng nhọckhông được sử dụng lao động nữ ( Điều 113- Luật LĐ)
Về môi trường, điều kiện sinh hoạt thì lao động nữ có những vấn đềphức tạp hơn lao động nam do đặc điểm sinh lý, do vậy chính sách cũngqui định thêm 1 số điều kiện tại nơi làm việc dành cho lao động nữ (Điều 116 - Luật LĐ)
Trang 16* Chính sách về tiền lương, tiền công lao động
Tiền công là giá cả của sức lao động Ở Việt Nam trước đây, do cònảnh hưởng của tư tưởng phong kiến nên sức lao động của phụ nữ không đượcđánh giá đúng mức, thường được đánh giá thấp và trả công cũng thấp hơnnam giới Trong khi thực tế là lao động nữ cũng có thể tạo ra một giá trị sứclao động như nam giới
Chính sách về tiền lương, tiền công đối với lao động nữ của nước tahiện nay là sự thể hiện rõ về quan điểm bình đẳng giới Luật pháp Việt Namqui định tiền lương của người lao động (không phân biệt nam nữ) do người sửdụng lao động và ngươi lao động thỏa thuận trong hợp đồng lao động, tínhtheo nằn suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Người sử dụng laođộng phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về nâng bậc lương và trảcông lao động ( Điều 111 - Luật LĐ)
* Chính sách về bảo hiểm xã hội
Chính sách này qui định riêng cho lao động nữ hiện hành, số lượng vănbản không nhiều như chính sách về lao động, việc làm, song nó lại mang tính
xã hội rất cao Điều này dựa trên tính đặc thù của lao động nữ là vừa thựchiện thiên chức sinh đẻ, chăm sóc gia đình, vừa tham gia lao động tạo ra củacải vật chất cho xã hội Do vậy, trong chính sách về bảo hiểm xã hội thì nộidung lớn nhất qui định riêng cho lao động nữ là chế độ thai sản
Từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước đã tiếnhành cải cách bảo hiểm xã hội cho phù hợp, đối tượng bảo hiểm xã hội đãđược mở rộng ra cho các thành phần kinh tế Như vậy, lao động nói chung vàlao động nữ nói riêng ở những nơi làm việc có quan hệ lao động (từ 10 laođộng trở lên ) đều được quyền thụ thưởng chính sách bảo hiểm xã hội Trong
Trang 17hệ thống bảo hiểm xã hội mới này, người lao động nữ được hoàn toàn bìnhđẳng với nam giới về nghĩa vụ và quyền lợi khi tham gia bảo hiểm Đặc biệttrong chế độ nghỉ hưu, lao động nữ được nghỉ hưu trước nam giới 5 năm (nam
60, nữ 55) mà vẫn được hưởng các trợ cấp như nam giới Người lao động nữđược nghỉ trước và sau khi sinh con là từ 4 đến 6 tháng tùy theo điều kiện laođộng và tính chất công việc.( Điều 114) Ngoài chế độ bảo hiểm xã hội nóitrên Nhà nước còn có các chính sách quan tâm đến vấn đề sức khỏe và nhữngđặc điểm giới tính của lao động nữ Trong pháp lệnh về nghĩa vụ lao độngcông ích qui định miễn tham gia lao động đối với phụ nữ có thai, nuôi connhỏ dưới 36 tháng tuổi
* Lĩnh vực lãnh đạo, quản lý
Việt Nam là nước có tiến bộ vượt bậc trong việc đưa ra chiến lược vàchính sách hướng vào phát triển con người, trong đó có vấn đề phát huy tối đatiềm năng của phụ nữ tham gia vào lãnh đạo, quản lý
Vấn đề tăng cường năng lực cho cán bộ nữ cũng được Đảng và Nhànước ta quan tâm rất sớm Các văn bản này thể hiện rõ quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta là kiên quyết xóa bỏ những định kiến tư tưởng phong kiến,trong đó có sự phân biệt coi thường phụ nữ, trọng nam khinh nữ và bất côngđối với lao động nữ, phải thực hiện sự nghiệp giải phóng phụ nữ nói chung vàlực lượng lao động nói riêng Đây thực sự là sự chuyển biến lớn, thể hiện vaitrò quan trọng trong việc nâng cao địa vị của người phụ nữ trong xã hội.Trong quá trình CNH, HĐH, đất nước, tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ đểlao động nữ ngày càng tham gia nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngàycàng nhiều hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thựchiện các công ước quốc tế về bình đẳng giới
Trang 181.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH Ở VIỆT NAM
1.2.1 CNH, HĐH và yêu cầu đặt ra đối với viêc hoàn thiện chính sách về lao động Nữ ở Việt Nam
1.2.1.1 Quan niệm về Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO), năm
1963 viết: Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trìnhnày là một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được độngviên để phát triển cơ cấu nền kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuậthiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến luônthay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năngbảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới
sự tiến bộ về kinh tế - xã hội
Một định nghĩa khác ngắn gọn và cụ thể hơn là: công nghiệp hóa mô tảquá trình chuyển tiếp của một nền kinh tế tập trung vào các hoạt động “sơcấp” như nông nghiệp sang các hoạt động “thứ cấp” chẳng hạn như côngnghiệp chế biến hay ngành dệt may Các nước được coi là công nghiệp khi có
từ 25% GDP trở lên từ các ngành công nghiệp chế biến
Mặc dù các quan niệm về công nghiệp hóa có khác nhau, songnhững điểm cơ bản hợp thành nội dung của công nghiệp hóa có thể kháiquát như sau:
Thứ nhất, công nghiệp hóa là một sự biến đổi cơ cấu của kinh tế
(chuyển dịch cơ cấu kinh tế) từ kinh tế tiểu nông nghiệp và thủ công nghiệpsang kiểu kinh tế công nghiệp
Thứ hai, khác với kiểu kinh tế nông nghiệp và thủ công có năng suất
thấp, tăng trưởng chậm, kiểu kinh tế công nghiệp có đặc điểm là năng suấtcao, tăng trưởng nhanh dựa trên cơ sở áp dụng công nghệ mới hiện đại
Trang 19Thứ ba, công nghiệp hóa phải được đặt trong bối cảnh chung phát triển
kinh tế Do đó, công nghiệp hóa là một giai đoạn phát triển mà các quốc gia
từ một nền kinh tế lạc hậu, chủ yếu là nông nghiệp, muốn nhanh chóng vươnlên trình độ phát triển cao đều nhất thiết phải trải qua
Kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại, kinhnghiệm trong quá trình CNH và thực tiễn CNH ở Việt Nam trong thời kỳ đổimới Quan điểm của Đảng CSVN về CNH, HĐH là:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàndiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ
sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức laođộng cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựatrên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ranăng suất lao động cao
1.2.1.2 CNH, HĐH và yêu cầu đặt ra đối với hoàn thiện chính sách về lao động Nữ trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam
* Chính sách đối với lao động nữ phải được thực hiện đồng bộ, nhất quán và có tính hệ thống.
Chính sách đối với lao động nữ ở nước ta được Đảng, Nhà nước, Chínhphủ quan tâm và xây dựng từ khi thành lập nước đến nay, nhưng chủ yếu ởdạng các văn bản dưới luật và một chương trong Bộ Luật Lao động ( 1995).Các chính sách này chưa có tính hệ thống, chủ yếu dựa vào các đặc điểm củaphụ nữ và các vấn đề xã hội liên quan đến chăm sóc sức khoẻ phụ nữ và trẻ em
Mặt khác, việc soạn thảo các văn bản pháp luật chủ yếu được thông qua
bộ máy của cơ quan hành pháp là Chính phủ Chính phủ lại dựa vào các cơquan chức năng là các bộ, ngành Trong đó, Bộ Tư pháp làm đầu mối, phốihợp với các cơ quan hữu quan như Bộ LĐ, TB và XH, Hội Liên hiệp Phụ nữ,
Uỷ ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ để xây dựng đề án chính sách, pháp luật
Trang 20Nếu các ý kiến đề xuất không đồng nhất giữa các cơ quan chức năng này thìquyền lợi của lao động nữ khó được đảm bảo trọn vẹn và đó cũng là nguyênnhân làm hạn chế đến tính đồng bộ khi xây dựng văn bản pháp luật Do vậy,trong quá trình hoàn thiện chính sách đối với lao động nữ phải đáp ứng yêucầu về tính đồng bộ và tính hệ thống trong các văn bản pháp luật.
* Nâng cao trình độ nhận thức chung và hiểu biết về pháp luật của mọi người, đặc biệt là của đội ngũ những người làm chính sách và lực lượng lao động nữ.
Hiện nay, trình độ của đội ngũ xây dựng chính sách vừa thiếu vừa yếu,hầu hết những người tham gia xây dựng luật không chuyên trách và khôngđược đào tạo bài bản Hơn nữa, phần lớn họ là nam giới nên sự hiểu biết mộtcách khoa học về đặc điểm tâm sinh lý củ alao động nữ và thực trạng chung
về lực lượng lao động nữ còn hạn chế Bản thân nam giới vẫn còn những tưtưởng cũ như trọng nam khinh nữ, cho rằng phụ nữ thì việc nhà là chính…nên cũng ít nhiều ảnh hưởng đến việc hoàn thiện chính sách
Bên cạnh đó, nhận thức của bản thân người lao động nữ cũng còn hạnchế, họ chưa biết cách nói lên những bức xúc, khó khăn của mình về mọi mặttrong cuộc sống và nhờ đến các cơ quan chức năng hỗ trợ, tư vấn nhằm đảembảo quyền lợi chính đáng cho mình
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, quá trình CNH, HĐH đất nước,
tư duy, nhận thức và trình độ dân trí nói chung cũng được nâng lên, tuy nhiênbên cạnh những kiến thức mang tính xã hội chung, kiến thức về KHCN, kỹthuật hiện đại,… thì đòi hỏi mọi người cũng phải tăng cường nâng cao nhậnthức về giới, kiến thức về pháp luật, trong đó có pháp luật lao động để đảmbảo cho việc góp ý vào dự thảo luật sửa đổi, bổ sung
* Hệ thống chính sách đối với lao động nữ phải thích ứng với môi trường lao động trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Trang 21Trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hoá, việc hoàn thiện chính sáchđối với lao động nữ phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.Nhiều vấn đề liên quan đến lao động nữ được mở rộng hơn và chưa có chínhsách phù hợp, ví dụ như: vấn đề xuất khẩu lao động nữ, vấn đề lao động nữ ởcác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,…các chính sách nhằm bảo vệ và
hỗ trợ cho lao động nữ khi xảy ra các sự việc có liên quan đến luật thươngmại quốc tế và các mối quan hệ kinh tế song phương và đa phương như: Luậtchống bán phá giá, vụ kiện về tranh chấp các hợp đồng kinh tế với các đối tácnước ngoài… Do vậy, khi hoàn thiện luật phải tính đến các yếu tố này
* Chính sách đối với lao động nữ phải đảm bảo các quyền lợi, nghĩa
vụ của lao động nữ.
Trong cơ chế thị trường và quá trình CNH, HĐH ở nước ta, mặc dù laođộng nữ có điều kiện tiếp xúc với các thiết bị tiện ích, máy móc hiện đại, làmgiảm bớt sức lao động chân tay cho người phụ nữ, lao động nữ có phần nhànhơn với công việc nội trợ, chăm sóc gia đình Tuy nhiên thực tế thì gánh nặngđối với lao động nữ cũng không hề giảm đi, thậm chí còn tăng lên, bởi vì bêncạnh vai trò là người nội trợ trong gia đình, họ còn phải đảm nhận các côngviệc tạo ra thu nhập với một tính chất khác hẳn giai đoạn trước Họ không chỉlàm việc cho bản thân, cho gia đình mà còn đảm nhận các công việc vì lợi íchcộng đồng, quốc gia, thậm chí là có tính quốc tế Do vậy, chính sách đối vớilao động nữ trong thời kỳ CNH, HĐH phải đảm bảo các quyền lợi cũng nhưnghĩa vụ của lao động nữ
Mặt khác, lao động nữ ở nước ta hiện nay, phần lớn vẫn ở mức trình độnhận thức thấp, nhiều lao động phổ thông ở khu vực nông thôn hoặc thành thịnhỏ Do đó, chính sách và văn bản pháp luật cần phải rõ ràng, cụ thể, dễ hiểuđối với mọi tầng lớp dân cư, đồng thời có cơ chế rõ ràng buộc những ngườitham gia lao động phải chấp hành đúng pháp luật lao động
Trang 221.2.2 Sự cần thiết khách quan phải hoàn thiện chính sách đối với lao động Nữ trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và quá trình CNH,
HĐH nói riêng phải hoàn thiện chính sách đối với lao động Nữ Đó là tất yếukhách quan, bởi vì :
Thứ nhất, do vị trí, vai trò của lực lượng lao động Nữ Việt Nam trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội và quá trình CNH, HĐH đất nước
Phụ nữ không chỉ là lực lượng tạo ra nền của sự ổn định xã hội màcòn là yếu tố của sự phát triển và tiến bộ xã hội Phụ nữ Việt Nam chiếmhơn 50% tổng dân số và lực lượng lao động xã hội, họ tham gia vào mọilĩnh vực kinh tế và có những đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng vàphát triển đất nước
Trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dântộc Việt Nam, vị trí và vai trò của nữ giới (hơn một nửa dân số Việt Nam) làrất to lớn Các anh hùng dân tộc là nữ như Hai Bà Trưng, Bà Triệu Thị Trinh
và nhiều tấm gương tiêu biểu khác qua các thời kỳ lịch sử cho thấy suy nghĩcủa người phụ nữ Việt Nam đã không chỉ dừng lại ở đấu tranh giành quyềnbình đẳng giới cho mình, mà khi đất nước lâm nguy thì quyền bình đẳng giữacác dân tộc, quyền tự do độc lập dân tộc đã được đặt lên hàng đầu Lịch sửdân tộc đã khắc sâu những chữ son về vai trò của người phụ nữ Việt Nam:
“Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong gần 30 năm đất nước tiếnhành cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của thế kỷ XX, “Năng động,sáng tạo, trung hậu, đảm đang” trong hoà bình, xây dựng đất nước
Trong thời kỳ chiến tranh, khi nam giới phải ra mặt trận, các công việc
ở hậu phương hầu hết là do lao động nữ đảm nhiệm, đặc biệt là trên mặt trậnsản xuất nông nghiệp Lực lượng lao động nữ đã thực hiện xuất sắc vai trò
Trang 23của hậu phương lớn và có những đóng góp quan trọng cho sự thành công củacuộc kháng chiến
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh, lực lượng lao động
nữ cũng tham gia đóng góp vào các hoạt động chính trị, xã hội, kinh tế, đoànthể của đất nước Trong tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh
tế quốc dân thì lao động nữ chiếm tỷ lệ là 51,3 % Trong lĩnh vực phi kết cấu,phụ nữ chiếm khoảng 70% Theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì lao động
nữ chiếm tỷ lệ cao ở các ngành như: giáo dục và đào tạo (66,6%) ; dịch vụ( hoạt động làm thuê, công việc gia đình ) 63,9%, y tế và hoạt động cứu trợ xãhội là 62% ; ngành tài chính tín dụng là 56,4% Trong lao động nông và lâmnghiệp, lao động nữ chiếm 52,8% ; trong các hoạt động khoa học, công nghệ,lao động nữ chiếm 38,9% và trong lĩnh vực quản lý nhà nước, an ninh quốcphòng là 33,3% Việc tham gia tích cực vào các hoạt động này đã ngày càngkhẳng định vị trí, vai trò của lực lượng lao động nữ
Bên cạnh đó, do yêu cầu của CNH, HĐH đòi hòi một bộ phận lao độngđáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của một số ngành nghề như công nghiệp chếbiến, dịch vụ thì yêu cầu này lại phù hợp với lực lượng lao động nữ
Thứ hai, do đặc điểm riêng của lực lượng lao động Nữ Việt Nam.
Như phần trên đã trình bày về đặc điểm chung của lao động nữ vớinhững đặc tính cơ bản như: phải thực hiện thiên chức làm mẹ, chăm sóc giađình; chân yếu tay mềm, về tính cách thì rụt rè, tự ti nhưng lại khéo tay, tỉmẩn phù hợp với các công việc đòi hỏi sự khéo tay, cần mẫn Song bên cạnh
đó nguồn lao động nữ Việt Nam còn có là những đặc điểm riêng như sau :
+ Việt Nam có một nguồn lao động nữ dồi dào và tăng nhanh
Việt Nam là một quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào, đứng vào vị tríthứ 13 trên thế giới và thứ 2 trong khối ASEAN Ở thập niên 90, nước ta cótrên 35 triệu lao động và đến đầu thế kỷ 21 là trên 40 triệu, trong đó lực lượng
Trang 24lao động nữ cũng là một bộ phận quan trọng của lực lượng lao động xã hội,thường chiếm gần 50% tổng lực lượng lao động xã hội Mặt khác tốc độ tăngdân số vẫn có chiều hướng tăng lên trong thời gian vừa qua và có thể vẫn tiếptục tăng trong thời gian đầu của thế kỷ 21.
Nguồn lao động dồi dào, trẻ và nhanh tăng là một lợi thế đối với sựphát triển kinh tế - xã hội của nước ta Nó đảm bảo một yếu tố cơ bản cho đầu
tư phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Lao động trẻ có sức bật nhanh,thuận lợi cho sự phát triển chuyên môn, kỹ thuật và có sức khỏe dồi dào đápứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
+ Tỷ lệ lao động nữ được đào tạo kỹ thuật, chuyên môn vẫn còn thấp,phần lớn là lao động thủ công
Mặc dù sự nghiệp giáo dục, đào tạo đã đạt được những thành tựu tolớn, nhưng do nước ta trải qua 2 cuộc kháng chiến kéo dài, kinh tế chậm pháttriển, ngân sách đầu tư cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo còn hạn hẹp trong khidân số và nguồn nhân lực tăng nhanh nên một bộ phận lớn lao động khôngqua đào tạo nghề nghiệp chuyên môn, phần đông là lao động thủ công lạchậu Thêm vào đó là định kiến về giới, tư tưởng trọng nam khinh nữ khiếncho nhiều lao động nữ chịu thiệt thòi, không được đào tạo chuyên môn Dovậy, trình độ của lao động nữ Việt Nam luôn thấp hơn so với nam giới và thấp
so với yêu cầu của CNH, HĐH
+ Cơ cấu của nguồn lao động Việt Nam còn lạc hậu so với thế giới.Cùng với sự nghiệp CNH, HĐH là đô thị hóa và hình thành các khucông nghiệp tập trung, khu vực điều này sẽ kéo theo sự dịch chuyển lao động
từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp Lao động nữ thường tậptrung ở một số ngành sản xuất như : Dệt may, da giầy, chế biến thủy sản Mặt khác, quá trình CNH, HĐH cũng làm thay đổi cơ cấu kinh tế, giảm tỷtrọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, có nghĩa là một bộ
Trang 25phận lao động nông nghiệp sẽ chuyển sang lao động công nghiệp và dịch vụ
do nhu cầu của xã hội và cũng do khi đó, nông dân không còn đất để sản xuất.Trong đó sẽ có một lực lượng lao động lao động nữ với nhiều yếu thế nhưtrình độ văn hóa và chuyên môn thấp, phải sống và làm việc xa gia đình, sẽdẫn tới nhiều vấn đề xã hội phức tạp khác
Thứ ba, do yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đối với lực lượng lao động Nữ Việt Nam.
CNH và HĐH trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa của nước ta đang đặt ra những yêu cầu cao và khắt khe hơn đối vớilao động nữ
Khi áp dụng kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến vào sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ, quản lý và đời sống sẽ làm tăng năng suất lao động, giảm bớtsức lao động cơ bắp của con người, đồng thời sẽ giảm bớt số lượng lao động
Số lượng việc làm giảm đi nhưng chất lượng lao động lại đòi hỏi rất cao Do
đó, để duy trì và phát triển được ở chỗ làm việc, lao động nữ phải có kiếnthức, kỹ năng và trình độ lành nghề thích ứng, sử dụng tốt các máy móc, thiết
bị, dây chuyền công nghệ hiện đại Để đạt được điều đó, lao động nữ thườngxuyên phải học tập để nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức mới có hy vọng
có việc làm và thu nhập ổn định
CNH và HĐH đòi hỏi lao động nữ phải có tính kỷ luật cao, tạo đượcnhững thói quen, lối sống, lối suy nghĩ và làm việc với tác phong công nghiệp,chẳng hạn đi làm đúng giờ, sử dụng có hiệu quả cao thời gian làm việc
Bên cạnh đó, việc chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái trong điều kiệnkinh tế thị trường đang đặt ra cho lao động nữ những nhiệm vụ hết sức nặng
nề, những đòi hỏi rất cao và rất khắt khe Vậy thì, để người phụ nữ có mộtnghề nghiệp vững vàng, có việc làm, có thu nhập ổn định, đáp ứng đòi hỏi củaCNH, HĐH, trước tiên người phụ nữ phải có sức khoẻ, có trí tuệ, nghị lực,
Trang 26phải biết tổ chức khoa học công việc gia đình, nuôi dạy con cái để không ảnhhưởng đến sự tiến bộ của bản thân Điều đó tạo cho lao động nữ làm tốt thiênchức của giới mà không đánh mất vị trí xã hội, kết hợp hài hoà giữa công việcgia đình và công việc xã hội đang là mục tiêu phấn đấu của phụ nữ Việt Namnói chung và lao động nữ Việt Nam nói riêng trong thời kỳ CNH, HĐH
CNH và HĐH trong thời kỳ hội nhập quốc tế còn đòi hỏi lao động nữcần phải hiểu biết về pháp luật trong các lĩnh vực lao động, quản lý kinh tế,gia đình và xã hội Trước thực tế hiện nay, số đông lao động nữ có trình độlao động thấp, không qua đào tạo, sự hiểu biết về Luật Lao động rất hạn chế,thậm chí có nhiều người lao động không biết mình được hưởng những quyềnlợi gì về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm sức khoẻ, trách nhiệm của người sửdụng lao động và người lao động được quy định trong Bộ luật Lao động đểđòi hỏi và yêu cầu chủ sử dụng lao động thực hiện
Để đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của quá trình CNH, HĐH, lao động
nữ ở nước ta phải nỗ lực, phấn đấu rất nhiều do xuất phát điểm của chúng tatương đối thấp Bên cạnh đó, do thói quen, suy nghĩ, nếp sinh hoạt của laođộng nữ cũng như một bộ phận lớn trong xã hội còn nặng nề, chưa thực sự tintưởng, tạo điều kiện cho lao động nữ học tập, phấn đấu trong công việc
Thứ tư, do các chính sách đối với lao động nữ hiện nay đã bộc lộ nhiều điểm bất cập trong quá trình thực hiện và những điểm không phù hợp trong điều kiện mới.
Đây cũng là một đòi hỏi khách quan, là xu hướng tất yếu trong quátrình hội nhập Khi Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO thì một số cơ chế,chính sách đã bộc lộ những điều không phù hợp với hoàn cảnh thực tế hiệnnay Nếu không kịp thời hoàn thiện thì nó sẽ là lực cản cho quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và còn ảnh hưởng đến quyền lợi người lao động Nữ
Trang 27Do vậy, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội thì tác động tiêu cực của
xu thế hội nhập và mặt trái của cơ chế thị trường đang tạo ra sức ép lớn đốivới lao động nói chung và đặc biệt lao động nữ chịu ảnh hưởng nhiều nhất.Những khó khăn này vượt quá khả năng tự điều chỉnh của lao động nữ Chính
vì vậy, lao động nữ rất cần tới sự quan tâm, hỗ trợ của Nhà nước thông quacác chính sách, pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi cho lao động Nữ, đồng thờikhai thác có hiệu quả tiềm năng của lao động Nữ vào quá trình CNH, HĐHcủa đất nước
Từ bốn điểm cơ bản trên cho thấy, Nhà nước cần phải có chính sách đối với lao động nữ và ngày càng đổi mới, hoàn thiện chính sách cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoàn thiện chính sách lao động Nữ trong thời kỳ CNH, HĐH ở Việt Nam
1.2.3.1 Quan điểm, chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng, Nhà nước
Đây là những yếu tố thuộc về kiến trúc thượng tầng Nếu Đảng và Nhànước có chủ trương, quan điểm giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới cho phụ
nữ, thì các chính sách đối với lao động Nữ sẽ cụ thể hơn, nhanh chóng hơn,kịp thời hơn và hoàn chỉnh hơn Còn ngược lại, nếu một quốc gia nào đó mà
họ không có tư tưởng giải phóng phụ nữ, không có quan điểm về bình đẳnggiới, đồng thời, họ lại có chủ trương trọng nam khinh nữ, cho là phụ nữ chỉ cóchức năng sinh đẻ và nội trợ thì các chính sách đối với lao động Nữ khó màđồng bộ, đầy đủ và hoàn thiện
1.2.3.2 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hợp lý và phân công lao động xã hội
- Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình hoàn toàn mới về mặt
Trang 28lý luận và thực tiễn Tuy vậy, mục tiêu năng suất, chất lượng và hiệu quảnhằm phục vụ đời sống nhân dân, phát triển xã hội ổn định và bền vững làmục đích của CNH, HĐH trong bất cứ nền kinh tế nào.
Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế đã tạo đà để nền kinh tế nước tachuyển biến rõ rệt trong những năm đổi mới Cho đến nay nền kinh tế đã cóthế và lực mới, có vị trí trên trường quốc tế Trong bối cảnh đó, lao động nóichung và lao động nữ nói riêng có những thuận lợi nhất định và được sự quantâm của Đảng, Nhà nước Điều này có tác động trực tiếp đến cơ cấu số lượng
và chất lượng đội ngũ lao động nữ, từ đó lại có ảnh hưởng tới việc xây dựng
và đề ra các chính sách đối với lao động nữ
Mặt khác, do sự phân công lao động xã hội trong quá trình CNH, HĐHtheo hướng:
- Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm, tỷ lệ lao độngtrong công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng
- Lao động trí tuệ, lao động phức tạp càng tăng và ngày càng chiếm ứuthế so với lao động chân tay và lao động giản đơn
1.2.3.3 Trình độ, năng lực của đội ngũ xây dựng chính sách của Nhà nước
Bất cứ chính sách kinh tế, xã hội nào cũng đều phụ thuộc tương đốinhiều vào đội ngũ thiết kế xây dựng chính sách Nếu đội ngũ xây dựng chínhsách đối với lao động Nữ có trình độ cao, am hiểu các quy luật kinh tế, xã hội
và am hiểu đúng về đặc điểm lao động Nữ của nước ta thì họ sẽ xây dựngđược chính sách đối với lao động Nữ đúng đắn, chính xác, kịp thời và sẽnhanh đi vào cuộc sống Còn ngược lại, nếu đội ngũ thiết kế, xây dựng chínhsách có trình độ thấp, không am hiểu quy luật khách quan, không am hiểu đặcđiểm riêng của lao động Nữ thì họ sẽ đưa ra chính sách thiếu đồng bộ, khôngkịp thời, không đúng đắn và khó đi vào cuộc sống
Trang 291.2.3.4 Quá trình mở cửa, hội nhập và hợp tác quốc tế
Bước sang thế kỷ XXI, quá trình công nghiệp hóa với kinh tế tri thứcđòi hỏi sự gia tăng của khu vực dịch vụ với hàm lượng lao động trí tuệ ngàycàng cao Do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới hiện nay đangchuyển thành một hệ thống liên kết ngày càng chặt chẽ thông qua mạng lướicông nghệ thông tin Quá trình này đã thúc đẩy sự phân công lao động quốc tếtheo chuyên môn hóa chức năng sản xuất theo hệ thống liên kết mạng
Đồng thời với các quá trình này, đặc điểm mới của lao động hìnhthanh: tỷ lệ lao động trí óc cao hơn lao động chân tay; giá trị do thời gian laođộng tri thức sẽ vượt xa lao động phi tri thức; địa vị của lao động trí óc trongcác doanh nghiệp được đề cao Đồng thời sự biến đổi của khoa học côngnghệ đòi hỏi về chất lượng lao động sẽ cao hơn Số thất nghiệp của lao độngkhông làn nghề sẽ tăng lên Nếu không kịp thời nhận ra và điều chỉnh sẽ dẫnđến khủng hoảng thừa và thiếu về nhân lực Đội ngũ lao động sẽ thườngxuyên bị thanh lọc để lựa chọn và bổ sung nhân lực mới thích hợp Do vậy,
xã hội sẽ bị phân hóa sâu sắc trong cuộc cạnh tranh vì việc làm, thu nhập vàđịa vị xã hội, gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm lao động trong
có chính sách lao động nữ đều chịu sự tác động của lộ trình hội nhập và cáccam kết với WTO Chẳng hạn như vấn đề chống bán phá giá, chính sách trợ
giá, ưu đãi đối với một số ngành, nghề, tiêu chuẩn về hàng hóa xuất khẩu,
đều ít nhiều ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập và cuộc sống của lao động,
Trang 30đặc biệt là lao động nữ ở các ngành chế biến, xuất khẩu như thủy sản, dagiầy, dệt may,
Như vậy, từ bốn đặc điểm trên cho thấy quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế toàn cầu sẽ tác động đến các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt tác động mạnh mẽ đến số lượng, chất lượng lao động, cơ cấu ngành nghề, đến đời sống văn hóa, tinh thần của lao động nữ, từ đó cũng sẽ tác động đến
các chính sách đối với lao động nữ.
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG KHU VỰC VỀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ
1.3.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Chính phủ Thái Lan đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của Laođộng nữ trong sự nghiệp phát triển đất nước Hiến pháp của Hoàng gia TháiLan và các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nói chung đều đề cập đến nộidung này Kế hoạch phát triển kinh tế gần đây nhất của Thái Lan đã xác định
rõ phương pháp phát triển nguồn lao động nhằm nâng cao tay nghề và khảnăng đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao về kỹ năng lao động phùhợp với những tiến bộ về công nghệ và thay đổi về cơ cấu trong bối cảnh pháttriển sản xuất
Chính sách về lao động nữ của Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội củaThái Lan đã xác định khuôn khổ gồm các chính sách cơ bản đối với lao động
Nữ, đó là :
Một là, thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ nhằm đảm bảo cho lao động
nữ thuộc mọi thành phần kinh tế được hưởng bảo hiểm, được đảm bảo an toàntại nơi làm việc và có môi trường làm việc tốt, hình thành những tổ chức độclập, không thuộc thẩm quyền của chính phủ, theo dõi về an toàn và môitrường lao động Đại diện chủ sử dụng lao động và người lao động cùng chịu
Trang 31trách nhiệm kiểm tra, theo dõi, giám sát các vấn dề an toàn lao động và môitrường lao động, tác động của nó đối với sức khỏe người lao động.
Hai là, thúc đẩy các hoạt động để lao động nữ có cơ hội bình đẳng và
được đối xử bình đẳng trong việc trả lương và thăng tiến trong công tác
Ba là, phát huy hơn nữa công tác thanh tra nhằm thúc đẩy việc tuân thủ
các tiêu chuẩn về lao động và thực hiện pháp luật, đặc biệt là việc trả lươngtheo đúng nguyên tắc ( trả đủ mức tối thiểu) ; điều kiện làm việc ; mở rộngphạm vi bảo hộ lao động cho người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, laođộng trong khu vực không chính thức
Bốn là, thúc đẩy các quan hệ lao động trên cơ sở song phương, bảo vệ
quyền lợi và giải quyết tranh chấp lao động trong cả khu vực tư nhân và khuvực nhà nước; phát triển các tổ chức giới chủ và giớ thợ để họ phát huy đượcvai trò của mình, phù hợp với Luật về quan hệ lao động
Năm là, thúc đẩy việc phân phối phúc lợi thông qua công việc ví dụ
như phân nhà ở cho người lao động; tổ chức nhà trẻ mẫu giáo tại nơi làm việc
để trông nom con em của người lao động ; xây dựng các quỹ Lao động ; quỹ
hỗ trợ người lao động trong hoàn cảnh khó khăn, tiến tới ban hành luật vềphúc lợi lao động
Sáu là, phát triển hệ thống thông tin về lao động theo hướng dần dần
hoàn thiện, hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa, cung cấp các dịch vụ thông tin cóhiệu quả cho người lao động
Bảy là, cung cấp thông tin nhằm bảo vệ người lao động khỏi căn bệnh
AIDS, hỗ trợ các gia đình người lao động bị mắc bệnh AIDS
Ngoài việc đưa ra các chính sách đối với lao động nữ, Chính phủ Thái Lancòn đề ra các biện pháp cụ thể nhằm bảo vệ và phát triển lao động nữ Vụ Lao động
nữ và lao động trẻ em của Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Thái Lan đã áp dụngmột số biện pháp nhằm bảo vệ, thúc đẩy sự phát triển của lao động nữ như sau:
Trang 32- Ban hành các quy định về bảo hộ lao động, luật này có hiệu lực từtháng 8/ 1998 Trong khuôn khổ của Luật này đã quy định một số điều đặcbiệt nhằm bảo hộ cho lao động nữ, trong đó có những quy định như: trongcông việc, chủ sử dụng lao động phải đối xử với lao động nữ công bằng nhưđối với lao động Nam; Người sử dụng lao động và những người giám sát,quản đốc trong các doanh nghiệp không được có bất kỳ hành vi nào gây tổnthương đến lao động nữ, ví dụ như quấy rối tình dục; người lao động đượchưởng lương khi nghỉ để áp dụng các biện pháp tránh thai, hoặc nghỉ ốm theochỉ định của bác sỹ Lao động nữ mang thai không được bố trí làm việc từ 10giờ đêm đến 6 giờ sáng, không được bố trí làm thêm giờ, làm việc vào ngàynghỉ, ngày lễ, cấm sa thải lao động nữ khi họ đang mang thai.
- Thúc đẩy đối xử công bằng trong công việc: Vụ Bảo hộ lao động đãtiến hành các hoạt động thanh tra các cơ sở sử dụng lao động nữ, yêu cầungười sử dụng lao động tuân thủ các tiêu chuẩn lao động, đặc biệt là tiềncông, tiền lương và điều kiện lao động
- Thay đổi nhận thức của người lao động về lao động nữ :áp dụng nhiềubiện pháp nhằm thay đổi thái độ của người chủ sử dụng lao động nhằm loại
bỏ việc phân biệt đối xử đối với phụ nữ,Khuyến khích chủ sử dụng lao độngtuyển dụng người lao động không phân biệt giới tính Lao động nữ phải được
có cơ hội ngang bằng như lao động nam trong việc đào tạo sau kh tuyển dụng
- Hỗ trợ và nâng cao nhận thức cho lao động nữ để họ hiểu biết quyền lợicủa mình Lao động nữ cần được đối xử công bằng và được quyền tạo dựngchất lượng cuộc sống tốt hơn Vì thế, Vụ Lao động đã áp dụng nhiều biệnpháp khác nhau, ví dụ như cử cán bộ tư vấn về lao động các cơ sở nhằm hỗtrợ cho lao động nữ khi họ gặp phải những vấn đề riêng tư, tư vấn cho họ vềquyền và quyền lợi theo pháp luật ; cơ hội và vai trò của họ trong việc raquyết định và đề bạt vào các vị trí lãnh đạo Giáo dục nhận thức nói chung và
Trang 33đào tạo nghề cho lao động nữ, hướng dẫn, khuyến khích họ để họ phát triểnnghề nghiệp.
1.3.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Bên cạnh Tiêu chuẩn lao động, ở Nhật Bản còn có luật về Cải thiện phúclợi cho lao động nữ ( được bổ xung bởi Luật số 78 năm 1983 và luật số 45năm 1985) Mục đích của cá quy định trong đạo luật này nhằm xúc tiến đảmbảo cơ hội đồng đều và đãi ngộ bình đẳng giữa nam và nữ trong việc làm mànhững mục tiêu cơ bản nhằm cải thiện phúc lợi cho lao động nữ nêu trong luậtnày là để họ có thể có cuộc sống đầy đủ bằng cách sử dụng có hiệu quả nănglực của mình đồng thời coi trọng đúng mức chức năng thai sản của họ màkhông phân biệt đối xử vì lí do giới và để đạt tới hài hòa giữa cuộc sống laođộng và cuộc sống gia đình họ » ( điều 2).Cũng trong điều luật này, Nhà nướcNhật Bản quy định Bộ trưởng Lao động phải xây dựng chính sách về các biệnpháp phúc lợi cho lao động nữ bao gồm các vấn đề sau :
- Những vấn đề xu thế trong đời sống lao động và đời sống gia đình củalao động nữ
- Những vấn đề cơ bản có liên quan tới các biện pháp tiên hành xúc tiếnphúc lợi cho lao động nữ
- Các chính sách cơ bản về các biện pháp phúc lợi cho lao động nữ phảiđược hình thành có lưu ý đúng mức tới những vấn đề như điều kiện làm việc,các quan điểm và tình trạng việc làm của lao động nữ
Chương IV của đạo luật này đề ra các biện pháp về việc làm cho laodộng nữ, bao gồm 10 điều Tại các điều này, lao động nữ ở Nhật Bản đượckhuyến khích phát huy, cải thiện năng lực nghề nghiệp như cung cấp cá cácthông tin về việc làm, kết quả nghiên cứu các loại công việc, hướng dẫn, giớithiệu các nghề thích hợp, cung cấp các phương tiện đào tạo, tạo cơ hội cho
Trang 34các lao động nữ đã nghỉ việc do có thai, nghỉ đẻ, nghỉ chăm sóc con nhỏ cơhội trở lại nơi làm việc khi họ muốn ( điều 24) và khuyến khích chế độ nghỉchăm sóc con « lao động nữ có con nếu có yêu cầu thì được tự nghỉ trong thờigian nhất định chăm sóc con cái » ( điều 28).
Ở Nhật Bản, để khuyến khích sự hài hòa trong lao động và đời sống giađình của lao động nữ « Nhà nước và các cơ quan chính quyền địa phươngphải cố gắng để có các biện pháp thích hợp kể cả việc hướng dẫn, tổ chức cáclớp hướng dẫn cho lao động nữ nhằm cải thiện việc huấn luyện lao động cho
họ » ( điều 29 )
1.3.3 Kinh nghiệm của Philippin
Năm 1991, Philippin đã ban hành luật về thúc đẩy và lồng ghép phụ nữtrong phát triển Đạo luật này ra đời nhằm mục tiêu thu hút tối đa sự tham giađầy đủ của phụ nữ như những đối tượng bình đẳng với nam giới Đạo luật nàyđược ban hành trên cơ sở nhà nước đã công nhận vai trò của phụ nữ trongviệc xây dựng đất nước và đảm bảo sự công bằng của phụ nữ với nam giớitrước pháp luật Nhà nước sẽ trao quyền và mọi cơ hội công bằng cho phụ nữ
Đạo luật này qui định một số điểm cơ bản như sau :
- Chính phủ sẽ dùng một tỷ lệ nhất định Quỹ hỗ trợ phát triển chínhthức ODA và các khoản hỗ trợ quốc tế khác sẽ được dành riêng và sử dụngcho các chương trình và các hoạt động vì sự phát triển của phụ nữ ( Điều 1,Đạo Luật Quốc gia số 7192 )
- Các bộ, ban ngành của Chính phủ phải đảm bảo để phụ nữ được thamgia và hưởng lợi một cách công bằng và trực tiếp từ các chương trình, dự áncủa Chính phủ, các tổ chức xã hội, đặc biệt là các chương trình sử dụng cácquỹ hỗ trợ phát triển của nước ngoài phải đảm bảo có sự tham gia trực tiếpcủa phụ nữ ( Điều 2, Đạo luật Quốc gia số 7192 )
Trang 351.3.4 Những bài học kinh nghiệm rút ra có thể vận dụng đối với Việt Nam
Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới đi đầu trong việc thểchế hóa và đưa vào cuộc sống các nguyên tắc nam nữ bình quyền và cũng lànước đầu tiên ở Châu Á ký công ước quốc tế về chống mọi hình thức phânbiệt đối xử với phụ nữ Tuy nhiên trong quá trình hoạch định, xây dựng vàtriển khai thực hiện các chính sách về lao động nữ ở nước ta cũng ngày càngbộc lộ những hạn chế do luật chưa phù hợp với thực tiễn Nhìn từ thực tế củacác nước, Việt Nam cần phải xây dựng một khuôn khổ chính sách nhạy cảmgiới trong lĩnh vực lao động với những yêu cầu như sau:
Thứ nhất là, cần xây dựng các chính sách về cơ hội bình đẳng và cần
xúc tiến các chương trình nhằm hướng nghiệp giảm bớt sự phân biệt giới theo nghề nghiệp
Các chính sách này phải hỗ trợ nam giới tham gia những công việcthường được coi là “công việc truyền thống của phụ nữ”, đồng thời khuyếnkhích và hỗ trợ phụ nữ tham gia những công việc thường do nam giới làm.Phải xây dựng những chương trình hành động nhằm xoá bỏ sự rập khuôn giới
về nghề nghiệp
Thứ hai là, các chính sách về lao động được xây dựng theo xu hướng
“thân thiện với gia đình”.
Điều đó có nghĩa là với sự tham gia ngày càng cao của phụ nữ vàonhững việc làm được trả công, cần phải có chính sách khuyến khích, hỗ trợgia đình, ví dụ nghỉ việc vì lý do gia đình, nghỉ chăm sóc người nhà ốmđược hưởng lương áp dụng cho cả lao động nam và lao động nữ để thúcđẩy việc thực hiện nghĩa vụ và có trách nhiệm ngang nhau trong việc chămsóc gia đình
Trang 36Thứ ba là, chính sách về tổ chức các dịch vụ hỗ trợ cho lao động nữ và các nhóm yếu thế khác nhằm duy trì sự an toàn về việc làm
Vì lý do trách nhiệm của lao động nữ trong việc nuôi con nhỏ, chămsóc gia đình có thể sẽ làm giảm cơ hội của họ tham gia đầy đủ vào thị trườnglao động, cần phải có những chính sách nhằm khuyến khích người sử dụnglao động hỗ trợ cho lao động nữ thông qua việc tổ chức nhà trẻ, mẫu giáo tạinơi làm việc, tài trợ cho các chương trình vui chơi, nghỉ hè cho con em ngườilao động
Thứ tư là, phải có chính sách hỗ trợ cho lao động nữ trong quá trình tìm việc làm
Chính sách nhằm hỗ trợ cho lao động nữ di cư với nhiều hình thức như
tư vấn thông tin về việc làm, dịch vụ việc làm, cung cấp thông tin xác đáng vềđiều kiện làm việc, đặc biệt là chương trình hỗ trợ lao động nữ nông thôn di
cư tìm việc làm, vì họ là đối tượng yếu thế hơn so với nam giới cùng nhómđối tượng vì họ rất ít cơ hội thông tin
Thứ năm là, có chính sách ổn định việc làm cho lao động nữ.
Chính sách về lao động nữ được xây dựng nhằm tăng cường phúc lợi
và gia tăng sự an toàn, ổn định về việc làm cho lao động nữ, đồng thời có cácchính sách đáp ứng nhu cầu của lao động trong khu vực phi kết cấu, hỗ trợcho nhóm lao động tự do, doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ cho phụ nữ làm chủ
Thứ sáu là, trong bối cảnh tốc độ thay thế lao động ở lao động nữ lớn hơn so với lao động nam trong một số lĩnh vực và một số quốc gia.
Lao động nữ đang chiếm tỷ lệ không tương xứng ở các nhóm yếu thế,nguyên nhân của tình trạng này là: Lao động nữ làm việc với những công việclinh hoạt, có tốc độ thay thế nhanh chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới Người sửdụng lao động thường cho rằng lao động nữ hay bỏ việc hơn vì những lý dochăm sóc con cái hoặc gia đình
Trang 37Vì những lý do đó, các chính sách cho lao động nữ cần tạo ra cơ chế phù hợp hơn để các doanh nghiệp tăng năng suất lao động bằng cách đầu tư vào người lao động chứ không phải tăng năng suất dựa vào cắt giảm chi phí
để nâng cao tính cạnh tranh, ngoài ra còn cần phải chú trọng thúc đẩy sự tiếp cận bình đẳng đối với cơ hội đào tạo và đào tạo lại giữa lao động nam
và lao động nữ Đây là những khuyến nghị của Liên Hợp Quốc được tổng kết, phân tích và rút kinh nghiệm ở nhiều nước trên thế giới Những khuyến nghị này rất phù hợp với tình hình hiện tại của Việt Nam khi xây dựng và hoàn thiện những chính sách đối với lao động nữ trong bối cảnh hội nhập khu vực
và toàn cầu hoá.
Trang 382.1.1 Mức độ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ
Năm 2006, ước tính tổng dân số Việt Nam là 84.155.8 00 người, trong
đó, dân số nữ là 42,8 triệu người, chiếm 50,86% Dân số nữ từ 15 tuổi trở lênhay còn gọi là nguồn cung lao động chiếm 84,88% tổng dân số nữ(33,499,700 người) Trong giai đoạn 2000 - 2006, tỷ trọng dân số nữ trongtổng dân số cả nước tương đối ổn định, xấp xỉ 51% Tốc độ tăng bình quânhàng năm của dân số nữ trong giai đoạn này là 1,36%/ năm, thấp hơn khôngđáng kể so với của dân số nam (1,36% so với 1,37%)
Năm 2006, tổng lực lượng lao động là 45,58 triệu người Trong đó,
Lực lượng lao động (LLLĐ) nữ là 22,15 triệu người, chiếm tỷ lệ 48,59%trong tổng LLLĐ Trong giai đoạn 2000-2006, LLLĐ nữ tăng tương đối đềuqua các năm (khoảng 443 nghìn người/năm) Tốc độ tăng bình quân hàngnăm của LLLĐ nữ là 2,2%, thấp hơn so với của LLLĐ nói chung (2,6%), làmcho tỷ lệ LLLĐ nữ trong tổng LLLĐ có chiều hướng giảm qua các năm, tuynhiên mức độ giảm không đáng kể
2.1.2 Trình độ học vấn và chuyên môn của LLLĐ nữ
- Trình độ học vấn của lực lượng lao động nữ còn thấp Năm 2006, Tỷ
lệ lao động nữ mù chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học còn cao, chiếm 18,1% haygần 1/5 lực lượng lao động nữ Trình độ học vấn của LLLĐ nữ vẫn luôn thấphơn so với LLLĐ nam Trong giai đoạn 2000-2006, cơ cấu trình độ học vấn
Trang 39của lao động nữ đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực song còn chậm: tỷ
lệ LLLĐ nữ có trình độ học vấn thấp có xu hướng giảm Tỷ lệ LLLĐ nữ chưatốt nghiệp tiểu học và mù chữ giảm từ 23,39% năm 2000 xuống còn 18,1% ởnăm 2006 Tỷ lệ LLLĐ nữ tốt nghiệp trung học phổ thông có xu hướng tănglên: từ 15,5% năm 2000 lên 22,27% năm 2006
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT) của LLLĐ nữ cũng còn rấtthấp Năm 2006 vẫn còn 73,63% LLLĐ nữ chưa qua đào tạo, chỉ có 5,48% cótrình độ CMKT từ ĐH-CĐ trở lên Trong thời kỳ 2000-2006, cơ cấu lao động
nữ theo trình độ CMKT đã chuyển dịch tương đối nhanh, nhanh hơn rất nhiều
so với cơ cấu lao động nữ theo trình độ học vấn LLLĐ nữ có trình độ CMKTtiếp tục gia tăng về số lượng và tỷ lệ
2.1.3 Việc làm
Năm 2006, có khoảng 21,66 triệu lao động nữ có việc làm, chiếm97,6% tổng LLLĐ nữ Việc làm trong khu vực chính thức có mức lương vàphúc lợi tốt nhất trong nền kinh tế Tuy nhiên, chỉ có 19,15% lao động nữ cóviệc làm trong khu vực kinh tế chính thức, tỷ lệ này ở lao động nam là25,48% Trong khi đó, phần lớn lao động nữ làm việc ở khu vực kinh tếkhông chính thức, hơn 80% lao động nữ là lao động tự làm và làm việc chogia đình không hưởng lương và có khoảng 0,43% lao động nữ tự làm có thuêlao động, tỷ lệ tương ứng ở lao động nam là 73,58% và 0,94% Điều này cũng
có nghĩa là phần lớn lao động nữ không được sự bảo trợ theo khía cạnh tiếpcận với việc làm và bảo trợ xã hội
Cho đến nay, rất ít phụ nữ làm trong các nghề nghiệp có vị thế cao, trong
khi lại chiếm số đông trong các nghề có vị thế thấp Năm 2006, lao động giản đơn là nghề thu hút nhiều lao động nữ nhất (65,06%), tiếp đó là nhân viên
dịch vụ cá nhân, bảo vệ (11,64%), thợ thủ công có kỹ thuật (8,92%) Laođộng nữ làm các nghề có CMKT bậc cao, CMKT bậc trung, nhân viên trong
Trang 40các lĩnh vực, thợ kỹ thuật còn thấp và lao động nữ làm quản lý chiếm tỷ lệthấp nhất (0,32%)
Tỷ lệ lao động nữ bị thất nghiệp biến động thất thường nhưng có xu hướngtăng trong cả giai đoạn
2.1.5 Tiền lương và thu nhập
Về khía cạnh thu nhập, như đã nói ở trên chỉ có gần 20% lao động nữ cóviệc làm được trả công Trong số các việc làm được trả công, theo kết quảđiều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê, đến năm 2004, tiền lươngbình quân tháng của lao động làm công ăn lương là 789.000 đồng/tháng.Trong đó, tiền lương của lao động nữ là 702.000 đồng/tháng chỉ đạt 88,97%
so với tiền lương bình quân chung Tiền lương của lao động nữ ở khu vựcthành thị cao gần gấp đôi ở khu vực nông thôn (979.500đ/tháng so với536.4000đ/tháng ) Đáng lưu ý là vẫn còn đến 2,85% lao động nữ (làm việcđầy đủ thời gian ) có mức tiền lương thấp hơn mức lương tối thiểu theo quyđịnh của Nhà nước
Trong giai đoạn 1998 - 2004, tốc độ tăng tiền lương của lao động nữ là7.99%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng tiền lương chung (7,33%/năm) Theo
số liệu điều tra mức sống dân cư, tiền lương bình quân chung của lao động nữluôn thấp hơn của lao động nam Mặc dù tình trạng này đã và đang được cảithiện qua các năm song còn chậm