MỤC LỤC MỤC LỤC 1 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 3 1.1 .Vốn kinh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp 3 1.1.1.Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh 3 1.1.2. Thành Phần của vốn kinh doanh 4 1.1.3. Nguồn hình thành vốn kinh doanh 7 1.2. Quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp 10 1.2.1. Khái niệm và mục tiêu quản trị vốn kinh doanh 10 1.2.2 Nội dung quản trị kinh doanh 12 1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp 26 1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp 31 CHƯƠNG 2 :THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HOÀI NAM 35 2.1 Quá trình hình thành phát triển và đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam 35 2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam 35 2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam 37 2.1.2 Tình hình tài chính chủ yếu của công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam 41 2.2 Thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam 51 2.2.1 Tình hình vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam 51 2.2.2. Thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam 58 2.2.3. Đánh giá chung về tình hình quản trị vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam 82 CHƯƠNG 3 85 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ VỒN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 85 HOÀI NAM 85 3.1. Mục tiêu và định hướng phát triển của Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam trong thời gian tới 85 3.1.1 Bối cảnh kinh tế xã hội 85 3.1.2 Mục tiêu và định hướng phát triển của công ty 86 3.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị VKD ở công ty 87 3.2.1 Đảm bảo mức dự trữ tiền hợp lý , đáp ứng yêu cầu thanh toán của công ty 87 3.2.2. Quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 88 3.2.3. Tăng cường đầu tư đổi mới, quản lý sử dụng tài sản cố định một cách hợp lý 89 3.2.4. Xác định nhu cầu vốn lưu động cần thiết phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh 89 .3.3. Điều kiện thực hiện các giải pháp 90
Trang 1MỤC LỤC
VLĐ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh không thể thiếu VLĐ Chính vì vậy việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là không thể thiếu và là việc cần thiết đối với doanh nghiệp Đó là nguyên nhân chủ quan từ phía doanh nghiệp cảm thấy cần phải tiến hành quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ Bên cạnh đó yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ còn xuất phát từ nhiều yếu tố khác như mục đích kinh doanh của doanh nghiệp, vai trò quan trọng của VLĐ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thực tế về hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp 57
Trang 2CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ
VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn kinh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh
* Khái niệm :
Trong thời kỳ cơ chế thị trường bất cứ doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng cần phải có các yếu tố cơ bản là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Tất nhiên, để có được các yếu tố đó các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn tiền tệ nhất định, phù hợp với quy mô
và điều kiện của doanh nghiệp Số vốn tiền tệ đó được gọi là VKD của doanh nghiệp
VKD khác với tiền và các loại hàng hóa tiêu dùng khác Tiền tiêu dùng trong lưu thông dưới hình thức mua bán, trao đổi các vật phẩm tiêu dùng nên không được gọi là vốn Các hàng hóa được sử dụng cho tiêu dùng cũng không phải là vốn
Tóm lại, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước
mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hay có thể thể hiểu theo cách
khác, đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà doanh nghiệp đầu tư và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận
* Đặc trưng của vốn kinh doanh
Các doanh nghiệp muốn huy động, quản lý sử dụng VKD của mình một cách tiết kiệm và có hiệu quả cần nhận thức đúng đắn những đặc trưng cơ bản sau của VKD:
Trang 3Thứ nhất, VKD là biểu hiện bằng tiền của các tài sản nhất định mà doanh
nghiệp huy động, sử dụng vào kinh doanh Các tài sản này bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình
Thứ hai, VKD của doanh nghiệp không ngừng vận động, chuyển đổi hình
thái biểu hiện từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư, hàng hóa và cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh
Thứ ba, VKD của doanh nghiệp luôn vận động và gắn với một chủ sở hữu
nhất định Các doanh nghiệp không thể mua bán quyền sở hữu vốn mà chỉ có thể mua, bán quyền sử dụng VKD của doanh nghiệp trên thị trường tài chính
Thứ tư, do tác động của các yếu tố khả năng sinh lời và rủi ro nên một
đồng VKD hiện tại sẽ có giá trị kinh tế khác với một đồng VKD trong tương lai Nghĩa là VKD của doanh nghiệp luôn có giá trị theo thời gian
Thứ năm, vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có
thể phát huy tác dụng
Thứ sáu, VKD không chỉ là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của doanh
nghiệp mà còn được coi là một loại hàng hóa đặc biệt trong điều kiện nền kinh
tế thị trường Giá cả quyền sử dụng VKD chính là chi phí cơ hội trong việc sử dụng VKD của doanh nghiệp
Thứ bảy, VKD không chỉ là biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu
hình mà còn là biểu hiện giá trị của những tài sản vô hình như bản quyền, phát minh sáng chế, nhãn hiệu,…
1.1.2 Thành Phần của vốn kinh doanh
Để phục vụ cho yêu cầu quản lý, sử dụng VKD tiết kiệm và có hiệu quả, VKD thường được phân loại theo các tiêu thức sau:
Trang 41.1.2.1 Phân loại theo kết quả của hoạt động đầu tư
Theo kết quả của hoạt động đầu tư, VKD được chia thành VKD đầu tư vào tài sản cố định, tài sản lưu động và tài sản tài chính của doanh nghiệp
Theo kết quả của hoạt động đầu tư, VKD được chia thành VKD đầu tư vào tài sản cố định, tài sản lưu động và tài sản tài chính của doanh nghiệp
VKD đầu tư vào tài sản cố định là số vốn đầu tư để hình thành các
TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, chi phí mua bằng phát mình, sáng chế, nhãn hiệu sản phẩm độc quyền,…
VKD đầu tư vào tài sản lưu động là số vốn đầu tư để hình thành các
TSLĐ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các TSLĐ này bao gồm các loại vốn bằng tiền, vốn vật tư hàng hóa, các khoản phải thu, các loại TSLĐ khác của doanh nghiệp
VKD đầu tư vào tài sản tài chính là số vốn doanh nghiệp đầu tư vào các
tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ quỹ đầu tư và các giấy tờ có giá khác
Mỗi loại tài sản đầu tư của doanh nghiệp có thời hạn sử dụng và đặc điểm thanh khoản khác nhau Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian luân chuyển của VKD của doanh nghiệp Do đó, cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có thể lựa chọn cơ cấu tài sản đầu tư hợp lý, hiệu quả Đối với mỗi doanh nghiệp, cơ cấu vốn đầu tư vào các tài sản kinh doanh thường
không giống nhau do có sự khác nhau về đặc điểm ngành nghề kinh doanh, về sự lựa chọn quyết định đầy tư của từng doanh nghiệp Tuy nhiên, muốn đạt được hiệu quả kinh doanh cao, thông thường các doanh nghiệp vừa phải chú trọng đảm bảo sự đồng bộ, cân đối về năng lực sản xuất giữa các tài sản đầu tư, vừa phải đảm bảo tính thanh khoản, khả năng phân tán rủi ro của tài sản đầu tư trong doanh nghiệp
Trang 51.1.2.2 Phân loại theo đặc điểm luân chuyển của vốn
Theo tiêu thức này, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành hai loại là vốn cố định và vốn lưu động
Vốn cố định:
VCĐ là một bộ phận của VKD, là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp VCĐ chính là biểu hiện bằng tiền của các TSCĐ trong doanh nghiệp
VCĐ có ba đặc điểm cơ bản, đó là:
Thứ nhất, VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh do TSCĐ được sử
dụng lâu dài, sau nhiều năm mới cần đổi mới, thay thế
Thứ hai, trong quá trình sản xuất kinh doanh VCĐ VCĐ được luân
chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao TSCĐ, tương ứng với phần giá trị hao mòn TSCĐ của doanh nghiệp
Thứ ba, sau nhiều chu kỳ kinh doanh VCĐ mới hoàn thành một vòng luân
chuyển
Đặc điểm của VCĐ chi phối nội dung, biện pháp quản lý sử dụng VCĐ sử dụng VCĐ phải luôn gắn liền với việc quản lý, sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp
Vốn lưu động:
VLĐ là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp VLĐ chính là biểu hiện bằng tiền của các TSLĐ trong doanh nghiệp
VLĐ có các đặc điểm chính:
Một, VLĐ trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện Từ
hình thái vốn tiền tệ ban đầu trở thành vật tư, hàng hóa dự trữ sản xuất, rồi trở thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm và cuối cùng trở về hình thái vốn bằng tiền
Hai, VLĐ chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn
bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh
Ba, VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.
Trang 6VLĐ được phân loại theo những tiêu thức cụ thể để đảm bảo cho việc quản
lý và sử dụng hiệu quả VLĐ
Phân loại theo hình thái biểu hiển của VLĐ, VLĐ được chia thành:
- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu
- Vốn về hàng tồn kho
Phân loại theo vai trò của VLĐ, VLĐ được chia thành:
- VLĐ trong khâu dự trữ
- VLĐ trong khâu sản xuất
- VLĐ trong khâu lưu thông
Như vậy, việc phân loại VKD theo đặc điểm luân chuyển của vốn cho thấy đặc điểm luân chuyển của từng loại VKD, giúp doanh nghiệp có biện pháp tổ chức, quản lý, phân bổ, sử dụng VKD của doanh nghiệp cho phù hợp
1.1.3 Nguồn hình thành vốn kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, VKD là tiền đề cho việc hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức tốt nguồn vốn, tổ chức và lựa chọn hình thức huy động vốn một cách thích hợp và hiệu quả Muốn vậy, cần có sự phân loại nguồn vốn theo những tiêu thức nhất định Cụ thể như sau:
1.1.3.1 Dựa vào quan hệ sở hữu vốn
Theo tiêu thức này, VKD của doanh nghiệp được hình thành từ hai nguồn
là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả
- Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp,
bao gồm số vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh Tại một thời điểm nhất định:
Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản – Nợ phải trả
- Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có
trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như các khoản phải trả người bán, các khoản phải trả cho Nhà nước, cho người lao động, nợ vay,…
Trang 7Thông thường, một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn là vốn chủ sở hữu
và nợ phải trả để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, sự kết hợp này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà doanh nghiệp hoạt động và quyết định của người quản lý trên cơ sở xem xét tình hình kinh doanh
và tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.1.3.2 Dựa vào thời gian huy động và sử dụng vốn
Tiêu thức này chia nguồn vốn của doanh nghiệp ra thành hai loại, đó là nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời
- Nguồn vốn thường xuyên: là tổng thể các nguồn có tính chất ổn định mà
doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh, thường được sử dụng để mua sắm, hình thành TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Hay
Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng tài sản – Nợ ngắn hạn
Có thể xác định nguồn VLĐ thường xuyên của doanh nghiệp trên cơ sở xác định nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp
Nguồn VLĐ thường xuyên là nguồn vốn ổn định có tính chất dài hạn để hình thành hay tài trợ cho một phần hoặc toàn bộ TSLĐ thường xuyên cần thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Tại một thời điểm:
Nguồn vốn lưu động
thường xuyên =
Tổng nguồn vốn thường xuyên -
Tài sản dài hạn
Hoặc
Nguồn VLĐ thường xuyên = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Nguồn VLĐ thường xuyên tạo ra mức độ an toàn cho doanh nghiệp trong kinh doanh, làm cho tình trạng tài chính của doanh nghiệp được đảm bảo vững chắc hơn
Trang 8- Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một
năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tình chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn này bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác
- 1.1.3.3 Dựa vào phạm vi huy động vốn
- Theo phạm vi huy động vốn các nguồn vốn của doanh nghiệp có thể
chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài
- - Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư
từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra Nguồn vốn này thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp, là nguồn tăng thêm tài sản và nguồn vốn của công ty Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp chính là lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư
- Sử dụng nguồn vốn bên trong có nhiều điểm lợi cho doanh nghiệp như:
chủ động đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, nắm bắt kịp thời các thời cơ trong kinh doanh; tiết kiệm thời gian huy động vốn và chi phí sử dụng vốn do không phát sinh các chi phí quảng cáo, hoa hồng bảo lãnh… so với việc huy động vốn qua phát hành chứng khoán; giữ quyền kiểm soát doanh nghiệp và tránh áp lực phải thanh toán đúng kỳ hạn
Tuy nhiên, sử dụng nguồn vốn bên trong đem lại hiệu quả sử dụng thường không cao bằng các nguồn vốn huy động bên ngoài do không tạo áp lực thanh toán cho ban lãnh đạo doanh nghiệp trong việc cân nhắc, tính toán hiệu quả sử dụng vốn cho đầu tư Mặt khác, các nguồn vốn huy động bên trong thường bị giới hạn ở một quy mô nhất định
- Nguồn vốn bên ngoài: là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động
được vào đầu tư từ bên ngoài Nguồn vốn này bao gồm một số nguồn vốn chủ yếu như:
• Vay người thân (đối với doanh nghiệp tư nhân)
Trang 9• Vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác
• Gọi góp vốn liện doanh liên kết
• Tín dụng thương mại của nhà cung cấp
• Thuê tài sản
• Huy động vốn bằng phát hành chứng khoán (đối với một số loại hình doanh nghiệp được pháp luật cho phép)
1.2 Quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản trị vốn kinh doanh
1.2.1.1 Khái niệm quản trị vốn kinh doanh
Quản trị VKD là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm soát quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng VKD nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp
Quản trị VKD là một trong các chức năng cơ bản của quản trị tài chính doanh nghiệp Quản trị VKD bao gồm các hoạt động của người quản lý (nhà quản trị) liên quan đến việc đầu tư, mua sắm, tài trợ và quản lý tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
1.2.1.2 Mục tiêu quản trị vốn kinh doanh
Quản trị VKD là sự tác động của nhà quản trị đến các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Trong các quyết định của doanh nghiệp, vấn đề được nhà quản trị quan tâm giải quyết không chỉ là lợi ích của cổ đông và nhà quản trị mà còn cả lợi ích của nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và Chính phủ
Quản trị VKD là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với các hoạt động khác của doanh nghiệp và luôn giữ một vai trò trọng yếu trong hoạt động quản
lý doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, quản trị VKD nhằm các mục tiêu chủ yếu sau
Trang 10Thứ nhất, huy động vốn đảm bảo đầy đủ và kịp thời cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Để đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho
hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp cũng như cho đầu tư phát triển trong quá trình hoạt động kinh doanh, nhà quản trị cần xác định đúng đắn các nhu cầu về VKD trong thời kỳ và lựa chọn các phương pháp, hình thức thích hợp huy động nguồn vốn từ bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng và liên tục
Thứ hai, tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả Hiệu quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩ rất quan trọng để doanh nghiệp
có thể nắm bắt được các cơ hội kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp Huy động và sử dụng tốt các quỹ doanh nghiệp cùng với việc sử dụng các chính sách khen thưởng hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy cán bộ công nhân viên gắn liền với doanh nghiệp Từ đó nâng cao năng suất lao động, góp phần cải tiến sản xuất kinh doanh, tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Thứ ba, giám sát, kiểm tra chặt chẽ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua tình hình hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hiệu
suất và hiệu quả sử dụng VKD, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những tồn tại vướng mắc trong kinh doanh, từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh
1.2.2 Nội dung quản trị kinh doanh
Các doanh nghiệp thường sử dụng hai phương pháp thông thường để ước lượng số vốn cần thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Phương pháp thứ nhất là ước lượng nhu cầu vốn theo ngân sách doanh nghiệp Phương pháp thứ hai ước lượng theo số vốn cần thiết căn cứ vào các tỷ lệ có sẵn trong
Trang 11Hiện nay Nhà nước cho phép các doanh nghiệp tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có tự chủ về vốn bao gồm huy động và sử dụng vốn trong doanh nghiệp Bên cạnh nguồn vốn Nhà nước cấp phát (đối với loại hình doanh nghiệp nhà nước) các doanh nghiệp còn được phép huy động từ các nguồn khác để phục vụ cho các hoạt động của mình Thực tế các doanh nghiệp thường huy động từ các nguồn: vay từ các tổ chức tín dụng, liên doanh liên kết với các khách hàng hoặc nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp dưới dạng mua trả chậm hoặc trả tiền trước một phần hỗ trợ cho doanh nghiệp, phát hành trái phiếu, cổ phiếu thông qua việc cổ phần hóa doanh nghiệp.
Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều trong tình trạng thiếu vốn kinh doanh Vấn đề đặt ra là làm thế nào để doanh nghiệp huy động có hiệu quả nguồn vốn để phục vụ tốt cho hoạt động kinh doanh của mình Với nhiều hình thức huy động vốn mà các doanh nghiệp đã áp dụng có thể phân chia thành hai loại là hình thức huy động vốn ngắn hạn và dài hạn Để lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, cần xem xét cân nhắc trên nhiều mặt như kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc sử dụng mỗi nguồn vốn,…
1.2.2.2 Phân bổ vốn kinh doanh một cách hợp lý
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn được phân
bổ, đầu tư cho các TSCĐ và TSLĐ để tiến hành sản xuất Biểu hiện bằng tiền của TSCĐ và TSLĐ là số tiền bỏ ra để đầu tư cho các tài sản này, đó chính là vốn cố định và vốn lưu động
Tùy theo đặc điểm từng ngành nghề kinh doanh và đặc điểm cụ thể của mỗi doanh nghiệp mà các doanh nghiệp có sự phân bổ vốn kinh doanh khác nhau Thông thường, các doanh nghiệp phân bổ vốn theo ba mô hình sau:
Trang 12Mô hình thứ nhất: Toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên được đảm bảo
bằng nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời
Sự phân bổ vốn này giúp cho doanh nghiệp hạn chế được rủi ro trong thanh toán, mức độ an toàn cao hơn, giảm bớt chi phí trong việc sử dụng vốn nhưng chưa tạo ra sự linh hoạt trong việc tổ chức sử dụng vốn, thường vốn nào nguồn ấy Mặt khác, khi doanh thu biến động, khi gặp khó khăn về tiêu thụ, doanh nghiệp phải tạm thời giảm bớt quy mô kinh doanh nhưng vẫn phải duy trì một lượng vốn thường xuyên khá lớn
Mô hình thứ hai: Toàn bộ TSCĐ, TSLĐ thường xuyên và một phần
TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên và một phần TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời
Sử dụng mô hình này, khả năng thanh toán và độ an toàn ở mức cao, tuy nhiên, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều khoản vay dài hạn và trung hạn nên phải trả chi phí nhiều hơn cho việc sử dụng vốn
Mô hình thứ ba: Toàn bộ TSCĐ và một phần TSLĐ thường xuyên được
đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, còn một phần TSLĐ thường xuyên và toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời
Mô hình này chi phí sử dụng vốn sẽ được hạ thấp hơn vì sử dụng nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngắn hạn, việc sử dụng vốn sẽ được linh hoạt hơn, Trong thực tế, mô hình này thường được các doanh nghiệp lựa chọn, vì một phần tín dụng ngắn hạn được xem như dài hạn thường xuyên, đối với các doanh nghiệp mới hình thành lại càng cần thiết Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng cần
sự năng động trong việc tổ chức nguồn vốn vì áp dụng mô hình này khả năng gặp rủi ro sẽ cao hơn
1.2.2.3 Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Trang 13Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng VLĐ cần thiết để đáp ứng các yêu cầu mua sắm vật tư dự trữ,
bù đắp chênh lệch các khoản thu, phải trả giữa doanh nghiệp với khách hàng, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục
Như vậy, nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết là số VLĐ tối thiểu cần
thiết phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được tiến hành bình thường, liên tục
Các doanh nghiệp cần chú trọng xác định đúng đắn nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp
Nhu cầu VLĐ được xác định theo công thức:
Nhu cầu VLĐ=Vốn HTK+Nợ phải thu–Nợ phải trả nhà cung cấp
Nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: quy mô kinh doanh của doanh nghiệp; đặc điểm, tính chất của ngành nghề kinh doanh (chu kỳ sản xuất, tính chất thời vụ); sự biến động của giá cả vật tư, hàng hóa trên thị trường; trình độ tổ chức, quản lý sử dụng VLĐ của doanh nghiệp; trình độ kỹ thuật – công nghệ sản xuất; các chính sách của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ… Xác định đúng đắn các nhân tố ảnh hưởng sẽ giúp doanh nghiệp xác định đúng nhu cầy VLĐ và có biện pháp quản
lý, sử dụng VLĐ một cách tiết kiệm, có hiệu quả
Có thể sử dụng 2 phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp để xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp
Phương pháp trực tiếp:
Nội dung phương pháp này là xác định trực tiếp nhu cầu vốn cho hàng tồn kho, các khoản phải thu, khoản phải trả nhà cung cấp rồi tập hợp lại thành tổng nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp
Nhu cầu VLĐ bao gồm VLĐ trong các khâu dự trữ sản xuất, khâu sản xuất và khâu lưu thông
Trang 14- Nhu cầu VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm nhu cầu vốn dự trữ
nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế…
- Nhu cầu VLĐ dự trữ trong khâu sản xuất bao gồm nhu cầu vốn để hình
thành các sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí trả trước
- Nhu cầu VLĐ dự trữ trong khâu lưu thông bao gồm vốn dự trữ thành
phẩm, vốn phải thu, phải trả
Phương pháp gián tiếp:
Phương pháp gián tiếp dựa vào phân tích tình hình tài chính thực tế sử dụng VLĐ của doanh nghiệp năm báo cáo, sự thay đổi về quy mô kinh dooanh
và tốc độ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch, hoặc sự biến dộng nhu cầu VLĐ theo doanh thu thực hiện năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp năm kế hoạch
Các phương pháp gián tiếp cụ thể như sau:
- Phương pháp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm nhu cầu VLĐ so với năm báo cáo Thực chất phương pháp này là dựa vào thực tế nhu cầu VLĐ năm báo cáo và điều chỉnh theo quy mô kinh doanh và tốc độ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch
- Phương pháp dựa vào tổng mức luân chuyển vốn và tốc độ luân chuyển vốn năm kế hoạch Nhu cầu VLĐ được xác định căn cứ vào tổng mức luân chuyển VLĐ và tốc độ luân chuyển VLĐ dự tính của năm kế hoạch
- Phương pháp dựa vào tỷ lệ phần trăm trên doanh thu Dựa vào sự biến động theo tỷ lệ trên doanh thu của các yếu tố cấu thành VLĐ của doanh nghiệp năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ theo doanh thu năm kế hoạch
Quản trị vốn tồn kho dự trữ
Tồn kho dự trữ là những tài sản mà doanh nghiệp dự trữ để đưa vào sản xuất hoặc bán ra sau này Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp được chia thành tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho sản phẩm dở dang, bán thành phẩm và tồn kho thành phẩm
Trang 15Việc hình thành lượng hàng tồn kho đòi hỏi phải ứng trước một lượng tiền nhất định gọi là vốn tồn kho dự trữ Quản lý vốn tồn kho dự trữ là việc rất quan trọng, không phải vì nó thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số VLĐ của doanh nghiệp mà quan trọng hơn là giúp doanh nghiệp tránh được tình trạng vật tư hàng hóa ứ đọng, chậm luân chuyển, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra bình thường, góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển VLĐ.
Quy mô vốn tồn kho dự trữ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi mức tồn kho dự trữ của doanh nghiệp Tuy nhiên, từng loại tồn kho dự trữ lại có các nhân tố ảnh hưởng khác nhau Nhận thức rõ các nhân tố ảnh hưởng sẽ giúp doanh nghiệp có biện pháp quản lý phù hợp nhằm duy trì lượng tồn kho dự trữ sao cho hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nhất
Quản trị vốn bằng tiền
Vốn bằng tiền (gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) là một
bộ phận cấu thành tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Tuy nhiên, vốn bằng tiền chỉ sinh lời khi được đầu tư vào một mục đích nhất định và dễ bị thất thoát, gian lận, lợi dụng
Quản trị vốn bằng tiền của doanh nghiệp có yêu cầu cơ bản là vừa phải đảm bảo sự an toàn tuyệt đối, đem lại khả năng sinh lời cao nhưng đồng thời cũng phải đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt của doanh nghiệp
Quản trị vốn bằng tiền trong doanh nghiệp bao gồm các nội dung chủ yếu:
Thứ nhất, xác định đúng đắn mức dự trữ tiền mặt hợp lý, tối thiểu để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu bằng tiền mặt của doanh nghiệp trong kỳ Căn cứ vào
số liệu thống kê nhu cầu chi dùng tiền mặt bình quân một ngày và số ngày dự trữ tiền mặt hợp lý Ngoài ra, có thể vận dụng mô hình tổng chi phí tối thiểu (mô hình Baumol) trong quản trị vốn tồn kho dự trữ để xác định mức tồn quỹ tiền mặt mục tiêu của doanh nghiệp
Thứ hai, quản lý chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt Doanh nghiệp cần
quản lý chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt để tránh bị mất mát, lợi dụng Thực hiện nguyên tắc mọi khoản thu chi tiền mặt đều phải qua quỹ, không được thu
Trang 16chi ngoài quỹ Phân định rõ ràng trách nhiệm trong quản lý vốn bằng tiền giữa
kế toán và thủ quỹ
Thứ ba, chủ động lập và thực hiện kế hoạch lưu chuyển tiền tệ hàng năm,
có biện pháp phù hợp đảm bảo cân đối thu chi tiền mặt và sử dụng có hiệu quả nguồn tiền mặt tạm thời nhàn rỗi
Quản trị các khoản phải thu
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ Trong kinh doanh hầu hết các doanh nghiệp đều có khoản nợ phải thu nhưng với quy mô, mức độ khác nhau Quản trị khoản phải thu là một nội dung quan trọng trong quản trị tài chính của doanh nghiệp
Doanh nghiệp cần đặc biệt coi trọng các biện pháp quản trị khoản phải thu
từ bán chịu hàng hóa, dịch vụ Nếu khả năng sinh lời lớn hơn rủi ro thì doanh nghiệp có thể mở rộng (nới lỏng) bán chịu, còn nếu khả năng sinh lời nhỏ hơn rủi ro doanh nghiệp phải thu hẹp (thắt chặt) việc bán chịu hàng hóa, dịch vụ
Để quản trị các khoản phải thu, các doanh nghiệp cần chú trọng thực hiện các biện pháp:
Xác định chính sách bán chịu hợp lý đối với từng khách hàng Trước hết là
xác định đúng đắn các tiêu chuẩn hay giới hạn tối thiểu về mặt uy tín của khách hàng để doanh nghiệp có thể chấp nhận bán chịu Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần xác định đúng đắn các điều khoản bán chịu hàng hóa, dịch vụ
Phân tích uy tín tài chính của khách hàng mua chịu Nội dung chủ yếu là
đánh giá khả năng tài chính và mức độ đáp ứng yêu cầu thanh toán của khách hàng khi khoản nợ đến hạn thanh toán
Áp dụng các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả thu hồi nợ Tùy theo
điều kiện cụ thể có thể áp dụng các biện pháp phù hợp như sử dụng kế toán thu hồi nợ chuyên nghiệp, xác định trọng tâm quản lý và thu hồi nợ trong từng thời
kỳ để có chính sách thu hồi nợ thích hợp, thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro bán chịu
1.2.2.4 Quản trị vốn cố định của doanh nghiệp
Quản trị VCĐ là một nội dung qu Quản trị VCĐ là một nội dung quan trọng trong quản lý VKD của các doanh nghiệp không chỉ ở chỗ VCĐ thường
Trang 17chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số VKD của doanh nghiệp, có ý nghĩa quyết định tới năng lực sản xuất của doanh nghiệp mà còn do việc sử dụng VCĐ thường gắn liền với hoạt động đầu tư dài hạn, thu hồi vốn chậm và dễ gặp rủi ro.Quản trị VCĐ có thể khái quát thành các nội dung cơ bản sau:
a. Đánh giá lựa chọn đầu tư TSCĐ
Các TSCĐ của doanh nghiệp khi tham gia vào quá trình sản xuất đều bị hao mòn, đến lúc chúng không còn sử dụng được nữa hoặc có thể do nhiều nguyên nhân mà cần thiết phải đổi mới TSCĐ hoặc phải thay thế, trang bị mới TSCĐ cho phù hợp với nhu cầu sản xuất Các doanh nghiệp thường tính toán một số chỉ tiêu cần thiết để xem xét tình hình sử dụng TSCĐ tại doanh nghiệp sau đó phân tích nhu cầu cần thiết đối với từng loại TSCĐ phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp để lên kế hoạch đầu tư TSCĐ cho đúng
Việc đầu tư vào TSCĐ bao gồm các quyết định mua sắm, xây dựng, sửa chữa nâng cấp… TSCĐ đạt được yêu cầu về thời gian hữu ích của chi phí bỏ ra (tài sản mua sắm) và giá trị của tài sản mua sắm Khi doanh nghiệp quyết định đầu tư vào TSCĐ sẽ tác động đến hoạt động kinh doanh ở hai khía cạnh là chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trước mắt và lợi ích mà doanh nghiệp thu được trong tương lai Chi phí của doanh nghiệp sẽ tăng lên do chi phí đầu tư phát sinh đồng thời phải phân bổ chi phí khấu hao (tuỳ theo thời gian hữu ích) Còn lợi ích đem lại là việc nâng cao năng lực sản xuất, tạo ra được sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao trên thị trường
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, sản xuất và tiêu thụ chịu
sự tác động trực tiếp của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh Do vậy, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp khi tiến hành việc đầu tư TSCĐ là phải tiến hành tự thẩm định tức là sẽ so sánh giữa chi tiêu và lợi ích, tính toán một số chỉ tiêu ra quyết định đầu tư như NPV, IRR… để lựa chọn phương án tối ưu
Đây là nội dung quan trọng trong công tác quản trị vốn cố định vì nó là công tác khởi đầu khi TSCĐ được sử dụng tại doanh nghiệp Những quyết định ban đầu có đúng đắn thì sẽ góp phần bảo toàn vốn cố định Nếu công tác quản lý
Trang 18này không tốt, không có sự phân tích kỹ lưỡng trong việc lựa chọn phương án đầu tư xây dựng mua sắm sẽ làm cho TSCĐ không phát huy được tác dụng để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả và như vậy việc thu hồi toàn
bộ vốn đầu tư là điều không thể
b Quản lý khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp
Hao mòn TSCĐ
TSCĐ luôn bị hao mòn do nhiều nguyên nhân khác nhau trong quá trình
sử dụng Có 2 hình thức hao mòn của TSCĐ là hao mòn hữu hình và hao mòn
vô hình
Hao mòn hữu hình: là sự hao mòn về mặt vật chất, về giá trị sử dụng và giá
trị của TSCĐ trong quá trình sử dụng
Hao mòn vô hình: là sự giảm sút thuần túy về giá trị của TSCĐ, biểu hiện ở
sự giảm sút giá trị trao đổi của TSCĐ do ảnh hưởng của tiến bộ khoa học – kỹ thuật và công nghệ sản xuất
Hao mòn TSCĐ dù xảy ra dưới hình thức nào cũng gây tổn thất giá trị TSCĐ của doanh nghiệp Do đó, trong quá trình sử dụng, các doanh nghiệp phải chú trọng áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế, giảm thiểu tối đa những tổn thất
do hao mòn TSCĐ như:
- Nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ
- Thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên, định kỳ TSCĐ
để tránh các hư hỏng bất thường TSCĐ, gây thiệt hại về nhừng sản xuất
- Ứng dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học – kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất của doanh nghiệp
- Khi TSCĐ đã hết thời hạn sử dụng hoặc xét thấy việc sử dụng TSCĐ cũ không còn kinh tế thì phải mạnh dạn thay thế, đổi mới để nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ và VCĐ của doanh nghiệp
Trang 19 Khấu hao TSCĐ
Khấu hao TSCĐ là việc phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải thu hồi của TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ
Mục đích của khấu hao là nhằm bù đắp các hao mòn TSCĐ và thu hồi VCĐ đã đầu tư ban đầu để tái sản xuất giản đơn hoặc mở rộng về TSCĐ
Về nguyên tắc, việc khấu hao phải đảm bảo phù hợp với mức độ hao mòn của TSCĐ và thu hồi đầy đủ số vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ
Các phương pháp khấu hao TSCĐ
Khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp có thể thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau Việc lựa chọn phương pháp khấu hao đúng đắn là một nội dung chủ yếu, quan trọng trong quản lý VCĐ của doanh nghiệp Thông thường có các phương pháp khấu hao chủ yếu sau:
• Phương pháp khấu hao đường thẳng
Theo phương pháp này , mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao hàng năm được tính bình quân trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ
Công thức xác định như sau:
= x 100% = x 100%
Trong đó:
: Mức khấu hao hàng năm
: Tỷ lệ khấu hao hàng năm
Trang 20: Nguyên giá TSCĐ phải khấu hao
T: Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ (năm)
Nếu doanh nghiệp tính khấu khao theo tháng thì lấy mức khấu hao hàng năm hoặc tỷ lệ khấu hao hàng năm chia cho 12 tháng để xác định mức khấu hao
và tỷ lệ khấu hao theo từng tháng
Nguyên giá TSCĐ là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra
để có được TSCĐ tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng
Thời gian sử dụng hữu ich của TSCĐ là thời gian dự tính còn đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp Thông thường được xác định dựa trên tuổi thọ kỹ thuật và tuổi thọ kinh tế của TSCĐ
Tỷ lệ khấu hao TSCĐ có thể được xác định riêng cho từng TSCĐ, từng nhóm, loại TSCĐ hoặc cho toàn bộ các loại TSCĐ của doanh nghiệp Phương pháp tính tỷ lệ khấu hao bình quân cho toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được tính theo phương pháp bình quân gia quyền đối với toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp
Phương pháp này có ưu điểm là tính toán đơn giản, dễ dàng; mức trích khấu hao được phân bổ đều đặn hàng năm nên ổn định giá thành và giá bán; phù hợp với các TSCĐ hao mòn đều đặn trong kỳ Tuy nhiên, phương pháp này không phản ánh đúng mức độ hao mòn thực tế TSCĐ; trong một số trường hợp không lường trước được tiến bộ khoa học kỹ thuật, việc áp dụng phương pháp này có thể dẫn tới tình trạng không thu hồi đủ VCĐ; không phù hợp với những tài sản hoạt động không đồng đều giữa các thời kỳ
• Phương pháp khấu hao nhanh
Khấu hao nhanh có thể được thực hiện theo 2 phương pháp là khấu hao theo số dư giảm dần và khấu hao theo tổng số thứ tự năm sử dụng
Trang 21- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần
Theo phương pháp này mức khấu hao hàng năm được xác định bằng cách lấy giá trị còn lại của TSCĐ phải tính khấu hao nhân với tỷ lệ khấu hao nhanh.Công thức tính toán như sau:
= x
Trong đó:
: Mức khấu hao năm t
: Giá trị còn lại của TSCĐ ở đầu năm thứ t
: Tỷ lệ khấu hao nhanh của TSCĐ
- Phương pháp khấu hao theo tổng số thứ tự năm sử dụng
Theo phương pháp này, mức khấu hao hàng năm được xác định bằng nguyên giá TSCĐ cần tính khấu hao nhân với tỷ lệ khấu hao của từng năm Công thức tính như sau:
= x
Trang 22Trong đó:
: Mức khấu hao năm t
: Nguyên giá TSCĐ phải khấu hao
: Tỷ lệ khấu hao của năm thứ t cần tính khấu hao
Tỷ lệ khấu hao nhanh được tính bằng cách lấy số năm sử dụng còn lại của TSCĐ cho đến khi hết thời hạn sử dụng chia cho tổng số thứ tự năm sử dụng hoặc áp dụng công thức sau:
=
Phương pháp khấu hao nhanh có ưu điểm là cho phép doanh nghiệp nhanh chóng tập trung nguồn VCĐ và hạn chế được những tổn thất khi không lường trước được sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong việc khấu hao TSCĐ; tạo lá chắn thuế cho doanh nghiệp do doanh nghiệp được “hoãn nộp” một phần thuế thu nhập doanh nghiệp Tuy nhiên, phương pháp này làm cho chi phí khấu hao những năm đầu cao, lợi nhuận sụt giảm, ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tài chính và giá cổ phiếu; việc tính toán khấu hao sẽ phức tạp hơn
• Phương pháp khấu hao theo sản lượng
Theo phương pháp này mức khấu hao hàng năm được xác định bằng cách lấy sản lượng dự kiến sản xuất hàng năm nhân với mức trích khấu hao tính cho một đơn vị sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành
Công thức tính như sau:
= x
Trang 23Trong đó:
: Mức khấu hao TSCĐ ở năm t
: Số lượng sản phẩm sản xuất trong năm t
: Mức khấu hao đơn vị sản phẩm
Mức khấu hao đơn vị sản phẩm được tính bằng cách lấy nguyên giá TSCĐ phải tính khấu hao chia cho số lượng (hoặc khối lượng) sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế trong suốt thời gian hoạt động hữu ích của TSCĐ Trường hợp tính khấu hao theo sản lượng từng tháng thì lấy số lượng (hoặc khối lượng) sản phẩm sản xuất trong tháng nhân với mức khấu hao bình quân cho 1 đơn vị sản phẩm
Phương pháp khấu khao theo sản lượng có ưu điểm là tính khấu hao phù hợp hơn với mức độ hao mòn của TSCĐ có mức độ hoạt động không đồng đều giữa các thời kỳ nhưng việc khấu hao có thể trở nên phức tạp và đòi hỏi phải thống kê được khối lượng sản phẩm đầy đủ và rõ ràng
c Xây dựng quy chế quản lý TSCĐ
Với những tài sản cố định do Công ty mua sắm:
Mọi tài sản cố định được mua sắm trang bị có giá trị (theo qui định của
Bộ Tài chính) phải được phản ánh trong Sổ Tài sản cố định của Công ty;
Giám đốc tài chính kiêm Kế toán trưởng có trách nhiệm chỉ đạo Kế toán trưởng xác định số trích khấu hao tài sản cố định tính vào chi phí sản xuất kinh doanh theo qui định của Bộ Tài chính;
Trang 24Việc góp vốn đầu tư dưới hình thức liên doanh, liên kết góp vốn cổ phần, mua sắm thêm tài sản cố định, thanh lý tài sản cố định phải thực hiện theo thẩm quyền qui định trong Điều lệ Công ty.
Với những tài sản thuê ngoài do Công ty ký hợp đồng thuê:
Căn cứ đề nghị của đơn vị cơ sở về việc thuê tài sản phục vụ sản xuất, xây dựng:
- Giám đốc Kế hoạch - Kỹ thuật kiểm tra và đưa ra ý kiến bằng văn bản
về sự cần thiết phải thuê tài sản;
- Hợp đồng thuê máy móc, thiết bị, phương tiện do Tổng Giám đốc ký và thanh toán qua Phòng Kế toán- Tài vụ của Công ty;
- Đơn vị đề nghị thuê máy móc, thiết bị…có trách nhiệm tiếp nhận, quản
lý, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các máy móc, thiết bị, phương tiện, v.v thuê ngoài theo hợp đồng đã ký;
- Khi hết thời hạn thuê theo hợp đồng, đơn vị sử dụng có trách nhiệm bàn giao các máy móc, thiết bị, phương tiện, v.v cho bên cho thuê;
- Việc tiếp nhận và bàn giao máy móc, thiết bị, phương tiện, v.v theo hợp đồng thuê phải được lập thành biên bản ghi rõ tình trạng kỹ thuật của từng loại máy móc, thiết bị, phương tiện khi tiếp nhận thuê và khi bàn giao trả lại bên cho thuê, trên biên bản phải có chữ ký của Giám đốc Kế hoạch - Kỹ thuật và Giám đốc tài chính kiêm Kế toán trưởng
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.3.1 Chỉ tiêu đánh giá tình hình tổ chức đảm bảo nguồn vốn kinh doanh
Hệ số cơ cấu nguồn vốn
Hệ số cơ cấu nguồn vốn được thể hiện chủ yếu qua hệ số nợ Hệ số nợ thể hiện việc sử dụng nợ của doanh nghiệp trong việc tổ chức nguồn vốn và điều đó cũng cho thấy mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
Trang 25Nó phản ánh cơ cấu VKD của doanh nghiệp như thế nào.
1.2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá cơ cấu vốn kinh doanh
Hệ số cơ cấu tài sản
Phản ánh mức độ đầu tư vào các loại tài sản của doanh nghiệp: tài sản cố định và tài sản lưu động
1.2.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn lưu động
Để đánh giá tình hình quản lý và sử dụng VLĐ người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
Trang 26 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động:
Tốc độ luân chuyển VLĐ phản ánh mức độ luân chuyển VLĐ nhanh hay chậm và thường được phản ánh qua các chỉ tiêu số vòng quay VLĐ và kỳ luân chuyển VLĐ
Số vòng quay VLĐ =
Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay VLĐ trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm Để đơn giản, tổng mức luân chuyển VLĐ thường được xác định bằng doanh thu thuần trong kỳ Số VLĐ bình quân được xác định theo phương pháp bình quân số học
Kỳ luân chuyển VLĐ =
Chỉ tiêu này phản ánh để thực hiện một vòng quay VLĐ cần bao nhiêu ngày Kỳ luân chuyển càng ngắn thì VLĐ luân chuyển càng nhanh và ngược lại
Mức tiết kiệm vốn lưu động
Mức tiết kiệm VLĐ phản ánh số VLĐ tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ Nhờ tăng tốc dộ luân chuyển VLĐ nên doanh nghiệp có thể rút ra khỏi một số VLĐ để dùng cho các hoạt động khác
Mức tiết kiệm VLĐ = Mức luân chuyển vốn
bình quân 1 ngày kỳ KH x
Số ngày rút ngắn kỳ luân chuyển VLĐ
Trang 27Tỷ suất lợi nhuận VLĐ = x 100%
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VLĐ bình quân tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước (sau) thuế ở trong kỳ Chỉ tiêu này là thước đo đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp
1.2.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn cố định
Để đánh giá tình hình quản lý, sử dụng TSCĐ và VCĐ người ta thường sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau:
Hiệu suất sử dụng TSCĐ:
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ sử dụng trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Nguyên giá TSCĐ bình quân được tính theo phương pháp bình quân giữa nguyên giá TSCĐ cuối kỳ và đầu kỳ Công thức tính như sau:
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Hiệu suất sử dụng VCĐ:
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VCĐ sử dụng trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần VCĐ sử dụng trong kỳ là phần giá trị còn lại của nguyên giá TSCĐ VCĐ bình quân được tính theo phương pháp bình quân số học giữa cuối kỳ và đầu kỳ Công thức tính như sau:
Hiệu suất sử dụng VCĐ =
Hệ số hao mòn TSCĐ:
Trang 28Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ, qua đó cũng gián tiếp phản ánh năng lực còn lại của TSCĐ và số VCĐ còn phải tiếp tục thu hồi ở thời điểm đánh giá Hệ số này càng gần 1 chứng tỏ TSCĐ đã gần hết thời hạn sử dụng, VCĐ cũng sắp thu hồi hết Công thức tính như sau:
Hệ số hao mòn TSCĐ =
Hàm lượng VCĐ
Chỉ tiêu này là nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng VCĐ, nó phản ánh
để thực hiện được một đồng doanh thu thuần doanh nghiệp cần bỏ ra bao nhiêu đồng VCĐ Hàm lượng VCĐ càng thấp thì hiệu suất sử dụng VCĐ càng cao và ngược lại Công thức tính như sau:
Hàm lượng VCĐ =
Tỷ suất lợi nhuận VCĐ:
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VCĐ bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước (sau) thuế Chỉ tiêu này là thước đo đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ của doanh nghiệp trong một thời kỳ hoạt động Công thức tính như sau:
1.2.3.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Vòng quay toàn bộ vốn (hay vòng quay tài sản)
Trang 29Chỉ tiêu này phản ánh tổng quát hiệu suất sử dụng tài sản hay toàn bộ số VKD hiện có của doanh nghiệp và được xác định bằng công thức sau:
Vòng quay toàn bộ vốn =
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS)
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp Nó thể hiện khi thực hiện một đồng doanh thu trong
kỳ, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận Công thức tính như sau:
ROS =
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP)
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản còn được gọi là tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên VKD (BEP) Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay VKD không tính đến ảnh hưởng của nguồn gốc của VKD và thuế thu nhập doanh nghiệp Cách xác định như sau:
BEP =
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng VKD trong kỳ có khả năng sinh lời ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trang trải lãi tiền vay Chỉ tiêu này đánh giá trình độ quản trị vốn của doanh nghiệp
TSLN trước thuế trên VKD =
Trang 30 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROA)
Tỷ suất này còn được gọi là tỷ suất sinh lời ròng của tài sản (ROA) Hệ số này phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Công thức tính như sau:
ROA =
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Đây là một chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm Hệ số này đo lường mức lợi nhuận sau thuế thu được trên mỗi đồng vốn của chủ sở hữu trong kỳ Cách xác định như sau:
ROE =
Chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp tất cả các khía cạnh về trình độ quản trị tài chính gồm trình độ quản trị doanh thu và chi phí, trình độ quản trị tài sản, trình độ quản trị nguồn vốn của doanh nghiệp
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Quản trị VKD của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan Vì vậy, khi thực hiện quản trị VKD của doanh nghiệp phải tính tới ảnh hưởng của các nhân tố này
1.2.4.1 Các nhân tố chủ quan
- Quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp:
Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp càng phức tạp Do lượng vốn sử dụng nhiều nên cơ cấu tổ chức của
Trang 31doanh nghiệp càng chặt chẽ thì sản xuất càng hiệu quả Công tác kế toán thực hiện tốt sẽ đưa ra các số liệu chính xác giúp lãnh đạo nắm được tình hình tài chính doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn.
- Trình độ kỹ thuật sản xuất:
Doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật sản xuất cao, công nghệ hiện đại sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí sản xuất, giúp hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Ngược lại, doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật thấp, máy móc lạc hậu sẽ làm giảm doanh thu, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp
- Trình độ tổ chức quản lý của nhà quản trị:
Vai trò của nhà quản trị trong tổ chức sản xuất kinh doanh là rất quan trọng Sự điều hành quản lý phải kết hợp được tối ưu các yếu tố sản xuất, giảm chi phí không cần thiết, đồng thời nắm bắt được cơ hội kinh doanh Điều này giúp tăng hiệu quả sử dụng VKD, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Trình độ tay nghề của người lao động:
Người lao động có trình độ tay nghề cao, phù hợp với trình độ dây chuyền sản xuất thì việc sử dụng máy móc sẽ hiệu quả hơn, khai thác tối đa công suất thiết bị làm tăng năng suất lao động, tạo ra chất lượng sản phẩm cao Từ đó, việc
sử dụng VKD của doanh nghiệp hiệu quả hơn
- Chiến lược phát triển, đầu tư của doanh nghiệp:
Bất cứ một doanh nghiệp nào khi kinh doanh đều đặt ra cho mình kế hoạch để phát triển thông qua các chiến lược Để hiệu quả quản trị VKD của doanh nghiệp được ổn định và nâng cao thì các chiến lược kinh doanh phải rõ ràng, đúng hướng vì các chiến lược này có thể làm biến động lớn lượng VKD của doanh nghiệp
1.2.4.2 Các nhân tố khách quan
Trang 32- Thị trường:
Thị trường là nhân tố quan trọng quyết định tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó, thị trường vốn quyết định tới việc huy động vốn của doanh nghiệp, thị trường hàng hóa quyết định tới việc sử dụng vốn Thị trường tiêu thụ sản phẩm có tác động lớn đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu các thị trường này phát triển ổn định sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và tăng thị phần
Vì vậy, có thể nói yếu tố thị trường có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản trị VKD của doanh nghiệp
- Yếu tố khách hàng:
Nhu cầu sử dụng sản phẩm của khách hàng ngày càng cao đòi hỏi nhà cung cấp phải tạo ra được những sản phẩm độc đáo, hấp dẫn người mua Do đó, doanh nghiệp cần phải làm sao tạo ra được những sản phẩm đó với giá thành hợp lý để có lợi nhuận cao Doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra chi phí hợp lý để nghiên cứu thị trường tìm hiểu các mặt hàng đang được ưa chuộng, tìm hiểu mẫu mã, bao bì đóng gói để từ đó có quyết định sản xuất cho hiệu quả Nhu cầu đòi hỏi của khách hàng càng cao thì doanh nghiệp càng phải tích cực hơn trong công tác
tổ chức thực hiện làm cho hiệu quả quản trị VKD tốt hơn
- Trạng thái nền kinh tế:
Trạng thái nền kinh tế có ảnh hưởng gián tiếp tới hiệu quả quản trị VKD của doanh nghiệp Khi nền kinh tế phát triển vững mạnh và ổn định sẽ tạo cho doanh nghiệp có nhiều cơ hội trong kinh doanh như: huy động vốn, đầu tư vào các dự án lớn, có cơ hội lựa chọn bạn hàng
Nền kinh tế phát triển cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng được tăng theo Vì vậy, các doanh nghiệp luôn chú trọng việc đầu tư vào công nghệ Với những máy móc hiện đại không những tiết kiệm được sức lao động của con người mà
Trang 33còn tạo ra được khối lượng sản phẩm cao với giá thành thấp thoả mãn nhu cầu của khách hàng Do đó sẽ làm tăng doanh thu, lợi nhuận, khuyến khích doanh nghiệp tích cực sản xuất, hiệu quả quản trị VKD của doanh nghiệp ngày càng nâng cao và ngược lại.
- Về cơ chế chính sách kinh tế:
Vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là điều không thể thiếu Các cơ chế, chính sách của Nhà nước có tác động không nhỏ tới hiệu quả quản trị VKD của doanh nghiệp Sự thay đổi các chính sách thuế (thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu ), chính sách cho vay, bảo hộ đều ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ
đó ảnh hưởng tới hiệu quả quản trị VKD
- Nhà cung cấp:
Muốn sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có các yếu tố đầu vào như: nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ Để có được các yếu tố đó doanh nghiệp phải mua ở các doanh nghiệp khác Việc thanh toán các khoản này
sẽ tác động trực tiếp đến nguồn VKD của doanh nghiệp
Trang 34CHƯƠNG 2 :THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HOÀI NAM
2.1 Quá trình hình thành phát triển và đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam
2.1.1.1 Thông tin chung về công ty
- Tên công ty : Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam
- Địa chỉ :Số 88, Tổ 1- Phường Đồng Xuân- Thị Xã Phúc Yên- Tỉnh Vĩnh Phúc
- ĐT : 02113871486
- Fax : 0211385479
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số : 1902000185
Do sở kế hoạch đầu tư Tỉnh Vĩnh Phúc Cấp ngày 15/4/2002
-Mã số thuế : 2500214726
- Tài khoản : 42510000008055- Tại Ngân Hàng Đầu Tư và phát triển Vĩnh Phúc Cấp
- Vốn điều lệ của công ty là 68.000.000.000
- Số lượng cổ phần 6.800.000 cổ phần với mệnh giá 10.000 đồng / cổ phần
- Ngành nghề kinh doanh :
+Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông
+ Tư vấn lập và quản lý dự án, tư vấn đấu thầu
+ San lấp mặt bằng xử lý nền móng công trình
Trang 35+ Giám sát thi công xây dựng: Loại công trình dân dụng và công nghiệp,
hạ tầng kỹ thuật lĩnh vực xây dựng
+ Thiết kế tổng mặt bằng, kiến trúc, nội ngoại thất: Đối với công trình dân dụng và công nghiệp
+ Trang trí nội, ngoại thất công trình xây dựng
+ Cho thuê văn phòng
2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam là một công ty tư nhân được thành lập theo đăng ký kinh doanh số 1902000185 Do sở kế hoạch đầu tư Tỉnh Vĩnh Phúc Cấp ngày 15/4/2002
Trong thời gian đầu mới thành lập, số vốn kinh doanh chỉ 3 tỷ đối với một công ty Xây dựng thì không phải là nhiều, lại chưa có kinh nghiệm làm việc và chưa tạo được tên tuổi trong nghành xây dựng nên công ty gặp không ít khó khăn Do đó công ty chỉ nhận thi công những công trình nhỏ, nhận làm những công việc san lấp mặt bằng, đào đắp nền trong địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Khi mới thành lập, tuy là một doanh nghiệp có quy mô nhỏ nhưng Công
ty CP Đầu Tư XD Hoài Nam có một đội ngũ công nhân viên rất năng động Từ khi thành lập và hoạt động, Công ty gặp phải không ít khó khăn và thách thức trong quá trình hoạt động kinh doanh như vốn ít, thiếu kinh nghiệm, khả năng cạnh tranh chưa cao nhưng trải qua gần 6 năm tồn tại và phát triển, để đáp ứng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh phù hợp với từng giai đoạn phát triển, Công ty đã không ngừng đổi mới cơ cấu, mở rộng lĩnh vực nghành nghề kinh doanh, đầu tư vào dây chuyền công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất lao động cũng như doanh số và lợi nhuận, tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc để trở thành một Công ty có uy tín trên thị trường, tạo được lòng tin cho khách hàng và cùng hòa nhập với sự phát triển đi lên của đất nước Ban đầu thành lập lực lượng của
Trang 36Công ty rất mỏng, chỉ có 85 cán bộ công nhân viên với trình độ quản lý và tay nghề kỹ thuật còn non kém, chưa có kinh nghiệm
Là một Công ty còn khá non trẻ trong lĩnh vực Xây dựng, Công ty CP Xây dựng Hoài Nam đã từng bước hoàn thiện và trưởng thành, điều này được biểu hiện qua quy mô và chất lượng các công trình xây dựng mà Công ty đảm nhiệm Với bước đầu Công ty chỉ tập trung vào những công trình xây dựng nhỏ, cải tạo các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, đào đắp nền cho đến nay Công ty đã mở rộng các loại hình sản xuất kinh doanh, tiến hành nhận thầu và đầu tư vào các hạng mục công trình lớn như xây dựng và trang
bị nội ngoại thất, xây dựng các nhà chung cư cao tầng, các biệt thự nhà vườn, khu giải trí cao cấp
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam
2.1.2.1 Chức năng,nhiệm vụ , sản phẩm chủ yếu
- Chức năng : Là một công ty chuyên về các dịch vụ xây dựng nên Công
ty CP Đầu tư Xây Dựng Hoài Nam có các chức năng hoạt động như sau:
+ Nhận thầu công trình xây dựng
+ Cung cấp dịch vụ đo đạc vẽ bản đồ
+ Tư vấn lập dự án các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, cấp thoát nước
+ Xây dựng nhà các loại
+ Xây dựng các công trình kỹ thuật dân dụng
+ Giám sát các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật, công trình thủy lợi
Trang 37+ San lấp mặt bằng.
+ Xây dựng công trình công nghiệp, giao thông thủy lợi, cơ sở hạ tầng + Cho thuê máy móc thiết bị xây dựng, các loại máy thi công công trình-Nhiệm vụ : Ngoài nhiệm vụ chính là xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, thì Công ty còn có nhiệm vụ là tổ chức sản xuất kinh doanh một cách khoa học, hợp lý để thu về lợi nhuận cho Doanh nghiệp, trả lương cho người lao động và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Ngân sách Nhà nước.Bên cạnh đó công
ty còn đề ra kế hoạch phát triển và thực hiện kế hoạch có hiệu quả, tối đa hóa các khoản lợi nhuận của công ty, tăng lợi tức cho các cổ đông
- Sản phẩm chủ yếu : Sản phẩm chủ yếu của Công ty là các công trình xây dựng cơ bản như nhà, đường Đó là những công trình xây dựng, có đủ điều kiện
để đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng Nói một cách khác, nó là sản phẩm của công nghệ xây dựng và gắn liền trên một địa điểm nhất định
2.1.2.2 : Tổ chức hoạt động kinh doanh
Do đặc thù là một công ty xây dựng nên công ty hoạt động chủ yếu của công ty là xây dựng nhà cửa ,đường xá bên cạnh đó công ty còn kinh doanh xăng dầu ,xây và cho thuê văn phòng
2.1.2.3 Tổ chức bộ máy quản lý công ty và tổ chức bộ máy quản lý tài chính –kế toán
* Tổ chức bộ máy quản lý công ty
Mô hình tổ chức hoạt động : Công ty được tổ chức và hoạt động theo
mô hình công ty cổ phần ,tuân theo các quy định của pháp luận hiện hành
Trang 38Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam
*.Tổ chức bộ máy quản lý tài chính – Kế toán
.Công tác kế toán tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam được tổ chức mô hình kế toán tập trung.Mọi việc của mô hình này đều do phòng kế toán xử lý từ ghi sổ sách đến việc tổng hợp chỉnh lý các công việc đều do phòng tài chính kế toán đảm nhận
BAN KIỂM
SOÁT
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
PhòngKinh doanh
Bộ phậnKCS
Bộ phận phục
vụ sản xuất
Trang 39Sơ đồ 2.2: Sơ đồ bộ máy quản lý Tài chính – Kế toán
Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận:
Kế toán trưởng: Là người trực tiếp điều hành công tác kế toán, tham
mưu cho giám đốc về tình hình tài chính Do đó, kế toán trưởng thường xuyên cung cấp thông tin, số liệu về tình hình tài sản và nguồn vốn cho giám đốc, quản lý tài sản và nguồn vốn có hiệu quả
Phó phòng kế toán: phụ trách dân sự tại phòng kế toán, theo dõi
kiểm tra công tác kế toán của các nhân viên phần hành Là người phụ tá
và được ủy quyền khi kế toán trưởng đi vắng Đôn đốc, kiểm tra công tác
kế toán của các nhân viên trong phòng, đồng thời chịu trách nhiệm tập hợp số liệu từ các phần hành khác Lập báo cáo tổng hợp và quyết toán cuối mỗi quý
Kế toán thanh toán tiền mặt: phụ trách theo dõi tiền Việt nam tại
ngân quỹ cũng như tại ngân hàng, tình hình tạm ứng, thanh toán của cán
bô công nhân viên trong công ty, thường xuyên kết hợp với thủ quỹ để
Kế toán vật tư,
nợ phải trả
Kế toán tiêu thụ, công nợ phải thu
Kế toán thanh toán ngoại tệ, thuế, thống kê
Thủ quỹ
Trang 40kiểm tra chặt chẽ lượng tiền mặt tại quỹ.
Kế toán tiền lương , BHXH, TSCĐ: tính lương, thưởng, bảo hiểm xã hội
cho công nhân viên hàng tháng, trích nộp BHXH, BHYT, KPCĐ theo chế độ quy định Đồng thời, theo dõi tình hình biến động của TSCĐ
Kế toán vật tư, nợ phải trả: theo dõi tình hình hiện có và tình hình biến
động nhập xuất kho nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ theo từng loại cụ thể Theo dõi các khoản nợ phải trả
Kế toán tiêu thụ, công nợ phải thu: theo dõi từng loại sản phẩm hoàn
thành nhập kho, tình hình tiêu thụ của từng loại sản phẩm Ngoài ra còn theo dõi tình hình công nợ phải thu của khách hàng tại công ty
Kế toán thanh toán ngoại tệ, thuế, thống kê: theo dõi thu chi về
ngoại tệ, tiền gửi ngân hàng, giao dịch với ngân hàng Làm thủ tục vay vốn ngân hàng đồng thời theo dõi việc thanh toán ngoại tệ đối với khách hàng Theo dõi, thống kê thuế giá trị gia tăng đầu vào, đầu ra, phản ánh hao mòn và khấu hao TSCĐ
Thủ quỹ: Chịu trách nhiệm quản lý tiền mặt tại quỹ, xuất chi tiền
theo lệnh của kế toán trưởng hoặc giám đốc, thực hiện nghĩa vụ thu chi báo cáo quỹ, bảo quản an toàn tiền mặt theo đúng quy định
2.1.2.4 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam
2.1.2 Tình hình tài chính chủ yếu của công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoài Nam
2.1.3.1 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hoạt động của công ty
* Thuận lợi