1. Định nghĩa vật chất của Lênin Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I Lênin đã định nghĩa : “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Trang 1NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN I/ Phạm trù vật chất
1 Định nghĩa vật chất của Lênin
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I Lênin đã định nghĩa : “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
2 Nội dung, ý nghĩa của định nghĩa vật chất
Nội dung của định nghĩa vật chất :
- Trong định nghĩa vật chất này Lenin chỉ rõ “vật chất là một phạm trù triết học” Như vậy, phạm trù vật chất của triết học là phạm trù có tính khái quát nhất, không giống với khái niệm vật chất trong một số ngành khoa học cụ thể, hay trong đời sống thường ngày Vì vậy, không được đồng nhất vật chất với tư cách là một phạm trù triết học với các dạng tồn tại cụ thể của nó mà các khoa học chuyên ngành nghiên cứu Các dạng vật chất cụ thể có giới hạn, có sinh ra và mất đi để chuyển hóa thành cái khác, còn vật chất nói chung là vô hạn và vô tận
- Vật chất có thuộc tính cơ bản nhất, quan trọng nhất là “thực tại khách quan” và “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Thực tại khách quan là tồn tại thực và không phụ thuộc vào ý thức của con người Thuộc tính tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức con người là điều kiện cần và đủ để phân biệt cái gì thuộc về vật chất và cái gì không thuộc về vật chất
- “Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh” Điều này nói lên rằng, thực tại khách quan (vật chất) là có trước, cảm giác của con người là có sau Cảm giác của con người có thể chép lại, chụp lại, phản ánh được thực tại khách quan (vật chất) Như vậy thực tại khách quan (vật chất) không tồn tại trừu tượng mà tồn tại thông qua các dạng tồn tại cụ thể của mình và bằng cảm giác (ý thức ) con người có thể nhận thức được Điều này cũng có nghĩa là “thực tại khách quan” (vật chất) là nội dung khách quan, nguồn gốc khách quan của những cảm giác (ý thức ) của con người
Rõ ràng định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết được cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng
Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin :
- Định nghĩa vật chất của Lênin đã chống lại được cả quan điểm duy tâm chủ quan, cả quan điểm duy tâm khách quan về vấn đề cơ bản của triết học và về phạm trù vật chất
Trang 2- Nội dung định nghĩa vật chất của Lênin đã khắc phục được tính trực quan, siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ, đồng thời kế thừa, phát triển được những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về vật chất
- Định nghĩa về vật chất của Lênin là cơ sở thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn cho các nhà khoa học trong nghiên cứu thế giới vật chất
- Định nghĩa này còn là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quan điểm duy vật biện chứng trong lĩnh vực xã hội
II/ Phạm trù ý thức
1 Khái niệm ý thức :
Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác – Lênin là một phạm trù song song với phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người, có sự cải biến và sáng tạo ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất
2 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức :
* Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức :
- Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức Não người là dạng vật chất cao có tổ chức của thế giới vật chất, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của não bộ trong quá trình phản ánh thế giới khách quan
- Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào não người, là hình ảnh của thế giới khách quan Thế giới khách quan là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung của ý thức
Ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất, tác động trở lại vật chất
- Ý thức có tính năng động, sáng tạo nên thông qua hoạt động thực tiễn của con người có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm ở một mức độ nhất định các điều kiện vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan thì có tác dụng thức đẩy hoạt động thực tiễn của con người trong cải tạo thế giới Ngược lại, ý thức sẽ kìm hãm hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người nếu không phản ánh đúng thế giới khách quan
- Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất, thông qua hoạt động thực tiễn của con người dù đến mức độ nào chăng nữa vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới vật chất và các điều kiện vật chất khách quan
3 Ý nghĩa phương pháp luận :
- Vật chất là nguồn gốc khách quan của ý thức, ý thức chỉ là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ não người Vì vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải luôn
Trang 3luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan, hành động quân theo quy luật khách quan
- Ý thức có tính độc lập tương đối, có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Vì vậy, phải thấy được vai trò tích cực của nhân tố ý thức, tinh thần trong việc sử dụng có hiệu quả nhất các điều kiện vật chất hiện có
- Cần tránh việc tuyệt đối hóa vai trò duy nhất của vật chất trong quan hệ giữa vật chất và ý thức Nghĩa là cần chống lại “chủ nghĩa khách quan”, thái độ thụ động, trông chờ, ỷ lại vào điều kiện vật chất Đồng thời cần chống lại bệnh chủ quan, duy ý chí, tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, tinh thần, hạ thấp, đánh giá không đúng vai trò của các điều kiện vật chất trong hoạt động thực tiễn
III/ Lý luận nhận thức duy vật biện chứng
1 Khái niệm thực tiễn, khái niệm nhận thức :
Khái niệm thực tiễn :
Thực tiễn là phạm trù triết học chỉ toàn bộ hoạt động vật chất – cảm tính có tính chất lịch sử
-xã hội của con người nhằm mục đích biến đổi tự nhiên và -xã hội
- Thực tiễn là hoạt động vật chất chứ không phải hoạt động tinh thần, nó mang tính lịch
sử-xã hội, có mục đích của con người
- Thực tiễn có 3 hình thức cơ bản : sản xuất vật chất; hoạt động cải tạo (biến đổi ) chính
trị-xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học-kỹ thuật Trong đó sản xuất vật chất là có sớm nhất, quan trọng nhất, quyết định các hình thức kia Hai hình thức kia có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất
Khái niệm nhận thức :
Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ
óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan
- Có 4 quá trình nhận thức :
+ Nhận thức kinh nghiệm : là trình độ nhận thức hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên, xã hội hoặc qua các thí nghiệm khoa học
+ Nhận thức lý luận : là trình độ nhận thức gián tiếp, trừu tượng, có tính hệ thống trong việc khái quát bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng
+ Nhận thức thông thường : là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con người Nó phản ánh, sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểm chi tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau của sự vật
Trang 4+ Nhận thức khoa học : là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm, bản chất, những quan hệ tất yếu của đối tượng nghiên cứu Sự phản ánh này diễn ra dưới dạng trừu tượng logic Nó có tính khách quan, trừu tượng, khái quát, vừa có tính hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực
2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức :
- Thực tiễn quy định lý luận :
+ Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, của lý luận, là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý
+ Thực tiễn quy định nội dung, nhiệm vụ, khuynh hướng phát triển của lý luận
+ Thực tiễn thay đổi thì lý luận cũng phải thay đổi cho phù hợp
- Lý luận tác động trở lại thực tiễn :
+ Lý luận đóng vai trò chỉ đạo, hướng dẫn cho hoạt động thực tiễn
+ Lý luận góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên tập hợp quần chúng tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn của đông đảo quần chúng, để cải tạo thế giới
+ Lý luận đúng đắn, khoa học, thâm nhập được vào quần chúng và được vận dụng đúng đắn
có thể thúc đẩy thực tiễn phát triển Ngược lại sẽ kiềm hãm thực tiễn
3 Ý nghĩa rút ra từ quan hệ thực tiễn và lý luận :
- Phải coi trọng cả lý luận, cả thực tiễn
- Không được tuyệt đối hóa thực tiễn, coi thường lý luận để rơi vào bệnh kinh nghiệm Đồng thời, không được tuyệt đối hóa lý luận coi thường thực tiễn rơi vào bệnh giáo điều
IV/ Quy luật về sự phù hợp của Cơ sở hạ tầng và Kiến trúc thượng tầng.
1 Khái niệm Cơ sở hạ tầng, Kiến trúc thượng tầng.
Khái niệm Cơ sở hạ tầng :
- Là tổng hợp các quan hệ sản xuất kết cấu kinh tế của một xã hội nhất định Cơ sở hạ tầng bao gồm quan hệ sản xuất thống trị; quan hệ sản xuất tàn dư; quan hệ sản xuất mầm mống tồn tại thực trong một kết cấu kinh tế của một xã hội cụ thể Đặc trưng cho tính chất của một cơ sở hạ tầng do quan hệ sản xuất thống trị quy định Tức là, cái giữ địa vị chi phối, có vai trò chủ đạo và tác dụng quyết định đối với toàn bộ cơ sở hạ tầng là quan hệ sản xuất thống trị Tuy nhiên, quan
hệ sản xuất tàn dư và mầm mống cũng có vai trò quan trọng
Kiến trúc thượng tầng :
- Là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật…với những thiết chế tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể, hiệp hội được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định
Trang 5- Mỗ yếu tố của kiến trúc thượng tầng có những đặc điểm riêng, quy luật phát triển riêng, nhưng liên hệ, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau và cũng nảy sinh trên một cơ sở hạ tầng nhất định, phản ánh cơ sở hạ tầng đó, trong đó nhà nước là một thiết chế có vai trò đặc biệt quan trọng
- Kiến trúc thượng tầng của xã hội có các giai cấp đối kháng bao gồm hệ tư tưởng và thiết chế của giai cấp thống trị; tàn dư của các quan điểm chính trị- xã hội của giai cấp trong xã hội cũ; các quan điểm và thiết chế của các giai cấp mới ra đời Tất nhiên, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị giữ vai trò quy định tính chất của kiến trúc thượng tầng
2 Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng :
- Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
+ Cơ sở hạ tầng nào sẽ sinh ra kiến trúc thượng tầng như thế ấy Bởi lẽ, quan hệ sản xuất quyết định các quan hệ xã hội khác Mâu thuẫn trong đời sống kinh tế, xét đến cùng, quyết định mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị-tư tưởng Cuộc đấu tranh giai cấp trong lĩnh vực tư tưởng là biểu hiện của những đối kháng trong đời sống kinh tế
+ Cơ sở hạ tầng quyết định sự hình thành, tính chất của kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng biến đổi, sớm hay muộn cũng dẫn đến những biến đổi của kiến trúc thượng tầng Sự quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng diễn ra phức tạp trong quá trình chuyển từ hình thái kinh tế- xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác
- Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
+ Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện ở chức năng xã hội của
nó Nghĩa là, kiến trúc thượng tầng thực hiện sự bảo vệ, duy trì, củng cố, phát triển cơ sở hạ tầng
đã sinh ra nó; hoặc đấu tranh xóa bỏ cơ sở hạ tầng cũng như kiến trúc thượng tầng cũ
+ Các bộ phận khác nhau của kiến trúc thượng tầng đều tác động đến cơ sở hạ tầng dưới nhiều hình thức khác nhau Bản chất các yếu tố, các bộ phận của kiến trúc thượng tầng cũng tác động qua lại lẫn nhau Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng theo hai hướng, hoặc là kiềm hãm, hoặc là thức đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng Khi kiến trúc thượng tầng tác động cùng chiều với các quy luật kinh tế khách quan, nó sẽ thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển Ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của cơ sở hạ tầng
3 Sự vận dụng của Đảng và nhà nước trong công cuộc đổi mới:
- Nước ta đang phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa Nghĩa là,
cơ sở hạ tầng của nước ta hiện nay là kết cấu kinh tế nhiều thành phần Trong đó, kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã đóng vai trò chủ đạo Với một cơ sở hạ tầng mang tính chất quá độ và một kết cấu kinh tế đan xen nhiều thành phần thì kiến trúc thượng tầng cũng phải xây dựng, củng
cố, đổi mới cho phù hợp với cơ sở hạ tầng
Trang 6- Cần lưu ý rằng phát triển kinh tế nhiều thành phần không có nghĩa là nhất thiết phải đa nguyên chính trị Bởi lẽ trong kết cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta thì kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể đóng vai trò chủ đạo Các thành phần kinh tế khác đều hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Tuy nhiên, nhu cầu khách quan đặt ra là kiến trúc thượng tầng của nước ta phải được đổi mới, phát triển theo hướng nâng cao chất lượng hoàn thành chức năng xã hội của mình- bảo
vệ, duy trì, phát triển cơ sở hạ tầng đã “sinh” ra nó
V/ Cặp phạm trù : cái chung và cái riêng
1 Khái niệm :
- Cái riêng : là một phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình
hay một hệ thống các sự vật tạo thành một chỉnh thể tồn tại tương đối độc lập với các cái riêng khác Với tư cách là sự vật, cái riêng là cái không lặp lại
- Cái chung : là phạm trù triết học dùng chỉ những mặt, những thuộc tính được lặp lại trong
một số hay nhiều sự vật, hiện tượng, quá trình
2 Tính chất:
- Cái riêng xuất hiện chỉ tồn tại được trong một khoảng thời gian nhất định và khi nó mất đi sẽ
không bao giờ xuất hiện lại, cái riêng là cái không lặp lại
- Cái chung tồn tại trong nhiều cái riêng, khi một cái riêng nào đó mất đi thì những cái chung
tồn tại ở cái riêng ấy sẽ không mất đi, mà nó vẫn còn tồn tại ở nhiều cái riêng khác
3 Mối quan hệ biện chúng giữa cái chung và cái riêng:
Trong khi thừa nhận tính hiện thực trong sự tồn tại của cả cái riêng và cái chung, phép biện chúng duy vật chỉ ra rằng:
- Cái chung chi tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Điều đó có nghĩa là cái chung thật sự tồn tại, nhưng lại chỉ tồn tại trong cái riêng chứ không tồn tại biệt lập, lơ lửng ở đâu đó bên cạnh cái riêng
- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung, vì bất cứ cái riêng nào cũng đều tồn tại trong muôn vàn mối liên hệ mối qua lại với các sự vật, hiện tượng, quá trình khác chung quanh mình Có sự liên hệ ấy là vì giữa chúng có những điểm giống nhau nhất định
Hơn nữa, bất kỳ cái riêng nào cũng chỉ là hình thức tồn tại của một lớp sự vật cùng loại, trong cái riêng luôn chứa đựng những cái chung của loại đó Chỉ trong chừng mực như vậy, nó mới tồn tại với tư cách là một sự vật của loại đó
- Cái chung là một bộ phận của cái riêng, cái riêng không gia nhập hết vào cái chung
Khẳng định trên đây phản ánh một sự thật là bên cạnh những thuộc tính được lặp lại ở các sự vật khác (tức là bên cạnh cái chung), bất cứ cái riêng nào cũng còn chứa đựng những cái chỉ vốn
Trang 7có ở nó mà thôi Cái riêng, do vậy, là cái toàn thể, cái chung là một bộ phận của cái riêng Theo quan niệm đó cái riêng là cái phong phú hơn cái chung, cái chung nghèo nàn hơn cái riêng Nhưng nếu đó là cái chung bản chất, cái chung mang tính quy luật thì nó lại là cái sâu sắc hơn cái riêng, quy định sự tồn tại sự vận động và phát triển của cái riêng
4 Ý nghĩa phương pháp luận :
- Đối với nhận thức :
+ Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng nên muốn phát hiện ra cái chung, cần xuất phát từ những cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng, quá trình riêng lẻ cụ thể chứ không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người
+ Mặt khác, nắm được cái chung là chìa khóa để phát hiện và giải quyết những vấn đề riêng
- Đối với hoạt động thực tiễn :
+ Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng như một bộ phận của cái riêng, bộ phận đó nằm trong
sự tác động qua lại với những mặt còn lại của cái riêng – những mặt không gia nhập vào cái chung- làm cho cái chung đó không tồn tại dưới dạng thuần khiết, mà tồn tại trong cái riêng dưới dạng cải biến Vì vậy, bất cứ luận điểm chung nào khi áp dụng vào từng trường hợp riêng cũng cần được cá biệt hóa Nếu không chú ý sự cá biệt hóa đó, đem áp dụng nguyên xi cái chung, tuyệt đối hóa cái chung sẽ rơi vào sai lầm giáo điều Ngược lại, nếu xem thường cái chung, chỉ chú ý đến cái đơn nhất, tuyệt đối hóa cái đơn nhất sẽ dẫn đến vô nguyên tắc, xét lại
+ Vì cái riêng không tồn tại ở bên ngoài mối liên hệ dẫn tới cái chung, cho nên để giải quyết những vấn đề riêng một cách có hiệu quả, không thể lảng tránh việc giải quyết những vấn đề chung- những vấn đề lý luận liên quan với các vấn đề riêng đó Nếu không giải quyết những vấn
đề lý luận chung thì sẽ không tránh khỏi sa vào tình trạng mò mẫm, tùy tiện, kinh nghiệm chủ nghĩa và khi đó khó tránh khỏi thất bại
+ Vì trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định, cái đơn nhất có thể chuyển thành cái chung, ngược lại, cái chung có thể chuyển thành cái đơn nhất, nên trong hoạt động thực tiễn cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cái đơn nhất tiêu biểu cho quy luật phát triển chuyển thành cái chung, và ngược lại, chuyển cái chung thành cái đơn nhất, nếu sự tồn tại của cái chung không còn hợp quy luật phát triển
VI/ Hàng hóa:
1 Khái niệm hàng hóa:
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, nó có thể thỏa mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán
2 Hai thuộc tính của hàng hóa:
Trang 8Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau, sản xuất hàng hóa có bản chất khác nhau, nhưng một vật phẩm sản xuất ra khi đã mang hình thái là hàng hóa thì đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng và giá trị
Giá trị sử dụng:
Giá trị sử dụng của hàng hóa là một vật nhờ có những thuộc tính của nó mà thỏa mãn được một loại nhu cầu nào đó của cong người, như gạo để ăn, vải để may măc,…, bất cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng
Giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định Xã hội loài người ngày càng phát triển, càng phát hiện ra được nhiều thuộc tính tự nhiên có ích của hàng hóa và lợi dụng những thuộc tính tự nhiên đó để tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau Chẳng hạn, than đá từ xa xưa chỉ được làm nhiên liệu (đốt nóng), đến nay còn là nguyên liệu của nhiều sản phẩm với giá trị sử dụng cao Với ý nghĩa như vậy, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn
Giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng, nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của của cải đó như thế nào C Mác đã chỉ rõ: Chỉ có trong việc sử dụng hay tiêu dùng, thì giá trị sử dụng mới được thể hiện
Một vật khi đã là hàng hóa nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hóa Chẳng hạn, không khí rất cần cho cuộc sống con người, nhưng không phải là hàng hóa,…Như vậy, một vật muốn trở thành hàng hóa thì giá trị sử dụng của nó phải là vật được sản xuất ra để bán, để trao đổi, cũng có nghĩa là vật đó phải có giá trị trao đổi
Giá trị hàng hóa:
Muốn hiểu được giá trị của hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi của nó
Mác viết:” Giá trị trao đổi trước hết biểu hiện ra như là một quan hệ về số lượng, là một tỉ
lệ theo đó những giá trị sử dụng loại này được trao đổi với giá trị sử dụng loại khác”
Ví dụ: 1met vải= 10 kg thóc
Sở dĩ, vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi được với nhau theo một tỉ lệ nhất định là vì vải và thóc đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là sự hao phí lao động của con người Các giá trị trao đổi khác nhau phải được quy thành cái chung đó,
và mỗi giá trị trao đổi đều đại biểu cho một lượng nhiều hay ít của cái chung ấy Vậy, sự hao phí lao động đó chính là giá trị của hàng hóa
Mác đã chỉ rõ: “Nếu gạt giá trị sử dụng của vật thể hàng hóa ra một bên, thì vật thể hàng hóa chỉ còn có một thuộc tính, đó là sản phẩm của lao động” Như vậy, một khi không kể đến giá
Trang 9trị sử dụng của hàng hóa, nó chỉ còn lại có tính chất chung của các thứ lao động khác nhau, đó là
sự hao phí lao động của con người
Vậy, giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa, còn giá trị trao đổi chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị hàng hóa Chỉ trong những xã hội người ta làm ra sản phẩm để trao đổi, thì hao phí lao động đó mới mang hình thái giá trị Do đó, giá trị là một phạm trù mang tính lịch sử
Đến đây ta nhận thức được, thuộc tính tự nhiên của hàng hóa là giá trị sử dụng, thuộc tính xã hội của hàng hóa là hao phí lao động kết tinh trong nó và là giá trị Bất kể một vật nào muốn trở thành hàng hóa đều phải có đủ hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị, nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó, sản phẩm không thể là hàng hóa
3 Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa:
Hai thuộc tính của hàng hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau vừa thống nhất, vừa mâu thuẩn nhau
Tính thống nhất thể hiện: hai thuộc tính cùng tồn tại trong một xã hội trong đó giá trị sử
dụng là thuộc tính tự nhiên của hàng hóa, còn giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa
Tính mâu thuẩn thể hiện:
- Giá trị sử dụng là cho người khác, cho xã hội, chứ không phải cho người sản xuất ra
nó Vì vậy, mục đích của người sản xuất là giá trị chứ không phải giá trị sử dụng, nhưng để đạt được mục đích là giá trị thì phải chú trọng giá trị sử dụng, người mua rất cần giá trị sử dụng nhưng để có giá trị sử dụng thì phải thực hiện giá trị
- Với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hóa không đồng nhất về chất, nhưng với tư cách là giá trị thì các hàng hóa lại đồng nhất về chất
- Việc thực hiện giá trị và giá trị sử dụng là hai quá trình diễn ra khác nhau về thời gian
và không gian, giá trị thực hiện trước và diễn ra trong lĩnh vực lưu thông, còn giá trị sử dụng thực hiên sau và diễn ra trên lĩnh vực tiêu dùng Đây chính là nguyên nhân dẫn đến khũng hoảng thừa nếu giá trị không được thực hiện
- Giúp ta phân biệt được sản phẩm nào là hàng hóa, sản phẩm nào không phải là hàng hóa
- Muốn có nhiều hàng hóa phải đẩy mạnh phân công lao động sản xuất
- Phải chú trọng đến cả hai thuộc tính của hàng hóa
4 Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:
Lượng giá trị của hàng hóa:
Trang 10- Giá trị của hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng:
Chất giá trị hàng hóa là do lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Vậy lượng giá trị của hàng hóa là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định
- Để đo lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hóa ta dùng thước đo thời gian như: một giờ lao động, một ngày lao động,…Do đó lượng giá trị của hàng hóa cũng do thời gian lao động quyết định
- Thước đo lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kĩ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định
- Thời gian lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cá biệt của hàng hóa mà từng người sản xuất ra Mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề là không giống nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa của họ khác nhau
Trong một xã hội có hàng triệu người sản xuất hàng hóa, với thời gian lao động cá biệt hết sức khác biệt nhau, thì thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết trùng hợp với thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất và cung cấp đại bộ phận một loại hàng hóa nào đó trêm thị trường
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:
Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị của hàng hóa cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi lượng giá trị của hàng hóa tùy thuộc vào những nhân tố:
- Thứ nhất: năng xuất lao động
Năng xuất lao động là năng lực năng lực sản xuất của lao động, nó được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Có hai loại năng xuất lao động: năng xuất lao động cá biệt và năng xuất lao động xã hội Trên thị trường thì hàng hóa được trao đổi không phải theo giá trị cá biệt mà là giá trị xã hội Năng xuất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít Ngược lại năng xuất lao động xã hội càng giảm, thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều