1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn một số biện pháp luyện phát âm đúng cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4 5 tuổi ở trường mầm non

36 5,7K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 91,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đặc điểm phát âm của trẻ mẫu giáo Âm tiết của ngôn ngữ là đơn vị âm thanh nhỏ nhất trong lời nói khôngthể phân chia đợc nữa, lúc đầu trẻ hình thành thính giác.. Tuy nhiên, bộ máy p

Trang 1

Trờng đại học s phạm hà nội Khoa giáo dục mầm non

-*** -Bài tập nghiệp vụ cuối khoá

Đề tài : Một số biện pháp luyện phát âm đúng cho

trẻ mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi ở Trờng Mầm non

Ngời hớng dẫn : TS Đinh Hồng Thái

Ngời thực hiện : Quách Thị Nguyệt

Trờng mầm non Tiến Xuân - Huyện Lơng Sơn - Tỉnh Hoà Bình

Hoà bình, tháng 5 năm 2004

Lời cảm ơn

Trang 2

Để hoàn thành công trình nghiên cứu đầu tay này tôi đã đợc sự giúp đỡtận tình của toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục mầm non - Trờng

Đại học s phạm I Hà Nôị; Sự giúp đỡ của các cô giáo trờng mầm non TiếnXuân - Lơng Sơn - Hoà Bình

Tôi xin gửi tới các thầy cô trong khoa Giáo dục mầm non, đặc biệt xincảm ơn thầy Đinh Hồng Thái - Ngời đã trực tiếp hớng dẫn, giúp đỡ tôi hoànthành bài tập nghiệp vụ cuối khoá này

Cảm ơn thầy giáo và tập thể lớp A1, trờng mầm non Tiến Xuân - HuyệnLơng Sơn - Tỉnh Hoà Bình đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành bài tập cuốikhoá này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hoà Bình, ngày 25 - 5 - 2004

Tác giả luận văn

Quách Thị Nguyệt

Trang 3

Giáo dục mầm non hiện nay đợc Đảng và nhà nớc quan tâm, đối tợngcủa giáo dục mầm non là từ 0 đến 6 tuổi Đây là một thực thể tự nhiên, bớc

đầu vào xã hội, dần dần trở thành “ngời”, trở thành con ngời có ích cho xã hội,chiến lợc giáo dục con ngời mới trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi nâng caohơn nữa chất lợng giáo dục về mọi mặt

Bảo vệ chăm sóc trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội Chính vì điều

đó mà xã hội ta đã có nhiều biện pháp tích cực để bảo vệ và chăm sóc trẻ emnhằm tạo ra những con ngời mới, những con ngời phát triển toàn diện về Đức,trí , thể, mỹ để có thể tiếp nhận thông tin một cách năng động và sáng tạonhằm đa đất nớc ta ngày càng phát triển hơn Vấn đề này mang tính thời đại

và cấp bách với ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốcdân Vì vậy, việc phát âm đối với trẻ bậc học mầm non là vô cùng quan trọng

và cần thiết Nó tạo ra những tiền đề cho sự hình thành nhân cách con ngờimới xã hội chủ nghĩa Nếu nh ta không tiến hành luyện phát âm cho trẻ ở lứatuổi mầm non thì sang giai đoạn tiếp theo trẻ sẽ khó phát âm một cách trọnvẹn để giao tiếp trong mọi lĩnh vực xã hội

Trong thực tiễn hiện nay, việc phát âm đối với trẻ đang đợc hình thành

từ bậc học, Vì vậy, mặc dù ngành học mầm non đang thực hiện phát âm chotrẻ theo các độ tuổi thông qua các môn học và việc giao tiếp của cô giáo đốivới trẻ và mọi ngời xung quanh cha đợc chú trọng và quan tâm đặc biệt đốivới trẻ mẫu giáo ở lứa tuổi này trẻ cha có thái độ tốt trong việc ứng xử phùhợp với xã hội, việc nhận thức của trẻ còn nhiều hạn chế, kỹ năng phát âm cònyếu, tôi thấy việc nên làm là dùng mọi hình thức để luyện phát âm đồng dao…

Trang 4

Vì vậy, để nâng cao chất lợng phát âm đối với trẻ trong việc giao tiếp Đây là

lý do để tôi chọn đề tài : “Một số biện pháp để luyện phát âm đúng cho trẻ

mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi ở trờng mầm non Tiến Xuân - Huyện Lơng Sơn Tỉnh Hoà Bình” nhằm chỉ ra những biện pháp cụ thể, xây dựng những tiêu chí

-hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả trong việc phát âm đối với bậc học Tạo cơ

sở ban đầu để hình thành phát triển nhân cách cho trẻ

II Mục đích nghiên cứu :

Nhằm mục đích làm tốt công tác luyện phát âm của trẻ mẫu giáo 4 - 5tuổi ở trờng mầm non Tiến Xuân - Huyện Lơng Sơn - Tỉnh Hoà Bình

III Nhiệm vụ nghiên cứu :

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến khả năng phát âm cho trẻ

- Cơ sở thực tiễn: Khảo sát thực tiễn khả năng phát âm của trẻ

2 Xây dựng các biện pháp : Dùng một số biện pháp nhằm nâng caohiệu quả phát âm đúng cho trẻ mẫu giáo

3 Thực nghiệm s phạm : Tiến hành thực nghiệm nhằm kiểm nghiệmcác biện pháp có liên quan đến giả thiết của đề tài

IV Phơng pháp nghiên cứu :

Chúng tôi tiến hành điều tra và làm thực nghiệm tại một số trờng mầmnon trong địa bàn huyện Lơng Sơn

1 Phơng pháp nghiên cứu tài liệu

2 Khảo sát điều tra

a Đối với giáo viên : Trong quá trình giáo viên tổ chức cho trẻ làmquen với chữ cái và qua các tiết dạy thơ hàng ngày cho trẻ và kết hợp trao đổivới họ về vốn kinh nghiệm để luyện phát âm đúng cho trẻ

Trang 5

b Đối với trẻ: Chúng tôi quan sát hoạt động của trẻ trong quá trình thựchiện trên các tiết chữ cái, tiết học thơ và làm quen các trò chơi hàng ngày, kếthợp trò chuyện với trẻ để đánh giá đợc khả năng phát âm của trẻ.

3 Thực nghiệm s phạm : Dùng phơng pháp này nhằm kiểm nghiệm cácbiện pháp đã nêu có liên quan đến giả thuyết của đề tài

4 Xử lý số liệu

V Khách thể và đối tợng nghiên cứu.

1 Khách thể nghiên cứu : 14 cháu ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ (4 - 5 tuổi )của trờng mẫu giáo Tiến Xuân - Huyện Lơng Sơn - Tỉnh Hoà Bình

2 Đối tợng nghiên cứu: Một số biện pháp luyện phát âm đúng cho trẻmẫu giáo

VI Giả thiết khoa học :

Để nâng cao hiệu quả luyện phát âm đúng cho trẻ mẫu giáo nhỡ, giáoviên mầm non cần động viên khuyến khích trẻ tham gia tích cực vào các hoạt

động và biện pháp luyện phát âm bằng cách phối hợp các biện pháp để pháttriển lời nói cho trẻ dới nhiều hình thức khác nhau

VII Kế hoạch thực hiện đề tài:

- Giai đoạn đề cơng: Từ ngày 15 - 11- 2003

- Giai đoạn thực tế : Từ ngày 12 - 4 - 2004

- Giai đoạn viết bài : Từ ngày 10 - 5 - 2004

VIII Giới hạn đề tài :

Nghiên cứu các biện pháp luyện phát âm đúng cho trẻ mẫu giáo nhỡ ờng mầm non Tiến Xuân - Huyện Lơng Sơn - Tỉnh Hoà Bình

Trang 6

tr-Phần II

Nội dung nghiên cứu

Chơng I

Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc luyện phát âm

đúng cho trẻ mẫu giáo nhỡ

I Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc luyện phát âm đúng cho trẻ mẫugiáo nhỡ

1 Các khái niệm

1.1 Âm thanh ngôn ngữ :

Khi nói đến âm thanh ngôn ngữ, có rất nhiều nhà tâm lý học đề cập đến

và họ đã định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhng nhìn chung thì ngôn ngữ

là một hiện tợng xã hội lịch sử, do sống và làm việc cùng nhau nên con ngờiphải có nhu cầu giao tiếp (thông báo) với nhau và nhận thức(khái quát hoá)hiện thực Trong quá trình hoạt động, lao động cùng nhau hai quá trình giaotiếp và nhận thức đó không tách rời nhau: Để lao động phải thông báo chonhau về sự vật, hiện tợng nào đó, nhng để thông báo lại phải khái quát sự vật,hiện tợng đó vào trong một lớp, một nhóm các sự vật, hiện tợng nhất địnhcùng loại Ngôn ngữ đã ra đời và thoả mãn đợc nhu cầu thống nhất các hoạt

động đó (Vgotxki L.X - T duy và lời nói trong những nghiên cứu tâm lý họcchọn lọc -1956) Vậy, ngôn ngữ là một cách chung nhất, ngôn ngữ là một hệthống ký hiệu từ ngữ và ký hiệu từ ngữ là một hiện tợng khách quan trong đờisống hàng ngày của con ngời, là một hiện tợng của nền văn hoá tinh thần củaloài ngời, là một phơng tiện xã hội đặc biệt, ký hiệu từ ngữ cũng tác động vàohoạt động, làm thay đổi hoạt động nhng là hoạt động tinh thần, hoạt động trítuệ, hoạt động bên trong của con ngời, nó hớng vào và làm trung gian hoá chocác hoạt động tâm lý cao cấp của con ngời nh tri giác, trí nhớ, t duy, tởng t-ợng… Nhờ vào đặc tính bên trong nội dung tức nghĩa của từ, một đặc tínhngay từ đầu chỉ là do quy ớc, võ đoán và hình thức âm thanh bên ngoài của từ

mà thôi, những nghĩa này mang tính khái quát chỉ cả một lớp sự vật, hiện tợngcủa hiện tợng hiện thực

1.2 Âm tiết Tiếng Việt là tính phân tiết cao, mỗi âm tiết nó đứng cáchnhau Mỗi âm tiết bao giờ cũng gắn liền với thanh điệu cũng làm thay đổi ýnghĩa của âm tiết Vì vậy : Lời nói của con ngời bao giờ cũng là lời nói thànhtiếng Khi nói chúng ta phải phát âm ra thành từ, thành câu, thành văn bản đểtruyền đạt nội dung thông báo Khi nghe chúng ta tiếp nhận các âm thanh ngời

Trang 7

nói phát ra, từ đó hiểu đợc nội dung của lời nói Trong âm thanh của lời nói

do một cá nhân phát ra, ngoài những đặc điểm cụ thể còn có một cái chungnhất mang chức năng xã hôị Những âm thanh cụ thể của lời nói, của mỗi cánhân là những thực thể mang chức năng xã hội

2 Hệ thống ngữ âm của âm tiết tiếng Việt

Có 5 thành phần : Sắp xếp theo sơ đồ sau :

Âm đầu

1

Thanh điệu 5

Vần

Âm điệu 2

Âm chính3

Âm cuối 4

* Thành phần vị trí 5 là thanh điệu bao trùm lên toàn bộ âm tiết Có 6thanh điệu:

- Thanh ngang :Trên chữ không ghi dấu khi viết

* Thành phần ở vị trí 1 là âm đầu do các phụ âm đảm nhiệm

* Thành phần ở vị trí 2 là do âm đệm, đó là nguyên âm trong chữ viết,

đ-ợc thể hiện bằng chữ O chẳng hạn (Loan,); bằng chữ U (Xuân)…

* Thành phần ở vị trí 3 là âm chính do các nguyên âm đảm nhiệm Âmchính là hạt nhân của âm tiết

* Thành phần ở vị trí 4 là âm cuối, do các phụ âm bán nguyên âm (i, y, u,o) đảm nhiệm

Trang 8

* Các thành phần ở vị trí 2, 3, 4 ghép lại với nhau thành một bộ phận gọi

là phần vần Âm bao giờ cũng phải có âm chính và thanh điệu, vị trí còn lại cóthể có hoặc không

-Âm tiết tiếng việt có cấu trúc hai bậc : Bậc thứ nhất bao gồm nhữngthành tố của thành phần vần

* Thanh điệu là sự thay đổi về âm điệu, trong những âm tiết trên thìnhững âm tiết cùng thuộc độ cao lại đối lập nhau về sự biến thiên của độ cao,trong thời gian âm tiết “la” đợc phát âm với cao độ hoàn toàn bằng phẳng; còn

“lã” với đờng nét biến thiên, cao độ không bằng phẳng, âm điệu là những ờng nét biến thiên về cao độ

đ-* Nguyên âm trong Tiếng Việt đợc coi là âm chính, nguyên âm là khi nói

âm vị phát ra luồng hơi đi tự do không có gì cản trở

Trang 9

VD : Khi phát âm “a, á â” hơi thoát ra tự do không bị cản ở chỗ nào chonên “” cũng là nguyên âm Xét về mặt cấu tạo ngời ta phân chia phân biệtnguyên âm đơn và nguyên âm đôi.

+ Nguyên âm đôi là âm vị gồm 2 nguyên âm ghép lại liền nhau Khi phát

âm thì đọc nhanh, đọc lớt từ âm này sang âm kia đầu mạnh sau yếu hơn, do đó

âm sắc chủ yếu của các nguyên âm đôi là do âm đầu quyết định Có 3 nguyên

âm đôi đó là : uô, ơ, ie Xét về độ dài, cần phân biệt nguyên âm ngắn và

nguyên âm dài, nguyên âm ngắn khi phát ra không thể kéo dài, nếu kéo dài

- Phụ âm tắc : Hơi bị cản lại sau thoát ra đờng miệng vào mũi : b, d, t, s

c, k, m,r, p, ng

- Phụ âm sát : Hơi đi qua kẽ hở miệng : p, v, s, z, l, x, y, h

- Phụ âm vang : Hơi thoát ra đầu lỡi và bên lỡi : m, n, nh

- Phụ âm ồn : Hơi thoát ra đằng miệng có tiếng ồn : b, d, t, c, k, p, f, v, x,

z, y, h

- Phụ âm hữu thanh, vô danh trong các âm ồn: Căn cứ vào chỗ dây thanh

có rung hay không rung ngời ta chia ra :

+ Phụ âm hữu thanh : Dây thanh rung (d, v, y)

+ Phụ âm vô thanh : Dây thanh không rung (t, k, c, b, s, x, h)

Trang 10

Phần vần là do thành phần của âm đệm, âm chính, âm cuối ghép với nhauthành một bộ phận gọi là phần vần

Ví dụ : Âm tiết Loan :

O là âm đệm

A là âm chính

N là âm cuối

Oan là phần vần

II Những đặc điểm phát âm của trẻ mẫu giáo

Âm tiết của ngôn ngữ là đơn vị âm thanh nhỏ nhất trong lời nói khôngthể phân chia đợc nữa, lúc đầu trẻ hình thành thính giác Âm thanh tức là sựphân biệt các âm của ngôn ngữ còn phát âm chúng sẽ học sau Sự phát âm

đúng có liên quan chặt chẽ với sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan phát

âm của trẻ

Khả năng phát âm của trẻ phụ thuộc vào sự hoàn thiện của bộ máy phát

âm ở tuổi mẫu giáo những điều kiện này đã đạt đợc mức tơng đối ổn định chonên trẻ đã có thể phát âm đợc hầu hết các âm vị Tuy nhiên một số trẻ vẫn cònmắc một số lỗi về phát âm

1 Lỗi về thanh điệu :

Trong số các thanh điệu tiếng Việt, thanh hỏi và thanh ngã là hai thanh

có cấu tạo phức tạp Việc thể hiện thanh ngã với âm điệu gãy ở giữa là cáchphát âm khó đối với trẻ Trẻ thay thế bằng cách phát âm đơn giản hơn tức làvới âm điệu không gãy ở giữa Vì vậy dễ đồng nhất với âm điệu của thanh sắc

VD : Phát âm ngã thành ngá hoặc giã thành giá

- Sự chuyển đổi hớng đi của đờng nét âm điệu thanh hỏi không diễn ra

đột ngột nh thanh ngã, quá trình phát âm kéo dài trở thành khó đối với trẻ nhỏ

Trang 11

Lỗi về âm chính tập trung vào việc trẻ phát âm nguyên âm đôi này thànhnguyên âm đôi kia.

Ví dụ : Trẻ phát âm “ốc bơu” thành “ốc biêu”, cái đĩa thành cái đỉa…Trẻ phát âm sai là do tập quán của địa phơng hoặc do nghe cha chínhxác, các âm tiết có âm chính là nguyên âm đôi làm cho cấu tạo của âm tiếtphức tạp hơn, phát âm khó khăn hơn

VD: Khi dạy trẻ phát âm chữ N phải nhắc trẻ để lỡi giữa hai hàm răng vàthẳng lơic khi phát âm Với chữ L thì nhắc trẻ cách cong lỡi để tạo thành âmsát hay với âm R dạy trẻ cách rung lỡi khi phát âm để có âm chính xác

Nhờ việc phát âm đúng của trẻ khi giao tiếp mà ý kiến của trẻ đợc ngờikhác hiểu và đáp lại, đồng thời đáp lại ý kiến của ngời khác một cách đúng

đắn nhất

3 Giáo dục chuẩn mực ngữ âm Tiếng Việt

Bộ máy phát âm - cơ quan sản sinh âm thanh ngôn ngữ : Mỗi ngời sinh ra

đã có sẵn bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất để sản sinh âm thanh ngônngữ Nó là một trong những điều kiện vật chất quan trọng nhất mà thiếu nókhông thể có ngôn ngữ, nếu nh trong cấu tạo của nó có một sự khiếm khuyếtnào đó (hở hàm ếch, lỡi ngắn, sứt môi) thì việc hình thành lời nói cũng hết sứckhó khăn

Khi sinh ra, mỗi đứa trẻ không phải đã có ngay một bộ máy phát âmhoàn chỉnh, chính lứa tuổi mầm non là giai đoạn hoàn thiện dần dần bộ máy

đó, sự phát hiện và hoàn thiện dần của hai hàm răng, sự vận động của môi,lỡi,hàm dới Quá trình đó diễn ra tự nhiên theo các quy tắc sinh học Tuy nhiên,

bộ máy phát âm hoàn chỉnh mới là tiền đề vật chất, quá trình học tập và rènluyện một cách có hệ thống sẽ làm cho bộ máy phát âm đáp ứng đợc nhu cầuthực hiện các chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ

3.1 Giáo dục chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ là lời nói có hai mặt : âmthanh và ý nghĩa, hai mặt này thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, ý nghĩacủa lời nói đợc ngời khác hiểu đúng chỉ khi âm thanh phát ra chính xác Vì thếrèn luyện chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ là rất cần thiết

Chuẩn mực âm thanh lời nói: Xuất phát từ thuật ngữ tiếng NgaZVUKOVAIAKULTUARECHI (một số gíáo trình hiện nay của ta gọi là: Giáodục văn hoá nói luyện phát âm cho trẻ là không chính xác) cần hiểu rằng:

Trang 12

thuật ngữ này thể hiện cái văn hoá chuẩn mực về phơng diện ngữ âm của lờinói (KULTURA vừa có ý nghĩa là văn hoá, vừa có nghĩa là chuẩn mực)

Xalaviova - một nhà s phạm Nga đã viết: “trớc mặt nhà s phạm đặt raviệc giáo dục trẻ phát âm rõ ràng, đúng các âm trong các từ, phát âm đúng các

từ tơng ứng với chuẩn mực ngữ âm tiếng Nga, giáo dục phát âm rõ nét và giáodục tính biểu cảm trong lời nói cho trẻ phát âm chính xác và biểu cảm” Ngoài

ra còn phải luyện cho trẻ phát triển khả năng nghe âm thanh ngôn ngữ, điềukhiển hơi thở đúng

3.2 - Luyện cho trẻ âm thanh ngôn ngữ :

Trong việc học lời nói của trẻ thì cơ quan phân tích thính giác có một vaitrò vô cùng quan trọng, đó là cửa ngõ của âm thanh ngôn ngữ Việc luyện chotrẻ phát âm đúng các âm vị trong các kết hợp âm - tiết - từ - câu theo chuẩnmực âm thanh Tiếng Việt (chính âm)

Trẻ học điều chỉnh hơi thở ngôn ngữ để tạo nên sự hợp lý của âm thanhngôn ngữ về cờng độ, nhịp điệu, tốc độ của lời nói

Sửa các lỗi phát âm cho trẻ sử dụng ngôn ngữ để tạo nên sự biểu cảm vềphơng diện âm thanh lời nói

Sửa các lỗi phát âm cho trẻ : Bắt đầu học nói khi bộ máy phát âm chahòan thiện thì nói ngọng là hiện tợng thờng thấy ở trẻ

Sửa các lỗi nói ngọng (phát âm sai âm vị, thanh điệu) là một công việcphổ biến trong công việc dạy nói cho trẻ

3.3 Rèn luyện khả năng nghe lời nói

Bao gồm các thành tố: rèn luyện khả năng chú ý nghe, nghe cao độ,nghe từng âm độ, tri giác tốc độ, nhịp độ, lời nói …

- Phản ứng nghe các âm thanh tự nhiên xuất hiện ở trẻ rất sớm Trẻ có thểphản ứng đợc với các mức độ khác nhau của âm thanh lời nói : sự âu yếm hayquát mắng của ngời lớn, phân biệt đợc âm sắc giọng nói của mẹ và những ngờithân

Từ một nguồn âm thanh (ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ nh tiếng chim hót,xúc xắc, tiếng nhạc…) trẻ có thể tập trung chú ý lắng nghe

Trẻ đợc nghe các âm vị và sớm phân biệt chúng, trẻ tri giác đợc tính biểucảm của ngôn ngữ : sự âu yếm của bà mẹ, tiếng hát ru… điều này đợc chứng

Trang 13

minh bằng phản ứng phù hợp của trẻ (qua nét mặt, cử chỉ, hành động) khảnăng nghe tốt sẽ tạo điều kiện cho khả năng nói phát triển Nếu sinh ra một

đứa trẻ khuyết tật nghễnh ngãng thì sẽ khó khăn cho trẻ trong việc phát âm.3.4 Rèn luyện khả năng phát âm

- Yêu cầu trẻ phát âm đúng tất cả các âm vị trong Tiếng Việt dù nó nằm

ở vị trí nào (đầu, giữa hoặc cuối âm tiết)

- Rèn luyện bộ máy phát âm : Phát triển sự linh hoạt của lỡi, lỡi có thểchuyển động phối hợp nhịp nhàng với các bộ phận khác nh răng, môi, ngực…phát triển sự linh hoạt của môi (kéo môi về phía trớc, làm tròn môi, giãn môi,mím môi, tạo khe hở giữa môi và răng) phát triển kỹ năng làm cho hàm dớitrong t thế xác định phù hợp

- Chú ý rèn luyện thở ngôn ngữ : Là kỹ năng hít vào nhanh ngắn và thở ranhịp nhàng, đặc biệt tạo điều kiện cho khả năng nói các câu một cách thoảimái trong quá trình diễn đạt, thở ngôn ngữ đúng tạo điều kiện phát âm rõ nét.Giữ đợc cờng độ nói phù hợp , lời nói khúc triết, nhịp nhàng, ngữ điệu biểucảm

- Chú ý đến đặc tính của giọng nói cần đợc phát triển

- Cao độ: Sự nâng lên hạ xuống của âm thanh chuyển giọng từ cao xuốngthấp và ngợc lại

- Cờng độ: Phát âm với một cờng độ xác định (to, trung bình, nhỏ, hợp

lý, phù hợp ngữ cảnh)

-Âm sắc : Sắc thái của giọng âm vang, trong, trầm, ấm, đục…

3.5 Hoàn thiện chuẩn mực chính âm

- Chính âm: Quy định thống nhất về âm thanh ngôn ngữ tiếng nói củamột quốc gia, dân tộc

Trớc hết cô phải nắm đợc chính âm, chú ý các âm tr,s, r, l, n

Làm mẫu cho trẻ theo chính âm, khắc phục các lỗi do điạ phơng gây ra.Luyện phát âm cho trẻ là hớng dẫn trẻ phát âm đúng mọi âm thanh, mọilời nói của tiếng mẹ đẻ, phát âm rõ ràng mọi từ, câu theo quy định, luyện chotrẻ biết điều chỉnh giọng nói của mình sao cho diễn cảm phù hợp với từnghoàn cảnh giao tiếp (điều chỉnh giọng nói to, nhỏ, tốc độ nhanh chậm, nhịp độ

Trang 14

sao cho nhịp nhàng, ngắt nghỉ đúng chỗ và nói có ngữ điệu, thể hiện sắc tháibiểu cảm của lời nói.

Luyện phát âm cho trẻ 4 - 5 tuổi chủ yếu là củng cố tất cả các âm thanhtrong tiếng mẹ đẻ, trong đó không chỉ rèn luyện kỹ năng phát âm đúng màcòn hình thành khả năng nghe nói của trẻ Việc củng cố lại tất cả các âm trongtiếng mẹ đẻ đợc thực hiện trong các nội dung sau :

4 Nội dung và phơng pháp luyện phát âm

Làm chính xác vận động của cơ quan phát âm : trẻ phải đợc nhìn nhữngngời xung quanh phát âm để xác định vị trí cũng nh sự chuyển động của các

bộ phận nh lỡi, răng, môi… khi phát âm từng âm riêng lẻ hay các vần, từ rồibắt chớc theo Sự phát âm của trẻ phụ thuộc vào bộ máy phát âm của chúngcần thờng xuyên luyện tập một số cơ quan phát âm nh môi, lỡi, răng để giúptrẻ biết điều khiển nhịp nhàng các cử động của bộ máy phát âm, sự phát âm rõràng các âm, các từ phụ thuộc vào sự chính xác và lực của các cử động

Có rất nhiều trẻ nói không rõ ràng, từ này lẫn lộn với từ kia thành một tậphợp âm khó hiểu Nguyên nhân là cử động chậm chạp của môi và lỡi, tính linhhoạt của hàm còn yếu do đó miệng của trẻ không mở rộng đợc, các nguyên

âm phát ra không đúng, sự phát âm không rõ ràng, các từ phụ thuộc vào sựphát âm của các nguyên âm có đúng không và sau đó phụ thuộc vào sự điềuhoà các hoạt động của bộ máy phát âm khi xác lập các phụ âm Tập luyện cơcủa bộ máy phát âm là trọng tâm và cần thiết nh tập thể dục để phát triển cơthể, cha nghe chính xác các âm tiết có âm chính là nguyên âm đôi làm chocấu tạo của âm tiết phức tạp hơn, phát âm khó hơn

4.1 Lỗi phụ âm đầu :

Trẻ thờng hay nói lẫn lộn : l , n

Ví dụ : Con “lợn” thành con “Nợn”; Cái “nồi” thành cái “lồi”

- Lỗi lẫn tr thành ch ; s - x; r - d…

“Gà trống” phát âm thành “gà chống”

Trang 15

“Hoa sen” thành “Hoa xen”

Con rùa thành Con dùa

- Lỗi lẫn r thành d; gi thành d : cái rổ thành cái dổ; cô giáo thành côdáo

Một số trẻ khi phát âm phụ âm P trẻ lẫn sang phụ âm “b”

Trong trờng mầm non không nên xem việc dạy phát âm chỉ dành riêngcho các cháu có tật mà phải dạy phát âm cho tất cả các cháu

Dạy phát âm cho trẻ phải đợc tiến hành thờng xuyên ở mọi lúc, mọi nơi(trên tiết học và các giờ vui chơi trong lớp) hàng ngày nên giành nhiều thờigian hơn để rèn phát âm cho những trẻ nói ngọng, nói lắp hoặc bị khuyết tật

bộ máy phát âm Ngoài việc dạy trẻ, sửa cho trẻ cần phải chú ý đến việc tạo

Trang 16

môi trờng để trẻ tự sửa cho nhau, đây cũng là một cách trẻ giúp bạn phát âm

có kết quả

Ngoài ra, luyện bộ máy phát âm trong trờng mầm non thờng đa các tròchơi để trẻ bắt chớc và làm theo các tiếng con vật nh mèo (meo, meo), ếch(ộp, ộp)… hay trò chơi “con gì biến mất” cô sắp xếp các con vật trên bàn vàgiới thiệu với trẻ từng con vật, giành thời gian 1 -2 phút để trẻ ghi nhớ Khichơi cô nói : “trời tối rồi” các cháu sẽ nhắm mắt lại cô cất đi một con vật, khicô nói : ‘Trời sáng rồi” các cháu mở mắt và đoán xem cô cất đi con vật gì?Nếu cháu đoán đúng thì cô bảo cháu bắt chớc tiếng kêu của con vật đó, nói saihoặc phát âm sai thì cô nói lại và tập cho các cháu phát âm theo

VD : Cháu mở mắt và đoán tên con vật (con lợn) cháu phải nói đúng conlợn, nếu cháu nói con nợn thì cô phải tập cho trẻ nói lại cho đúng,

Hoặc trò chơi : “tai ai tình” cô treo lên bảng tranh vẽ các đồ vật, con vật.Cô cho trẻ quan sát các tranh đó rồi cho cháu gọi tên các con vật đồ vật cótrong tranh, cô làm mẫu tiếng kêu của chúng rồi sau đó yêu cầu trẻ nói đúngtên các đồ vật trong tranh

VD : cô nói “ò ó o” cháu phải nói con gà trống, cô nói “cạp cạp” chaúphải nói Con vịt, cô noí ủn ỉn cháu phải nói Con lợn , cô nói “kính coong’ cônói Xe đạp…

Cô có thể chuẩn bị tập tranh vẽ các con vật, đồ vật để ở các góc để trẻ tômàu các bức tranh đó, trẻ tô màu đợc tranh nào thì bắt chớc tiếng kêu của convật hoặc đồ vật trong tranh đó

Mặt khác, để hoàn chỉnh cách phát âm cho trẻ thông qua các bài thơ, cadao đồng dao trong đó có từ mà trẻ thờng nói sai hay mắc phải

VD : Để phát âm đúng L và N cô cho trẻ đọc bài thơ sau và cô kiểm tra

sự phát âm của trẻ :

Long lanh đáy nớc in trời

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng

Trang 17

sơng long lanh chạy.

Hoặc qua các bài ca dao đồng dao:

Con cò lặn lội bờ sông

Trang 18

Gánh gạo đa chồng tiếng khóc nỉ non.

A- Hôm nay, nô đùa, quả na, quạt nan, nàng tiên…

B - Gió lung lay, sông Lô, luỹ tre, long lanh, làng xóm

Khi trẻ phát âm đúng N và L cùng một lúc cho trẻ phát âm các từ hoặccụm từ theo 2 nhóm A và B :

A- Lời nói, làng nớc, lúa non, leo núi, lúa nơng

B - Nín lặng, nơng lúa, nớc lã,nói lắp…

Nhìn chung lứa tuổi này là lứa tuổi hấp thu nhạy bén cách phát âm củangời xung quanh vì trẻ ở lứa tuổi này lời nói chủ yếu là bằng truyền khẩu, trẻhọc nói bằng cách là nói theo ngời lớn một cách máy móc, theo kiểu bắt chớc

Do đó, những âm dạy trẻ đầu tiên phải là những âm chuẩn để sau này khôngmất thời gian uốn nắn cho trẻ Vì vậy, phải tạo một môi trờng xung quanh trẻthật tốt (nhất là môi trờng nói với cách phát âm đúng quy cách) để trẻ đợc th-ờng xuyên tập nghe và tập nói Mặt khác trong gia đình của trẻ (ông bà, chamẹ) cần chú ý cách phát âm của mình và chú ý về cách phát âm với cô giáo đểdạy trẻ Hơn nữa trong công tác giáo dục trẻ ở trờng mầm non, cô mẫu giáo

Ngày đăng: 20/04/2016, 10:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Tiếng Việt (Tập II) : NguyÔn Xu©n Khoa - 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt (Tập II)
Tác giả: NguyÔn Xu©n Khoa
Năm: 1997
6. Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non từ lọt lòng đến 6 tuổi : Nguyễn ánh Tuyết - Nguyễn Nh Mai - Đinh Kim Thoa -1994 7. Tâm lý học gia đình:TS Nguyễn Công Hoàn - 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non từ lọt lòng đến 6 tuổi
Tác giả: Nguyễn ánh Tuyết, Nguyễn Nh Mai, Đinh Kim Thoa
Năm: 1994
2. Chơng trình chăm sóc giáo dục mẫu giáo 4 - 5 tuổi Vụ giáo dục mầm non - Hà Nội 1991 Khác
4. Dạy trẻ phát âm đúng và làm giàu vốn từ cho trẻNhà xuất bản giáo dục 1990 Khác
5. PGS. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), PGS Trần Hữu Luyến, T.s Trần Quốc Thành :Tâm lý học đại cơng (tài liệu biên soạn theo chơng trình chi tiết đã đợc vụ đại học thông qua) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w