Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về bệnh gỉ sắt ở đậu tương đã được tiến hành và thu được một số kết quả đáng kể, tuy... Việc nghiên cứu sự đa dạng di truyền của tập đoàn đậu tươn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm - ĐHTN
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Chu Hoàng Mậu
2 TS Trần Thị Phương Liên
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Đại học Thái Nguyên họp tại:
Vào hồi: giờ, ngày tháng năm 20
Trang 3NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 TA Pham, CB Hill, MR Miles, BT Nguyen, TT Vu, TD Vuong,
TT VanToai, HT Nguyen, GL Hartman “Evaluation of soybean
for resistance to soybean rust in Vietnam” Elsevier - Field Crops
Research 117: 131-138
2 Vũ Thanh Trà, Trân Thị Phương Liên, Chu Hoàng Mậu “Đánh
giá sự đa dạng di truyền của 50 giống đậu tương Việt Nam có phản ứng khác nhau đối với bệnh gỉ sắt bằng chỉ thị SSR” Tạp chí
Sinh học, 34(2), tr 235-240
3 Vũ Thanh Trà, Trần Thị Phương Liên, Chu Hoàng Mậu “Nghiên
cứu mối quan hệ di truyền của một số giống đậu tương Việt Nam
có phản ứng khác nhau với bệnh gỉ sắt” Tạp chí Khoa học và
Công nghệ - Đại học Thái Nguyên, 85(9)/2, tr 11-16
4 Vũ Thanh Trà, Hà Hồng Hạnh, Trần Thị Phương Liên, Chu
Hoàng Mậu “Phân lập và phân tích protein từ lá cây đậu tương”
Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên, 85(01)/1:
303-310
5 Vũ Thanh Trà, Hà Hồng Hạnh, Trần Thị Phương Liên, Chu
Hoàng Mậu “Phân tích protein của lá đậu tương nhiễm bệnh gỉ sắt
bằng phương pháp điện di hai chiều” (Bài gửi Tạp chí Công nghệ
sinh học - chờ đăng)
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là cây công nghiệp ngắn
ngày, có giá trị kinh tế cao, mang ý nghĩa trong cải tạo đất trồng, dễ canh tác, đặc biệt có khả năng thích nghi với nhiều vùng sinh thái khác nhau Hạt đậu tương chứa 30-55% protein, chứa nhiều loại amino acid không thay thế, 12-25% lipid và các vitamin cần thiết cho
cơ thể Các sản phầm từ đậu tương được sử dụng rộng rãi cho các mục đích khác nhau như làm thức ăn, dầu ăn, thực phẩm chức năng, nguyên liệu cho y học và công nghiệp…Bên cạnh giá trị dinh dưỡng cao, cây đậu tương còn có khả năng cố định đạm nhờ vi khuẩn R
Japonicum sống cộng sinh trên rễ cây tạo thành các nốt sần, giúp cải tạo đất hiệu quả Do đó, cây đậu tương đã được quan tâm trồng và phát triển mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, đậu tương là nhóm cây trồng chính được ưu tiên khuyến khích phát triển, sản xuất đứng sau lúa, ngô và lạc
Việt Nam từng là một nước xuất khẩu đậu tương vào những năm 1980, tuy nhiên cho đến nay nước ta đã trở thành nước nhập
khẩu đậu tương với số lượng lớn với hàng triệu tấn khô dầu đậu tương đang được nhập khẩu hàng năm Mặc dù diện tích gieo trồng
có tăng hàng năm những năng suất thấp và sản lượng đạt được không
ổn định, khả năng chống chịu bệnh và các stress kém Sâu bệnh nói chung và bệnh gỉ sắt nói riêng là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng
tới diện tích gieo trồng và làm giảm năng suất, chất lượng hạt đậu tương, gây tổn thất lớn về kinh tế
Bệnh gỉ sắt ở đậu tương do loài nấm Phakopsora pachyrhizi gây ra
và đang được coi là một trong những mối đe dọa chính trên cây đậu tương gây thiệt hại đáng kể, làm giảm từ 10-80% năng suất và chất
lượng đậu tương ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về bệnh gỉ sắt ở đậu tương đã được tiến hành và thu được một số kết quả đáng kể, tuy
Trang 5nhiên hầu hết các nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào việc giám sát quá trình phát triển bệnh, nghiên cứu dịch tễ học, đánh giá sự thất thu năng suất hoặc phân tích phản ứng bệnh mà chưa chú trọng nhiều đến việc tìm hiểu khả năng kháng bệnh gỉ sắt Việc nghiên cứu sự đa
dạng di truyền của tập đoàn đậu tương có phản ứng khác nhau đối
với bệnh gỉ sắt không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo tồn các giống có
khả năng kháng bệnh mà còn có ý nghĩa quan trọng trong công tác
chọn tạo giống có chất lượng cao
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi lựa chọn và thực hiện
đề tài: "Nghiên cứu sự đa dạng di truyền của một số giống đậu tương có khả năng kháng bệnh gỉ sắt khác nhau"
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá khả năng phản ứng của các giống đậu tương với bệnh
gỉ sắt nhằm phát hiện các giống kháng mới, xác định được sự đa
dạng di truyền trên cơ sở phân tích tính đa hình DNA, so sánh đa hình protein và lập bản đồ điện di protein lá đậu tương
3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá khả năng kháng bệnh gỉ sắt của các giống đậu tương
- Xác định hàm lượng protein, lipid và thành phần amino acid trong hạt của các giống đậu tương nghiên cứu
- Phân tích sự đa dạng di truyền của các giống đậu tương nghiên
cứu bằng chỉ thị phân tử RAPD và SSR
- Lập bản đồ điện di protein lá đậu tương và định danh hệ protein
lá bằng phương pháp điện di một chiều, hai chiều và nhận diện protein trên hệ sắc ký-khối phổ Đồng thời phân tích, so sánh sự đa dạng thành phần protein lá của một số giống đậu tương nhiễm và kháng bệnh gỉ sắt
4 Những đóng góp mới của đề tài
- Đề tài đã phân loại được mức độ kháng bệnh gỉ sắt của 50 giống đậu tương thu thập ở Việt Nam thành 3 nhóm: nhóm mẫn cảm với
bệnh gỉ sắt, nhóm trung gian và nhóm kháng bệnh Đặc biệt, công
Trang 6trình đã phát hiện ra 6 giống kháng mới là PMTQ, HSP1, HSP2, CNB, ZG và MTD65 Đồng thời, các thành phần hóa sinh của 50
giống đậu tương cũng đã được phân tích
- Sử dụng chỉ thị phân tử RADP và SSR, đề tài đã phân tích được
mối quan hệ di truyền của 50 giống đậu tương, trong đó kết quả phân tích cho thấy chỉ thị SSR có mức độ đa hình cao hơn
- Bằng phương pháp điện di 2 chiều, luận án đã thiết lập được bản
đồ điện di 2DE của protein lá đậu tương ở giống kháng bệnh DT2000 với 119 điểm protein trên gel, trong đó có 35 protein đã được định danh và phân loại Đặc biệt có 3 protein liên quan đến khả năng kháng bệnh/phòng vệ, chống chịu stress, hạn đã được phát hiện Đây là những dẫn liệu đầu tiên về việc nghiên cứu hệ protein lá, lập bản đồ protein, định danh các protein lá ở giống đậu kháng bệnh Kết quả này góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu cơ chế bệnh cũng như gợi ý cách tiếp cận nghiên cứu ở mức độ protein
- Bằng phương pháp so sánh sự thay đổi của hàm lượng protein được biểu hiện trên gel 2DE, luận án cũng đã phát hiện có 8 điểm protein tăng và 1 điểm protein giảm so với đối chứng ở 2 giống đậu tương nhiễm bệnh gỉ sắt, đã nhận diện và định danh được 6/9 điểm protein Hai mẫu protein ở hai giống mẫn cảm với bệnh gỉ sắt (DT12, VMK) có 6 điểm protein tăng so với hai giống kháng bệnh gỉ sắt (DT2000, CBU8325), đã nhận diện và định danh được 4/6 điểm protein Đây cũng là những số liệu đầu tiên được công bố ở Việt Nam khi so sánh mức độ biểu hiện khác nhau của các protein lá ở các giống nhiễm và đối chứng, giữa giống nhiễm và giống kháng
bệnh bằng phương pháp điện di 2DE kết hợp định danh bằng khối
phổ
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Đề tài đã nghiên cứu trên đối tượng là cây đậu tương, một cây
trồng có ý nghĩa quan trọng đối với nền nông nghiệp nước nhà Sử dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại, có độ tin cậy cao để
Trang 7nghiên cứu đặc điểm, thành phần hóa sinh, đa dạng DNA và phân tích protein của một số giống đậu tương có phản ứng khác nhau với
bệnh gỉ sắt Đề tài là công trình được đầu tư nghiêm túc, công phu và thu được các kết quả phong phú Là cơ sở tham khảo cho các nghiên
cứu tiếp theo trên cây đậu tương, đồng thời các phương pháp như phân tích đa dạng DNA bằng kỹ thuật RADP, SSR hay các phương pháp phân tích bằng điện di, khối phổ là các cách tiếp cận mới có ý nghĩa khoa học cao, hứa hẹn sẽ gợi mở nhiều điều thú vị về các cơ
chế nhiễm bệnh cũng như kháng bệnh
- Về thực tiễn, đề tài đã phân loại các giống đậu tương có phản ứng khác nhau với bệnh gỉ sắt làm 03 nhóm, trong đó đã phát hiện ra các
giống kháng mới là PMTQ, HSP1, HSP2, CNB, ZG và MTD65 Đây là các thông tin hữu ích có thể ứng dụng trong thực tiễn chọn tạo giống
6 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 115 trang, được chia thành các phần: Phần mở đầu gồm có 3 trang; Chương 1: Tổng quan tài liệu, 29 trang; Chương 2: Vật
liệu và phương pháp nghiên cứu, 20 trang; Chương 3: Kết quả và thảo
luận, 46 trang; Phần kết luận và đề nghị, 2 trang; Các công trình đã công
bố của tác giả: 1 trang Tài liệu tham khảo: 14 trang; Luận án có 15
bảng, 19 hình và 121 tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt và tiếng Anh
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cây đậu tương và đặc điểm hóa sinh của cây đậu tương 1.1.1 Cây đậu tương
Đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là cây thuộc họ đậu
(Fabaceae) Chi Glycine có hai chi ph ụ là Glycine và Soja Về nguồn
gốc , đậu tương có nguồn gốc từ Đông Á Về đặc điểm hình thái, đậu
tương là cây thân thảo, lá có ba loại: lá mầm, lá nguyên và lá kép Hoa đậu tương nhỏ không hương vị, có dạng cánh bướm Quả thuộc loại
quả giáp, khó tách, hơi cong, lúc quả non có màu xanh, nhiều lông khi
Trang 8chín có màu nâu Hạt có nhiều hình dạng: hình tròn, hình bầu dục, tròn dẹt có giá trị dinh dưỡng cao Về đặc điểm di truyền, đậu tương có
bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội 2n = 40 là cây tự thụ phấn, ít có khả năng
thụ phấn chéo Bộ gen đơn bội của đậu tương có từ 1,29 -1,8 x 109bp
Thời gian sinh trưởng của đậu tương được chia làm 3 loại: chín sớm, chín trung bình và chín muộn
1.1.2 Đặc điểm hóa sinh của cây đậu tương
1.1.2.1 Thành phần protein trong hạt đậu tương
Trong hạt đậu tương, hàm lượng protein chiếm từ 12-55% Protein được dự trữ trong bào quan có chức năng cung cấp nguồn amino acid và nitơ hoặc là các enzyme tham gia vào quá trình nảy mầm của hạt Loại potein được dự trữ chủ yếu ở hạt đậu tương là globulin
1.1.2.2 Lipid, vitamin và một số chất khác trong hạt đậu tương
Ở đậu tương, hàm lượng lipid chiếm từ 12-25% khối lượng khô
Chất lượng lipid của hạt đậu tương rất tốt, cho nên nó được sử dụng
rộng rãi trong công nghiệp chế biến thực phẩm Hạt đậu tương còn
có các loại vitamin tan trong lipid, đặc biệt là vitamin E Ngoài ra, trong hạt đậu tương còn chứa một số chất khác như carbohydrade,
muối khoáng, nucleic acid, kích thích sinh trưởng
1.1.2.3 Protein lá và hệ protein lá đậu tương
Các protein của lá đậu tương chủ yếu là các protein liên quan đến quá trình trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng Đó là các protein có liên quan đến quá trình vận chuyển điện tử, các enzyme, các protein dự trữ, hoặc các protein có liên quan đến các quá trình trao đổi và chuyển hóa của các amino acid hoặc các protein liên quan đến tính kháng bệnh, stress
1.2 Bệnh gỉ sắt và tính kháng bệnh gỉ sắt ở cây đậu tương 1.2.1 Bệnh gỉ sắt ở cây đậu tương
Trang 9Bệnh gỉ sắt do nấm Phakopsora pachyrhizi gây ra là một trong
những bệnh chính trên cây đậu tương (Glycine max) ở Châu Á và
gây thiệt hại đáng kể về năng suất ở các nước trồng đậu tương
Dấu hiệu và triệu chứng bệnh: là những chấm màu trong ở phiến lá, cỡ 1mm, sau lớn dần và chuyển màu vàng rồi nâu, đạt tới kích thước từ 2-5mm với hình đa dạng, có góc cạnh Ở mặt dưới phiến lá xuất hiện lớp bột màu nâu đó là các bào tử hạ của nấm
Vòng đời và quá trình nhiễm bệnh: Quá trình nhiễm bệnh bắt đầu khi bào từ hạ nảy mầm để hình thành một ống mầm phát triển trên bề mặt lá (đường kính 5-400 µm) cho đến khi sợi áp hình thành
1.2.2 Tính kháng bệnh gỉ sắt của cây đậu tương
Sự tương tác giữa vật chủ và vật ký sinh theo mô hình tương tác gen đối gen (gen for gen) Đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện
thấy có năm gen chính liên quan đến tính kháng bệnh gỉ sắt ở đậu
tương bao gồm: gen Rpp1, gen Rpp2; gen Rpp3; gen Rpp4 và gen
1.3.2 Phương pháp sử dụng chỉ thị hoá sinh học
Các chỉ thị hoá sinh có trong hầu hết các protein đa hình như isozyme và các protein dự trữ Các isozyme có thể được phân tách theo trọng lượng, kích thước phân tử và các chất mang
1.3.3 Các phương pháp sử dụng chỉ thị phân tử DNA
1.3.3.1 Chỉ thị RAPD
Về nguyên tắc, kỹ thuật RAPD dựa trên phản ứng PCR, bằng cách sử dụng những mồi ngắn có trình tự biết trước, bắt cặp và nhân
Trang 10bản ngẫu nhiên những đoạn DNA có trình tự bổ sung với trình tự của các mồi Kỹ thuật RAPD bao gồm các bước sau: (i) Thiết kế mồi; (ii) Chuẩn bị mẫu DNA và chạy PCR; (iii) kiểm tra sản phẩn nhân bản trên gel agarose; (iv) Phân tích kết quả bằng phần mềm chuyên dụng; (v) Xác định hệ số đồng dạng di truyền và thiết lập sơ đồ quan hệ di truyền của các đối tương nghiên cứu
1.3.3.2 Chỉ thị SSR
Kỹ thuật SSR do Litt và Luty (1989) phát hiện lần đâu tiên trên đối tượng người Việc sử dụng các chỉ thị SSR trong lập bản đồ di truyền của các locus đặc trưng bao gồm các bước sau: (i) Phân lập đoạn SSR từ thư viện hệ gen; (ii) Xác định trình tự của vùng có SSR; (iii) Xác định các cặp mồi đặc trưng là các trình tự DNA bảo thủ giới
hạn hai đầu của đoạn SSR; (iv) Nhân vùng gen tương ứng bằng PCR
sử dụng các mồi đặc trưng; (v) Phân tích kích thước của sản phẩm PCR nhằm xác định được sự có mặt của các alen SSR
Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu
2.1.1 Vật liệu và phương pháp thu thập lá bệnh
Sử dụng 50 giống đậu tương có nguồn gốc từ các địa phương Việt Nam do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ và
Viện Di truyền Nông nghiệp và Trường Đại học Cần Thơ cung cấp làm vật liệu nghiên cứu Trong đó có 4 giống đối chứng kháng bệnh
gỉ sắt do Viện Bảo vệ thực vật cung cấp Một số giống được thu thập
từ các địa phương Cao Bằng, Hà Giang và Thái Nguyên
2.1.2 Hoá chất
Các hoá chất thông dụng, có độ tinh sạch cần thiết được mua
của các hãng Merck, Invitrogen, Amersham Pharmacia Biotech, New England Biolabs
Trang 112.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nhiễm bệnh nhân tạo
2.2.2 Phương pháp phân tích hoá sinh
2.2.2.1 Xác định hàm lượng lipid tổng số
2.2.2.2 Xác định hàm lượng protein tan tổng số
2.2.2.3 Xác định thành phần amino acid trong hạt đậu tương
2.2.3 Các phương pháp phân tích đa dạng di truyền DNA
2.2.3.1 Phương pháp tách chiết và tinh chế DNA tổng số
2.2.3.2 Phương pháp xác định DNA bằng quang phổ
2.2.3.4 Điện di DNA trên gel polyacrylamide và nhuộm bạc
2.2.3.5 Phân tích đa hình bằng kỹ thuật RAPD
2.2.3.6 Phân tích đa hình bằng kỹ thuật SSR
2.2.3.7 Phương pháp xử lý số liệu
2.2.4 Các phương pháp phân tích đa hình protein
2.2.4.1 Tách chiết protein từ lá đậu tương
2.2.4.2 Điện di SDS-PAGE
2.2.4.3 Điện di 2 chiều - 2DE
2.2.4.4 Nhuộm protein và phân tích hình ảnh gel
2.2.4.5 Nhận diện protein trên bản điện di 2DE bằng khối phổ
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá khả năng kháng bệnh gỉ sắt của các giống đậu tương
Đánh giá khả năng kháng bệnh gỉ sắt của 50 giống đậu tương, chúng tôi đã chia thành 3 nhóm có phản ứng khác nhau với bệnh gỉ sắt:
Nhóm kháng bệnh gỉ sắt bao gồm 13 giống: PI200492, PI230970, PI462312, PI459025, DT2000, CBU8325, DT95, MTD65, CNB, PMTQ, HSP2, HSP1, ZG: thể hiện phản ứng kháng bệnh rất rõ với các vết bệnh có màu nâu đen, số lượng bào tử ít, không có quầng vàng, tốc độ phát triển của bệnh chậm Đặc biệt, kết
Trang 12quả nghiên cứu của chúng tôi còn cho thấy có 6 giống kháng mới đã được phát hiện là PMTQ, HSP1, HSP2, CNB, ZG và MTD65.
Nhóm trung gian bao gồm 12 giống: M103, DT96, PHCB, PS,
PT, NS, MT1, HG2, VK2, CT2, VK3, CT1, mang đặc điểm của hai loại vết bệnh nhiễm và kháng Trong đó còn có hai giống đại trà là M103 và DT96
Nhóm mẫn cảm với bệnh gồm 25 giống: DT12, VX92, VX93, DT84, V79, SL, CV, VMK, HG, DK, CBD, CB7, QHCB, LVG, TTHT, DBBT, DTBT, MT2, HG1, HTDT, MD, DL, MH, ND, CSGL, HN
3.2 Phân tích đặc điểm hóa sinh hạt của các giống đậu tương
3.2.1 Phân tích hàm lượng protein và lipid trong hạt của các giống đậu tương
Kết quả phân tích hàm lượng protein tan và lipid tổng số của 50
giống đậu tương nghiên cứu như bảng 3.1 (không trình bày ở đây)
Giữa các giống, hàm lượng protein giao động từ 30,5% (giống PMTQ) đến 43,5% (giống DT2000, DT96 và TTHT) Trong khi đó, hàm lượng lipid giao động từ 11,35% (giống PMTQ) đến 17,4% (các
giống DT2000, DT96 và TTHT) Kết quả phân tích hàm lượng protein và lipid của hạt 50 giống đậu tương cho thấy sự phù hợp với
kết quả nghiên cứu của tác giả Chu Hoàng Mậu (2002)
Xét về mối tương quan, giữa 3 nhóm đậu tương có phản ứng khác nhau với bệnh gỉ sắt, chúng tôi nhận thấy không có sự sai khác
rõ rệt về hàm lượng lipid và protein giữa 3 nhóm Tuy nhiên, trong
mỗi nhóm các giống lai có hàm lượng protein và lipid trong hạt cao hơn các giống địa phương
3.2.2 Phân tích hàm lượng và thành phần amino acid trong hạt của một số giống đậu tương
Chúng tôi chọn 20/50 giống tham gia thí nghiệm đem phân tích thành phần amino acid trong hạt Trong đó, có 7 giống kháng, 4
Trang 13giống trung gian và 9 giống nhiễm bao gồm cả giống lai, giống có nguồn gốc từ địa phương và giống nhập nội
Kết quả cho thấy đã xác định sự có mặt của 17 loại amino acid và hàm lượng từng loại amino acid trong mỗi mẫu đậu tượng đã được nghiên cứu; đồng thời cho thấy giữa 3 nhóm (kháng, trung gian và nhiễm bệnh gỉ sắt) không có sự sai khác rõ rệt về tổng hàm lượng của 17 amino acid Chúng dao động từ 31,81% - 39,54%, trong đó mẫu SL (31,81%) có hàm lượng amino acid tổng số thấp nhất và các giống CNB (39,54%), VX92 (39,51%) có hàm lượng amino acid tổng số cao nhất
3.3 Đánh giá sự đa dạng di truyền của các giống đậu tương có khả phản ứng với bệnh gỉ sắt khác nhau
3.3.1 Phân tích tính đa hình DNA của các giống đậu tương bằng chỉ thị phân tử RAPD
Kết quả nhân bản các phân đoạn DNA bằng phản ứng RAPD
từ hệ gen của 50 giống đậu tương cho thấy trong 20 mồi có 15 mồi
biểu hiện tính đa hình Với mỗi mồi ngẫu nhiên, số lượng các phân đoạn DNA được nhân bản dao động từ 2-10 phân đoạn với kích thước từ 250bp-2000bp Tổng số phân đoạn DNA nhân bản được từ
hệ gen của 50 giống đậu tương là 3380 phân đoạn, trong đó mồi M14 có số đoạn DNA nhân bản là nhiều nhất (335 phân đoạn DNA) (hình 3.1) và ít nhất là mồi M8 (9 phân đoạn)
Kết quả ở bảng 3.2 cho thấy, tổng số phân đoạn DNA đa hình của 20 mồi ngẫu nhiên khi phân tích 50 giống đậu tương là 113 đoạn Trong đó có 73 phân đoạn đa hình (chiếm 64,6%) và 40 đoạn không
có tính đa hình (chiếm 35,4%) Bảy mồi (M2, M3, M4, M9, M10, M13 và M18) có tính đa hình hoàn toàn (100%) và năm mồi (M5, M8, M12, M16 và M17) không cho tính đa hình (0%) Trong đó có 14/20 mồi có số phân đoạn đa hình trên 50%, mồi M14 có số phân đoạn đa hình bằng 50% (Hình 3.1), mồi M18 số phân đoạn đa hình là 100% (Hình 3.2) (không trình bày ở đây)
Trang 14Kết quả này cũng phù hợp khi phân tích hàm lượng thông tin đa hình thể hiện ở giá trị PIC (bảng 3.2) Cụ thể, giá trị PIC của mồi M14 là 0,27 (tỷ lệ đa hình là 50%) và giá trị PIC của mồi M4 là 0,86
(đa hình cao nhất), trong đó 13/20 mồi cho giá trị PIC ≥ 0,5
Bảng 3.2 Tỉ lệ phân đoạn đa hình và giá trị PIC của các giống
Mối quan hệ di trưyền của 50 giống đậu tương
Với 20 mồi ngẫu nhiên, chúng tôi đã thiết lập được sơ đồ hình cây của 50 giống đậu tương (Hình 3.3) Kết quả cho thấy 50 giống đậu tương phân bố làm 2 nhánh lớn (nhánh I và nhánh II) Nhánh I chỉ có 2 giống VK2 và DT12, có khoảng cách di truyền so với 48
giống còn lại là 21% (1 - 0,79) Nhánh II gồm 48 giống đậu tương còn lại có khoảng cách di truyền dao động từ 0% đến 15%
So sánh với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Thuận và cộng
sự (2006) được tiến hành trên 30 giống đậu tương (từ Viện Lúa Đồng
bằng sông Cửu Long) với 13 cặp mồi RAPD, kết quả cho thấy có 9 mồi thể hiện sự đa hình, đồng thời có 4 nhóm (nhóm A, B, C, D) được phân chia với hệ số tương đồng từ 0,8-0,98