Tính cấp thiết của đề tài. Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp, ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế. Để tiến hành hoạt động kinh doanh được, doanh nghiệp phảo nắm giữ một số lượng vốn nhất định. Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển doanh nghiệp. Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà Nước đã thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế dẫn đến nhiều biến đổi, đặc biệt kể từ khi Việt Nam tham gia vào tổ chức Thương Mại thế giới WTO, kinh tế nước ta đang có những bước chuyển mình đi lên cùng nền kinh tế thế giới. Điều đó cho thấy một xu thế quốc tế hóa đang trong giai đoạn diễn ra mạnh mẽ, nền kinh tế thế giới phát triển theo xu thế toàn cầu hóa mang lại sức mạnh về tài chính, tận dụng công nghệ làm giảm chi phí cho đầu tư, nghiên cứu, phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm. Trước sự cạnh tranh gay gắt của yếu tố thị trường mang tính hội nhập như hiện nay, huy động vốn mới chỉ là bước đầu; quan trọng hơn và mang tính chất quyết định hơn là nghệ thuật phân bổ, sử dụng số vốn với hiệu quả cao nhất, đòi hỏi đem lại lợi ích và góp phần nâng cao vị thế cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp luôn coi tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu. Để thực hiện mục tiêu đó một cách thuận lợi thì doanh nghiệp phải xây dựng các kế hoạch đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình một cách hiệu quả nhất. Do vậy việc quả lý sử dụng vốn kinh doanh phải đúng mục đích và hợp lý, được quay vòng một cách hiệu quả và mang lại lợi nhuận. Vì thế, công tác tổ chức, quản lý, bảo toàn và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả là công việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó quyết định trước tiên đến sự tồn tại, tiếp đó là tới sự tăng trưởng phát triển của doanh nghiệp, là điều kiện tiên quyết giúp doanh nghiệp khẳng định được vị thế của mình trong nền kinh tế thị trường. Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn kinh doanh kết hợp với quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Bia Sài GònPhú Thọ,cùng với sự hướng dẫn tận tình của Th.s. Vũ Thị Hoa, em xin đi sâu nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Tình hình quản trị vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bia Sài GónPhú Thọ” Đối tượng và mục đích nghiên cứu. Đối tượng của đề tài là lý luận và thực tiễn tình hình quản trị vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bia Sài GònPhú Thọ. Luận văn nghiên cứu lý luận chung về quản trị vốn kinh doanh để sử dụng có hiệu quả nhằm nâng cáo sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Đồng thời, đề tài đi sâu phân tích, đánh giá tình trạng của công ty, tình hình sử dụng vốn kinh doanh và quản trị vốn kinh doanh, cùng các nhân tố ảnh hưởng tới vốn kinh doanh của công ty. Từ đó, luận văn nghiên cứu những lợi thế và hạn chế về sử dụng vốn kinh doanh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Cổ phần Bia Sài GònPhú Thọ; đề ra các phương hướng và giải pháp sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh của công ty. Phạm vi nghiên cứu. Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình quản trị vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần Bia Sài GònPhú Thọ trong hai năm 2013 – 2014 thông qua các chỉ tiêu báo cáo tài chính. Phương pháp nghiên cứu. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để tiến hành phân tích và đánh giá các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời, đề tài cũng dùng những chỉ tiêu đánh giá mang tính định lượng để đánh giá một cách toàn diện hoạt động quản trị vốn tại Công ty Cổ phần Bia Sài GònPhú Thọ. Kết cấu của luận văn Đề tài gồm những nội dung chính như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về vốn kinh doanh và quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng quản trị Vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bia Sài GònPhú Thọ trong thời gian qua. Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị Vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bia Sài GònPhú Thọ.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài.
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp, ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế Để tiến hành hoạt động kinh doanh được, doanh nghiệp phảo nắm giữ một số lượng vốn nhất định Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển doanh nghiệp
Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà Nước đã thực hiện chính sách
mở cửa nền kinh tế dẫn đến nhiều biến đổi, đặc biệt kể từ khi Việt Nam tham gia vào tổ chức Thương Mại thế giới WTO, kinh tế nước ta đang có những bước chuyển mình đi lên cùng nền kinh tế thế giới Điều đó cho thấy một xu thế quốc
tế hóa đang trong giai đoạn diễn ra mạnh mẽ, nền kinh tế thế giới phát triển theo
xu thế toàn cầu hóa mang lại sức mạnh về tài chính, tận dụng công nghệ làm giảm chi phí cho đầu tư, nghiên cứu, phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm Trước sự cạnh tranh gay gắt của yếu tố thị trường mang tính hội nhập như hiện nay, huy động vốn mới chỉ là bước đầu; quan trọng hơn và mang tính chất quyết định hơn là nghệ thuật phân bổ, sử dụng số vốn với hiệu quả cao nhất, đòi hỏi đem lại lợi ích và góp phần nâng cao vị thế cho doanh nghiệp
Bên cạnh đó, doanh nghiệp luôn coi tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu Để thực hiện mục tiêu đó một cách thuận lợi thì doanh nghiệp phải xây dựng các kế hoạch đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình một cách hiệu quả nhất Do vậy việc quả lý sử dụng vốn kinh doanh phải đúng mục đích
và hợp lý, được quay vòng một cách hiệu quả và mang lại lợi nhuận
Vì thế, công tác tổ chức, quản lý, bảo toàn và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả là công việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nó quyết định trước tiên đến sự tồn tại, tiếp đó là tới sự tăng trưởng phát triển của doanh nghiệp, là điều kiện tiên quyết giúp doanh nghiệp khẳng định được vị thế của mình trong nền kinh tế thị trường
Trang 2Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn kinh doanh kết hợp với quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn-Phú Thọ,cùng với sự hướng dẫn tận tình của Th.s Vũ Thị Hoa, em xin đi sâu nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Tình hình quản trị vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bia Sài Gón-Phú Thọ”
Đối tượng và mục đích nghiên cứu.
Đối tượng của đề tài là lý luận và thực tiễn tình hình quản trị vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn-Phú Thọ
Luận văn nghiên cứu lý luận chung về quản trị vốn kinh doanh để sử dụng có hiệu quả nhằm nâng cáo sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Đồng thời, đề tài đi sâu phân tích, đánh giá tình trạng của công
ty, tình hình sử dụng vốn kinh doanh và quản trị vốn kinh doanh, cùng các nhân tố ảnh hưởng tới vốn kinh doanh của công ty Từ đó, luận văn nghiên cứu những lợi thế
và hạn chế về sử dụng vốn kinh doanh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty Cổ phần Bia Sài Gòn-Phú Thọ; đề ra các phương hướng và giải pháp sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh của công ty
Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình quản trị vốn kinh doanh của Công
ty Cổ phần Bia Sài Gòn-Phú Thọ trong hai năm 2013 – 2014 thông qua các chỉ tiêu báo cáo tài chính
Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để tiến hành phân tích và đánh giá các mặt hoạt động của doanh nghiệp Đồng thời, đề tài cũng dùng những chỉ tiêu đánh giá mang tính định lượng để đánh giá một cách toàn diện hoạt động quản trị vốn tại Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn-Phú Thọ
Kết cấu của luận văn
Đề tài gồm những nội dung chính như sau:
Trang 3Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về vốn kinh doanh và quản trị
vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản trị Vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần
Bia Sài Gòn-Phú Thọ trong thời gian qua
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị Vốn kinh
doanh tại Công ty Cổ phần Bia Sài Gòn-Phú Thọ
Trang 4Từ trước đến nay, có rất nhiều khái niệm về vốn, và mỗi khái niệm đều
có những ưu điểm khác nhau, tuỳ điều kiện, mục đích nghiên cứu mà người ta
có thể tiếp cận vốn dưới giác độ nào
Theo các nhà kinh tế học cổ điền tiếp cận vốn dưới góc độ hiện vật,
“vốn là yếu tổ đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh”.Đây là cách hiểu phù hợp với trình độ quản trị còn sơ khai, nó rất đơn giản, dễ hiểu nhưng chưa đầy đủ và chưa phản ánh hết mặt tài chính của vốn
Theo quan điếm của Mác dưới góc độ các yếu tố sản xuất, “Vốn (tư bản) là giá trị mang lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất” Định nghĩa của C.Mác có tầm khái quát lớn, tuy nhiên trong bối cảnh lúc đó khi mà nền kinh tể chưa phát triển, C.Mác quan niệm chỉ có khu vực sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế Và tiền chỉ được gọi là vốn khi nó được dùng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với mục đích là lợi nhuận Quan điểm này đã chi rõ mục tiêu của quản trị và
Trang 5sử dụng vốn, nhưng quan điểm này lại mang tính trừu tượng, do đó hạn chế
về ý nghĩa nhất là đối với các vấn đề như hạch toán, phân tích tình hình quản trị và sử dụng vốn của doanh nghiệp
Theo Paul-Sammelson, nhà kinh tể học theo trường phái tân cổ điển đã
kế thừa quan niệm về các yểu tố sản xuất của trường phái cổ điển và chia yểu
tổ đầu vào của quá trinh sản xuất ra làm ba loại: đất đai, lao động và vốn Theo ông, “Vốn là hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp” Khái niệm này không đề cập đến các loại tài sản khác, các giấy tờ có giá trị có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Do đó, cũng không phản ánh đẩy đủ mặt tài chính của vốn
Theo một sổ nhà tài chính thì “Vốn là tổng số tiền do những người có
cổ phần trong công ty đóng góp và họ nhân được phần thu nhập chia cho các chứng khoán của công ty” Quan điểm này đã đề cập đến mặt tài chính của vốn, khuyến khích các nhà đầu tư tăng cường đàu tư, mở rộng và phát triển sản xuất Song nó có hạn chế là không nói rõ nội dung và trạng thái của vốn trong quá trình phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Cũng có quan niệm lại cho rằng: “Vốn kinh doanh là giá trị của các tài sản hiện có của doanh nghiệp được biểu hiện bằng tiền”, nhưng quan điểm này mới dừng lại ở mặt hình thái của vốn mà không phản ánh trạng thái, mục đích của vốn nên cũng không thuận lợi cho phân tích kinh tế
Như vậy, các quan điểm về vốn ở trên một mặt đã thể hiện được vai trò của vốn trong những điều kiện lịch sủ cụ thể với những yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể Nhưng mặt khác, trong cơ che thị trường hiện nay, đứng trên góc độ hạch toán và quản trị, các quan điểm đó còn gây khó khăn, chưa đáp ứng được yêu cầu của quản trị vốn hiệu quả
Trang 6Trong điều kiện tồn tại một nền sản xuất hàng hoá -tiền tệ, khái niệm
về vốn sản xuất kinh doanh phải thể hiện những vấn đề sau:
- Nguồn gốc sâu xa của vốn sản xuất kinh doanh là một bộ phận của thu nhập quốc dân được tái đầu tư (khác vốn đất đai, vốn nhân lực)
- Trạng thái vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh là tài sản vật chất (tài sản cố định, tài sản dự trữ) và tài sản tài chính (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các chửng khoán, tín phiếu ) là cơ sở để ra biện pháp quản trị vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách hiệu quả
- Mối quan hệ mật thiết giữa vốn và các nhân tố khác trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (đất đai, lao động) Điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải sử dụng tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả vốn
- Mục đích của quá trình đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận, vấn đề này sẽ định hướng cho quá trình quản trị kinh doanh nói chung và quản trị vốn nói riêng
Như vậy có thể nói: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời” Nói cách khác, đó là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận
1.1.1.2 Đặc trưng của vốn kinh doanh
Thứ nhất: Vốn được biểu hiện bằng một lượng tài sản có thực.
Đây là đặc trưng cơ bản của vốn kinh doanh – vốn là một lượng tiền đại diện cho một lượng hàng hóa nhất định, một tài sản có thực Tài sản đó có thể
là hình thái vật chất cụ thể (TSHH) hoặc không có hình thái vật chất cụ thể (TSVH) được đưa vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ hai: Vốn phải được tích tụ, tập trung thành một lượng nhất định,
đủ sức đầu tư vào một phương án kinh doanh
Trang 7Việc huy động vốn của doanh nghiệp cần đạt tới một giới hạn nhất định nào đó mới đủ sức phát huy tác dụng, cũng như đáp ứng được yêu cầu của phương án đầu tư Nếu vốn không được tích tụ đầy đủ (thiếu vốn) thì hoạt động đầu tư sẽ bị ngưng trệ, và đồng thời hiệu quả sử dụng vốn bị giảm sút.
Thứ ba: Trong nền kinh tế thị trường, vốn phải vận động sinh lời.
Mục đích vận động của vốn là sinh lời Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái Bảnghiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là tiền, lượng tiền thu về phải lớn hơn lượng tiền bỏ ra Đây
là nguyên tắc cơ bản của việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Phương thức vận động của vốn do phương thức đầu tư kinh doanh quy định Có thể mô tả quá trình vận động của vốn qua sơ đồ sau:
Trong lĩnh vực sản xuất: T – H…… Sx…… – H’ – T’
Trong lĩnh vực thương mại: T…… H…… T’
Trong lĩnh vực đầu tư tài chính: T……….T’
Và T’ = T+∆T
Thực tế một doanh nghiệp có thể vận dụng một hoặc đồng thời cả ba phương thức đầu tư trên, miễn sao là bảo toàn và phát triển được vốn, đạt được mức sinh lời cao nhất Quá trình tuần hoàn chu chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp nhanh hay chậm phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng ngành kinh doanh, vào tổ chức sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp
Thứ tư: Vốn có giá trị về mặt thời gian và gắn liền với chủ sở hữu.
Trong nền kinh tế thị trường, một đồng vốn ở thời điểm này có giá trị khác với giá trị của đồng vốn ở thời điểm khác, đó là giá trị thời gian của vốn Vốn có giá trị về mặt thời gian là do trong nền kinh tế thị trường có sự tồn tại của các nhân tố như: giá cả thị trường, làm phát, khủng hoảng… Các nhân tố này tồn tại một cách cố hữu, tiềm ẩn trong hoạt động kinh tế thị trường
Trang 8Trong nền kinh tế thị trường, vốn luôn gắn liền với chủ sở hữu Các doanh nghiệp không thể mua bán quyền sở hữu vốn mà chỉ có thể mua bán quyền sử dụng vốn kinh doanh trên thị trường tài chính Giá cả của quyền sử dụng vốn kinh doanh chính là chi phí cơ hội trong việc sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ năm: Vốn được coi như loại hàng hóa đặc biệt.
Những người có vốn nhàn rỗi đưa vốn vào thị trường, còn những người cần vốn thì tìm nguồn để mua “quyền sử dụng vốn” Để có được quyền sử dụng vốn đó, người mua phải trả cho người bán một giá nhất định, đó là chi phí sử dụng vốn Rõ ràng việc nhận thức đúng đắn đặc trưng này sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
1.1.1.3 Vai trò của vốn kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ hoá, do vậy bẩt kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào dù ở bất cứ cấp độ nào: cá nhân, tổ chức, gia đình, doanh nghiệp hay quốc gia luôn luôn cần có một lượng vốn nhất định dưới dạng tiền tệ, tài nguyên đã được khai thác, bản quyền phát minh, là điều kiện tiền đề quyết đinh sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Về mặt kinh tế:
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn là mạch máu của doanh nghiệp, vốn không những đảm bảo mua sắm máy móc thiết bị dây chuyền công nghệ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục, thường xuyên
Vốn cũng là yếu tố quyết định việc mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp Để có thể tiến hành tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng thỉ sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn của doanh nghiệp phải sinh lời, tức là hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải có lãi đảm bảo cho vốn
Trang 9của doanh nghiệp được bảo toàn và phát triền Đó là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư mở rộng phạm vi sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.
Nhu cầu về vốn xét trên giác độ mỗi doanh nghiệp là điều kiện để duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mờ rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu nhập cho người lao động, đóng góp cho
xã hội Như vậy:
- Vốn sản xuất kinh doanh là công cụ quan trọng để thực hiện các nhiệm
vụ kinh doanh của doanh nghiệp
- Vốn sản xuất kinh doanh phản ánh các quan hệ về lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp vói doanh nghiệp trong vấn đề đầu tư
- Vốn sản xuất kinh doanh cho phép khả năng lựa chọn của doanh nghiệp trong sự phân tích nhu cầu thị trường là: quyết định sản xuất cái gì; sản xuất như thế nào; sản xuất cho ai; sao cho đạt hiệu quả cao nhất
Về mặt pháp lý:
Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện tiên quyết là doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định Đối với một số ngành, lĩnh vực thì lượng vốn đó tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp định (do Nhà nước quy định) Nếu không, doanh nghiệp sẽ không được thành lập Và trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, lượng vốn doanh nghiệp không đạt điều kiện Nhà nước quy định thì doanh nghiệp sẽ tự tuyên bố chấm dứt hoạt động như phá sản, sát nhập với doanh nghiệp khác Như vậy, với một số ngành, vốn có thể được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật
Nhận thức được tầm quan trọng của vốn, các doanh nghiệp nhất thiết phải tìm mọi cách huy động, bảo toàn và phát triển vốn bằng cách sử dụng tiểt kiệm, hợp lý vốn , tức là phái nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 101.1.2 Phân loại vốn kinh doanh
1.1.2.1 Phân loại theo nguồn vốn kinh doanh
Vốn chủ sở hữu
Là số vốn góp của các chủ sở hữu, của các nhà đầu tư đóng góp Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải chịu lãi suất Tuy nhiên, lợi nhuận thu được do sản xuất kinh doanh có lãi của doanh nghiệp sẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ phần vốn góp của mình Tuỳ theo từng loại hỉnh doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu được hình thành theo các hỉnh thức khác nhau, thông thường là:
- Vốn góp
Là số vốn do các thành viên tham gia thành lập doanh nghiệp đóng góp,
sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh Đối với doanh nghiệp nhà nước thì đây là nguồn vốn do nhà nước cấp Đối với công ty liên doanh thì là phần vốn góp của các đối tác trong và ngoài nước tham gia thành lập liên doanh, số vốn này được bổ sung hoặc rút bớt trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Lãi chưa phân phối
Là số vốn có nguồn gốc từ lợi nhuận hay các khoản thu nhập hợp pháp khác của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các khoản phải nộp hay thanh toán,
số lãi trong khi chưa phân phối cho các chủ đầu tư, trích quỹ thì được sử dụng trong sản xuất kinh doanh như vốn chủ sờ hữu
Vốn vay
Vốn vay là khoản vốn đầu tư ngoài vốn chủ sở hữu được hình thành từ nguồn vốn đi vay, đi chiếm dụng của các cá nhân, đơn vị, tổ chức trong và ngoài nước và sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải trả cho người cho vay cả gốc lẫn lãi Phần vốn này, doanh nghiệp được sử dụng với những điều kiện nhất định (như thời hạn sử dụng, lãi suất, thế chấp, ) nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, vốn vay luôn được ưu tiên chi trả trước vốn chủ sở hữu
Trang 11trong bất cứ hoàn cảnh nào đặc biệt kể cả khi doanh nghiệp khó khăn về tài chính Doanh nghiệp càng sử dụng vốn vay càng nhiều thì độ rủi ro càng cao nhưng để phục vụ sản xuất kinh doanh thì đây là nguồn huy động vốn rất lớn tuỳ thuộc vào khả năng thế chấp, tinh hình sản xuất kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp Vốn vay có hai loại: vốn vay, nợ ngắn hạn và vốn vay, nợ trung, dài hạn với nhiều hình thức khác nhau như tín dụng thương mại, hùn vốn qua phát hành trái phiếu, tín dụng cầm đồ hoặc thế chấp tài sản
Thông thường, một doanh nghiệp đều nên phối hợp cả hai nguồn vốn trên để đảm bảo nhu cầu vốn của doanh nghiệp cũng như bảo đảm nguyên tắc phân tán rủi ro trong đầu tư Kết cấu hợp lý của hai nguồn vốn này tuỳ thuộc đặc điểm ngành doanh nghiệp đang hoạt động, quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp trên cở sờ xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp và tình hình chung của nền kinh tế đất nước
1.1.2.2 Phân loại theo kết quả của hoạt động đầu tư
Theo tiêu thức này vốn kinh doanh được chia thành vốn kinh doanh đầu
tư vào tài sản lưu động, tài sản cố định và tài sản tài chính
Vốn kinh doanh đầu tư vào TSLĐ là số vốn đầu tư để hình thành nên
các tài sản lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm các loại vốn bằng tiền, vốn vật tư hàng hóa, các khoản phải thu, các TSLĐ khác của doanh nghiêp
Vốn kinh doanh đầu tư vào TSCĐ là số vốn đầu tư để hình thành nên
tài sản cố định cho doanh nghiệp bao gồm tài sản cố định vô hình và tài sản
cố định hữu hình
Vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản tài chính là số vốn doanh nghiệp
đầu tư vào các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệ, trái phiếu chính phủ, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ quỹ đầu tư và các giấy tờ có
giá khác.
Trang 121.1.2.3 Phân loại theo đặc điểm luân chuyển vốn
Theo đặc điểm luân chuyển của vốn, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành vốn cố định và vốn lưu động
Vốn cố định
Vốn cố định (VCĐ) là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành tài sản cố định Là vốn đầu tư ứng trước cho tài sản cố định nên quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô của tài sản cố định, ảnh hưởng lớn đến trình độ trang bị kĩ thuật công nghệ và năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngược lại, những đặc điểm kinh tế kĩ thuật của tài sản cố định trong quá trình sử dụng cũng có những ảnh hưởng quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển vốn cố định
Vốn lưu động
Vốn lưu động (VLĐ) của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước dùng để mua sắm, hình thành các TSLĐ dùng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như nguyên nhiên vật liệu dự trữ sản xuất, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các khoản vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán
Cách phân loại này cho thấy đặc điểm luân chuyển của từng loại vốn kinh doanh, từ đó giúp cho doanh nghiệp có biện pháp tổ chức quản lý, phân
bổ sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp sao cho phù hợp Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vốn kinh doanh luân chuyển càng nhanh càng có hiệu quả Điều đó không chỉ giúp doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi vốn, hạn chế được các rủi ro có thể gặp trong kinh doanh mà còn khắc phục được các khó khăn về vốn, bảo toàn và phát triển được vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 131.1.3 Khái quát chung về vốn cố định và vốn lưu động trong doanh nghiệp.
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh VCĐ có đặc điểm này là do TSCĐ tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp và phát huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất Vì VCĐ là hình thái Bảnghiện bằng tiền của TSCĐ nên VCĐ cũng tham gia vào các chu kỳ sản xuất tương ứng
- Vốn cố định luân chuyển dần, từng phần trong các chu kỳ sản xuất Khi tham gia vào quá trình sản xuất, TSCĐ không bị thay đổi hình thái hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất của nó bị giảm dần, tức là nó bị hao mòn, và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng, thì giá trị của nó cũng bị giảm đi
- Vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển sau nhiều chu kỳ sản xuất Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần VCĐ được luân chuyển vào giá trị sản phẩm dần tăng lên, tương ứng với phần đầu tư ban đầu vào TSCĐ giảm xuống Cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị TSCĐ được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển
Trang 141.1.3.2 Vốn lưu động
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài các tài sản cố định, doanh nghiệp cần phải có các tài sản lưu động Tài sản lưu động của doanh nghiệp gồm hai bộ phận: Tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông
- Tài sản lưu động sản xuất: Gồm một bộ phận là những vật tư dự trữ
để đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục như: nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu,… và một bộ phận là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất như: sản phẩm dở dang, bán thành phẩm đang trong quá trình sản xuất
- Tài sản lưu động lưu thông: Là những tài sản lưu động nằm trong quá trình lưu thông của doanh nghiệp như: thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán…
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn thay thế chỗ cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục và thuận lợi
Vốn lưu động của doanh nghiệp thường xuyên vận động, chuyển hóa lần lượt qua nhiều hình thái khác nhau Đối với doanh nghiệp sản xuất, vốn lưu động từ hình thái ban đầu là tiền được chuyển hóa sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hóa, khi kết thúc quá trình tiêu thụ lại trở về hình thái ban đầu là tiền Đối với doanh nghiệp thương mại, sự vận động của vốn lưu động nhanh hơn từ hình thái vốn bằng tiền chuyển hóa sang hình thái hàng hóa và cuối cùng chuyển về hình thái tiền Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động
Do bị chi phối bởi các đặc điểm của tài sản lưu động nên vốn lưu động của doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
Trang 15- Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện.
- Vốn lưu động chuyển hóa toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh
- Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh
Từ những phân tích đó có thể rút ra: Vốn lưu động của doanh nghiệp là
số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục Vốn
lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh
1.1.4 Nguồn hình thành vốn kinh doanh
Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp là tổng cộng các nguồn tài chính mà doanh nghiệp có thể khai thác và sử dụng trong một thời kì nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để có được lượng vốn cần thiết để hình thành nên tài sản giúp cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh một cách thường xuyên, liên tục
và đạt được mục tiêu đề ra thì yêu cầu doanh nghiệp phải có tổ chức và lựa chọn cách thức huy động vốn thật hiệu quả, phù hợp với đặc điểm, loại hình kinh doanh của doanh nghiệp Tùy thuộc vào mục tiêu quản lý ta có thể chia nguồn vốn doanh nghiệp thành các tiêu thức khác nhau
1.1.4.1 Theo quan hệ sở hữu
Theo tiêu thức này, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành
từ hai nguồn:
- Nguồn vốn chủ sở hữu (NVCSH) là phần vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp bao gồm số vốn góp của chủ sở hữu và phần vốn bổ sung từ lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, cùng với nguồn vốn liên doanh, liên kết, vốn tài trợ của nhà nước nếu có Nguồn vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng
Trang 16trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo cho chủ doanh nghiệp thế chủ động trong sản xuất, tự chủ về mặt tài chính Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm được xác định bằng:
Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản – Nợ phải trả
- Nợ phải trả (NPT) là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanh toán lãi và nợ gốc đúng thời hạn cam kết
Việc phân loại nguồn vốn kinh doanh theo tiêu thức này giúp nhà quản trị tài chình doanh nghiệp xác định được mức độ an toàn trong công tác huy động vốn
- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp bao gồm vốn vay ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, phát hành trái phiếu, nợ người cung cấp và các khoản nợ khác.Trong điều kiện kinh tế thị trường, ngoài vốn chủ sở hữu thì số vốn doanh nghiệp huy động từ bên ngoài ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng
số vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Việc phân loại vốn theo tiêu thức này giúp cho doanh nghiệp có khả năng lựa chọn cách huy động vốn nhằm tối ưu hóa cơ cấu vốn hay hình thành
cơ cấu vốn với chi phí thấp nhất và hiệu quả mang lại là cao nhất
1.1.4.2 Theo thời gian huy động và sử dụng vốn
Trang 17Với cách phân loại này, nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời:
- Nguồn vốn thường xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng Nguồn vốn này được đầu tư cho TSCĐ và một bộ phận cho TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này gồm các khoản vay ngắn hạn của Ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác
Cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý có điều kiện thuận lợi trong việc huy động vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn sản xuất kinh doanh và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
1.2 QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Quản trị vốn kinh doanh là tiến trình hoạch định, tổ chức,và kiểm soát các hoạt động về vốn gồm có vốn cố đinh và vốn lưu động, tác động vào vốn bằng tiền, nợ phải thu, hàng tồn kho và tài sản cố định nhằm đạt được mục tiêu nhất định cho doanh nghiệp trong từng thời kỳ phát triển.
Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm
đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra quyết định tài chinh,
tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, đó là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm gia tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Trang 18Nhiệm vụ quan trọng của quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp là huy động vốn nhằm đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho các hoạt động; tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm, có hiệu quả, nhằm tối đa hóa lợi ích cho chủ sở hữu doanh nghiệp; lên kế hoạch để xác đinh các nhu cầu về vốn nhằm chuẩn bị đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tìm các biện pháp để huy động các nguồn vốn khác để đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra còn cần phải có sự đánh giá về tình hình sử dụng vốn có thực sự hiệu quả hay không, để từ đó đề ra các biện pháp để khắc phục kịp thời.
1.2.2 Nội dung quản trị vốn kinh doanh
1.2.2.1 Tổ chức đảm bảo nguồn vốn kinh doanh
Để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của công ty được tiến hành thường xuyên,liên tục thì tương ứng với một quy mô kinh doanh nhất định thường xuyên phải có một lượng TSLĐ nhất định nằm trong các giai đoạn luân chuyển như các tài sản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, bán thành phẩm, và nợ phải thu của khách hàng Những tài sản này gọi là TSLĐ thường xuyên, nó là một bộ phận của tài sản thường xuyên
Nguồn vốn lưu động thường xuyên tạo ra mức độ an toàn cho doanh nghiệp trong kinh doanh, về cơ bản, nguồn vốn lưu động thường xuyên đảm bảo cho vốn lưu động thường xuyên, còn nguôn vốn lưu động tạm thời sẽ đảm bảo cho nhu cầu vốn lưu động tạm thời, song không nhất thiết phải hoàn toàn như vậy Để tạo điều kiện cho việc sử dụng linh hoạt nguồn tài chính,ta
sẽ xem xét một số mô hình tài trợ vốn sau:
Trang 19• Mô hình tài trợ thứ hai.
Toàn bộ TSCĐ,TSLĐ thường xuyên và một phần của TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, và một phần TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời
Sử dụng mô hình này, khả năng thanh toán và độ an toàn ở mức cao Tuy nhiên doanh nghiệp phải sử dụng nhiều khoản vay dài hạn và trung hạn nên doanh nghiệp phải trả chi phí nhiều hơn cho việc sử dụng vốn
• Mô hình tài trợ thứ ba
Toàn bộ TSCĐ và một phần TSLĐ thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, còn một phần TSLĐ thường xuyên và toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời
Mô hình hình chi phí sử dụng vốn sẽ được hạ thấp, vì sử dụng nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngắn hạn, việc sử dụng vốn sẽ được linh hoạt hơn Trong thực tế mô hình này thường được các doanh nghiệp lựa chọn vì một phần tín dụng ngắn hạn được xem như dài hạn thường xuyên, đối với các doanh nghiệp mới lại càng cần thiết Việc áp dụng mô hình này cũng cần năng động trong việc tổ chức nguồn vốn ở các doanh nghiệp, vì khả năng gặp rủi ro cao
1.2.2.2 Phân bổ nguồn vốn kinh doanh hợp lý
Phân bổ nguồn vốn kinh doanh là việc doanh nghiệp đưa ra quyết định
về sử dụng nguồn vốn đã huy động như thế nào, có thể phân bổ vốn theo từng thành phần vốn nhằm đảm bảo sự phù hợp với các đặc điểm ngành nghề kinh doanh và chức năng, nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp Hay có thể nói phân bổ nguồn vốn là việc đưa ra quyết định đầu tư vào các loại tài sản nào của doanh nghiệp Các quyết định này bao gồm:
- Đầu tư vào tài sản lưu động: Quyết định tồn quỹ, tồn kho, các quyết định về chính sách bán hàng, quyết định đầu tư tài chính ngắn hạn…
Trang 20- Đầu tư vào tài sản lưu động: Quyết định mua sắm tài sản cố định, quyết định đầu tư dự án, đầu tư tài chính dài hạn…
- Quyết định về cơ cấu giữa việc đầu tư vào tài sản cố định hay tài sản lưu động, quyết định sử dụng đòn bẩy kinh doanh…
Các quyết định đầu tư được coi là một yếu tố vô cùng quan trọng trong
số các quyết định tài chính của doanh nghiệp bởi chúng tạo ra giá trị cho doanh nghiệp Một doanh nghiệp có quyết định đầu tư đúng đắn sẽ tạo cơ hội làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp, từ đó đem lại lợi ích cho chủ sở hữu và những thành viên trong doanh nghiệp và ngược lại, nếu quyết định đầu tư sai
sẽ đem lại những ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình hoạt động của công ty, làm tổn thất về kinh tế, thiệt hại về tài sản cho chính chủ sở hữu
1.2.2.3 Quản trị vốn cố định của doanh nghiệp
Quản trị vốn cố định là một nội dung quan trọng trong quản lý vốn kinh doanh của các doanh nghiệp Điều đó không chỉ ở chỗ vốn cố định thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp, có ý nghĩa quyết định tới năng lực sản xuất của doanh nghiệp mà còn do việc sử dụng vốn cố định thường gắn liền với hoạt động đầu tư dài hạn, thu hồi vốn chậm và dễ gặp rủi ro
Quản trị vốn cố định có thể khái quát thành ba nội dung cơ bản là: khai thác tạo lập vốn, quản lý sử dụng vốn và phân cấp quản lý, sử dụng vốn cố định trong doanh nghiệp
Khai thác và tạo lập nguồn vốn cố định của doanh nghiệp
Để dự báo các nguồn vốn đầu tư vào tài sản cố định các doanh nghiệp
có thể dựa vào các căn cứ sau đây:
+ Quy mô và khả năng sử dụng quỹ đầu tư phát triển hoặc quỹ khấu hao
để đầu tư mua sắm tài sản cố định hiện tại và các năm tiếp theo
+ Khả năng ký kết các hợp đồng với các doanh nghiệp khác.
Trang 21+ Khả năng huy động vốn vay dài hạn từ các ngân hàng thương mại hoặc
phát hành trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường vốn
+ Các dự án đầu tài sản cố định tiền khả thi và khả thi đã được cấp có
thẩm quyền phê duyệt
Quản lý sử dụng vốn cố định
Vốn cố định của doanh nghiệp có thể được sử dụng cho các hoạt động đầu tư dài hạn (mua sắm, lắp đặt, xây dựng các tài sản cố định hữu hình và vô hình) và các hoạt động kinh doanh thường xuyên sản xuất các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ) của doanh nghiệp
Bảo toàn vốn cố định về mặt hiện vật không phải chỉ là giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của tài sản cố định mà quan trọng hơn là duy trì thường xuyên năng lực sản xuất ban đầu của nó Điều đó
có nghĩa là trong quá trình sử dụng doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ không làm mất mát tài sản cố định, thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng nhằm duy trì và nâng cao năng lực hoạt động của tài sản cố định, không để tài sản cố định bị hư hỏng trước thời hạn quy định
Để bảo toàn và phát triển vốn cố định của doanh nghiệp cần đánh giá đúng các nguyên nhân dẫn đến tình trạng không bảo toàn được vốn để có biện pháp xử lý thích hợp Có thể nêu ra một số biện pháp chủ yếu sau đây:
+ Phải đánh giá đúng giá trị của tài sản cố định tạo điều kiện phản ánh chính xác tình hình biến động của vốn cố định, quy mô vốn phải bảo toàn Điều chỉnh kịp thời giá trị của tài sản cố định để tạo điều kiện tính đúng, tính
đủ chi phí khấu hao, không để mất vốn cố định Thông thường có 3 phương pháp đánh giá chủ yếu:
Đánh giá tài sản cố định theo giá nguyên thuỷ (nguyên giá)
Đánh giá tài sản cố định theo giá trị khôi phục
Đánh giá tài sản cố định theo giá trị còn lại
+ Lựa chọn phương pháp khấu hao và xác định mức khấu hao thích hợp
Trang 22+ Chú trọng đổi mới trang thiết bị, phương pháp công nghệ sản xuất.
+ Thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa dự phòng tài sản cố định
+ Doanh nghiệp phải chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh để hạn chế tổn thất vốn cố định do các nguyên nhân khách quan như: Mua bảo hiểm tài sản, lập quỹ dự phòng tài chính, trích trước chi phí dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính
Phân cấp quản lý vốn cố định
Theo quy chế hiện hành các doanh nghiệp Nhà nước được quyền:
+ Chủ động trong sử dụng vốn, quỹ để phục vụ kinh doanh theo nguyên tắc hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn Nếu sử dụng vốn, quỹ khác với mục đích sử dụng đã quy định cho các loại vốn, quỹ đó thì phải theo nguyên tắc có hoàn trả
+ Doanh nghiệp được quyền cho các tổ chức và cá nhân trong nước thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để nâng cao hiệu suất sử dụng, tăng thu nhập song phải theo dõi, thu hồi tài sản cho thuê khi hết hạn Các tài sản cho thuê hoạt động doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao theo chế độ quy định
+ Doanh nghiệp được quyền đem tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn hoặc bảo lãnh tại các tổ chức tín dụng theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật
+ Thay đổi cơ cấu tài sản và các loại vốn phục vụ cho việc phát triển vốn kinh doanh có hiệu quả hơn
+ Doanh nghiệp được nhượng bán các tài sản không cần dùng, lạc hậu
về kỹ thuật để thu hồi vốn sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hơn Được quyền thanh lý những tài sản cố định đã lạc hậu mà không thể nhượng bán được hoặc đã hư hỏng không có khả năng phục hồi
Trang 23Riêng đối với các tài sản cố định quan trọng muốn thanh lý phải được phép của cơ quan ra quyết định thành lập doanh nghiệp.
Doanh nghiệp được sử dụng vốn, tài sản, giá trị quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp theo các quy định của pháp luật hiện hành
1.2.2.4 Tổ chức quản trị vốn lưu động dưới từng hình thái biểu hiện khác nhau.
1.2.2.4.1 Quản trị vốn tồn kho dự trữ
Hàng tồn kho là những tài sản mà doanh nghiệp dự trữ để đưa vào sản xuất hoặc bán ra trong tương lai Căn cứ vào vai trò của chúng, hàng tồn kho được chia làm ba loại: Tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, tồn kho thành phẩm Mỗi loại tồn kho dự trữ trên có vai trò khác nhau trong quá trình sản xuất, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục và ổn định
- Tầm quan trọng của việc quản lý vốn về hàng tồn kho.
+Vốn về hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn lưu động của doanh nghiệp
+Việc duy trì hợp lý vốn về hàng tồn kho sẽ tạo cho doanh nghiệp thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp tránh được tình trạng ứ đọng vật tư hàng hóa
- Các biện pháp chủ yếu quản lý vốn dự trữ hàng tôn kho.
+ Xác định đúng đắn lượng vật tư cần mua trong kỳ và lượng tồn kho dữ trữ hợp lý
+ Xác định và lựa chọn nguồn cung ứng và người cung ứng thích hợp.+ Lựa chọn phương tiện vận tải phù hợp để tối thiểu hóa chi phí vận chuyển, bốc rỡ
Trang 24+ Thường xuyên theo dõi sự biến động của thị trường về giá cả của vật tư, thành phẩm, hàng hóa để trách tình trạng mất mát, hao hụt quá mức.
+ Thường xuyên kiểm tra, nắm vững tình hình dự trữ, phát hiện kịp thời tình trạng vật tư ứ đọng vật tư, không phù hợp để có biện pháp giải phòng nhanh số vật tư đó, thu hồi vốn
+ Thực hiện tốt việc mua bảo hiểm hàng hóa đối với vật tư hàng hóa, lập
dự phòng giảm giá hàng tồn kho
- Các phương pháp quản lý vốn tồn tại kho dự trữ
+ Phương pháp chi phí tối thiểu EOQ (Economic Order Quantity)
Là mô hình quản lý hàng tồn kho dự trữ trên cơ sở tối thiểu hóa tổng chi phí tồn kho dự trữ
+ Phương pháp tồn kho bằng không JIT (Just In Time)
Theo mô hình này doanh nghiệp hầu như không tồn kho Chi phí lưu kho, chi phí tồn kho thấp; thường chỉ có ở các doanh nghiệp trong cùng một khu công nghiệp
1.2.2.4.2 Quản trị vốn bằng tiền
Vốn bằng tiền là một bộ phận cấu thành tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Vốn bằng tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển Trong các doanh nghiệp, nhu cầu lưu trữ vốn bằng tiền thường do ba
lý do chính: Đáp ứng các yêu cầu giao dịch, thành toán hàng ngày của doanh nghiệp; giúp doanh nghiệp nắm bắt các cơ hội đầu tư sinh lời hoặc kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận; đáp ứng nhu cầu dự phòng và khắc phục rủi ro bất ngờ có thể xảy ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Tầm quan trọng của việc quản lý vốn bằng tiền
+ Vốn bằng tiền là loại tài sản có tình thanh khoản cao nhất và là yếu tố trực tiếp quyết định khả năng thanh toán của một doanh nghiệp
Trang 25+ Vốn bằng tiền là một lại tài sản có tính linh hoạt cao và cũng dễ là đối tượng của các hành vi tham ô, gian lận, lợi dụng.
- Nội dung chủ yếu của quản lý vốn bằng tiền
+ Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt một cách hợp lý, tối thiểu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.Có nhiều phương pháp xác định mức dự trữ tiền mặt hợp lý của doanh nghiệp: có thể căn cứ vào số liệu thống kê nhu cầu chi dùng tiền mặt bình quân một ngày và số ngày dự trữ tiền mặt hợp lý hoặc vận dụng mô hình tổng chi phí tối thiểu trong quản trị vốn tồn kho dự trữ để xác định mức tồn quỹ tiền mặt mục tiêu của doanh nghiệp
+ Quản lý chặt chẽ các khoản phải thu chi bằng tiền
+Chủ động lập và thực hiện kế hoạch lưu chuyển tiền tệ hàng hóa
1.2.2.4.3 Quản trị các khoản phải thu
Các khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ Trong kinh doanh, hầu hết các doanh nghiệp đều có các khoản nợ phải thu nhưng với quy mô, mức độ khác nhau Nếu các khoản phải thu quá lớn, tức số vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng cao, hoặc không kiểm soát được sẽ gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, quản trị các khoản phải thu là một nội dung quan trong trong quản trị tài chính
- Tầm quan trọng của quản lý phải thu
Quản lý khoản phải thu của khách hàng là một vấn đề rất quan trọng vì
+ Khoản phải thu từ khách hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn lưu động của doanh nghiệp
+ Việc quản lý các khoản phải thu từ khách hàng liên quan chặt chẽ đến việc tiêu thụ sản phẩm, tổ chức và bảo toàn VLĐ tổng doanh nghiệp
Trang 26+ Việc tăng khoản phải thu từ khách hàng kéo theo việc gia tăng các khoản chi phí quản lý nợ, chi phí thu hồi nợ, chi phí trả lãi tiền vay.
+ Tăng các khoản phải thu làm tăng rủi ro đối với doanh nghiệp
- Các biện pháp chủ yếu quản lý khoản phải thu
+ Xác định chính sách tín dụng thương mại với khách hàng
+ Phân tích khách hàng, xác định đối tượng bán chịu
+ Áp dụng các biện pháp thu hồi nợ và bảo toàn vốn
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn kinh doanh của DN
1.2.3.1 Về tình hình tổ chức đảm bảo nguồn vốn kinh doanh
- Xác định mức chênh lệch giữa nhu cầu vốn lưu động thường xuyên dự tính và thực tế.
Việc xác định mức chênh lệch giữa nhu cầu vốn lưu động thường xuyên dự tính và thực tế sẽ giúp cho chúng ta đánh giá được khả năng dự tính
về nguồn vốn lưu động cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và lập kế hoạch về vốn Việc xác định mức chênh lệch được thực hiện dựa trên mức chênh lệch tuyệt đối và tương đối
Mức chênh lệch tuyệt đối = Nhu cầu VLĐ thực tế - Nhu cầu VLĐ dự báo
Mức chênh lệch tương đối =
X 100%
Khi mức chênh lệch nhỏ hơn 20%, ta có thể kết luận được phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động là hợp lý Ngược lại, nếu mức chênh lệch quá lớn thì ta có thể thấy phương pháp dự báo chưa đạt được hiệu quả tốt và cần
có sự điều chỉnh hay lựa chọn phương pháp khác một cách phù hợp
1.2.3.2 Về tình hình phân bổ vốn
• Kết cấu nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp:
Trang 27Dựa trên các thông tin từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, ta có thể xác định được kết cấu nguồn vốn kinh doanh, từ đó đánh giá được liệu kết cấu nguồn vốn đó của doanh nghiệp có phù hợp với đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, cũng như đáp ứng được các nhu cầu về vốn cần thiết phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Kết cấu vốn kinh doanh (%) =
• Tỷ suất đầu tư các loại tài sản:
Tỷ lệ đầu tư vào tài sản ngắn hạn =
Tỷ lệ đầu tư vào tài sản dài hạn =
Dựa vào thông tin trên bảng cân đối kế toán, ta xác định được tỷ trọng nguồn vốn đầu tư vào các loại tài sản của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm hoạt động, khả năng tài chính cũng như quy mô kinh doanh khác nhau Việc xác định được đúng lượng vốn đầu tư vào mỗi loại tài sản sao cho phù hợp với tình hình hoạt động của doanh nghiệp sẽ góp phần mang lại những lợi ích to lớn cho doanh nghiệp
1.2.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn cố định
+ Đánh giá kết cầu tài sản: Kết cấu tài sản cố định được xác định thông qua
công thức:
Kết cấu từng loại tài sản cố định (%) =
- Đánh giá tình hình biến động tài sản cố định:
Tính mức chênh lêch giữa số tài sản cố định đầu kì và cuối kì, từ đó đưa ra những đánh giá về tình hình biến động về cơ cấu tài sản của công
Trang 28- Hệ số tăng giảm TSCĐ trong kỳ: Việc đánh giá tình hình biến động TSCĐ
thông qua nguồn hình thành và công dụng của TSCĐ
Hệ số tăng giảm TSCĐ trong kỳ =
- Hệ số đổi mới TSCĐ trong kỳ: Cho biết trong tổng TSCĐ hiện có cuối kỳ
có bao nhiêu TSCĐ được bổ sung mới trong năm
Hệ số đổi mới TSCĐ trong kỳ =
- Hệ số trang bị TSCĐ cho hoạt động sản xuất: Hệ sốn ày phản ánh mức độ
trang bị TSCĐ cho một công nhân trực tiếp sản xuất
Hệ số trang bị TSCĐ cho hoạt động sản xuất =
+ Tình hình khấu hao tài sản cố định
Trang 29Xác định tỷ trọng vốn lưu động trong từng khâu như trong quản trị hàng tồn kho, nợ phải thu, vốn bằng tiền Thông qua đó đánh giá xu hướng biến động để xác định tình hình quản trị nguồn vốn lưu động.
Kết cấu từng loại VLĐ (%) =
+ Tình hình đảm bảo vốn lưu động:
Đánh giá nguồn vốn lưu động thường xuyên (Vốn lưu động thuần NWC)
NWC = Nguồn vốn dài hạn – Tài sản dài hạn
= Tài sản ngắn hạn – Nợ phải trả ngắn hạn.
Ý nghĩa của chỉ tiêu này nhằm đánh giá cách thức tài trợ vốn lưu động của doanh nghiệp, để đánh giá mức độ an toàn hay rủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp
Khi NWC > 0: Doanh nghiệp đã dùng nợ dài hạn tài trợ cho tài sản
ngắn hạn Trong trường hợp này doanh nghiệp đang có tín hiệu tốn về khả năng thanh toán và đảm bảo sự an toàn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Từ đó có sự ổn định trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vì có một
bộ phần nguồn vốn lưu động thường xuyên tài trợ cho tài sản lưu động sử dụng cho hoạt động kinh doanh
Khi NWC < 0: Doanh nghiệp đã sử dụng nợ ngắn hạn tài trợ cho tài sản
dài hạn Khi đó doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và có thể gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh trong tương lai Đây
là một biểu hiện của việc sử dụng sai nguồn vốn, dẫn tới mất cân bằng cán cân thanh toán
Khi NWC = 0: Khi đó tài sản lưu động bằng nợ phải trả ngắn hạn, hay
nguồn vốn thường xuyên bằng giá trị TSCĐ Cách tài trợ này tạo ổn định cho hoạt động sản xuất, đặc biệt đối với những ngành có tốc độ quay vòng vốn chậm
+ Các chỉ tiêu hiệu suất và hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Trang 30• Khả năng thanh toán:
Khả năng thanh toán hiện thời =
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá mức độ thanh toán của các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Hệ số này phản ánh được khả năng chuyển đổi tài sản ngắn hạn thành tiền để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán nhanh =
Khả năng thanh toán nhanh xác định chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp Hệ số này cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không tính tới hàng tồn kho
Khả năng thanh toán tức thời =
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp mà không cần dùng tới hàng tồn kho và các khoản phải thu
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho =
• Quản trị nợ phải thu:
Trang 31- Số vòng quay nợ phải thu: Cho biết nợ phải thu luân chuyển được bao nhiêu vòng, tốc độ thu hồi công nợ là bao nhiêu trong một kỳ.
Vòng quay nợ phải thu =
- Kì thu tiền trung bình: Phản ánh được độ dài trung bình của thời gian thu được tiền bán hàng kể từ khi hàng hóa được xuất bán cho tới khi thu được tiền
Kì thu tiền trung bình =
• Quản trị vốn lưu động:
- Số vòng quay vốn lưu động: Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay VLĐ trong một thời kì nhất định, thường là 1 năm Khi đó ta có tổng mức luân chuyển VLĐ thường được xác định dựa trên doanh thu thuần trong kì Số VLĐ bình quân xác định theo bình quân số học
Số vòng quay vốn lưu động =
- Kì luân chuyển vốn lưu động : Chỉ tiêu này phản ánh để vốn lưu động
có thể thực hiện được một vòng quay thì cần bao nhiêu ngày Kì luân chuyển càng ngắn thì VLĐ luân chuyển càng nhanh và ngược lại
Kì luân chuyển vốn lưu động =
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác:
=
- Vòng quay tài sản
Trang 32=
- Mức tiết kiệm vốn lưu động :
Mức tiết kiệm VLĐ phản ánh số VLĐ tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ Nhờ tăng tốc độ luân chuyển nên doanh nghiệp có thể rút ra một lượng VLĐ để đầu tư cho hoạt động khác
1.2.3.5 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn kinh doanh.
+ Vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh:
Vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh =
+ Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh: phản ánh mỗi đồng VKD bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng LNST Chỉ tiêu này còn được gọi là tỷ suất sinh lời ròng của tài sản
ROA =
+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu:xác định mức LNST trên mỗi đồng VCSH sử dụng trong kì Chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp tất cả các khía cạnh
từ trình độ quản trị doanh thu, chi phí, tài sản, nguồn vốn của DN
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) =
Mức tiết kiệm VLĐ = Mức luân chuyển vốn bình quân một ngày x Số ngày rút ngắn kì luân chuyển VLĐ
Trang 33ROE = x
+ Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP): phản ánh khả năng sinh lời của tài sản, không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập của doanh nghiệp và nguồn gốc của VKD
Tỷ suất sinh lời kinh tế trên tài sản (BEP)=
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp
lý phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phù hợp với
xu thế phát triển của nền kinh tế sẽ là tiền đề để nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn của doanh nghiệp và ngược lại
- Phương thức tài trợ vốn: Nhân tố này liên quan trực tiếp đến chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp Một cơ cấu tài trợ tối ưu luôn là mục tiêu hàng đầu mà các nhà quản trị tài chính theo đuổi nhằm tối đa hóa lợi nhuận, giảm thiểu chi phí sử dụng vốn, giảm thiểu rủi ro tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
- Việc lựa chọn phương án đầu tư, phương án kinh doanh: những phương
án có tỷ suất sinh lời cao luôn tiềm ẩn những rủi ro lớn và ngược lại, do vậy
mà các nhà tài chính cần phải cân nhắc để lựa chọn được phương án đầu tư sao cho phát huy được hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời có thể giảm thiểu rủi
ro cho doanh nghiệp
Trang 34- Các chính sách của doanh nghiệp:
+ Chính sách về tiêu thụ sản phẩm và tín dụng sẽ ảnh hưởng đến kỳ hạn thanh toán (bao gồm kỳ hạn thanh toán với người bán và người mua) Kỳ hạn thanh toán chi phối đến nợ phải thu và nợ phải trả Việc tổ chức xuất giao hàng, thực hiện các thủ tục thanh toán thu tiền bán hàng ảnh hưởng không nhỏ đến nhu cầu vốn của doanh nghiệp
+ Chính sách về đổi mới trang thiết bị, dây chuyền sản xuất: trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão như hiện nay, nếu doanh nghiệp chậm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chậm đổi mới nâng cao trình độ trang thiết bị kỹ thuật thì doanh nghiệp đó sẽ bị thụt lùi và có thể rơi vào tình trạng phá sản
- Tính chất của sản phẩm và chu kỳ sản xuất kinh doanh: Với mỗi loại sản phẩm thì tính chất và chu kỳ sản xuất sản phẩm đó là khác nhau, có loại sản phẩm thì chu kỳ sản xuất dài, nhưng có những loại thì chu kỳ sản xuất lại ngắn Do đó, vấn đề đặt ra cho các nhà tài chính doanh nghiệp là làm sao vừa
có đủ vốn để sản xuất, vừa phát huy được hiệu quả của số vốn đó
- Trình độ của cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp: Sự ảnh hưởng của nhân tố này cũng rất lớn, thể hiện ở sự vận dụng, khai thác, sử dụng máy móc thiết bị Nếu như trình độ của cán bộ công nhân viên cao thì hiệu quả làm việc sẽ tăng lên, góp phần tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và ngược lại
- Trình độ tổ chức quản lý: đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý sử dụng vốn, sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới việc sử dụng vốn hiệu quả Việc tổ chức quản
lý khoa học, hợp lý sẽ làm tiền để phát huy hiệu quả sử dụng vốn, và ngược lại sẽ gây thất thoát, sử dụng vốn lãng phí, không bảo toàn được vốn
Trang 351.2.4.1 Nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan là các nhân tố tác động đến hoạt động quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp, những nhân tố này nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp Các nhân tố này bao gồm:
- Nhân tố thuộc về Nhà nước: khi Nhà nước thay đổi cơ chế quản lý của các chính sách kinh tế vĩ mô sẽ tác động không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, cũng như ảnh hưởng tới hiệu quả tổ chức sử dụng vốn Vì thế, các doanh nghiệp phải luôn nhạy bén trước các thông tin kinh tế, chủ động điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của mình nhằm phù hợp với chính sách quản lý của Nhà nước
- Những tác động của nền kinh tế thị trường: mỗi một doanh nghiệp đều hoạt động trong một môi trường kinh doanh nhất định, nhưng đều chịu ảnh hưởng của các tác nhân thuộc về nền kinh tế như: lạm phát, khủng hoảng,
… và các tác nhân này đều gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Do vậy, việc nghiên cứu thị trường là rất quan trọng, giúp cho các doanh nghiệp có thể ứng phó kịp thời trước những biến động của nền kinh tế
- Nhân tố thuộc về tự nhiên: Sự tác động của các nhân tố này thường mang tính chất bất ngờ và gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng như tới công tác bảo toàn và phát triển vốn Chính vì vậy mà các doanh nghiệp cần theo dõi cũng như có các quỹ dự phòng để phòng chống cũng như khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra
- Nhóm nhân tố thuộc về kỹ thuật: Trong thời đại ngày nay, khi mà khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão thì việc ứng dụng những thành quả của khoa học kỹ thuật sẽ là cơ hội tốt cho những doanh nghiệp dám chấp nhận mạo hiểm, tiếp cận kịp thời với tiến bộ khoa học kỹ thuật; ngược lại sẽ là nguy cơ đối với các doanh nghiệp không tiếp cận kịp thời với những tiến bộ đó và sẽ bị thụt lùi lại phía sau
Trang 362.1.1.1.1 Thông tin chung về công ty
Tên chính thức: CÔNG TY CỔ PHẦN BIA SÀI GÒN – PHÚ THỌ.Tên giao dịch : SAIGON – PHUTHO BEER JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt : SAIGON – PHUTHO BEER JSC
Địa chỉ: Khu Công nghiệp Trung Hà, xã Hồng Đà,huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210.3650.687-688
Fax: 0210.3650.686 - Email: Saigonphutho@gmail.com
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 2600393941 thay đổi lần thứ 3 ngày 15/04/2014
Vốn Điều Lệ: 125.000.000.000 đồng
2.1.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty cổ phần Bia Sài Gòn - Phú Thọ là đơn vị liên kết với Tổng Công ty cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn Được khởi công tháng 15/05/2009 với mức đầu tư khoảng 433 tỷ đồng, nhà máy có công xuất 50 triệu lít/năm Sản phẩm chủ yếu là bia lon Sài Gòn 333, được trang bị dây truyền đồng bộ, tiên tiến của tập đoàn Krones Cộng hòa liên bang Đức kết hợp với một số thiết bị trong nước
Trang 37Nằm ở huyện Tam Nông- Tỉnh Phú Thọ thuộc Đông Bắc của Tổ Quốc, khu vực chưa có nhà máy bia Sài Gòn nào hoạt động nên việc xây dựng Công
ty cổ phần Bia Sài Gòn - Phú Thọ là dự án quan trọng trong định hướng phát triển của Bia Sài Gòn nhằm phát triển thị trường phía Bắc Tuy mới đi vào hoạt động (chính thức hoạt động từ tháng 08/2010) nhưng Công ty cổ phần Bia Sài Gòn - Phú Thọ đã đạt được nhiều thành công nhất định, sản lượng và doanh thu năm sau đều tăng hơn năm năm trước, được tặng nhiều bằng khen của tỉnh và các cơ quan nhà nước khác
Kể từ ngày đi vào sản xuất - kinh doanh, công ty cổ phần Bia Sài Gòn - Phú Thọ chú trọng đặc biệt đến chất lượng sản phẩm, đào tạo nguồn nhân lực
để đáp ứng được yêu cầu của công việc Do đó kể từ lô bia sản xuất đầu tiên đến nay đều đạt theo tiêu chuẩn chất lượng của Tổng Công ty, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
Từ những kết quả sản xuất kinh doanh đạt được Công ty cổ phần Bia Sài Gòn - Phú Thọ đã đẩy mạnh việc nộp ngân sách nhà nước, tích cực tham gia vào các hoạt động an sinh xã hội, vì cộng đồng, đền ơn đáp nghĩa, quỹ khuyến học khuyến tài từ những hoạt động trên Công ty nhận được nhiều bằng khen của các cơ quan ban ngành ghi nhận những thành tích đã đạt được, đây chính là nguồn động viên, khích lệ Công ty trong chặng đường dài phía trước
2.1.2 Tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty
2.1.2.1 Ngành nghề kinh doanh của công ty
Ngành nghề kinh doanh của công ty bao gồm :
- Sản xuất bia, rượu, cồn, nước giải khát
- Mua bán vật tư, nguyên liệu, phụ tùng phục vụ sản xuất kinh doanh ngành bia, rượu, nước giải khát
- Kinh doanh du lịch, nhà hàng, khách sạn
- Cho thuê kho bãi, nhà xưởng
Trang 38- Công ty có thể tiến hành những hình thức kinh doanh khác phù hợp với Pháp luật hiện hành và Hội đồng quản trị xét thấy có lợi nhất cho Công ty.
2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty
2.1.2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ củacông ty
a Chức năng của công ty
- Công ty có chức năng chính là sản xuất kinh doanh bia lon Sài Gòn 333
- Công ty có các chức năng kinh doanh khác theo giấy đăng ký kinh doanh do Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ cấp
b Nhiệm vụ của Công ty.
- Tổ chức sản xuất Bia Sài Gòn 333 theo kế hoạch Đảm bảo chất lượng sản phẩm theo quy định
- Tổ chức bộ máy hoạt động phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty
- Thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật
- Hàng năm, Công ty xây dựng và báo cáo Tổng Công ty các kế hoạch tài chính, kế hoạch đầu tư, kế hoạch sản xuất, năng lực sản xuất … để xây dựng kế hoạch chung của Tổng Công ty
- Căn cứ vào chỉ tiêu và kế hoạch hàng năm của Hội đồng quản trị được Đại hội cổ đông thông qua Công ty triển khai qua các phòng, tổ, bộ phận xây dựng kế hoạch tác nghiệp cụ thể bao gồm:
Trang 39• Kế hoạch mua sắm tài sản cố định.
• Kế hoạch kiểm soát chất lượng sản phẩm
• Kế hoạch lao động tiền lương
• Các kế hoạch chi phí định kỳ và thường xuyên
• Kế hoạch lợi nhuận
- Thực hiện đầy đủ chính sách đối với người lao động, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hộ lao động theo quy định của pháp luật
- Thực hiện đầy đủ các chế độ tài chính kế toán theo đúng các quy định của pháp luật hiện hành, theo quy định của Tổng Công ty và theo yêu cầu của Hội đồng quản trị
- Nộp thuế tại địa phương theo các quy định hiện hành
- Ban hành các quy chế làm việc nội bộ phù hợp với Điều lệ và Nghị quyết của Hội đồng quản trị
- Tổ chức và mở rộng thêm một số lĩnh vực kinh doanh mới theo Nghị quyết của Đại hội cổ đông
2.1.2.2.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty
a Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Công ty do Hội đồng quản trị phê duyệt, gồm
- Lãnh đạo Công ty gồm: Giám đốc và 01 Phó Giám đốc
- Khối văn phòng gồm các phòng nghiệp vụ:
+ Phòng Hành chính – Lao động – Tiền lương (phòng HC-LĐ-TL):Tham mưu cho Giám đốc Công ty trong công tác quản lý nguồn nhân lực, thực hiện các chế độ chính sách với người lao động, quản lý hành chính văn phòng, đảm bảo trật tự nội bộ trong Công ty
+ Phòng Tài chính – Kế toán (phòng TC-KT):
Trang 40•Tham mưu giúp cho Giám đốc trong việc xây dựng kế hoạch tài chính của Công ty Kiểm tra, theo dõi việc thanh toán, thanh lý hợp đồng, quản lý tài lực của Công ty.
•Thực hiện chức năng quản lý tài chính-kế toán của Công ty tuân thủ đúng pháp luật, điều lệ, nội quy và quy chế đảm bảo sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn của Công ty
+ Phòng Kỹ thuật (phòng KT):
•Quản lý kỹ thuật, công nghệ sản xuất và thiết bị
•Kiểm soát việc thực hiện quy trình sản xuất và quản lý chất lượng sản phẩm thông qua việc hoạch định, triển khai, kiểm tra, phân tích, đánh giá nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm
•Tham mưu cho Giám đốc Công ty trong công tác quản lý kỹ thuật
+ Phòng Kế hoạch – Cung Tiêu: Lập kế hoạch sản xuất – kinh doanh, kế hoạch vật tư - nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, xử lý bao bì, các loại phế liệu đúng quy định của Công ty Thống kê số lượng hàng nhập, hàng xuất, xuất – nhập vật tư, bao bì giao nhận sản phẩm
- Xưởng sản xuất bia bao gồm các tổ sản xuất: