1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện vũ thư tỉnh thái bình

71 683 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 199,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất đaitrong giai đoạn này ngoài chức năng vốn có của nó là tư liệu sản xuất đặc biệtkhông thể thay thế, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bànphân bố các khu dân

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân em luôn nhận được sự quan tâmgiúp đỡ chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Quản lý đất đai - TrườngĐại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cùng các phòng, ban của nhà trường vàđịa phương đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành báo cáo khóa luận tốtnghiệp này

Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Trường Đạihọc Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nói chung, các thầy, cô giáo trong khoaQuản lý đất đai nói riêng đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo ân cần trong suốt thời gian emhọc tập tại trường; trong đó đặc biệt là cô giáo - Th.s Nguyễn Thị Nga người đãtrực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian em thực hiện chuyên đề

Em xin chân thành cảm ơn UBND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã tạo mọiđiều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu làm chuyên đề tại huyện.Cuối cùng từ đáy lòng mình, em xin kính chúc các thầy, cô giáo và các cô, chúmạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt trong cuộc sống

Em xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 12 tháng 06 năm 2015

Sinh viên

Hoàng Thị Lý Huế

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đô thị hoá là quá trình tất yếu trong phát triển kinh tế - xã hội diễn ra khôngchỉ đối với Việt Nam mà còn đối với tất cả các nước khác trên thế giới, là xu thếtích cực tạo nên động lực mới cho mỗi quốc gia Phụ thuộc vào đặc điểm phát triểncủa từng quốc gia mà quá trình đô thị hóa ở mỗi quốc gia sẽ khác nhau Đất đaitrong giai đoạn này ngoài chức năng vốn có của nó là tư liệu sản xuất đặc biệtkhông thể thay thế, thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bànphân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh

và quốc phòng thì trong thời kỳ này đất đai có thêm những chức năng có ý nghĩaquan trọng là chức năng tạo nguồn vốn và thu hút cho đầu tư phát triển vì quá trình

đô thị hóa hình thành hệ thống cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội, tạo nên đô thị ở nhữngcấp bậc khác nhau Đô thị hóa liên quan hầu hết tới các hoạt động của đời sống xãhội Đi kèm với đô thị hóa là hàng loạt các thay đổi về kết cấu hạ tầng, hệ thốnggiao thông, quy hoạch không gian, mật độ dân cư, phương thức sản xuất và đờisống xã hội…

Quá trình đô thị hóa tất yếu phải gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa đểhình thành các cơ sở, các khu công nghiệp, khu thương mại, dịch vụ và khu dân cưmới Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để đưa đất đai thực sựtrở thành nguồn vốn, nguồn thu hút cho các đầu tư phát triển thì chuyển mục đích

sử dụng đất để xây dựng các khu, cụm công nghiệp, khu đô thị tập trung nhằm nângcao hiệu quả sử dụng đất, xây dựng cơ cấu đất đai hợp lý là con đường hết sức cầnthiết và duy nhất.Việc tích tụ và chuyển đổi trên diện rộng, với quy mô lớn mụcđích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở, du lịch, dịch vụ và các mục đích sản xuấtkinh doanh phi nông nghiệp là quy luật phát triển tất yếu Quá trình đô thị hóa ngàycàng diễn ra mạnh mẽ ở các tỉnh, thành phố nhất là các tỉnh có vị trí địa lý và địahình thuận lợi để phát triển công nghiệp đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sốngkinh tế và văn hóa của người dân, làm biến đổi cả về chiều sâu của xã hội nông thôntruyền thống Ảnh hưởng của việc đô thị hóa, phát triển công nghiệp, xây dựng các

Trang 6

khu, cụm công nghiệp đến đời sống, việc làm của người dân đang là vấn đề đặc biệtđược quan tâm nhất là đối với địa bàn tỉnh Thái Bình nói chung và huyện Vũ Thưnói riêng Là một huyện nằm giáp với thành phố Thái Bình với diện tích tự nhiênkhoảng 19.513,84 ha và dân số khoảng 245.150 người vì vậy huyện Vũ Thư cónhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.Sự hình thành các khu côngnghiệp, khu đô thị, các tuyến đường giao thông là xu thế tất yếu để hòa nhập với sựphát triển của tỉnh Thái Bình nói riêng và đất nước nói chung Đồng thời với quátrình đô thị hóa thì những biến động đất đai trong tiến trình phát triển cũng là mộtvấn đề quan trọng liên quan đến việc sử dụng đất hiệu quả, chính vì những lý do đó

tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện Vũ Thư - Tỉnh Thái Bình”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình đô thị hóa tại huyện Vũ Thư - tỉnhThái Bình

- Sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới việc chuyển đổi mục đích sử dụngđất trên địa bàn huyện Vũ Thư - tỉnh Thái Bình

- Tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao đời sống xã hội trong quátrình đô thị hóa tại huyện Vũ Thư - tỉnh Thái Bình

3 Yêu cầu của đề tài

- Các số liệu điều tra, thu thập phải chính xác, đầy đủ, trung thực, khách quan

- Đánh giá đúng thực trạng quản lý và sử dụng đất ở huyện Vũ Thư - tỉnh TháiBình

- Giải pháp đưa ra phải có tính khả thi, phù hợp với thực tế của huyện Vũ tỉnh Thái Bình

Thư-4 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Đề tài nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn thiết thực nhằm đánhgiá sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện VũThư, đồng thời đưa ra một số giải pháp sử dụng đất hiệu quả, giúp cải thiện kinh tế -

xã hội, cải thiện cuộc sống người dân

Trang 7

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số vấn đề cơ bản về đô thị hóa

Khái niệm, phân loại và chức năng đô thị

* Khái niệm :

Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nôngnghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vaitrò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, củamột tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong huyện, trong tỉnh.[1],[2]

Những đô thị là trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò và chức năng nhiềumặt về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội…

Những đô thị là trung tâm chuyên ngành khi chúng có vai trò chức năng chủyếu về một mặt nào đó như công nghiệp cảng, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối giaothông…

Trong thực tế, một đô thị là trung tâm tổng hợp của một hệ thống đô thị vùngtỉnh nhưng cũng có thể chỉ là trung tâm chuyên ngành của một hệ thống đô thị mộtvùng liên tỉnh hoặc của cả nước

Việc xác định trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trícủa đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định Vùng lãnh thổ của đô thị bao gồmnội thành hay nội thị (gọi chung là nội thị) và ngoại ô hay ngoại thị Các đơn vịhành chính của nội thị bao gồm quận và phường, còn càng đơn vị hành chính ngoại

ô bao gồm huyện và xã

Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nước phụ thuộc vào cấp quản lýcủa đô thị và phạm vi ảnh hưởng của đô thị như đô thị - trung tâm quốc gia; đô thị -trung tâm cấp vùng (liên tỉnh); đô thị - trung tâm cấp tỉnh; đô thị - trung tâm cấphuyện và đô thị trung tâm cấp tiểu vùng (trong huyện)

a, Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động

Lao động phi nông nghiệp của 1 đô thị là lao động trong khu vực nội thànhphố, nội thị xã, thị trấn thuộc các ngành kinh tế quốc dân như công nghiệp, xây

Trang 8

dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư, dịch vụ côngcộng… không thuộc ngành sản xuất nông, lâm, thủy sản.

b, Kết cấu hạ tầng đô thị

Kết cấu hạ tầng đô thị được đánh giá là không đồng bộ khi tất cả các loại côngtrình kết cấu hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị đều được xây dựng, nhưng mỗi loạiphải đạt được tiêu chuẩn tối thiểu từ 70% trở lên so với quy định của Quy chuẩnthiết kế quy hoach xây dựng đô thị

c, Quy mô dân số đô thị

Quy mô dân số đô thị bao gồm số dân thường trú và số dân tạm trú trên 6tháng tại khu vực nội thành phố, nội thị xã và thị trấn

Đối với thành phố trực thuộc Trung ương, dân số đô thị bao gồm dân số khuvực nội thành, dân số của nội thị xã trực thuộc (nếu có) và dân số thị trấn

d, Mật độ dân số

Mật độ dân số là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư của đô thị đượcxác định trên cơ sở quy mô dân số đô thị và diện tích đất đô thị

Mật độ dân số đô thị được xác định theo công thức sau : D = N/S

Trong đó : D là mật độ dân số ( người / km2 )

N là dân số đô thị ( người )

S là diện tích đất đô thị ( km2 )

* Phân loại đô thị

Ở nước ta, theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 củaChính Phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị, đô thị được chia thành cácloại thể hiện ở bảng 1.1:

Trang 9

Bảng 1.1: Phân loại đô thị ở nước ta

Loại đô thị

Số dân và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp

>=15.000người/km2

- Thủ đô, thành phố lớn

- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh

tế-xã hội của cả nước và giao lưu quốc tế

Có 2 đô thị đặc biệt là: Hà Nội, T.p HồChí Minh

Loại I

>=1 triệu người85% lao động phinông nghiệp

12.000người/km2

- Thành phố thuộc Trung ương

- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh

tế-xã hội của một vùng liên tỉnh hoặc của

cả nước

Có 4 đô thị loại I: Hải Phòng, ĐàNẵng, Huế, Nam Định

50 vạn – 1 triệu85% lao động phinông nghiệp

10.000người/km2

- Thành phố thuộc tỉnh

- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh

tế-xã hội của một vùng liên tỉnh hoặc một

số vùng lãnh thổ liên tỉnh

Loại II

80 vạn – 1 triệu80% lao động phinông nghiệp

10.000người/km2

- Thành phố thuộc Trung ương

- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh

tế-xã hội của một vùng liên tỉnh hoặc một

số lĩnh vực đối với cả nước

30 vạn – 50 vạn80% lao động phinông nghiệp

8.000người/km2

- Thành phố thuộc tỉnh

- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh

tế-xã hội của vùng liên tỉnh hoặc một sốlĩnh vực đối với cả nước

Loại III 75% lao động phi15 vạn – 30 vạn

nông nghiệp

6.000người/km2

- Thành phố thuộc tỉnh

- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh

tế-xã hội của một vùng trong tỉnh hoặcvùng liên tỉnh

Loại IV

5 vạn – 15 vạn70% lao động phinông nghiệp

4.000người/km2

- Thị xã

- Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh

tế-xã hội của một vùng trong tỉnh hoặcmột số lĩnh vực đối với một tỉnh

Loại V 4.000 người – 5 vạn65% lao động phi

nông nghiệp

2.000người/km2

Trang 10

III có thể quy định tối thiểu từ 8 vạn người, đô thị loại IV từ 2 vạn người và đô thịloại V là 2000 người.

* Chức năng của đô thị

Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các chức năng khácnhau, nhìn chung đô thị có mấy chức năng chủ yếu sau: [1]

- Chức năng kinh tế: Đây là chức năng chủ yếu của đô thị Sự phát triển kinh

tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán Chínhyêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và cơ

sở hạ tầng tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hoá Tậptrung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là thợ thuyền và gia đình của họtạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị

- Chức năng xã hội: Chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng vớităng quy mô dân cư đô thị Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại là những vấn đềgắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường Chức năng xã hội ngày càngnặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y

tế, đi lại thay đổi

- Chức năng văn hoá: Ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giải trícao Do đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trungtâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn

- Chức năng quản lý: Tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mụctiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, vừa nângcao khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chínhđáng của cá nhân Do đó chính quyền địa phương phải có pháp luật và quy chế quản

lý về đô thị

* Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Đô thị thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, thương mại, văn hoácủa xã hội; là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹthuật và văn hoá

Trang 11

Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọngtrong quá trình phát triển kinh tế, là điều kiện cho giao thương và sản xuất pháttriển, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hóa nhanh chóng Đô thị tối ưu hoá việc

sử dụng năng lượng, con người và máy móc, cho phép vận chuyển nhanh và rẻ, tạo

ra thị trường linh hoạt, có năng suất lao động cao Các đô thị tạo điều kiện thuận lợiphân phối sản phẩm và phân bố nguồn nhân lực giữa các không gian đô thị, ven đô,ngoại thành và nông thôn Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo ra thu nhập quốcdân của cả nước

Đô thị luôn phải giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển, dẫn dắt các cộng đồngnông thôn đi trên con đường tiến bộ và văn minh

1.1.2 Đô thị hóa

* Khái niệm đô thị hoá

Một trong những vấn đề nổi bật của sự phát triển thế giới ngày nay là sự giatăng nhanh chóng số lượng và quy mô các đô thị, trong đó tập trung các hoạt độngchủ yếu của con người, nơi diễn ra cuộc sống vật chất, văn hóa và tinh thần của một

bộ phận dân số Các đô thị chiếm vị trí ngày càng to lớn trong quá trình phát triển

xã hội

Đô thị hóa là quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống đô thị củacác nhóm dân cư Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác động đến đô thịhóa cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong các điều kiện mới mà biểu hiện tậptrung là sự thay đổi cơ cấu dân cư,cơ cấu lao động

Đô thị hóa nông thôn là xu hướng bền vững có tính quy luật, là quá trình pháttriển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn (cách sống, hình thứcnhà cửa, phong cách sinh hoạt…) Thực chất đó là tăng trưởng đô thị theo hướngbền vững

Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của đô thị vànông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịchvụ… Do vậy, đô thị gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 12

Tóm lại, đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hìnhthành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đờisống.

Khi đánh giá về đô thị hóa người ta thường sử dụng tiêu chí mức độ đô thịhóa: Mức độ đô thị hóa là tỷ lệ giữa dân số đô thị trên tổng dân số

* Tính tất yếu và đặc trưng của đô thị hoá

a, Tính tất yếu của đô thị hóa

Bất cứ một quốc gia nào, dù là phát triển hay đang phát triển, khi chuyển biến

từ nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp bằng con đường côngnghiệp hóa thì đều gắn liền với đô thị hóa Trong lịch sử cận đại, đô thị hóa trướchết là hệ quả trực tiếp của quá trình công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa và sau này làkết quả của quá trình cơ cấu lại các nền kinh tế theo hướng hiện đại hoá: tăng tỷtrọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệptrong cơ cấu và khối lượng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Nhìn chung, từ góc độkinh tế, đô thị hóa là một xu hướng tất yếu của sự phát triển

Như vậy, đô thị hóa là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm tìnhhình chung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sử, toàn cầu vàkhông thể đảo ngược của sự phát triển xã hội ĐTH là hệ quả của sức mạnh côngnghiệp và trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới

b, Đặc trưng của đô thị hóa

Đô thị hóa là hiện tượng mang tính toàn cầu và có những đặc trưng chủ yếusau đây :

Một là, số lượng các thành phố, kể cả các thành phố lớn tăng nhanh, đặc biệt

là thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai

Hai là, quy mô dân số tập trung trong mỗi thành phố ngày càng càng lớn, sốlượng thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều

Ba là, việc hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địalý,liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các khu vực đô thị

Trang 13

Thông thường vùng đô thị bao gồm một vài thành phố lớn và xung quanh chúng làcác thành phố nhỏ vệ tinh.

Bốn là, dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh do quá trình di dân từ nôngthôn ra thành thị, đang làm thay đổi tương quan dân số giữa thành thị và nông thôn,nâng cao tỷ trọng dân số thành thị trong tổng dân số

Năm là, mức độ đô thị hóa biểu thị trình độ phát triển xã hội nói chung, song

có đặc thù riêng cho mỗi nước Đối với các nước phát triển, đô thị hóa diễn ra chủyếu theo chiều sâu, chất lượng cuộc sống ở các thành phố ngày càng hoàn thiện.Trong các nước đang phát triển, tốc độ đô thị hóa rất cao, đặc biệt trong các thập kỷgần đây nhưng chất lượng đô thị hóa chưa cao Quá trình đô thị hóa diễn ra theochiều rộng đang đặt ra nhiều vấn đề khó khăn và cần giải quyết như vấn đề đất đai,thất nghiệp, nghèo đói, ô nhiễm môi trường và tệ nạn xã hội

* Quan điểm về đô thị hoá

Công nghiệp hoá và cùng với nó là đô thị hóa trở thành xu thế chung của mọiquá trình chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp.Vấn đề quan trọng đặt ra là làm gì và bằng cách nào để phát huy tối đa mặt tích cựccủa đô thị hoá, đồng thời hạn chế và đi đến thủ tiêu mặt tiêu cực của nó Điều nàycũng đồng nghĩa với việc quá trình đô thị hoá phải gắn liền với khái niệm “Pháttriển bền vững”

Như vậy, đô thị hóa phải vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vừa phải đảm bảomôi trường tự nhiên, xã hội trong lành, sự công bằng và tiến bộ xã hội Tuy rằngtăng trưởng kinh tế là yếu tố cần thiết và quan trọng bậc nhất của quá trình đô thịhóa song nó vẫn chỉ là một nhân tố, một phương tiện hơn là một mục tiêu tốithượng Mục tiêu của đô thị hóa là phải không ngừng nâng cao chất lượng cuộcsống vật chất và tinh thần của con người, tức là phát triển đô thị lấy con người làmtrọng tâm

* Mối quan hệ giữa quá trình đô thị hoá và quá trình công nghiệp hoá

Đô thị hóa là một quá trình song song với sự phát triển công nghiệp hóa vàcách mạng khoa học kỹ thuật Quá trình đô thị hóa phản ánh tiến trình công nghiệp

Trang 14

hóa, hiện đại hóa trong nền kinh tế thị trường Không ai phủ nhận rằng một quốc giađuợc coi là công nghiệp hóa thành công lại không có tỷ lệ cư dân đô thị ngày càngchiếm vị trí áp đảo so với cư dân nông thôn Đó cũng là lý do mà kinh tế học pháttriển đã coi sự gia tăng tỷ lệ cư dân đô thị như một trong những chỉ tiêu chủ yếuphản ánh tình trạng “có phát triển” của nền kinh tế chậm phát triển đang tiến hànhcông nghiệp hóa hiện nay Đô thị hóa trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trìnhcông nghiệp hóa và sau này là hệ quả của quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theohướng hiện đại hóa: tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷtrọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng tổng sản phẩm quốc nội(GDP)

Đồng thời, trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,

đô thị hóa giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội,văn hoá, đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường

Đô thị hóa xúc tiến tối đa công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Sự nghiệpcông nghiệp hóa - hiện đại hóa muốn thực hiện thành công cần phải chuyển đổi cănbản cơ cấu kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp với kỹ thuậtcao, thay đổi cơ cấu lao động Đô thị hóa sẽ đánh dấu giai đoạn phát triển mới củatiến trình công nghiệp hóa, trong đó, công nghiệp và dịch vụ trở thành lĩnh vực chủđạo của nền kinh tế, không chỉ xét về phương diện đóng góp tỷ trọng trong tổng sảnphẩm quốc nội (GDP) mà còn cả về phương diện phân bố nguồn lao động xã hội

* Tác động của đô thị hoá

- Mặt tích cực:

Một là, đô thị hóa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sản xuất hàng hóa và dịch vụthường đạt hiệu quả cao tại những đô thị lớn - nơi có quy mô mật độ dân số tươngđối lớn với nguồn lao động dồi dào, có quy mô hoạt động kinh tế đủ lớn do cácdoanh nghiệp tập trung đông, có hệ thống phân phối rộng khắp trên một không gian

đô thị nhất định

Hai là, đô thị hóa đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hóa – hiện đại hóa Trong quá trình đô thị hóa, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi

Trang 15

theo hướng giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỷ trọng củakhu vực công nghiệp và dịch vụ.

Ba là, đô thị hóa cải tạo kết cấu hạ tầng Xu hướng đô thị hóa tạo ra sự tậptrung sản xuất công nghiệp và thương mại, đòi hỏi phải tập trung dân cư, khoa học,văn hóa và thông tin Do đó mà hệ thống giao thông vận tải, năng lượng, bưuchính viễn thông và cấp thoát nước cũng sẽ được cải tiến về quy mô và chất lượng Bốn là, đô thị hóa nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ Các đôthị ngày càng áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật và kỹ năng quản lý tổ chức sản xuấthiện đại, làm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm Trong sảnxuất nông nghiệp, quá trình đô thị hóa cung cấp những cơ sở kỹ thuật cần thiết chongười nông dân như thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa để làmtăng năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng tốt, đảm bảo

an toàn lương thực, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến và thị trường trongngoài nước

Năm là, đô thị hóa góp phần cải thiện đời sống của dân cư đô thị và các vùnglân cận Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao mà các đô thị có thể tạo ranhiều cơ hội việc làm mới cho người dân, góp phần quan trọng trong việc nâng caothu nhập cho họ Khi mức thu nhập bình quân người/ tháng tăng lên thì nhu cầu chitiêu đời sống của dân cư cũng tăng nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu tiêu dùng cánhân Điều đó cho thấy đô thị hóa làm mức sống của dân cư được cải thiện đáng kể,góp phần vào việc thực hiện xóa đói giảm nghèo

Sáu là, đô thị hóa cũng đem lại một số tiến bộ về mặt xã hội đó là: nâng tuổithọ trung bình, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, tăng tỷ

lệ dân cư dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa,

- Mặt tiêu cực:

Bên cạnh những mặt mạnh của đô thị hóa như trên thì đô thị hóa cũng kéotheo hàng loạt vấn đề tiêu cực khác, đó là:

Trang 16

Thứ nhất, đô thị hóa thu hẹp diện tích đất nông nghiệp Quá trình đô thị hóanhanh đã làm cho nhu cầu về sử dụng đất chuyên dùng xây dựng hệ thống cơ sở hạtầng và đất đô thị tăng lên rất nhanh

Thứ hai, đô thị hóa khoét sâu hố phân cách giàu nghèo Quá trình đô thị hóanhanh đã làm cho hố phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong đô thị,giữa nông thôn và thành thị trở nên trầm trọng hơn

Thứ ba, đô thị hóa gia tăng tình trạng di dân Chính sự chênh lệch về mứcsống, điều kiện sống, khả năng tìm kiếm việc làm và cơ hội tăng thu nhập đã vàđang được coi là những nguyên nhân kinh tế quan trọng nhất thúc đẩy một bộ phậnlớn người dân rời khỏi khu vực nông thôn để di dân tới thành thị

Thứ tư, đô thị hóa môi trường bị ô nhiễm Chất lượng môi trường đô thị bị suythoái khá nặng nề do mật độ dân số tập trung cao, sản xuất công nghiệp phát triểnmạnh làm phát sinh một lượng chất thải, trong đó chất thải gây hại ngày càng giatăng; bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường và tiếng ồn

Thứ năm, đô thị hóa phát sinh các tệ nạn xã hội Đây chính là mặt trái của đờisống đô thị hay của cả quá trình đô thị hóa Trong khi nhiều khía cạnh tốt đẹp củavăn hóa truyền thống bị mai một, thì lối sống lai căng, không lành mạnh lại đangngự trị trong lối sống đô thị hiện nay Những tệ nạn xã hội phổ biến nhất hiện nayđều được phát sinh và phát triển tại các trung tâm đô thị lớn

Tóm lại, trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước thì quátrình đô thị hóa ngày càng gia tăng Vậy chúng ta phải làm thế nào để quá trình đôthị hóa phát triển lành mạnh và bền vững Tăng trưởng kinh tế do quá trình này đemlại phải được chú trọng đồng thời việc phát triển văn hóa, lấy việc biến động nguồnnhân lực con người làm trọng tâm

1.2 Thực tiễn quá trình đô thị hóa ở Việt Nam và ở huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

1.2.1 Tình hình quá trình đô thị hóa ở Việt Nam

Việt Nam vốn là một quốc gia nông nghiệp, đô thị hóa ở Việt Nam đã trảiqua mỗi giai đoạn đô thị, bộ mặt đô thị Việt Nam lại có những biến đổi nhất định

Trang 17

Trải qua mỗi giai đoạn khác nhau hệ thống các đô thị mang những đặc điểm khácnhau

* Dưới thời nhà Nguyễn

Đầu thế kỷ XVIII khi các nước châu Âu có nền kinh tế phát triển thì ViệtNam vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu Những điều luật phong kiến ngặt nghèo

đã kìm hãm sự phát triển của đất nước, kể cả trong lĩnh vực kiến trúc, quy hoạch vàxây dựng Dân số đô thị lúc bầy giờ chỉ chiếm khoảng 1% dân số cả nước

Trang 18

* Thời kỳ trước năm 1954

Nửa đầu thế kỉ XX, người Pháp đã mở đầu cho quá trình đô thị hóa ViệtNam thông qua việc thiết lập một mạng lưới đô thị - trung tâm hành chính thươngmại và công nghiệp khai thác ở cả 3 miền Bắc - Trung - Nam Tuy vậy, tốc độ tăngdân số mới đạt 7,9% năm 1936; 20 năm sau 1995 mới đạt 11%

* Thời kỳ năm 1955-1975

Những năm thập kỷ 60, miền Bắc Việt Nam đi vào quá trình xây dựng Xãhội chủ nghĩa Công nghiệp hóa đã có tác động đến việc gia tăng quá trình đô thịhóa Năm 1965, tỉ lệ đô thị hóa đạt tới 17,2% Từ giữa những năm 1960 đến năm

1975, cuộc chiến xảy ra ác liệt, diễn biến hai quá trình đô thị hóa ở miền Bắc vàmiền Nam trong đó quá trình thứ hai chiếm ưu thế và làm tăng giá trị tỷ lệ đô thịhóa của cả nước lên đến 21,5% vào năm 1975

* Thời kỳ năm 1975 đến nay

Dưới tác động của công cụ đổi mới, cải tổ nền kinh tế theo định hướng thịtrường thì cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ cấu lao động, nghề nghiệp cũng nhưnhững khuôn mẫu của đời sống đô thị đã và đang diễn ra những biến đổi quantrọng Quá trình đô thị hóa đã có những chuyển biến nhanh hơn, đặc biệt trongnhững năm gần đây tình hình công nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ Tốc độ đô thị hóa

ở Việt Nam đang diễn ra khá nhanh 18,5% năm 1989; 20,5% năm 1997; 23,6% năm1999; 25% năm 2004 Về số lượng đô thị, năm 1990, cả nước mới có khoảng 500

đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã có 703 đô thị Tuy vậy ĐTH ở Việt Nam còn ởmức thấp so với khu vực và trên thế giới

1.2.2 Tình hình quá trình đô thị hóa ở huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình

* Tình hình quá trình đô thị hóa ở tỉnh Thái Bình

- Trong những năm qua quá trình đô thị hóa tại tỉnh Thái Bình phát triểnngày một mạnh mẽ khi có nhiều lao động tới làm việc tại các khu công nghiệp tậptrung Bằng chứng cho thấy tốc độ tăng trưởng dân số nhanh chóng và mở rộngkhông gian đô thị tại thành phố Thái Bình, huyện Tiền Hải, huyện Quỳnh Phụ,huyện Đông Hưng, huyện Vũ Thư…nơi các khu công nghiệp lớn hoạt động có hiệu

Trang 19

quả Tuy nhiên đô thị hóa diễn ra nhanh kéo theo nhiều hệ lụy về vấn đề môitrường, nhà ở, phúc lợi xã hội…

- Hệ thống đô thị tại tỉnh Thái Bình phát triển ngày càng mạnh mẽ, phân bốtương đối đồng đều trên cả tỉnh Đô thị đã góp phần quan trọng đưa Thái Bình thoátkhỏi ngưỡng nghèo để trở thành tỉnh có thu nhập trung bình thấp, thành phố TháiBình từ đô thị loại III lên đô thị loại II ngày 12 tháng 12 năm 2013

- Phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa đạt 22,3% vào năm 2015 và khoảng 40% vào năm2020

+ Xây dựng 4 đô thị trung tâm vùng cấp tỉnh: Thị trấn Diêm Điền (TháiThụy), Khu du lịch Đồng Châu và khu du lịch Cồ Vành (Tiền Hải), thị trấn HưngNhân (Hưng Hà), thị trấn An Bài (Quỳnh Phụ) lên đô thị loại V

+ Quy hoạch đô thị trung tâm cấp huyện (thị trấn): Các thị trấn Quỳnh Côi,

An Bài, Đông Hưng, Tiên Hưng, Thanh Nê, Vũ Quý, Hưng Hà, Hưng Nhân, TiềnHải, Nam Trung, Thái Ninh, Diêm Điền, Vũ Thư

+ Nâng cấp một số xã thành đô thị loại V trực thuộc huyện: Các xã: Đông

Đô, Thái Phương (Hưng Hà); xã Thụy Xuân (Thái Thụy); các xã An Lễ, QuỳnhGiao (Quỳnh Phụ); xã Vũ Hội (Vũ Thư)

- Tiến hành xây dựng hạ tầng các thị trấn, thị tứ các khu vực nông thôn theohướng đô thị hóa Bố trí hợp lý hệ thống hạ tầng xã hội như: Khu vui chơi giải trí,thể thao, cây xanh, y tế, giáo dục, xử lý rác thải, nước thải

- Diện mạo đô thị đang dần khởi sắc Hệ thống hạ tầng đô thị được cải thiệnnhiều, nhất là đường sá, cầu vượt sông, cấp nước, cấp điện và chiếu sáng công cộng.Nhiều khu đô thị mới đang được xây dựng

* Tình hình quá trình đô thị hóa ở huyện Vũ Thư

Vũ Thư được xác định là đô thị nam sông Hồng của tỉnh Thái Bình cùng vớiNam Định, Hải Phòng, Vũ Thư cùng với thành phố Thái Bình sẽ là khu vực đô thịđộng lực và trung tâm hành chính và kinh tế trong tương lai gần của tỉnh Thái Bình.Nhìn chung Vũ Thư đang dần trở thành đô thị có dáng vẻ hiện đại, ngoài khuvực đô thị trung tâm là thị trấn Vũ Thư, trên địa bàn huyện Vũ Thư còn có các khu

Trang 20

có các hoạt động dịch vụ thương mại tương đối phát triển, là nơi giao lưu hàng hóa

của nhiều cụm dân cư và vùng lân cận, nó mang sắc thái của một đô thị nhỏ như:

Búng (xã Việt Hùng); An Để (xã Hiệp Hòa); Ô Mễ (xã Tân Phong); Cọi Khê (xã

Vũ Hội); Bồng Tiên (xã Vũ Tiến); Tân Đệ (xã Tân Lập); Thái Hạc (xã Việt Thuận);Thanh Trai (xã Minh Lãng) Tuy nhiên các khu vực này vẫn còn một số hạn chế về

cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư đầy đủ

- Phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa đạt 20,2% vào năm 2015 và khoảng 35% vào năm2020

- Để xây dựng thị trấn Vũ Thư thành một đô thị văn minh hiện đại cần phảitiếp tục mở rộng quy mô diện tích và không gian thị trấn, nâng cấp cơ sở hạ tầng(giao thông, điện, nước, công trình văn hóa phú lợi công cộng…, đặc biệt quan tâmđến vấn đề bảo vệ môi trường, xử lý triệt để, kịp thời các chất thải sinh hoạt trong

đô thị)

Trang 21

CHƯƠNG II : ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Quá trình đô thị hoá tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình

- Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụngđất

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình

- Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện kinh tế - xã hội

- Đánh giá chung

2.3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

2.3.3 Thực trạng quá trình đô thị hóa tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình

2.3.4 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Ảnh hưởng của đô thị hóa tới việc thay đổi diện tích các loại đất thông quaviệc chuyển đổi mục đích sử dụng đất

- Ảnh hưởng của đô thị hóa tới cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế của huyện

Trang 22

2.3.6 Một số giải pháp nhằm làm giảm ảnh hưởng tiêu cực của quá trình đô thị hóa đến việc sử dụng đất và nâng cao đời sống người dân trong quá trình đô thị hóa.

- Giải pháp về chính sách

- Giải pháp về lao động và việc làm

- Giải pháp về môi trường

- Giải pháp nhằm góp phần nâng cao đời sống xã hội của người dân trong quátrình đô thị hóa

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

Điều tra, thu thập các số liệu, tài liệu, bản đồ có liên quan đến điều kiện tựnhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch sử dụngđất và các tài liệu, số liệu khác có liên quan đến đô thị hóa của huyện Vũ Thư, tỉnhThái Bình

2.4.2 Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu, số liệu

Đây là phương pháp tổng hợp, phân tích các tài liệu và số liệu thu thập đượctại địa phương

2.4.3 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là so sánh giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa yêu cầu đặt

ra của đề tài và điều kiện cụ thể của địa phương xem có phù hợp không Tiến hành

so sánh các số liệu đất đai từ đó phân tích sự biến động đất đai qua các giai đoạnliên quan để thấy được quá trình đô thị hóa ảnh hưởng như thế nào đến các biếnđộng đất đai

2.4.4 Phương pháp kế thừa

Kế thừa những số liệu, tài liệu của báo cáo đã được phê duyệt đồng thời bổ

sung những vấn đề, số liệu mới phù hợp với nội dung nghiên cứu

Trang 23

CHƯƠNG III : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Vũ Thư

Huyện Vũ Thư nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Thái Bình, có toạ độ địa lý từ

20o20’00’’ - 20o32’00’’ độ Vĩ Bắc và 106o10’00’’ - 106o22’00’’ độ Kinh Đông Địagiới hành chính của huyện như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Hưng Hà và Đông Hưng

- Phía Tây và Tây Nam giáp Thành phố Nam Định (tỉnh Nam Định)

- Phía Nam giáp huyện Xuân Trường (tỉnh Nam Định)

- Phía Đông giáp thành phố Thái Bình và huyện Kiến Xương – Thái Bình

Trang 24

Huyện Vũ Thư có vị trí địa lý khá thuận lợi với ưu thế là cửa ngõ phía Tây củatỉnh Thái Bình, giữa 2 trung tâm kinh tế lớn: thành phố Thái Bình và Thành phốNam Định Nằm trên tuyến đường từ Thủ đô Hà Nội theo quốc lộ 1, quốc lộ 21 vềNam Định đến Thái Bình, tiếp nối với thành phố Hải Phòng theo tuyến quốc lộ 10.Trên địa bàn huyện có cầu Tân Đệ đã được xây dựng bắc qua sông Hồng, đườngquốc lộ 10 đã và đang tiếp tục được nâng cấp chạy qua trung tâm thị trấn huyện lỵ

Vũ Thư, sông Hồng chảy theo ranh giới phía Tây Nam và sông Trà Lý chảy theoranh giới phía Bắc huyện Vị trí địa lý của huyện có ưu thế góp phần đưa huyện VũThư trở thành vùng kinh tế thuận lợi cả về đường bộ và đường thủy, tạo điều kiệnthuận lợi trong việc giao lưu trao đổi hàng hóa với các tỉnh đồng bằng sông Hồngnói riêng và các tỉnh phía Nam với tam giác tăng trưởng Hà Nội, Hải Phòng vàQuảng Ninh Ngoài ra còn là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu khoa học côngnghệ, nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương

* Địa hình, địa mạo

Vũ Thư là huyện đồng bằng thuộc vùng châu thổ sông Hồng, địa hình củahuyện khá bằng phẳng, độ cao tính trung bình từ 1 - 1,5m so với mực nước biển.Nhìn chung địa hình có dạng sống trâu, dải đất thấp chạy ven sông Hồng và sôngTrà Lý, dải đất cao nằm ở giữa chạy dọc sông Kiến Giang

* Khí hậu

Huyện Vũ Thư nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có 4mùa: xuân, hạ thu đông rõ rệt Mùa hè nóng, ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh khôhanh

- Mùa mưa: bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với đặc trưng là nóng,

ẩm, mưa nhiều Lượng mưa từ 1.100 - 1.500 mm, chiếm 80% lượng mưa cả năm

- Mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa khô có khí hậu lạnh, ít mưa.Hướng gió thịnh hành là gió đông bắc thường gây lạnh đột ngột Nhiệt độ trungbình thấp nhất khoảng 150C, lượng mưa ít, đạt 15 - 20 % lượng mưa cả năm

- Các đặc trưng khí hậu của Vũ Thư bao gồm:

Trang 25

+ Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 - 260C, nhiệt độ trung bình cao nhất là39,20C; nhiệt độ trung bình thấp nhất là 150C; nhiệt độ cao tuyệt đối lên tới trên

390C và nhiệt độ thấp tuyệt đối là 4,10C.Lượng bức xạ mặt trời trung bình nămkhoảng 100 kcal/cm2 Tổng tích ôn khoảng 8.300 - 8.5000C

+ Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500 - 2.000 mm, chủ yếu vào tháng 4đến tháng 10, tập trung nhiều vào các tháng 7,8,9 Lượng mưa chiếm đến 80%lượng mưa cả năm

+ Độ ẩm không khí: độ ẩm không khí trung bình năm dao động từ 85 đến

95% Các tháng có độ ẩm không khí cao là tháng 7 và tháng 8 (95%), thấp nhất vàocác ngày có gió Tây Nam (có khi xuống dưới 30%)

+ Bức xạ mặt trời lớn, số giờ nắng trung bình từ 1.600 - 2.700 giờ/năm, thuậnlợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng và trồng được nhiều vụ trong năm

+ Gió: Gió thịnh hành là gió Đông Nam thổi vào mùa hạ mang theo không khínóng ẩm với tốc độ gió trung bình từ 2 - 5 m/giây

Nhìn chung, khí hậu Vũ Thư có nhiều thuận lợi cho sự phát triển các loại câytrồng trong nông nghiệp, vật nuôi phát triển quanh năm theo hướng thâm canh tổnghợp đạt hiệu quả cao Nhưng do đặc trưng khí hậu nóng ẩm theo mùa, là môi trườngphát sinh côn trùng, sâu bệnh, cùng với sự chuyển đổi khí áp, trong lục địa và ngoàiđại dương sinh ra bão và gió xoáy Trung bình mỗi năm xảy ra từ 2 - 3 cơn bão kèmtheo mưa lớn, gây tổn thất và giảm năng suất mùa màng, hư hỏng tài sản các côngtrình, thậm chí có năm ảnh hưởng tới sức khỏe, tính mạng con người Do đó, đòihỏi có biện pháp chủ động phòng tránh úng, hạn, nóng, lạnh, thiên tai và dịch bệnh

* Thủy văn

Trên địa bàn huyện Vũ Thư có 2 sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Trà

Lý, chế độ thủy văn chịu ảnh hưởng của nguồn nước từ thượng nguồn và ảnh hưởngchế độ nhật triều của biển

- Sông Hồng chảy qua phía Tây Nam của huyện, có chiều dài 34 km baoquanh 15 xã, là ranh giới tự nhiên giữa huyện Vũ Thư với tỉnh Nam Định

Trang 26

- Sông Trà Lý là chi lưu của sông Hồng, chảy qua huyện ở phía Bắc, có chiềudài 23 km bao quanh 8 xã, sông Trà Lý là ranh giới tự nhiên giữa huyện Vũ Thư vớicác huyện Hưng Hà và Đông Hưng.

Ngoài 2 sông chính, trên địa bàn huyện còn có sông Kiến Giang, sông Búng,sông Cự Lâm, sông Lạng, sông Bạch và hệ thống kênh mương dày đặc Đặc điểmchung của các sông ngòi của huyện Vũ Thư có các nguồn nước tưới dồi dào cả vềtổng lượng và chất lượng, có thể khai thác thỏa mãn yêu cầu tưới, đặc biệt có thểlấy nước phù sa tự chảy vừa giảm chi phí sản xuất, vừa tăng độ phì của đất

* Các nguồn tài nguyên thiên nhiên

a, Tài nguyên đất:

Huyện Vũ Thư có diện tích tự nhiên 19.513,84 ha Xã có diện tích lớn nhất

là Việt Hùng: 961,35 ha Thị trấn Vũ Thư có diện tích nhỏ nhất: 118,59 ha Bìnhquân diện tích tự nhiên của huyện/đầu người là: 1.185m2/người Bình quân đất nôngnghiệp/đầu người: 583 m2/người, một số xã như Tân Lập, Đồng Thanh chỉ có 400

m2/người

Trong tổng số quỹ đất đai của huyện, đã có đến hơn 99% được sử dụng chonông nghiệp và phi nông nghiệp Còn lại khoảng 0,8% là đất chưa sử dụng.Theo kếtquả điều tra thổ nhưỡng và xây dựng bản đồ đất tỉnh Thái Bình năm 1982, tỷ lệ1/50.000, đất của huyện Vũ Thư được chia làm 2 nhóm đất chính là:

- Nhóm đất phù sa (P):

Có tổng diện tích 11.440,5 ha; chiếm trên 93% tổng diện tích đất điều tra, trênnền địa hình từ vàn cao đến vàn thấp phân bố ở tất cả các xã trong địa bàn huyện.Đây thuộc loại nhóm đất tốt được bồi tụ phù sa của hệ thống sông Hồng với đặcđiểm đất thường có màu nâu tươi, độ PH trung tính, ít chua, PHkcl khoảng 5,5 và cóhướng tăng dần theo chiều sâu của đất Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ, thịt trungbình đến thịt nặng, hàm lượng các chất hữu cơ xếp vào loại khá giàu từ 2,5 - 3%;đạm, lân, kali đều ở mức trung bình đến khá, N (0,15 - 0,25), P2O5 < (0,08 - 0,12%),K2O (1,5 - 2,5%) Dung tích hấp thu khá cao thường gặp từ 25 - 29 lđl/100g đất

Trang 27

khô Nhóm đất phù sa của huyện bao gồm Đất phù sa được bồi đắp hàng năm vàĐất phù sa không được bồi đắp hàng năm.

- Nhóm đất cát (C):

Có diện tích 723,58 ha, phân bố chủ yếu trên nền địa hình cao, tập trung chủyếu ở các xã Minh Quang, Trung An, Song An, Tân Hòa, Minh Khai, Song Lãng,Hoà Bình, Tự Tân, Minh Lãng, Dũng Nghĩa… Đặc điểm chung của nhóm đất cát là

có lượng hạt thô lớn thành phần cơ giới nhẹ, dung tích hấp thu thấp, khả năng giữnước, giữ phân kém, các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu nghèo

Nhìn chung, đất đai của huyện được bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồngnên màu mỡ, phì nhiêu, thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển với năngsuất cao, vùng đất có nền trũng thuận lợi cho chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản,được thể hiện trong quá trình thâm canh của nhân dân qua nhiều kỳ

b, Tài nguyên nước:

Nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện được lấy từhai nguồn:

Nguồn nước mặt: Nước mặt chủ yếu là nguồn nước của các sông, hồ Vũ Thư

có 2 sông lớn là sông Hồng và sông Trà Lý, cùng với hệ thống sông đào và hệ thốngkênh mương dày đặc, kết hợp với hệ thống đầm, hồ, ao phong phú Do đó nguồnnước mặt của huyện khá dồi dào, cung cấp đầy đủ cho sinh hoạt của nhân dân vànước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

Nguồn nước ngầm: Việc khai thác sử dụng mới ở mức hạn chế để phục vụnước sạch ở nông thôn Trong tương lai nguồn nước ngầm để phục vụ nước sạch ởnông thôn và được khai thác nhiều hơn để phục vụ nhu caaug hàng ngày của nhândân.Về cơ bản chất lượng nước ngầm khá tốt, trong tương lai, cần đầu tư trang thiết

bị để sử lý một số điểm hạn chế về nước ngầm trên địa bàn huyện nhằm khai thácnguồn nước ngầm có hiệu quả hơn để phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ngàycàng cao của nhân dân

Trang 28

c, Tài nguyên nhân văn.

Vũ Thư là vùng đất được hình thành muộn trong vùng đồng bằng châu thổsông Hồng (cách đây khoảng 2.000 năm), trải qua nhiều thế kỷ đấu tranh với giặcngoại xâm, cải tạo chinh phục thiên nhiên, nhân dân huyện Vũ Thư đã góp phầncông sức to lớn cùng với nhân dân tỉnh Thái Bình xây dựng nên hình thái đặc sắccủa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù phú Với truyền thống cần cù, sáng tạo trong laođộng sản xuất, anh dũng, kiên cường, yêu nước trong đấu tranh chống giặc ngoạixâm, nhân dân Vũ Thư đã viết lên trang sử vàng son trong sự nghiệp giải phóng dântộc, xây dựng quê hương đất nước

Vũ Thư là huyện có nhiều danh nhân tiêu biểu ở các thời kỳ Đỗ Lý Khiêm,Doãn Uẩn, Doãn Khuê (xã Song Lãng), Hoàng Công Chất, Phạm Tư Trực, NguyễnXuân Huyên (xã Nguyên Xá), Nguyễn Doãn Cử (xã Duy Nhất), Bùi Mộc Đạc (xãTân Bình)…

Vũ Thư có nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc với loại hình hát múa, trò chơi,trong đó nổi bật nhất là làng vườn Bách Thuận, hội thi pháo đất Hội thi pháo đất có

ở nhiều nơi trên đất Thái Bình, nhưng nổi tiếng nhất là ở hội Đền Lạng, xã SongLãng Đền Lạng là nơi thờ Đỗ Đô - 1 thiền sư nổi tiếng thời Lý Huyện còn có các

lễ hội đã được Sở Văn hóa thông tin đưa vào chương trình bảo tồn và phát huy cácgiá trị văn hóa phi vật thể là: Hội chùa Keo (xã Duy Nhất) và Hội sáo đền (xã SongAn)

Ngoài ra huyện Vũ Thư còn có làng thêu Minh Lãng với sản phẩm thêu độcđáo Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược,

Vũ Thư đã có gần 6 vạn người tham gia trong đó 33.596 người là bộ đội, 1.222người là thanh niên xung phong… Toàn huyện đã được công nhận 5.800 liệt sỹ,phong tặng 4 anh hùng lực lượng vũ trang, 2 anh hùng lao động, 288 Bà mẹ ViệtNam anh hùng, gần 3.800 thương binh, bệnh binh

Huyện Vũ Thư có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, là nơi có những côngtrình văn hóa được xếp hạng như công trình kiến trúc chùa Keo nổi tiếng được xâydựng từ thế kỷ XI triều Lý, đình Phương Cáp (xã Hiệp Hòa); chùa Từ Vân, từ

Trang 29

đường Nguyễn Kim, đình - chùa Bách Tính (xã Bách Thuận) , nhà lưu niệm Bác

Hồ (xã Tân Hòa) và 22 di tích văn hóa được Trung ương và tỉnh cấp bằng di tíchlịch sử văn hóa

Đây chính là những lợi thế cho Vũ Thư trong tiềm năng phát triển du lịch dịch vụ

-* Thực trạng môi trường

Cảnh quan của Vũ Thư mang đặc trưng cơ bản của vùng đồng bằng Bắc Bộ,với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Địa hình bằng phẳng, sông ngòi chằng chịt,đồng ruộng và làng xóm phân bố hài hòa, dân cư đông đúc, hạ tầng phát triển Về

cơ bản, thực trạng môi trường của huyện Vũ Thư còn tốt, không khí trong lành, ít bị

ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp, cũng như hoạt động sản xuất của con người

Tuy nhiên, thực trạng môi trường trên địa bàn huyện trong nhiều năm qua,trong sản xuất nông nghiệp, người nông dân có thói quen sử dụng nhiều hóa chấttrong sản xuất nông nghiệp nên dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất làm chomôi trường đất, nước trong sản xuất nông nghiệp ít nhiều đã bị ô nhiễm, đất sảnxuất nông nghiệp một số tiểu vùng trên địa bàn huyện đã có dấu hiệu bị bạc màu

Môi trường sống ở các khu dân cư một số khu vực trên địa bàn huỵện, vớitốc độ phát triển đô thị và gia tăng dân số như hiện nay, lượng chất thải sinh hoạttrên địa bàn huyện gia tăng rất nhanh Về cơ bản chất thải rắn, rác thải sinh hoạtkhông mang tính độc hại Tuy nhiên, việc quản lý chất thải rắn này không thực hiệntốt sẽ gây mất vệ sinh, ảnh hưởng đến mỹ quan khu vực

Theo số liệu thống kê, toàn huyện có 72 bãi rác với diện tích 4,56 ha, toànhuyện có 21/30 xã đã thành lập tổ tự quản thu gom rác, rác không được phân loại

mà được dân hoặc đội vệ sinh đổ vào các khu vực đầm trũng hoặc ruộng hoang hóa,bạc màu Theo số liệu thống kê bình quân mỗi xã có lượng rác thải sinh hoạt mỗingày từ 5 – 10 tấn rác, tương đương 8 – 15m3/ngày, tổng lượng rác toàn huyện 1ngày lên đến 125- 130 tấn rác thải sinh hoạt, ngoài ra còn rác thải các khu côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khối lượng rác thải rắn quy đổi lên tới trên 100

Trang 30

tấn/ngày Ngoài ra còn rác thải trong nông nghiệp như vỏ thuốc trừ sâu, thuốc bảo

vệ thực vật, rơm rạ, bèo tây, rác thải y tế vv

Như vậy, vấn đề quy hoạch bảo vệ môi trường cần phải đầu tư kịp thời nhằmbảo vệ môi trường trong toàn huyện bền vững trong tương lai

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

Huyện Vũ Thư bao gồm 29 xã và 1 thị trấn với diện tích tự nhiên là19.513,84 ha, dân số 231.150 người, mật độ dân số 1.185 người/km2, là một huyện

có mật độ dân số trung bình so với các huyện trong tỉnh Thái Bình

Năm qua trong điều kiện chịu tác động của suy thoái kinh tế, nguồn vốn đầu

tư hạn hẹp, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất vẫn khó tiếp cận nguồn vốn và tiêu thụ sảnphẩm, hàng hóa tồn kho lớn, thời tiết không thuận lợi và dịch bệnh ảnh hưởng lớnđến sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh, nhu cầu an sinh xã hội, phúc lợi xãhội, cải thiện môi trường sống và bảo đảm quốc phòng an ninh ngày càng cao trongkhi nguồn lực còn hạn hẹp, Song với sự tập trung chỉ đạo, điều hành của các cấp,các ngành; sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ và nhân dân trong huyện, các mục tiêuphát triển kinh tế xã hội cơ bản tăng

* Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của tỉnh và cả nước, nềnkinh tế của huyện tuy còn khó khăn nhưng đã hoàn thành tốt kế hoạch đề ra, từngbước hội nhập vào cơ chế thị trường, phát huy được tiềm năng, thế mạnh của địaphương Theo báo cáo của ủy ban nhân dân huyện tổng giá trị sản xuất năm 2014ước đạt 6.906,25 tỷ đồng, tăng 8,52% so với cùng kỳ đạt 97,81% kế hoạch (Giá cốđịnh năm 2010) (Tốc độ tăng trưởng đạt mức trung bình, đứng thứ 5 trong tỉnh(Hưng Hà: 7,39%, Kiến Xương: 7,14%, Quỳnh Phụ: 7,03%, Tiền Hải: 9,49%, ĐôngHưng: 9,24%)

Cơ cấu kinh tế chuyển biến khá nhanh, giai đoạn 2010 - 2014, cơ cấu ngành

đã có sự chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng Công nghiệp xây dựng, tăng

từ 39,4% năm 2010, lên đến 45,45% vào năm 2014, nhiều sản phẩm công nghiệp,dịch vụ mới có giá trị kinh tế cao được mở ra và phát triển khá mạnh như các dịch

Trang 31

vụ vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch, vật liệu xây dựng, thêu, chế biến lươngthực Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp có xu hướng giảm từ 37,6% năm

2010, xuống còn 27,6% vào năm 2014, cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp thay đổitheo hướng tập trung phát triển các cây rau màu có giá trị cao như: khoai tây, càchua, bí đao , chăn nuôi theo mô hình trang trại, gia trại được duy trì tốt về sốlượng, nâng cao số lượng và chất lượng

Bảng 3.1 : Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Vũ Thư –

Tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-2014

a, Khu vực kinh tế nông nghiệp

Mặc dù gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh và ảnh hưởng của quá trình

đô thị hoá làm giảm diện tích đất nông nghiệp (diện tích đất nông nghiệp giảm từ12.844,32 ha năm 2010 xuống còn 12.428,93 ha năm 2014), sản xuất nông nghiệptiếp tục phát triển theo hướng giảm tỷ trọng ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngànhchăn nuôi, thuỷ sản Ủy ban nhân dân huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, điềuhành, tổ chức đoàn thể, đã chủ động hỗ trợ kinh phí và tập trung chỉ đạo các xã, cáchợp tác xã, các hộ nông dân tổ chức sản xuất nông nghiệp, khôi phục sản xuất sauúng ngập, đảm bảo ổn định sản xuất Huyện đã có cơ chế hỗ trợ sản xuất nôngnghiệp, tăng cường kiểm tra, đôn đốc các ngành, nên trong những năm qua giá trịsản xuất ngành trồng trọt đạt kết quả cao, cơ cấu giống lúa có nhiều chuyển biếntích cực, chăn nuôi, thủy sản duy trì ở tốc độ phát triển, nên cơ cấu kinh tế nông

Trang 32

nghiệp chuyển biến tích cực Cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành nông nghiệp (trongngành nông nghiệp - thuỷ sản) chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng ngànhtrồng trọt, tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi.

- Trồng trọt

Giá trị sản xuất ngành trồng trọt đạt 1.379,1 tỷ đồng Tổng diện tích gieo trồng26.957ha trong đó vụ đông 4.423ha Lúa xuân đạt 8.398ha, năng suất đạt71,12tạ/ha, sản lượng đath 59.729 tấn Cây màu xuân đạt 3.015ha, cây màu vụ hèđạt 1.381,71ha tăng 434ha so với cùng kỳ Lúa mùa 8.336ha, năng suất ước đạt58,68tạ/ha, sản lượng đạt 48.913tấn giảm 1.68% (xếp thứ 4 toàn tỉnh) Cây màu hèthu 1409,29ha, vụ đông 2013-2014 đến nay đã trồng 5.600ha đạt 80% kế hoạch,tăng 1.177 ha so với cùng kỳ Một số loại cây lâu năm, cây công nghiệp cho giá trịkinh tế ước đạt trên 20 tỷ đồng được phát triển mạnh ở một số xã như Dâu 372ha ởHồng Phong, Hồng Lý, cây cảnh 250 ha, cây hòe 200ha ở Bách Thuận, Tân Lập

- Chăn nuôi, thủy sản

Đến nay, toàn huyện có 20 trang trại (tăng 8 trang trại so với cùng kỳ) và3.500 gia trại Các trang trại, gia trại giữ được phát triển khá Đầu năm dịch bệnh taixanh xuất hiện trên đàn lợn tại xã Vũ Vân, Vũ Đoài song đã được tập trung khoanhvùng dập nhanh nên thiệt hại không đáng kể (dịch bệnh phát sinh ở 29 hộ chăn nuôithuộc 2 xã với tổng số 261 con mắc bệnh được chữa trị theo phương pháp mới đưa trựctiếp vacxin vào ổ dịch, do đó tỷ lệ khỏi bệnh cao 198/261 con đạt 75.86%) Công táctiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm, tiêu độc, khử trùng kiểm soát dịch bệnh đượcthực hiện thường xuyên Huyện đã cấp trên 122.300 liều Vacxin các loại Các xã,thị trấn tổ chức tiêm phòng đúng theo kế hoạch, lịch của huyện (gần 80% đàn giasúc gia cầm được tiêm phòng) Từ quý III/2014 giá các loại thực phẩm tăng hơn sovới cùng kỳ do đó các hộ gia đình tiếp tục tái đàn gia súc, gia cầm chuẩn bị tốtnguồn thực phẩm cung cấp trong dịp cuối năm và tết nguyên đán Thực hiện thíđiểm sử dụng đệm sinh học trong chăn nuôi lợn ở 10 hộ gia đình xã Tự Tân quakiểm tra bước đầu cho kết quả tốt Đàn trâu, bò thời điểm 01/10: 8.314 con, đàn lợn169.065 con tăng 1%, đàn gia cầm 970.234 con tăng 0,2% so với cùng kỳ Giá trị

Trang 33

hoạch Tiếp tục duy trì 1.516 ha nuôi trồng thuỷ sản và phát triển nuôi cá lồng ở xã

Vũ Đoài, Vũ Vân với số lượng 64 lồng Tổng sản lượng thủy sản ước 6.044 tấn, giátrị ước đạt 152,54 tỷ đồng, tăng 8,45% so với 2013, đạt 103,98% kế hoạch

b, Khu vực kinh tế công nghiệp:

Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ước đạt 1.672 tỷ đồng,tăng 9,93% so với năm 2013, đạt 92,46% kế hoạch Sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp phát triển chậm, các doanh nghiệp trong nghề thêu doanh thu giảm,trên 10 doanh nghiệp nghề thêu ngừng hoạt động, tiếp nhận thêm 04 dự án xin đầu

tư vào cụm công nghiệp Thị Trấn và các xã trong đó có 2 dự án đã đi vào hoạt động(Nước giải khát của Tập đoàn Hương Sen, xí nghiệp may Hàn Quốc tại Việt Hùng).Đang chờ hoàn tất các thủ tục và địa điểm xây dựng cho 15 dự án (thuộc lĩnh vựccông nghiệp – tiểu thủ công nghiệp 10 dự án, thuộc lĩnh vực dịch vụ thương mại 5

dự án), 25 làng nghề (theo tiêu chí mới 13 làng nghề) của huyện duy trì hoạt động

ổn định, các làng nghế phát triển tốt như Thanh Hương, Vũ Hội, Minh Lãng, TamQuang

Xây dựng cơ bản ước đạt 808,4 tỷ đồng tăng 24,95% so với cùng kỳ, đạt101,43% kế hoạch Một số công trình trọng điểm do khó khăn về vốn và đang ởtrong giai đoạn chuẩn bị đầu tư nên chưa triển khai, một số dự án, công trình xâydựng lại do tình hình kinh tế khó khăn, tuy nhiên xây dựng nhà trong dân lại pháttriển mạnh đặc biệt là các xã trong khu vực tái định cư giải phóng mắt bằng

Công tác thẩm định hồ sơ thiết kế, dự toán báo cáo kinh tế kỹ thuật được đẩynhanh, ủy ban nhân dân huyện tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai thựchiện các dự án trên địa bàn như : Đường số 1, hệ thống thoát nước, san nền khu dân

cư tái định cư xã Tân Lập, Đường 216; Nâng cấp cải tạo đường từ Quốc lộ 10;Đường chùa Keo-Cổ Lễ, đường Song Lập; đường trục xã Tân Lập, Tự Tân, BáchThuận Khởi công xây dựng với các công trình đã được ghi kế hoạch vốn năm 2013như : Đường 219, đường Đoài-Việt-Vinh giai đoạn III; đường Vũ Tiến giai đoạn 3.Công tác giám sát nhà nước và giám sát cộng đồng được tăng cường chỉ đạo thựchiện

Trang 34

c, Khu vực kinh tế dịch vụ:

Giá trị thương mại, dịch vụ ước đạt 1.645,63tỷ đồng, tăng 9,99% so với cùng

kỳ, đạt 98,56% kế hoạch Trong tình hình khó khăn chung của nền kinh tế trên địabàn toàn huyện có tổng số 23 doanh nghiệp trong đó sè ngừng, nghỉ, bỏ, giải thể 77,

sè còn tồn tại thực 126 song chỉ có 71 doanh nghiệp có phát sinh số thu Hệ thốngchợ được quan tâm chỉ đạo nâng cấp đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu giao lưutrao đổi hàng hóa trong xã và các địa bàn huyện Quý III đã hoàn thành hồ sơ của 3chợ để dự án LIPSAP đầu tư: Chợ Thông, chợ Lạng, chợ Cọi (tổng số 9 chợ được

dự án Lipsap đầu tư), các xã đang cải tạo, di dời nâng cấp chợ gồm: Chợ Đền; chợChùa; chợ Ngại và chợ xã Tự Tân

Đã kiểm tra 38 điểm kinh doanh buôn bán thuốc bảo vệ thực vật trên địa bànhuyện trong đó đã lập biên bản 05 điểm kinh doanh; xử lý hành chính 03 điểm với

số tiền 1.500.000 đồng

Các hoạt động dịch vụ bưu chính, viễn thông chất lượng dịch vụ ngày càngđược nâng lên đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, Điện lực huyện cung cấp việcduy trì điện ổn định, thường xuyên đã góp phần phục vụ các nhiệm vụ chính trịcũng như phát triển kinh tế xã hội của huyện Ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn đã huy động được 791 tỷ đồng, tổng doanh số cho vây 677,1 tỷ đồng vớitrên 8.500 lượt khách hàng vay vốn phát triển sản xuất và tiêu dùng; Ngân hàngchính sách xã hội huyện tổng nguồn vốn thực hiện 243,56 tỷ đồng, tổng dư nợ chovay 239,3 tỷ đồng với trên 12.900 hộ vay vốn, các chương trình tín dụng được giảingân kịp thời, tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, học sinh, sinh viên và cácđối tượng chính sách khác được tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủgóp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới

Tài chính ngân sách: Nhằm góp phần tập trung nguồn lực để có điều kiện phục

vụ cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của huyện, chống thất thu ngân sách

ủy ban nhân dân huyện đã thành lập ban chỉ đạo thu ngân sách huyện và các đoànkiểm tra liên ngành chống thất thu ngân sách đồng thời ban hành nhiều văn bản chỉđạo các cấp, các ngành tập trung rà soát và có biện pháp chủ động thực hiện khai

Trang 35

thác triệt để các nguồn thu để tập trung nguồn lực vào ngân sách Tổng thu ngânsách Nhà nước ước 577,43 tỷ đồng đạt 113% so với dự toán năm, đạt 132% dự toántỉnh giao Thu từ nội bộ nền kinh tế 67,289 tỷ đồng đạt 89% dự toán huyện giao.Tring đó thu ngoài quốc doanh 24,559 tỷ đồng đạt 90% dự toán, thu tiền cấp quyền

sử dụng đất 20 tỷ đạt 80% dự toán; Tổng chi ngân sách huyện, xã ước thực hiện569,386 tỷ đồng đạt 112% dự toán năm và 129% dự toán tỉnh giao, trong đó chi chophát triển kinh tế đạt 146,919 tỷ đồng chiếm 26% chi ngân sách năm 2014

Tuy nhiên, thương mại và dịch vụ trên địa bàn huyện chưa theo kịp tốc độphát triển của công nghiệp, bỏ lỡ cơ hội thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực sảnxuất trong khi lẽ ra có thể đạt được một kết quả khả quan hơn

Du lịch còn nhiều hạn chế, do chưa có chính sách liên kết khai thác tàinguyên du lịch cùng với các địa điểm du lịch phong phú và đa dạng của các địaphương lân cận và chưa có lực lượng làm du lịch chuyên nghiệp Một vài điểm đếnhiện có của huyện như chùa Keo, làng vườn Bách Thuận, đình Phương Cáp, nhà lưuniệm Bác Hồ, làng nghề Minh Lãng, chưa được quảng bá và chưa thu hút nhiềukhách du lịch trong và ngoài nước

* Dân số, lao động và việc làm

Năm 2014 dân số của huyện là 245.150 người với tổng số 106.653 lao động

Tỷ lệ tăng dân số là 0,8%/ năm Kinh tế - xã hội phát triển đã tạo việc làm mới chonhiều lao động, năm sau cao hơn năm trước, bình quân hàng năm tạo việc làm mớicho 6.466 lao động Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động trong khu vực nông thôn đến

Ngày đăng: 20/04/2016, 07:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS. Nguyễn Thế Bá, Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, Nhà xuất bản Xây Dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị
Nhà XB: Nhà xuất bảnXây Dựng
2. T.S Trần Xuân Biên (2012), bài giảng quy hoạch đô thị, Khoa quản lý đất đai, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: bài giảng quy hoạch đô thị
Tác giả: T.S Trần Xuân Biên
Năm: 2012
5. UBND huyện Vũ Thư,“Báo cáo thuyết minh tổng hợp Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) - huyện Vũ Thư - tỉnh Thái Bình” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thuyết minh tổng hợp Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) - huyện Vũ Thư - tỉnh Thái Bình
Tác giả: UBND huyện Vũ Thư
6. UBND huyện Vũ Thư, “Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụng đất đai huyện Vũ Thư giai đoạn 2001 - 2010”.Hà Nội, ngày 12 tháng 06 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụngđất đai huyện Vũ Thư giai đoạn 2001 - 2010”
3. Thông tư số 39/2009/TT-BXD ngày 30 tháng 09 năm 2009 của Bộ Xây Dựng quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính Phủ về việc phân loại đô thị Khác
4. Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính Phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Phân loại đô thị ở nước ta Loại đô thị - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 1.1 Phân loại đô thị ở nước ta Loại đô thị (Trang 9)
Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Vũ Thư - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Vũ Thư (Trang 23)
Bảng 3.1 : Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Vũ Thư – - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.1 Cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Vũ Thư – (Trang 31)
Bảng 3.2  : Cơ cấu lao động huyện Vũ Thư- Tỉnh Thái Bình - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.2 : Cơ cấu lao động huyện Vũ Thư- Tỉnh Thái Bình (Trang 36)
Bảng 3.4: Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp năm 2014 huyện Vũ Thư-Tỉnh Thái Bình - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.4 Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp năm 2014 huyện Vũ Thư-Tỉnh Thái Bình (Trang 43)
Bảng 3.5 : Cơ cấu diện tích đất phi nông nghiệp năm 2014 huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.5 Cơ cấu diện tích đất phi nông nghiệp năm 2014 huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình (Trang 45)
Bảng 3.7 : Biến động diện tích đất nông nghiệp huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.7 Biến động diện tích đất nông nghiệp huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (Trang 54)
Bảng 3.8: Biến động diện tích đất phi nông nghiệp huyện Vũ Thư Tỉnh Thái Bình (Năm 2010 so với năm 2014) - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tại huyện vũ thư   tỉnh thái bình
Bảng 3.8 Biến động diện tích đất phi nông nghiệp huyện Vũ Thư Tỉnh Thái Bình (Năm 2010 so với năm 2014) (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w