Các thầy cô trong khoa Hóa trường Đại học Vinh đã trực tiếp giảng dạy cho tôi trong khóa đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Hóa học khóa 20, giúp tôi có cơ hội h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN VĨNH HẢO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học hóa học
Mã số: 60.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ BÍCH HIỀN
TP HỒ CHÍ MINH - 2014
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, ngoài sự nỗ lực của chính bản thân, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, bạn bè và các anh chị đồng nghiệp, các em học sinh và người thân trong gia đình Hôm nay, luận văn đã được hoàn thành, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành, lòng biết ơn sâu sắc đến:
Cô TS Nguyễn Thị Bích Hiền – Người đã giao và hướng dẫn đề tài Xin
cám ơn cô luôn hướng dẫn tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài Nhờ có cô luôn động viên, khích lệ, hướng dẫn và chỉnh sửa giúp em mà từng trang luận văn đã được hoàn thiện
Thầy PGS.TS Cao Cự Giác và TS Lê Danh Bình đã dành nhiều thời gian
đọc và viết nhận xét cho luận văn
Các thầy cô trong khoa Hóa trường Đại học Vinh đã trực tiếp giảng dạy cho tôi trong khóa đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Hóa học khóa 20, giúp tôi có cơ hội học tập và nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn của mình trong việc giảng dạy bộ môn Hóa học
Quý thầy cô trong Ban giám hiệu trường THPT Trần Phú (TpHCM) đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc hoàn tất khóa học đào tạo
Các anh chị đồng nghiệp, các bạn học viên của khóa Cao học Hóa K20 Sài Gòn trường Đại học Vinh, các em học sinh trường THPT Trần Phú, THPT Nguyễn Huệ, THPT Diên Hồng, THPT Võ Trường Toản, THPT Vũng Tàu (Vũng Tàu) đã giúp tôi trong quá trình thực nghiệm của đề tài
Xin cám ơn đến phòng Sau đại học trường Đại học Vinh, phòng Tổ chức cán
bộ và phòng Đào tạo trường Đại học Sài Gòn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi
có thể hoàn thành luận văn đúng tiến độ
Một lần nữa, xin gửi lời cảm ơn chân thành của tôi đến tất cả mọi người
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 6 năm 2014
Nguyễn Văn Vĩnh Hảo
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
GDMT : Giáo dục môi trường
BVMT : Bảo vệ môi trường
DHDA : Dạy học theo dự án
CNTT : Công nghệ thông tin
PPDH : Phương pháp dạy học
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỤC LỤC 4
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu 8
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Nhiệm vụ của đề tài 9
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Phạm vi nghiên cứu 9
8 Giả thuyết khoa học 10
9 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu 10
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Xu hướng đổi mới và sự phát triển của phương pháp dạy học hiện nay 11
1.1.1 Xu hướng và sự phát triển trên thế giới 11
1.1.2 Xu hướng và sự phát triển trong nước 12
1.1.3 Mục tiêu giáo dục từ nay đến năm 2020 18
1.2 Vai trò của hóa học trong việc giáo dục môi trường 19
1.2.1 Các nội dung cơ bản về giáo dục môi trường 19
1.2.2 Ba cơ hội giáo dục môi trường trong giảng dạy hóa học ở nhà trường 20 1.2.3 Ba nguyên tắc cần đảm bảo trong quá trình tận dụng các cơ hội giáo dục môi trường 20
1.3 Vai trò của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường hiện nay 20
1.3.1 Nguyên tắc chung khi thực hiện giáo dục môi trường 20
1.3.2 Các nguyên tắc thực hiện giáo dục môi trường ở trường phổ thông 21
1.3.3 Nguyên tắc về phương pháp giáo dục môi trường 22
1.3.4 Vai trò của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường 22
1.4 Một số phương pháp dạy học tích cực 23
Trang 51.4.1 Phương pháp đóng vai 23
1.4.2 Dạy học nêu vấn đề 25
1.4.3 Phương pháp trực quan 29
1.4.4 Phương pháp lập dự án 32
1.5 Thực trạng của việc giáo dục môi trường cho học sinh thông qua môn Hóa học ở trường THPT 37
1.5.1 Mục tiêu khảo sát 37
1.5.2 Đối tượng khảo sát 37
1.5.3 Kết quả điều tra 38
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 46
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT 47
2.1 Phân tích nội dung chương trình hóa học phổ thông 47
2.1.1 Mục tiêu chương trình 47
2.1.2 Phân phối chương trình hóa học phổ thông 48
2.2 Một số bài học có thể lồng ghép nội dung giáo dục môi trường 50
2.3 Một số biện pháp giáo dục môi trường 51
2.3.1 Phân tích các nội dung có liên quan đến hóa học và môi trường 51
2.3.2 Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực 67
2.3.3 Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập hóa học liên quan giáo dục môi trường 81
2.3.4 Xây dựng diễn đàn để tạo một sân chơi cho học sinh 89
2.3.5 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa 97
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 102
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 103
3.1 Mục đích thực nghiệm 103
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 103
3.3 Phương pháp thực nghiệm 103
3.3.1 Lựa chọn địa bàn và đối tượng thực nghiệm 103
3.3.2 Nội dung thực nghiệm 103
Trang 63.4 Tiến hành thực nghiệm 104
3.4.1 Chuẩn bị thực nghiệm 104
3.4.2 Tiến hành thực nghiệm 104
3.5 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm 105
3.6 Kết quả thực nghiệm và xử lý kết quả thực nghiệm 107
3.6.1 Kết quả định tính 107
3.6.2 Kết quả thực nghiệm giành cho học sinh lớp 10 109
3.6.3 Kết quả thực nghiệm giành cho học sinh lớp 11 114
3.6.4 Kết quả thực nghiệm giành cho học sinh lớp 12 119
3.6.5 Kết quả thực nghiệm sử dụng biện pháp tổ chức hội thi “Hóa học và đời sống” 125
3.6.6 Kết quả thực nghiệm sử dụng dự án 126
3.6.7 Đánh giá kết quả thực nghiệm 128
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 129
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 130
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
PHỤ LỤC i
Trang 7Đối với đặc thù môn Hóa học – một môn khoa học lý thuyết – thực nghiệm càng có nhiều điều kiện, cơ hội để sử dụng đa dạng hình thức, phương pháp dạy học Chương trình Hóa học đã cung cấp một lượng kiến thức dồi dào và có nhiều ứng dụng thực tiễn cho đời sống Không ít các hợp chất đem lại nguồn lợi nhuận cho nền kinh tế quốc gia và thế giới nhưng bên cạnh đó cũng gây một số ảnh hưởng đến cuộc sống quanh ta
Môi trường là không gian sống cho con người và thế giới sinh vật nhằm bảo
vệ thế giới tránh khỏi những tác động từ bên ngoài Sự phát triển vượt bậc của thế giới hiện đại cùng với những thành tựu to lớn từ nửa sau thế kỷ XX đã làm cho môi trường tự nhiên mất đi khả năng tự phục hồi Cho đến nay việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam cũng như phạm vi toàn cầu vẫn còn rất nhiều bất cập, đòi hỏi phải được giải quyết một cách đồng bộ và triệt để hơn
Giáo dục môi trường nhằm giúp cho cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của hệ thống môi trường thiên nhiên cũng như nhân tạo để từ đó giúp con người có những hành vi đối xử “thân thiện” hơn đối với môi trường Mục tiêu của giáo dục môi trường cũng nhằm trang bị cho cộng đồng những kỹ năng, hành động bảo vệ môi trường Phương pháp hiệu quả nhất là giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho chính các đối tượng đang ngồi trên ghế nhà trường
Với những lí do trên, để giúp học sinh có thêm kiến thức hóa học và ý thức hơn về một môi trường sống xanh – sạch – đẹp; đồng thời cũng hỗ trợ các bạn đồng nghiệp có thêm nguồn tư liệu phục vụ cho việc giảng dạy, tôi đã chọn tìm hiểu vấn
đề: “ MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO
Trang 8HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT ” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Môi trường toàn cầu đang bị đe dọa bởi không ít tác nhân, cho nên vấn đề môi trường được xem là vấn đề “nóng” mà hàng triệu người dân trên thế giới đang quan tâm Không khí nóng bức, thiên tai lũ lụt thường xuyên xảy ra, bệnh tật càng
gia tăng đã đẩy lên một tiếng nói chung: “Cần chung tay bảo vệ địa cầu” Hưởng
ứng lời kêu gọi đó, việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho các em học sinh là điều nên thực hiện Những khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, các website môi trường đã nghiên cứu không ít về vấn đề này và đã đóng góp những giá trị nhất định Có thể điểm qua những khóa luận và luận văn như sau:
Hoàng Thị Thuỳ Dương, Tích hợp giáo dục môi trường cho học sinh thông qua bài tập thực tiễn về môi trường chương Nitơ - Photpho, chương Cacbon - Silic lớp
Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (2004), Giáo dục môi trường thông qua một số bài giảng cụ thể ở trường phổ thông
Nguyễn Thị Trang (2007), Thiết kế giáo án giáo dục môi trường thông qua bộ môn hóa lớp 12 – Ban Khoa học tự nhiên
http://hoahocngaynay.com/phat-trien-ben-vung/hoa-hoc-va-moi-truong.html
http://www.khoahoc.com.vn/timkiem/H%C3%B3a+h%E1%BB%8Dc+xanh/index.aspx
http://environment.nationalgeographic.com/environment
Trang 93 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu một số biện pháp nhằm giáo dục cho học sinh ý thức xây dựng môi trường thông qua dạy học hoá học ở trường đồng thời muốn nâng cao chất lượng dạy học ở trường phổ thông
4 Nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
Điều tra thực trạng của giáo dục môi trường ở trường trung học phổ thông
Xây dựng một số biện pháp nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua dạy học hóa học
Thực nghiệm sư phạm
Xử lý kết quả thực nghiệm
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp giáo dục môi trường cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường phổ thông
5.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng các phương pháp sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp tài liệu
Hệ thống hóa cơ sở dữ liệu
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra, phỏng vấn và dự giờ
Lấy ý kiến chuyên gia
Thực nghiệm sư phạm
6.3 Phương pháp xử lý thông tin
7 Phạm vi nghiên cứu
Phân tích nội dung chương trình hóa học phổ thông phần vô cơ lớp 10, 11, 12
Các biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua dạy học môn Hóa học ở trường THPT
Trang 108 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các biện pháp thích hợp trong dạy học hóa học nhằm giáo dục môi trường có đầy đủ, đa dạng và ứng dụng một cách hợp lý, hiệu quả vào quá trình dạy học thì sẽ nâng cao ý thức của học sinh, chất lượng dạy học ở trường phổ thông Đồng thời cũng muốn góp một tiếng nói vào phong trào bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp cho Việt Nam nói riêng và Thế giới nói chung
9 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
Góp phần hoàn thiện lí luận dạy học, đặc biệt là giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
Hình thành đa dạng các biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua môn Hóa học ở trường THPT
Thực hiện phối hợp xây dựng diễn đàn – với nhiều tiện ích, hỗ trợ cho quá trình giáo dục ý thức bảo vệ môi trường Thông qua diễn đàn, giáo viên có thể kết hợp các phương pháp lại với nhau để thiết kế nên một tiết dạy hóa đầy lôi cuốn cho các em
Trang 11NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Xu hướng đổi mới và sự phát triển của phương pháp dạy học hiện nay
1.1.1 Xu hướng và sự phát triển trên thế giới
1.1.1.1 Bối cảnh quốc tế [30]
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ quyền lợi quốc gia, công nghệ thông tin và truyền thông đang được ứng dụng trong mọi mặt của đời sống xã hội và đặc biệt trong giáo dục
1.1.1.2 Hình thức giáo dục mở [26]
Giáo dục mở là một khái niệm chỉ một loại hình giáo dục được thiết kế để
mở rộng sự tiếp cận việc học tập so với giáo dục chính quy thông thường, bằng nhiều biện pháp, trong đó đặc biệt nhấn mạnh sự phát triển nguồn tư liệu giáo dục
mở trong mọi môi trường học tập
Đại học mở cội nguồn của Vương quốc Anh đã thành lập dựa trên 4 nguyên
tắc cốt lõi: “Mở cho người học, mở về địa điểm, mở về phương pháp và mở về ý tưởng” Tính chất mở nói trên nhấn mạnh sự linh hoạt của hệ thống, giảm thiểu
những rào cản đối với người học gây nên bởi tuổi tác, địa điểm, thời gian và tình trạng kinh tế
Giáo dục mở được thúc đẩy bởi niềm tin rằng người học mong muốn tự tổ chức việc học của mình, đặc biệt họ muốn: xác định các chủ đề quan trọng mà họ cần học; thu nhận được các kinh nghiệm giáo dục chứ không phải chỉ những hiểu biết thuần túy sách vở; tự chịu trách nhiệm về các quyết định giáo dục cho họ; hiểu được mối quan hệ giữa giáo dục với cộng đồng; và tự lựa chọn những vấn đề cần tập trung khi học tập ở lớp Nói tóm lại, có một niềm tin rằng sự lựa chọn và định hướng tự do của người học sẽ nâng cao chất lượng việc học
Sự phát triển của giáo dục thế kỷ 21, Hội đồng quốc tế về Giáo dục của
UNESCO do Jacques Delors chủ trì đã khẳng định: “Học tập suốt đời nổi lên như là một trong các chìa khóa mở cửa đi vào thế kỷ 21” Với ý tưởng học tập suốt đời,
Trang 12tính phổ quát của ý tưởng giáo dục mở đã được nâng lên, làm cho khái niệm đó chẳng những chỉ liên quan đến một mô hình giáo dục, mà còn mở rộng ra cho một
hệ thống giáo dục UNESCO đã phát biểu tường minh khái niệm liên quan đến GDM:
“Giáo dục là một quyền con người cơ bản, là một giá trị con người phổ quát,
và cần được sẵn sàng thực hiện suốt cuộc đời của mỗi cá nhân”
Trong giáo dục mở, yếu tố phương pháp và học liệu là cực kỳ quan trọng, do
đó khi bước vào thế kỷ 21, ý tưởng giáo dục mở đã phát triển với một nhịp điệu nhanh chóng phi thường, nhờ sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là Internet Vì giáo dục mở liên quan đến người học tại nhiều địa điểm và thời gian khác nhau, nên công nghệ trực tuyến phục vụ nhiều mục đích là hết sức quan trọng Do đó, ngoài những công cụ thông thường để cung cấp thông tin như tài liệu in, băng ghi âm, các đĩa CD, các phương tiện trực tuyến như trang Web, YouTube và iTunesU cũng được sử dụng để cung cấp học liệu và phục vụ cả cho việc thuyết giảng Sinh viên có thể giao tiếp, thảo luận qua mạng nhờ e-mail hoặc Skype, Google+
Vào năm 2012, các Đại học MIT và Havard công bố việc hình thành một nền
hệ thống cung cấp các khóa học trực tuyến mở đại trà (edX), công cụ mạng làm nền
cho các “Khóa học mở trực tuyến quy mô lớn” để cung cấp các chương trình học
bậc đại học với một dải rộng ngành học miễn phí cho người học trên toàn thế giới Các khóa học này chủ yếu cung cấp cho sinh viên trực tuyến và một số trường hợp
có thể cấp các tín chỉ hoặc chứng nhận dựa trên các kỳ thi Công cụ mạng nền edX
có khả năng giúp sinh viên tương tác với nhau và với giảng viên qua các diễn đàn trực tuyến Đến năm 2013, có khoảng 1.2 triệu người sử dụng edX
Tổng quát hơn, có thể hiểu giáo dục mở có vai trò quan trọng trong việc tạo
cơ hội học suốt đời, thực hiện sứ mạng giáo dục cho mọi người và hơn thế nữa tạo dựng nên hình hài của chính nền giáo dục trong tương lai
1.1.2 Xu hướng và sự phát triển trong nước
1.1.2.1 Những thành tựu [23] [25]
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công
Trang 13nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Cụ thể là: Đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng bước hiện đại hóa Số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp Chất lượng giáo dục và đào tạo
có tiến bộ Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng với cơ cấu ngày càng hợp lý Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức 20% tổng chi ngân sách nhà nước Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh; hệ thống giáo dục và đào tạo ngoài công lập góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục
và đào tạo chung của toàn xã hội Công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước
chuyển biến nhất định
Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010; đang tiến tới phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; củng cố và nâng cao kết quả xoá mù chữ cho người lớn Cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách; cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo
Những thành tựu và kết quả nói trên, trước hết bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc; sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình và toàn xã hội; sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.1.2.2 Những hạn chế
Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu
Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc Phương pháp giáo dục, hình thức thi cử, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất
Trang 14Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp
Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn
1.1.2.3 Quan điểm chỉ đạo
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước
và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Với mục tiêu: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, Đảng và
Nhà nước cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp
Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng
Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; chuẩn hoá, hiện đại hoá giáo dục và đào tạo
Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo; phát
Trang 15triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền;
ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách; thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo
Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước
1.1.2.4 Mục tiêu tổng quát
Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hoá, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực
1.1.2.5 Mục tiêu cụ thể
Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015
Đối với giáo dục thường xuyên, bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xóa mù chữ bền
Trang 16vững Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học và giáo dục từ xa
1.1.2.6 Phương thức thực hiện
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo Đổi mới công tác thông tin và truyền thông để thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giải quyết dứt điểm các hiện tượng tiêu cực kéo dài, gây bức xúc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học Cần xác định rõ và công khai mục tiêu, chuẩn đầu ra của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích
tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học
Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ
Trang 17sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông Tiếp tục nghiên cứu đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế phát triển giáo dục của thế giới
Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo
Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý Quan tâm nghiên cứu khoa học giáo dục và khoa học quản lý, tập trung đầu tư nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu khoa học giáo dục quốc gia Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và chuyên gia giáo dục Triển khai chương trình nghiên cứu quốc gia về khoa học giáo dục Có chính sách khuyến khích học sinh, sinh viên nghiên cứu khoa học
“Trích theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”
1.1.2.7 Giáo dục mở ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Viện Đại học Mở Hà Nội và trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đã được thành lập từ năm 1993, với sứ mạng phát triển giáo dục mở và thường xuyên Tiếc rằng, hai trường Đại học Mở cho đến nay chưa được đầu tư tương ứng với sứ mạng được đề ra nên đã phát triển khá chậm so với nhiều đại học
mở trong khu vực Năm 2013, Việt Nam đang được định hướng xây dựng một nền giáo dục mở Có thể hiểu tính chất “mở” của hệ thống giáo dục ở đây thể hiện ở một cấu trúc hệ thống được thiết kế hợp lý, có nhiều đầu vào và đầu ra, trong đó các bộ phận và tầng bậc liên thông với nhau, tạo điều kiện cho mọi người học dễ dàng thâm nhập hệ thống trong cả quá trình học suốt đời
Trang 181.1.3 Mục tiêu giáo dục từ nay đến năm 2020
Lĩnh vực giáo dục cũng có nhu cầu về một chiến lược mới để thay đổi căn bản tình hình thực tế theo chiều hướng tốt, đặc biệt là trong hoàn cảnh có nhiều biến động và nhiều vấn đề bức xúc [23]
Mục tiêu tổng quát phát triển giáo dục đến năm 2020 là nền giáo dục Việt Nam đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao; giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành được chú trọng; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập
Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 nêu 4 quan điểm chỉ đạo gồm:
Thứ nhất, phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp
của Nhà nước và của toàn dân
Thứ hai, xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, tiên tiến, hiện đại,
XHCN, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
Thứ ba, đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa,
hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, gắn với phát triển khoa học và công nghệ
Thứ tư, hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục trên cơ sở bảo tồn và phát huy
bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ định hướng XHCN
7 giải pháp phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 là:
Đổi mới và quản lý giáo dục
Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
Tiếp tục đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy học, hình thức thi
cử, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục
Tăng cường các nguồn đầu tư cho giáo dục, gắn đào tạo với sử dụng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, đáp ứng nhu cầu xã hội
Tăng cường hỗ trợ giáo dục đối với các vùng khó khăn, dân tộc thiểu số và
đối tượng chính sách xã hội
Trang 19 Phát triển khoa học giáo dục
Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục
Có như vậy, đến năm 2020 nền giáo dục nước ta mới được đổi mới căn bản
và toàn diện, chất lượng giáo dục mới được nâng cao Giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo kỹ năng thực hành được chú trọng đáp ứng mọi nhu cầu nhân lực, đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân để từng bước hình thành xã hội học tập
1.2 Vai trò của hóa học trong việc giáo dục môi trường
Với chủ trương xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, một không gian xanh, sạch, đẹp, hạn chế tối đa tình trạng ô nhiễm môi trường, việc đưa giáo dục môi trường vào việc giảng dạy bộ môn là thật sự cần thiết
Bộ môn Hóa học là môn khoa học thực nghiệm có quan hệ mật thiết đến đời sống và môi trường tự nhiên cũng như nhân tạo của con người Đối tượng của hóa học là nghiên cứu chất và sự biến đổi chất Thông qua môn Hóa học, các học sinh
có thể nghiên cứu được những quá trình hóa học rõ ràng, tính chất các chất, sự tạo thành chất mới, các quy luật biến đổi chất, từ đó thấy được hóa học ảnh hưởng như thế nào đến đời sống con người cũng như môi trường xung quanh Vì thế trong quá trình dạy và học môn Hóa có nhiều cơ hội để lồng ghép nội dung giáo dục môi trường có hiệu quả
Thông qua các bài học đa dạng, giáo viên có thể gửi gắm các thông điệp phong phú về giữ gìn và bảo vệ môi trường, giúp các em lĩnh hội kiến thức về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường một cách tự nhiên, sinh động và hiệu quả Bên cạnh
đó còn làm mới lạ nội dung bài học, giúp học sinh có hứng thú tìm tòi kiến thức mới, tránh tình trạng khô khan, nhàm chán do đặc thù của bộ môn
1.2.1 Các nội dung cơ bản về giáo dục môi trường
Cung cấp cho học sinh những khái niệm cơ bản như môi trường, môi sinh, khí quyển, thuỷ quyển, ô nhiễm môi trường, chất gây ô nhiễm, hiệu ứng sinh học của quá trình gây ô nhiễm, tác hại của các chất và quá trình gây ô nhiễm
Các nguyên nhân gây nên ô nhiễm môi trường có liên quan đến hóa chất và hóa học: ô nhiễm qua môi trường không khí (các khí độc hóa học như: CO, CO2, Cl2thường phát sinh quanh ta, các chất thải công nghiệp gây ô nhiễm…); ô nhiễm qua
Trang 20nước (một số chất như chì, thuỷ ngân, kiềm, axit, phân bón hóa học, thuốc trừ sâu…); ô nhiễm qua con đường ăn, uống, sinh hoạt (chất độc hóa học như chất độc màu da cam…)
Các biện pháp chống ô nhiễm môi trường và ý thức bảo vệ môi trường sống nói chung và môi trường sống của gia đình, của địa phương nói riêng
Cần làm rõ ý nghĩa của môi trường với con người, bao gồm cả ý nghĩa trực tiếp đến giá trị gián tiếp
1.2.2 Ba cơ hội giáo dục môi trường trong giảng dạy hóa học ở nhà trường
Nội dung chủ yếu của bài học hay một số phần của môn học trùng hợp với nội dung giáo dục môi trường
Nội dung chủ yếu của bài học hay một số phần của môn học có liên quan trực tiếp với nội dung giáo dục môi trường
Một số phần của bài học hay môn học được xem như một dạng vật liệu dùng để khai thác các nội dung giáo dục môi trường
1.2.3 Ba nguyên tắc cần đảm bảo trong quá trình tận dụng các cơ hội giáo dục môi trường
Không làm thay đổi tính đặc trưng của môn học, không biến bài dạy bộ môn thành bài giáo dục môi trường
Khai thác nội dung giáo dục môi trường có chọn lọc, không tràn lan, tùy tiện
Tổ chức các hoạt động phát huy tính tích cực và kinh nghiệm thực tế của học sinh Tận dụng tối đa các cơ hội để học sinh tiếp xúc trực tiếp với môi trường
1.3 Vai trò của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường hiện nay
Giáo dục môi trường là dựa trên những tri thức về môi trường mà hình thành thái độ, ý thức, trách nhiệm và kĩ năng hành động cho học sinh, nhằm bảo vệ môi trường bằng các giải pháp trước mắt và lâu dài Làm cho học sinh nhận thức rõ đặc điểm của môi trường tự nhiên; vai trò của môi trường đối với đời sống và sự phát triển của xã hội loài người; những tác động của con người làm cho môi trường biến đổi xấu đi và hậu quả của nó
1.3.1 Nguyên tắc chung khi thực hiện giáo dục môi trường
Giáo dục môi trường được thực hiện trên các nguyên tắc sau:
Nhà nước Việt Nam coi giáo dục môi trường là bộ phận hữu cơ của sự nghiệp
Trang 21giáo dục và là một sự nghiệp của toàn dân
Giáo dục môi trường được thực hiện vì môi trường, về môi trường và trong môi trường
Giáo dục môi trường là một thành phần bắt buộc trong chương trình giáo dục
và đào tạo; phải được thực hiện trong kế hoạch dạy học và giáo dục hiện hành Những vấn đề về môi trường được dạy thông qua nhiều môn học
Đưa giáo dục môi trường vào hoạt động nhà trường một cách thích hợp với môi trường của trường học Những vấn đề trọng tâm của giáo dục môi trường phải trực tiếp liên quan đến môi trường của địa bàn nhà trường
Làm cho người học và người dạy thấy giá trị của môi trường đối với chất lượng cuộc sống, sức khỏe và hạnh phúc con người Làm cho con người hiểu rằng những quyền cơ bản của con người, bất kể thuộc màu da hay tín ngưỡng nào, đều có quyền sống trong môi trường lành mạnh, có nước sạch để dùng và không khí sạch để thở
Triển khai giáo dục môi trường bằng các hoạt động mà học sinh là người thực hiện, học sinh bằng các hoạt động của chính mình mà thu được hiệu quả thực tiễn Thầy giáo là người tổ chức hoạt động bảo vệ môi trường dựa trên chương trình quy định và tìm cách vận dụng phụ hợp với địa phương
Trên cơ sở nhận thức đó, giáo dục cho học sinh lòng yên thiên nhiên, biết quý trọng các phong cảnh đẹp, các di tích văn hoá lịch sử, ý thức bảo vệ giữ gìn môi trường sống trong lành và sạch đẹp cho mình, cho mọi người và chống lại những hành vi phá hoại hoặc gây ô nhiễm môi trường Giáo dục môi trường không phải ngày một ngày hai mà là cả một quá trình lâu dài, không phải dành riêng cho một ai
mà ở mọi lứa tuổi
1.3.2 Các nguyên tắc thực hiện giáo dục môi trường ở trường phổ thông
Xem xét môi trường trong tổng thể của nó: môi trường tự nhiên và nhân tạo, môi trường công nghệ và xã hội (kinh tế, chính trị, lịch sử văn hóa, đạo đức, thẩm
mỹ )
Giáo dục môi trường là quá trình liên tục suốt đời, bắt đầu từ cấp học mầm non
và tiếp diễn thông qua những giai đoạn chính thức, không chính thức
Giáo dục môi trường mang tính liên thông giữa các môn học
Khảo sát những vấn đề môi trường chủ yếu từ quan điểm địa phương, quốc gia,
Trang 22khu vực và quốc tế để học sinh hiểu rõ bản chất của các điều kiện môi trường trong những điều kiện địa lý khác nhau
Tập trung vào các tình huống môi trường đang tiềm tàng hiện nay, đồng thời tính đến cả những yếu tố lịch sử
Đề cao các giá trị, sự cần thiết của quá trình hợp tác địa phương, quốc gia, quốc
tế trong việc ngăn chặn và tìm giải pháp đối với những sự cố môi trường
Xem xét kỹ các khía cạnh về môi trường trong mỗi kế hoạch tăng trưởng
Tạo cơ hội cho người học có một vai trò trong việc học tập và có cơ hội ra quyết định cũng như chịu trách nhiệm
Gắn việc nhạy cảm, nhận thức về môi trường, các kĩ năng giải quyết vấn đề với từng độ tuổi Những năm đầu nên nhấn mạnh sự nhạy cảm về môi trường trong cộng đồng riêng của người học
Giúp người học phát hiện những dấu hiệu và nguyên nhân thực sự của các sự
cố môi trường
Nhấn mạnh sự phức tạp của các vấn đề môi trường và do vậy cần hình thành lối suy nghĩ biết phân tích, phán xét và kĩ năng giải quyết vấn đề
Tận dụng các môi trường học tập đa dạng, nhấn mạnh các hoạt động thực tiễn
và kinh nghiệm trực tiếp
1.3.3 Nguyên tắc về phương pháp giáo dục môi trường
Giảm bớt diễn giảng, tăng cường thảo luận
Giảm giờ giảng trong lớp, tăng tiết học ngoài giờ lên lớp và ở trong phòng thí nghiệm
Giảm bớt nhớ thuộc lòng, tăng cường khảo sát, nghiên cứu
Giảm trả lời theo sách, tăng độc lập tư duy, giải quyết vấn đề
Vận dụng nguyên lý, tránh tiếp cận xuôi chiều lý thuyết sẵn có
Tập trung xem xét tính hệ thống của vấn đề, tránh sa vào hiện tượng vụn vặt
Chú ý kinh nghiệm thực tế và kỹ năng vận dụng
Tăng cường làm việc tập thể
1.3.4 Vai trò của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
Giáo dục môi trường trong trường phổ thông nhằm đạt được đến mục đích
cuối cùng là: “Trang bị cho mỗi học sinh một ý thức trách nhiệm đối với môi
Trang 23trường, hình thành thái độ, ý thức bảo vệ và giữ gìn tài sản quý giá nhất của nhân loại chính là một hành tinh xanh”
Thế hệ trẻ là mầm mống, là tương lai của mọi quốc gia Đây chính là lực lượng góp phần quan trọng đảm bảo tính hiệu quả của nhiệm vụ giáo dục ý thức bảo
vệ môi trường Vì vậy, thế hệ trẻ cần phải có đầy đủ tri thức về lí luận và thực hành giáo dục môi trường để phục vụ cho xã hội
Ở nước ta, việc đưa nội dung giáo dục môi trường vào chương trình thông qua các môn học được thực hiện qua quá trình cải cách giáo dục, đặc biệt là đợt đổi mới sách giáo khoa Cũng như nhiều nước trên thế giới, nội dung của giáo dục môi trường tập trung vào các môn học có liên quan đến môi trường như: Hóa học, Sinh học, Địa lý, Giáo dục công dân, Kỹ thuật nông nghiệp… Với đặc thù của mình, khoa học Hóa học cũng có mối liên hệ mật thiết với các yếu tố môi trường [ 22]
1.4.1 Phương pháp đóng vai
1.4.1.1 Khái niệm phương pháp đóng vai
Là phương pháp được đặc trưng bởi một hoạt động với các nhân vật giả định, mà trong đó các tình thế trong thực tiễn cuộc sống được thể hiện thành những hành động có tính kịch Trong vở kịch này, các vai khác nhau do chính học sinh đóng và trình diễn Các hành động có kịch tính được xuất phát từ chính sự hiểu biết, óc tưởng tượng và trí sáng tạo của các em, không cần phải qua tập dượt hay dàn dựng
1.4.1.2 Đặc điểm của phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành làm thử một số cách ứng xử trong một tình huống đạo đức hoặc pháp luật giả định
Trang 241.4.1.3 Cách tổ chức cho học sinh đóng vai
Giáo viên nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống, yêu cầu đóng vai cho từng nhóm ( Quy định rõ thời gian chuẩn bị và thời gian đóng vai của mỗi nhóm)
Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai: phân vai, dàn cảnh, cách thể hiện nhân vật, diễn thử
Các nhóm lên đóng vai
Lớp thảo luận, nhận xét và rút ra vấn đề
Giáo viên kết luận, giúp cho học sinh rút ra bài học cho bản thân
1.4.1.4 Nguyên tắc của phương pháp đóng vai
Để đóng vai đạt hiệu quả, giáo viên cần:
Phải làm cho người học hiểu rõ vai mình đóng
Sử dụng các tình huống có thực, với một kịch bản chặt chẽ để người đóng vai
dễ hình dung ra vai diễn
Tóm tắt kết luận bằng cách hỏi đã học được gì qua đóng vai trong tình huống
đã nêu
1.4.1.5 Ưu điểm, nhược điểm của phương pháp đóng vai
Ƣu điểm
Phương pháp đóng vai gây được hứng thú và sự chú ý cho người học
Rèn cho học sinh tính mạnh dạn, tự tin khi đứng trước đông người
Đóng vai giúp học sinh thực hành những kĩ năng trong môi trường an toàn, được giám sát trước khi xảy ra các tình huống thực
Đóng vai có thể thay đổi thái độ, hành vi của người học theo hướng định trước
Ta có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn
Phương pháp đóng vai buộc giáo viên và học sinh phải dành thời gian để chuẩn
bị bài trên lớp Điều đó sẽ nâng cao được hiệu quả giờ dạy, học bộ môn
Nhƣợc điểm
Nếu không tổ chức và kiểm soát tốt, người học dễ xem đóng vai như một trò chơi, không phải là hoạt động đào tạo
Dễ đi sai mục tiêu đào tạo
Tốn nhiều thời gian và công sức của giáo viên
Trang 251.4.1.6 Kết luận
Phương pháp đóng vai kích thích tính tích cực của các học sinh Phương pháp này không những giúp nâng cao hiệu quả của quá trình dạy-học do việc học tập của học sinh gần với cuộc sống đời thường, học sinh có điều kiện phát triển kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hòa nhập cuộc sống mà phương pháp này còn làm tăng sự đoàn kết giữa các thành viên trong lớp Tuy nhiên việc sử dụng phương pháp này rất tốn thời gian và giáo viên phải kiểm tra thật kỹ kịch bản để việc học tập không
xa rời thực tế
1.4.2 Dạy học nêu vấn đề
1.4.2.1 Khái niệm dạy học nêu vấn đề
Dạy học đặt và giải quyết vấn đề là sự tổng hợp những hoạt động nhằm tổ chức các tình huống có vấn đề, trình bày các vấn đề; giúp đỡ cần thiết cho học sinh trong việc giải quyết vấn đề và kiểm tra những cách giải quyết đó; cuối cùng là lãnh đạo việc vận dụng kiến thức
Dạy học đặt và giải quyết vấn đề không phải là một PPDH riêng biệt mà là một tập hợp nhiều PPDH liên kết chặt chẽ với nhau và tương tác với nhau, trong đó phương pháp xây dựng tình huống có vấn đề và dạy học giải quyết vấn đề giữ vai trò trung tâm, gắn bó các PPDH khác Dạy học đặt và giải quyết vấn đề có khả năng thâm nhập vào hầu hết các PPDH khác và làm cho tính chất của chúng trở nên tích cực hơn Dạy học đặt và giải quyết vấn đề sẽ góp phần nâng cao tính tích cực tư duy của học sinh, gắn liền hai mặt kiến thức và tư duy, đồng thời hình thành ở học sinh nhân cách có khả năng sáng tạo thực sự, góp phần rèn luyện trí thông minh cho học sinh
Mỗi một PPDH đều phải xem xét khả năng sử dụng các tình huống có vấn đề
ở giai đoạn tương ứng của việc lĩnh hội kiến thức
1.4.2.2 Khái niệm tình huống có vấn đề
Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi có mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức được học sinh chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần có thể giải quyết được, kết quả là họ nắm được tri thức mới
Trang 26Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả Nó qui định sự khởi đầu của tư duy, hành động tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết các vấn đề
Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lí độc đáo của người gặp chướng ngại nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt buộc mà bằng cách tìm tòi sáng tạo tích cực đầy hưng phấn và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến thức, phương pháp giành kiến thức và cả niềm vui sướng của phát hiện
Như vậy có thể coi tình huống có vấn đề trong dạy học là trạng thái tâm lý đặc biệt của học sinh khi họ gặp mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm, tự họ chấp nhận và có nhu cầu, có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó bằng tìm tòi, tích cực, sáng tạo, kết quả là họ nắm được cả kiến thức
và phương pháp giành kiến thức
Tình huống có vấn đề cần có các yếu tố sau:
Có chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, có điều chưa biết cần tìm tòi khám phá
Gây ra nhu cầu muốn biết kiến thức mới Đây là động lực, khởi tạo các hoạt động nhận thức, kích thích học sinh tìm tòi, khám phá một cách sáng tạo trong giải quyết vấn đề
Phù hợp với khả năng của học sinh trong hoạt động phân tích nhận biết vấn đề
và tìm điều chưa biết, vượt qua chướng ngại nhận thức
1.4.2.3 Đặc trưng của dạy học nêu vấn đề
Giáo viên đặt ra cho học sinh một loạt những bài toán nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái cần tìm Đây không phải là những vấn đề rời rạc mà là một hệ thống có quan hệ logic với nhau, được cấu trúc thành bài toán nêu vấn đề ơristic
Học sinh tiếp cận mâu thuẫn của bài toán như mâu thuẫn của nội tâm và được đặt vào tình huống có vấn đề, là trạng thái có nhu cầu bên trong cần được giải quyết
Trong quá trình giải và bằng cách giải bài toán nhận thức mà học sinh lĩnh hội một cách tự giác và tích cực cả kiến thức và cách giải, tạo nên niềm hưng phấn của sự phát minh sáng tạo
Trang 27Dạy học nêu và giải quyết các vấn đề có các mức độ:
Giáo viên nêu và giải quyết vấn đề
Giáo viên nêu vấn đề và tổ chức cho học sinh tham gia giải quyết vấn đề
Học sinh tự phát hiện vấn đề, tự lực giải quyết vấn đề và đánh giá của kết quả
và quá trình giải quyết vấn đề
Tùy vào trình độ nhận thức của học sinh mà giáo viên áp dụng ở các mức độ phù hợp và nâng dần mức độ phức tạp của vấn đề, mức độ tham gia giải quyết vấn
đề của học sinh và hình thức tổ chức dạy học
1.4.2.4 Các giai đoạn dạy học nêu vấn đề
Quá trình dạy học nêu vấn đề là quá trình giáo viên tổ chức, hướng dẫn sự nghiên cứu tự lực, tự phát hiện tích cực và sáng tạo các chân lí khoa học ở học sinh
Có thể nói đây là sự nghiên cứu khoa học thu hẹp trong khuôn khổ của sự dạy học
Giai đoạn 1: Quan sát và đề xuất vấn đề cần nghiên cứu (xây dựng tình
huống có vấn đề)
Tình huống có vấn đề chỉ xuất hiện và tồn tại trong ý thức người học sinh chừng nào đang diễn ra sự chuyển hóa của mâu thuẫn khách quan bên ngoài của bài toán nhận thức thành mâu thuẫn chủ quan bên trong của học sinh Ba điều kiện của một tình huống có vấn đề trong dạy học:
Có mâu thuẫn nhận thức, có điều chưa biết cần tìm
Gây ra nhu cầu muốn biết kiến thức mới
Phù hợp với khả năng của học sinh
Tình huống có vấn đề sẽ xuất hiện khi dựa vào sự không phù hợp giữa kiến thức đã có của học sinh với yêu cầu đặt ra cho họ khi giải quyết nhiệm vụ mới Cách tạo ra các tình huống có vấn đề:
Có thể tạo ra tình huống có vấn đề khi kiến thức học sinh đã có không phù hợp
(không đáp ứng được) với đòi hỏi của nhiệm vụ học tập hoặc với thực nghiệm
Trang 28Hình 1.1: Sơ đồ tạo tình huống có vấn đề cách 1
Có thể tạo ra tình huống có vấn đề khi học sinh lựa chọn trong những con đường có thể có một con đường duy nhất bảo đảm việc giải quyết được nhiệm vụ đặt ra
Có thể tạo ra tình huống có vấn đề khi học sinh phải tìm đường ứng dụng kiến thức trong học tập, trong thực tiễn hoặc tìm lời giải đáp cho câu hỏi “tại sao”
Giai đoạn 2: Giải quyết vấn đề (xây dựng và kiểm tra giả thuyết)
Giai đoạn này là giai đoạn đi tìm điều chưa biết trong tình huống có vấn đề
Đó là khâu chủ yếu, có tầm quan trọng hàng đầu trong dạy học giải quyết vấn đề Tập luyện cho học sinh biết giải quyết các vấn đề từ đơn giản đến phức tạp trong học tập chính là chuẩn bị cho các em có khả năng sáng tạo giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
Trong quá trình giải quyết vấn đề học tập, giáo viên đóng vai trò người dẫn đường và tổ chức hoạt động tìm tòi của học sinh giúp các em đánh giá các giả thuyết, giảm nhẹ các khó khăn để học sinh giải quyết được nhanh chóng
Cơ chế chủ yếu của việc đi tìm điều chưa biết trong tình huống có vấn đề là việc đưa thường xuyên đối tượng vào hệ thống mới những mối liên hệ, mà thông qua chúng, những tính chất chưa biết được phát hiện
Các bước của quá trình dạy học sinh giải quyết một vấn đề học tập
Làm cho học sinh hiểu rõ vấn đề
Xác định phương hướng giải quyết
Kiểm tra sự đúng đắn của các giả thuyết bằng lí luận hay thực nghiệm Xác nhận một giả thuyết đúng
Giáo viên chỉnh lí, bổ sung giả thuyết đúng và chỉ ra kiến thức mới cần lĩnh
Trang 29hội
Kiểm tra lại và ứng dụng kiến thức vừa thu được
Giai đoạn 3: Vận dụng vào kiến thức mới
1.4.2.5 Ưu điểm, nhược điểm của dạy học nêu vấn đề
Ƣu điểm
Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề giúp HS vừa nắm được kiến thức mới, vừa nắm được phương pháp đi tới kiến thức đó, lại vừa phát triển tư duy tích cực, độc lập sáng tạo và có tiềm năng vận dụng tri thức vào những tình huống mới, chuẩn bị năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và
giải quyết hợp lí các vấn đề đã nảy sinh
Nhƣợc điểm
Sử dụng phương pháp dạy học hợp tác thường mất nhiều thời gian hơn so với các phương pháp khác
1.4.2.6 Kết luận
Phương pháp dạy học nêu vấn đề là PPDH trong đó HS tham gia một cách có
hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề và các bài toán có vấn đề được xây dựng theo nội dung tài liệu học trong chương trình
Như vậy trong dạy học nêu và giải quyết vấn đề, giáo viên nêu ra các vấn đề học tập, đưa học sinh vào tình huống có vấn đề kích thích tư duy, tính tích cực nhận thức và giúp học sinh tự lực giải quyết vấn đề đặt ra Bằng cách nào đó, học sinh vừa thu nhận được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp nhận thức tri thức đó, phát triển tư duy sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức, phát hiện vấn đề học tập
Việc áp dụng dạy học nêu vấn đề, giáo viên cần chú ý lựa chọn hình thức, mức độ cho phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh và nội dung cụ thể của bài học
Vấn đề nằm trong bài học => vận dụng kiến thức trong bài học để giải quyết
Vấn đề có thể nêu trước, trong và sau khi tìm hiểu bài học
1.4.3 Phương pháp trực quan
1.4.3.1 Khái niệm phương pháp trực quan
Có thể gọi đầy đủ phương pháp này là “phương pháp dạy học sử dụng phương tiện trực quan” Phương tiện trực quan bao gồm mọi dụng cụ, đồ dùng,
Trang 30thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp dùng trong quá trình dạy học, với tư cách là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan (sự vật và hiện tượng), nguồn phát ra thông tin về sự vật và hiện tượng đó, làm cơ sở và tạo thuận lợi cho sự lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kỹ xảo về hiện thực đó cho học sinh
1.4.3.2 Các phương pháp trực quan
Phương pháp quan sát
Là phương pháp tổ chức cho học sinh tri giác một cách có chủ định, có kế hoạch, tiến trình và sự biến đổi diễn ra ở đối tượng nhằm thu thập những sự kiện, hình thành những biểu tượng ban đầu về đối tượng của thế giới xung quanh
Thí nghiệm trong dạy học hóa học
Thí nghiệm thường được sử dụng trong các môn học tự nhiên như Vật lý, Hóa học, Sinh học… Giáo viên có thể làm các thí nghiệm, học sinh quan sát và rút
ra các kết luận cần thiết Phương pháp này thường sử dụng trong các bài học kiến thức mới, cũng có thể củng cố, luyện tập
Thí nghiệm Hoá học có ý nghĩa to lớn trong dạy học Hoá học; nó giữ vai trò
cơ bản trong việc thực hiện những nhiệm vụ của việc dạy học Hoá học ở Trường phổ thông
Thí nghiệm là cơ sở cho quá trình học tập - nhận thức của học sinh giúp học sinh dễ hiểu bài và hiểu bài sâu sắc (xuất phát quá trình nhận thức cảm tính của học sinh để rồi sau đó diễn ra sự trừu tượng hoá và sự tiến lên từ trừu tượng đến cụ thể trong tư duy)
Thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn giúp nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học và phát triển tư duy của học sinh
Các thao tác thí nghiệm rất mẫu mực sẽ là khuôn mẫu cho học sinh học tập
và bắt chước, để rồi sau đó các em làm thí nghiệm theo đúng cách thức đó
Thí nghiệm nâng cao hứng thú học tập môn Hoá học của học sinh
Trong quá trình tiến hành thí nghiệm cần phải:
Hướng dẫn sự quan sát trực tiếp cho học sinh
Gợi ý cho các em tái hiện kiến thức cũ liên quan để giải thích hiện tượng
Hướng dẫn học sinh tự giải thích hiện tượng và tự đi tới kết luận
Trang 31Sử dụng tƣ liệu tranh ảnh, phim, website trong dạy học hóa học
Sử dụng các phương tiện trực quan: vật thật, mô hình, tranh ảnh, phim, website, các ví dụ thực tiễn, số liệu hay thao tác của giáo viên
Hệ thống phương tiện trực quan được sử dụng rất phổ biến: tranh ảnh, thiết
bị thí nghiệm, phim tư liệu, website hóa học… thông qua các phương tiện trực quan:
Giúp bổ sung, mở rộng kiến thức học sinh đã học trên lớp
Người học có thể tìm kiếm nhanh chóng và dễ dàng một khối lượng lớn thông tin bổ ích
Với tính năng siêu liên kết và giao diện thân thiện, websites linh động, hấp dẫn, tiện dụng cho người học, góp phần nâng cao hứng thú học tập
Góp phần bổ sung nguồn tư liệu giảng dạy cho giáo viên giúp hình thành một bài giảng đa dạng, phong phú
1.4.3.3 Nguyên tắc sử dụng phương pháp trực quan
Lựa chọn phương pháp trực quan phù hợp với mục đích, yêu cầu của tiết học
Các phương tiện trực quan phải phản ánh chính xác nội dung của đối tượng nghiên cứu, giúp cho người học hiểu đúng về đối tượng đó
Phương tiện trực quan phải đảm bảo tính thẩm mỹ để gây hứng thú, duy trì sự chú ý trong quá trình học tập, đồng thời phải đạt yêu cầu về kỹ thuật
Sử dụng phương tiện trực quan đúng chỗ, vị trí mà thời gian sử dụng phương tiện trực quan vừa đủ cho cả lớp quan sát được
Sử dụng phối hợp với các phương pháp khác để hỗ trợ bài giảng tốt hơn
1.4.3.4 Ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp trực quan
Ƣu điểm
Giúp cho học sinh vận động tất cả các giác quan để thu thập và nhớ
Phát triển năng lực quan sát, óc tò mò của học sinh
Phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh
Nhƣợc điểm
Nếu lạm dụng quá nhiều sẽ khiến cho học sinh phân tán chú ý, thiếu tập trung vào những dấu hiệu, bản chất của vấn đề
Trang 321.4.4.2 Khái niệm dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án (DHDA) có nguồn gốc bắt đầu từ châu Âu vào thế kỷ 16 (ở Ý, Pháp) Đầu thế kỷ 20 các nhà sư phạm Mỹ xây dựng lý luận cho DHDA (Woodward; Richard; J.Dewey, W.Kilpatrick) Ngày nay DHDA được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong tất cả các cấp học, môn học, với các tên goi khác nhau: Project Method; Project based learning
Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được
Dạy học theo dự án là phương pháp cụ thể gắn nhà trường với thực tiễn và cũng là tiêu chuẩn để đánh giá chương trình dạy học
1.4.4.3 Đặc điểm của dạy học theo dự án
Hình 1.2: Mô hình đặc điểm dạy học theo dự án
Trang 33 Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án gắn với thực tiễn, kết quả DA có ý
nghĩa thực tiễn-xã hội
Định hướng hứng thú của học sinh: Chủ đề và nội dung của dự án phù hợp với
hứng thú của học sinh
Tính tự lực cao của người học: Học sinh tham gia tích cực và tự lực vào các
giai đoạn của quá trình dạy học
Định hướng hành động: Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, huy động nhiều
giác quan
Định hướng sản phẩm: Đó là những sản phẩm hành động có thể công bố, giới
thiệu được
Có tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực
hoặc môn học khác nhau
Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, việc
học mang tính xã hội
1.4.4.4 Các giai đoạn dạy học theo dự án
Giai đoạn 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án
Giáo viên và học sinh cùng đề xuất, xác định đề tài và mục đích dự án, chú ý đến:
Việc liên hệ hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống có liên quan đến đề tài
Tạo sự hứng thú, sự quan tâm của học sinh
Ý nghĩa xã hội của đề tài
Giai đoạn 2: Xác định đề cương, kế hoạch thực hiện
Học sinh lập kế hoạch làm việc: xác định công việc cần làm, thời gian dự kiến,
dự kiến vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành
Phân công cho mỗi thành viên trong nhóm
Sự phối hợp giữa các thành viên để đảm bảo kế hoạch
Giai đoạn 3: Thực hiện dự án
Thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức lý thuyết, các phương
án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó, sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra
Học sinh làm việc theo nhóm và cá nhân theo kế hoạch
Trang 34 Kết hợp lí thuyết và thực hành, tạo sản phẩm dự án
Sản phẩm là những thông tin mới được tìm ra.2
Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm
Các nhóm thu thập kết quả, sản phẩm, sắp xếp, trình bày kết quả dự án Kết quả thực hiện dự án có thể viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn… và được giới thiệu công bố Sản phẩm có thể là vật chất được tạo ra hoặc hành động phi vật chất
Giai đoạn 5: Đánh giá dự án
Giáo viên và học sinh đánh giá quá trình thực hiện kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo Kết quả dự án có thể được đánh giá từ bên ngoài
Trang 35Hình 1.3: Sơ đồ tóm tắt các giai đoạn của phương pháp dạy học dự án
Việc phân chia các giai đoạn trên chỉ có tính tương đối Trong thực tế chúng
có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả giai đoạn của dự án, phù hợp cấu trúc, nhiệm vụ của từng dự án khác nhau
1.4.4.5 Ưu điểm, nhược điểm của dạy học theo dự án
Ƣu điểm
Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học
Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm, sáng tạo
QUYẾT ĐỊNH CHỦ ĐỀ
GV /HS đề xuất sáng kiến chủ đề, xác định mục đích dự án
XÂY DỰNG KẾ HOẠCH Học sinh lập kế hoạch làm việc, phân công lao động
THỰC HIỆN Học sinh làm việc nhóm và cá nhân theo kế hoạch Kết hợp lý thuyết và thực hành, tạo sản phẩm
Trang 36 Phát triển năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp
Phát triển năng lực cộng tác làm việc
Để thực hiện thành công mô hình này thì giáo viên nên đóng vai trò điều khiển các hoạt động tích cực của học sinh Thêm vào đó giáo viên chú ý lựa chọn những câu hỏi định hướng một cách cẩn thận để học sinh lĩnh hội được kiến thức của bài học Hoạt động kiểm tra những kỹ năng cần thiết và tư duy của học sinh thường xuyên sẽ giúp giáo viên điều chỉnh hoạt động giảng dạy cho phù hợp.Và quan trọng nhất là giáo viên hãy mạnh dạn áp dụng mô hình này vào hoạt động giảng dạy Việc đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm sẽ giúp giáo viên thành công hơn trong những lần sau
Vì mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, không
có phương pháp nào là vạn năng nên khi sử dụng để lồng ghép kiến thức môi trường cần cân nhắc, chọn lựa phương pháp phù hợp, đa dạng để có thể đem lại hiệu quả cao
Trong luận văn này, tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nhằm bổ sung kiến thức cho học sinh và tạo thêm các giải pháp mới cho các giáo viên, từ đó rút ra kinh nghiệm và những bài giảng phong phú cũng như giải pháp cho các vấn đề được giao, chủ yếu là các vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
Trang 371.5 Thực trạng của việc giáo dục môi trường cho học sinh thông qua môn Hóa học ở trường THPT
Tìm hiểu ý thức bảo vệ môi trường của học sinh
Kiểm tra kiến thức hóa học môi trường của học sinh
1.5.2 Đối tượng khảo sát
Để tìm hiểu thực trạng về một số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường THPT, tôi tiến hành phỏng vấn, phát phiếu điều tra cho 55 giáo viên cùng với 360 học sinh ở các trường THPT của TP.HCM, Vũng Tàu… Bảng danh sách giáo viên và số lượng học sinh được tham khảo ý kiến
Phát phiếu tham khảo ý kiến giáo viên:
Số phiếu thu vào: 40/55 Đây là giáo viên các trường THPT Trần Phú, THPT Hùng Vương, THPT Nguyễn Huệ, THPT Võ Trường Toản, THPT Diên Hồng, THPT Nguyễn Văn Cừ, THPT Bùi Thị Xuân, THCS - THPT Hoàng Diệu, THPT
An Nghĩa, THPT Ngô Gia Tự, THPT Gia Định, THPT Gò Vấp, THPT Nguyễn Hữu
Thọ, THPT Lê Thị Hồng Gấm và THPT Vũng Tàu (Danh sách đính kèm phụ lục 1) Phát phiếu tham khảo ý kiến học sinh:
Số phiếu phát ra và thu vào: 360
Trang 38Bảng 1.1: Điều tra các lớp tham gia khảo sát thực trạng
1.5.3 Kết quả điều tra
1.5.3.1 Kết quả điều tra giáo viên
Sau quá trình điều tra, tôi đã tổng hợp lại và có kết quả sau:
Về “ Vấn đề môi trường hiện nay mà thế giới quan tâm là gì?”
Vấn đề môi trường hiện nay mà thế giới quan tâm là ô nhiễm môi trường (
do chất thải công nghiệp, do xả rác bừa bãi…), thời tiết thay đổi (mưa nắng thất thường, lũ lụt, hạn hán…), trái đất nóng lên, thủng tầng ozon, mưa axit, …
YẾU TỐ SỐ PHIẾU %
Bảng 1.2: Thực trạng vấn đề môi trường hiện nay mà thế giới quan tâm
Dựa vào bảng, tôi thấy các giáo viên cho rằng, vấn đề môi trường hiện nay
mà thế giới quan tâm nhất là thủng tẩng ozon (100%), ô nhiễm môi trường (90%), trái đất nóng lên (65%), mưa axit (57.5%), thời tiết thay đổi (47.5%), các ý kiến khác (15%)
Trang 39 Về: “Ý kiến giáo viên quanh việc giáo dục môi trường và hình thành ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trung học phổ thông” như sau:
Ý KIẾN THAM KHẢO ĐỒNG Ý PHÂN VÂN PHẢN ĐỐI
PHIẾU % PHIẾU % PHIẾU %
Việc lồng ghép giáo dục môi trường vào
dạy học hóa học ở trường phổ thông là
cần thiết
Môn Hóa học là môn học thuận lợi nhất
cho việc lồng ghép giáo dục môi trường 33 82.5 7 17.5 0 Hình thành kiến thức môi trường và ý thức
bảo vệ môi trường từ nhà trường là hiệu
quả nhất
Lồng ghép giáo dục môi trường vào bài
giảng hóa học sẽ tăng hiệu quả dạy học bộ
môn Hóa học (tăng hứng thú học tập)
Giáo dục môi trường không phải là nhiệm
Giáo dục môi trường là hình thức để giáo
viên liên hệ thực tế trong dạy học hóa học 34 85 6 15 0
Bảng 1.3:Nhận xét của giáo viên về GDMT
Qua các nhận xét trên, có thể thấy đa số giáo viên được hỏi đều đồng ý với việc đưa GDMT vào giảng dạy ở trường THPT là cần thiết, và các ý kiến trên cũng cho thấy giáo viên hoàn toàn ủng hộ việc thực hiện giáo dục môi trường cho học sinh trên ghế nhà trường thế nhưng các giáo viên cần phải đầu tư nhiều
để đưa ra được các biện pháp phù hợp nhằm thực hiện mục tiêu đạt kết quả cao
Về “Mức độ lồng ghép việc giáo dục môi trường cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường THPT”
Khi tiến hành khảo sát về mức độ lồng ghép việc giáo dục môi trường cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường THPT, được biết có 10% các giáo viên thường xuyên lồng ghép giáo dục môi trường vào bài dạy, 72.5% các giáo viên
Trang 40không thực hiện vấn đề này vì nhiều nguyên nhân, 17.5% còn lại là các giáo viên tùy vào bài học mà giáo viên thực hiện việc lồng ghép Điều này cho thấy tâm trạng e ngại của giáo viên trong việc thực hiện lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường THPT
Về “Anh (chị) thường làm gì để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh?”
Một số GV chia sẻ vì còn khá lúng túng khi lựa chọn các PPDH, nhất là việc phối hợp giữa PPDH truyền thống và PPDH hiện đại nên chưa mạnh dạn để áp dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học hiện đại Thêm vào đó, các yếu tố thời gian, đảm bảo số tiết giảng dạy, áp lực công việc, gia đình, kinh tế, … cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc nghiên cứu và sử dụng các PPDH hiện đại vào quá trình giảng dạy
5 Tham gia hoạt động ngoại khóa 2/11 18.2
6 Đưa vào tiết hoạt động ngoài giờ 3/11 27.3