Trong đó, Công ty Cổ phần Thép Hòa Phát được thành lập ngày 17 tháng 8 năm 2007với ngành nghề kinh doanh chủ yếu là sản xuất thép, gang; khai thác quặng sắt; khai thác vàthu gom than non
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Trang 2MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của Thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước đi lên và đạt đượcnhững thành tựu to lớn đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Các công ty và tổ chức kinh tế cũng ngàycàng tăng lên về quy mô và số lượng Tuy nhiên, bên cạnh sự ra đời của những doanhnghiệp mới thì có hàng loạt các công ty, tập đoàn kinh tế lớn không chỉ trong quy mô quốcgia, mà với quy mô toàn cầu đã bị phá sản
Với tình hình nền kinh tế trong nước, khu vực và trên thế giới biến động khó lường nhưhiện nay là một nguyên nhân khách quan rất khó khăn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Vìvậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng được một Chiến lược phát triển phù hợp, khả thi đểđạt được kết quả lợi nhuận mong muốn, thoát khỏi tình trạng trì trệ dẫn tới phá sản cũng như
là nâng cao được vị thế của mình
Các tư tưởng và học thuyết về chiến lược, quản trị chiến lược đã xuất hiện cách đây hơn
50 năm trong thập niên 60 của thế kỷ XX Và sự quan tâm này còn kéo dài mãi bởi chiếnlược và quản trị chiến lược là cách thức để mỗi tổ chức đạt được những thành công lâu dài.Không riêng mỗi doanh nghiệp nào, và tập đoàn Hòa Phát cũng vậy Hòa Phát đã đưa ranhiều chiến lược phù hợp để phát triển, nhằm đạt được những thành công lâu dài và rút ngắnthời gian cải thiện vị trí cạnh tranh
Với mục đích quan tâm đến chiến lược và quản trị chiến lược doanh nghiệp, nhóm
BigSun chúng em tìm hiểu với đề tài: “Phân tích chiến lược phát triển thị trường ngành thép tại Tập đoàn Hòa Phát giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012.”
Trang 31 Khái quát về Tập đoàn Hòa Phát.
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Tập đoàn Hòa Phát.
Lịch sử hình thành và phát triển của Tập đoàn Hòa Phát từ năm 1992 đến năm 2011
- Tháng 1 - 2011 Cấu trúc mô hình hoạt động Công ty mẹ với việc tách mảng sản xuất vàkinh doanh thép
- Tháng 7 - 2010 Công ty CP Golden Gain Việt Nam trở thành công ty thành viên
- Tháng 12 - 2009 KLH Gang thép Hòa Phát hoàn thành đầu tư giai đoạn 1
- Tháng 6 - 2009 Mua lại Công ty CP Năng lượng Hòa Phát
- Tháng 6 - 2009 Mua lại Công ty CP Đầu tư khoáng sản An Thông
- 15 - 11 - 2007 Niêm yết cổ phiếu mã HPG trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Tháng 8 - 2007 Thành lập Công ty CP Thép Hòa Phát, triển khai Khu liên hợp sản xuấtgang thép tại Kinh Môn, Hải Dương
- Tháng 6 - 2007 Thành lập Công ty CP Khoáng sản Hòa Phát
- Tháng 1 - 2007 Tái cấu trúc theo mô hình Tập đoàn, với Công ty mẹ là Công ty CP Tậpđoàn Hòa Phát và các Công ty thành viên
- Năm 2004 Thành lập Công ty TNHH Thương mại Hòa Phát
- Năm 2001 Thành lập Công ty CP Xây dựng và Phát triển Đô thị Hòa Phát
- Năm 2001 Thành lập Công ty TNHH Điện lạnh Hòa Phát
- Năm 2000 Thành lập Công ty CP Thép Hòa Phát, nay là Công ty TNHH Một thành viênThép Hòa Phát
- Năm 1996 Thành lập Công ty TNHH Ống thép Hòa Phát
- Năm 1995 Thành lập Công ty CP Nội thất Hòa Phát
- Năm 1992 Thành lập Công ty TNHH Thiết bị Phụ tùng Hòa Phát - Công ty đầu tiênmang thương hiệu Hòa Phát
Trong đó, Công ty Cổ phần Thép Hòa Phát được thành lập ngày 17 tháng 8 năm 2007với ngành nghề kinh doanh chủ yếu là sản xuất thép, gang; khai thác quặng sắt; khai thác vàthu gom than non; bán buôn kim loại và quặng kim loại; sản xuất, mua bán than cốc…
1.2 Ngành nghề, tình hình kinh doanh.
- Buôn bán và xuất nhập khẩu sắt thép, vật tư thiết bị luyện, cán thép;
- Sản xuất cán kéo thép, sản xuất tôn lợp;
- Sản xuất ống thép không mạ và có mạ, ống Inox;
- Sản xuất và mua bán kim loại màu các loại, phế liệu kim loại màu;
- Luyện gang, thép; Đúc gang, sắt, thép;
- Khai thác quặng kim loại; Mua bán kim loại, quặng kim loại, sắt thép phế liệu;
- Sản xuất, kinh doanh các loại máy xây dựng và máy khai thác mỏ;
- Sản xuất hàng nội thất phục vụ văn phòng, gia đình, trường học;
- Sản xuất, kinh doanh, lắp ráp, lắp đặt, sửa chữa, bảo hành hàng điện, điện tử, điệnlạnh, điện dân dụng, điều hòa không khí;
- Đầu tư và xây dựng đồng bộ hạ tầng, kỹ thuật khu công nghiệp và khu đô thị;
Trang 4Tập đoàn Hòa Phát đã xây dựng những hệ thống sản xuất với hàng chục nhà máy vàmạng lưới đại lý phân phối sản phẩm trải dài trên toàn lãnh thổ Việt Nam Chủ yếu tập trungvào các sản phẩm cốt lõi và duy trì tốc độ tăng trưởng các ngành hàng truyền thống Chính
vì vậy mà đã xây dựng hình ảnh thương hiệu uy tín và minh bạch với slogan “hòa hợp - cùngphát triển - hướng tới tương lai” Hãy cùng chung sức xây dựng thương hiệu tập đoàn, đểHòa Phát ngày càng có uy tín và quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam hơn nữa
1.3.2 Sứ mệnh.
“Hòa Phát hòa hợp ba nhân tố: nhân lực, công nghệ, và tiềm năng để tạo ra các dịch
vụ hoàn hảo, sản phẩm hoàn thiện và những giá trị sống đích thực”
Trong những năm qua những chuyển biến tích cực của Tập đoàn Hòa Phát trên mọi mặtsản xuất, quản trị doanh nghiệp, uy tín thương hiệu, nâng cao tính minh bạch và điều kiệnlàm việc, đời sống người lao động
Hòa Phát đã đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu các mặt hàng thế mạnh của Tập đoàn nhưphôi thép, thép xây dựng, máy xây dựng, máy khai thác mỏ, nội thất Mặc dù tỷ trọngdoanh thu xuất khẩu còn khiêm tốn, nhưng Tập đoàn xác định đây là một kết quả bước đầu,mang tính thăm dò thị trường đồng thời mở ra một hướng đi mới hứa hẹn nhiều tiềm năngcho giai đoạn phát triển sắp tới
Xác định nguồn nhân lực là tài sản quý giá nhất, mặc dù còn nhiều khó khăn, Hòa Phátkhông ngừng cải thiện, nâng cao môi trường và đời sống cho người lao động Các chươngtrình Tết trung thu, tết thiếu nhi 1/6, sinh nhật công ty, kỷ niệm một năm lên sàn đều nhậnđược sự hưởng ứng của đông đảo đội ngũ cán bộ, góp phần tạo nên sự gắn bó và xây dựngvăn hóa doanh nghiệp Năm qua các công ty trong Tập đoàn vẫn đảm bảo đầy đủ các chế độlương, thưởng, tháng lương thứ 13, 14
Năm qua cũng ghi nhận những đóng góp tích cực của Tập đoàn Hòa Phát vào các hoạtđộng vì cộng đồng và xã hội như tham gia hỗ trợ nâng cao đời sống trẻ em vùng cao, trợgiúp đồng bào bị ảnh hưởng của thiên tai lũ lụt, xây dựng trường học tại một số địa phươngnơi Hòa Phát đầu tư cả trong và ngoài nước
Tập đoàn chủ trương tập trung cao độ cho sản xuất, tiếp tục phát triển theo chiều sâu,hoàn thiện công tác quản trị doanh nghiệp để duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định như nhữngnăm qua
- Gia tăng giá trị các ngành hàng truyền thống, cốt lõi của Tập đoàn như thép, ống thép,nội thất, điện lạnh, máy xây dựng Tạo lập nền tảng bền vững cho các lĩnh vực kinh doanhmới như xi măng, khoáng sản
- Mở rộng phát triển theo chiều sâu, khai thác những thị trường hàng hóa truyền thống,tăng độ bao phủ của các sản phẩm mang thương hiệu Hòa Phát trên toàn quốc
Trang 5- Duy trì tỷ lệ vay nợ toàn Tập đoàn ở mức hợp lý, giảm thiểu sự phụ thuộc vào chi phívốn vay và những biến động bất lợi của tài chính.
Đứng trước nhiều thách thức lớn đặt ra trong những năm gần đây, toàn thể 6000 cán bộcông nhân viên Hòa Phát và ban lãnh đạo sẽ cùng nhau đưa Tập đoàn sẵn sàng đương đầuvới thử thách, tiếp tục duy trì sự phát triển ổn định, nâng cao thương hiệu Hòa Phát, gia tănglợi ích lâu dài cho cổ đông Tập đoàn, đồng thời đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước
1.3.3 Mục tiêu.
Mục tiêu hoạt động của Công ty từ khi thành lập là tối đa hoá lợi nhuận, tích luỹ đầu tưcho phát triển, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển doanh nghiệp Trong suốt thờigian hoạt động, Công ty vẫn tuân thủ và thực hiện theo đúng mục tiêu trên
Với tinh thần đó, trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012, mục tiêu dài hạn của Công
ty là tập trung phát triển lĩnh vực cốt lõi: sản xuất thép xây dựng, nội thất, bất động sản Tậptrung phát triển theo chiều sâu với mục tiêu luôn ở Top các Công ty lớn nhất trong lĩnh vựckinh doanh của Tập đoàn trên thị trường Việt Nam
Vẫn xuất phát từ quan điểm thận trọng và trên cơ sở đánh giá tình hình năm 2012, Banlãnh đạo Tập đoàn Hòa Phát đặt kế hoạch như sau:
Doanh thu : 18.200 tỷ đồngLợi nhuận : 906 tỷ đồngNhiệm vụ lớn nhất của Hòa Phát trong năm 2012 là triển khai giai đoạn 2 Khu liên hợpsản xuất Gang thép Hòa Phát tại Hải Dương, nâng tổng công suất sản xuất thép xây dựngcủa toàn Tập đoàn lên 1,2 triệu tấn/năm
Bên cạnh đó, HPG cũng đặt mục tiêu kiện toàn đội ngũ nhân sự, cắt giảm chi phí sảnxuất, nâng cao tính cạnh tranh cho sản phẩm, qua đó nâng cao hơn nữa vị thế của Tập đoàntrong năm 2012
2 Phân tích chiến lược phát triển thị trường ngành thép tại Tập đoàn Hòa Phát giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012.
2.1 Phân tích môi trường bên ngoài.
Mô hình PEST được sử dụng để phân tích môi trường vĩ mô
Trang 62.1.1 Môi trường tổng quát.
2.1.1.1 Môi trường kinh tế.
Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng cao liên tục trong nhiều năm từ 5% - 8%/ năm Tuynhiên cuối năm 2008 đến đầu năm 2009 phát triển chậm do khủng hoảng kinh tế toàn cầu,tăng trưởng kinh tế năm 2010 của Việt Nam tăng cao nhưng hiện nay tình hình kinh tế thếgiới và trong nước được dự báo vẫn còn đầy rẫy khó khăn, thách thức khó lường Chính vìvậy nó đã, đang và sẽ tiếp tục tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp, và đặc biệt là ngành thép
- Xu hướng và tốc độ phát triển của GDP.
Tổng sản phần quốc nội (GDP) của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2012 đã tăng 4,38%, mộtmức tăng theo đánh giá của Tổng cục Thống kê là "đạt mức thấp" do nhiều ngành, lĩnh vựcgặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm
Theo Tổng cục Thống kê, bước vào năm 2012, do tiếp tục chịu hậu quả từ cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công kéo dài ở khu vực châu Âu nên kinh tế thếgiới diễn biến không thuận Tăng trưởng của hầu hết các nền kinh tế phát triển và đang pháttriển đạt mức thấp Trong khi đó, ở trong nước, những vấn đề bất ổn tồn tại nhiều năm quatrong nội tại nền kinh tế chưa được giải quyết triệt để, thiên tai dịch bệnh liên tiếp xảy ra,cùng với bối cảnh bất lợi của tình hình thế giới đã ảnh hưởng mạnh đến sản xuất kinh doanh
và đời sống dân cư Do đó nó cũng ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tiêu thụ thép khi việctiêu thụ thép giảm mạnh trong những năm gần đây
Trang 7- Chính sách tiền tệ và tài khóa – mức lãi suất cho vay của ngân hang.
Tỉ giá USD-VND liên ngân hàng được điều chỉnh tăng 9,3% trong khi lãi suất ngânhàng ở mức cao hơn đáng kể so với cùng kỳ 2010 (các doanh nghiệp thép hiện vay ở mức16-19%/năm) Do đặc trưng của ngành vẫn phải nhập phần lớn nhu cầu đầu vào cho SX(thép phế, phôi, than cốc, than mỡ…) nên những yếu tố nêu trên đã tăng đáng kể chi phí tàichính cho tất cả các Công ty trong ngành
Hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào luôn chiếm một tỷ trọng lớn ở một sốcông ty trong Tập đoàn đặc biệt các Công ty sản xuất thép, do đó xu hướng tăng tỷ giá nămvừa qua ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Tỷ giá USD/VNĐchịu sự tác động của rất nhiều yếu tố, rất khó dự báo với những biến động bất thường, bêncạnh đó tại một số thời điểm việc giao dịch cũng gặp không ít khó khăn
HPG nhập khẩu bình quân trên 20 triệu USD/ tháng Do vậy, chênh lệch tăng tỷ giá làmchi phí trong kỳ tăng thêm hàng chục tỷ đồng Sự khan hiếm USD khi biến động tỷ giá cũnggây không ít khó khăn cho việc thanh toán các lô hàng nhập khẩu của Hòa Phát Thêm vào
đó, chi phí cơ hội, chi phí hàng tồn kho tăng khá nhiều do phải nhập tăng nguyên liệu nhằm
dự phòng biến động tăng của tỷ giá
Lãi suất cho vay có khả năng vẫn ở mức cao, do vậy những ngành hàng có đặc thù sửdụng vốn vay lớn như sản xuất thép sẽ phải chịu gánh nặng từ chi phí lãi vay, làm giảm lợinhuận của doanh nghiệp
Trong năm 2011, chính sách thặt chặt tiền tệ để chống lạm phát đã làm suy giảm thịtrường bất động sản, từ đó giảm mạnh nhu cầu tiêu thụ thép và các sản phẩm khác của Tậpđoàn như máy xây dựng, nội thất, điện lạnh Trong năm 2012, mục tiêu tăng trưởng tín dụng
sẽ ở mức 15% - 17%, đồng thời Chính phủ vẫn tiếp tục thực hiện chính sách thặt chặt tiền tệ
để chống lạm phát, cắt giảm đầu tư công…
Do đó, ngành thép và các ngành có liên quan đến lĩnh vực xây dựng bất động sản sẽ tiếptục đối diện với những khó khăn, thách thức gay gắt xuất phát từ hệ quả của chính sách thắtchặt này
- Lạm phát.
Là vấn đề cố hữu của mọi nền kinh tế thị trường, đặc biệt ở nước ta, tình hình lạm phátkhá phức tạp nó ảnh hưởng đến tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế Lạm phátlàm mất đi tính ổn định của nền kinh tế, làm cho các công ty khó lường trước được vấn đề
Trang 8và sẽ rất là mạo hiểm Vì vậy dẫn đến các công ty không dám hoặc cầm chừng trong việcxây dựng các công trình như nhà cửa, các công trình đô thị…
Bên cạnh đó, thực hiện nghị quyết 11 của Chính Phủ nhằm kiềm chế lạm phát, nhiều dự
án công của Nhà nước từ trung ương đến địa phương đều bị cắt giảm, đặc biệt là chính sáchhạn chế vốn vay vào các dự án bất động sản, khiến nhiều công trình bị trì hoãn lại, thậm chímột số dự án không được cho vay, do đó thị trường xây dựng gần như đóng băng Qua đó,đầu ra của ngành thép bị ảnh hưởng nghiêm trọng cả về số lượng cũng như chất lượng
Mặt khác, các doanh nghiệp thép lớn trên thế giới (Posco, Tata v.v.) đầu tư vào ViệtNam kéo theo việc tiếp nhận công nghệ tiên tiến, giúp cho khoảng cách về công nghệ ápdụng trong ngành thép Việt Nam so với thế giới giảm dần
Bên cạnh đó ngành thép đối mặt với thách thức lớn là cạnh tranh nội bộ ngành và cạnhtranh với thép nhập khẩu từ Trung Quốc trở lên gay gắt, cũng như yêu cầu đầu tư đổi mớicông nghệ đối với các doanh nghiệp ngày càng lớn Trong các năm qua, nhà nước vẫn bảohội doanh nghiệp ngành thép thông qua điều chỉnh tăng giảm giảm thuế xuất nhập khẩu sắtthép và các nguyên liệu khi biến động của ngành thép bất lợi cho các doanh nghiệp Tuynhiên, theo cam kết hội nhập WTO từ năm 2014, thuế suất thuế nhập khẩu sẽ ổn định (trungbình mặt hàng sắt thép là 13%) Khi đó các doanh nghiệp trong nước phải thực sự lớn mạnh
cả về tiềm lực tài chính lẫn công nghệ và chất lượng sản phẩm mới có thể cạnh tranh đượcvới thép nhập ngoại, đặc biệt là thép nhập khẩu từ Trung Quốc
2.1.1.2 Môi trường chính trị và pháp luật.
Nhà nước Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật vì vậy luôn xây dựng một hệ thốngpháp luật toàn diện để có thể điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh măc dù như vậy nhưngtrong quá trình hội nhập thì có nhiều quan hệ mới phát sinh yêu cầu luật phải không ngừng
Trang 9hoàn thiện và bổ sung, đã tạo niềm tin cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước yên tâmđầu tư, Việt Nam hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới tạo nhiều cơ hội cho các doanhnghiệp nước ngoài đầu tư ở Việt Nam cũng như tạo áp lực cho các doanh nghiệp trong nướcphải vươn lên Cùng với tình hình chung như vậy, tập đoàn Hòa Phát cùng phải đối mặttrước nhiều cơ hội và thách thức:
Cơ hội:
- Việt Nam là một đất nước có nền chính trị ổn định, ít xung đột chính trị, là một đất nướchòa bình, tỉ lệ tội phạm thấp nên đây là môi trường tốt để Hòa Phát hoạt động Theo báocáo của tập đoàn tài chính Goldman-sarchs (Tháng 12/2005) thì VN xếp thứ 1 về ổnđịnh chính trị, xếp thứ 2 về học tập, xếp thứ 2 (sau Trung Quốc) về đầu tư, xếp thứ 1 về
độ mở của nền kinh tế, xếp thứ 4 về bội chi của chính phủ, xếp thứ 7 về nợ nước ngoài
- Chính sách mở cửa khi cam kết gia nhập WTO tạo điều kiện tăng thu hút vốn đầu tưnước ngoài vào ngành thép Nhiều doanh nghiệp đầu tư vào ngành thép nước ta do ViệtNam đã có khung pháp lý phù hợp hơn với thông lệ quốc tế kết hợp với các yếu tố khácnhư chi phí nhân công rẻ, các quy định về môi trường chưa rõ ràng Các dự án đi vàohoạt động giúp giảm dần sự mất cân đối trong sản xuất thép dẹt, đồng thời việc tăngnguồn cung, tăng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành và với thép nhập khẩu,giúp loại bớt các doanh nghiệp yếu kém trong ngành
- Quyết định số 145/2007/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Quy hoạch pháttriển ngành Thép Việt Nam giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 Đây là cơ hộilớn cho ngành thép phát triển mạnh hơn
- Theo quy định trong chiến lược quy hoạch ngành thép giai đoạn 2007 – 2015 thì từ năm
2011 trở đi, các nhà máy sản xuất gang, phôi thép, cán thép mới được khởi công xâydựng phải sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, phải được trang bị cácthiết bị xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường đạt tiêu chuẩn, thiết bị đồng bộmang tính liên hợp cao và suất tiêu hao nguyên liệu, năng lượng thấp Đây là cơ hội đểnâng cao chất lượng và uy tín của ngành thép; tái cơ cấu ngành, loại bỏ những doanhnghiệp sản xuất bằng công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm môi trường
- Các nước thường có chính sách bảo hộ cho ngành Thép trong nước mặc dù đã tham giaWTO Thời gian tới khi chính sách bảo hộ được chính phủ Việt Nam được xem xét vàđưa vào áp dụng, doanh nghiệp ngành Thép Việt Nam sẽ có thêm lợi thế cạnh tranh trênsân nhà
- Luật doanh nghiệp đã có hiệu lực từ năm 2005 tạo ra sự công bằng trong môi trườngkinh doanh giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy sự phát triển chung của các ngànhcông nghiệp Việt Nam nói chung và ngành Thép nói riêng
Trang 10- Khi Gia nhập WTO, Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm do tiếpcận thị trường quốc tế rộng lớn với 148 thành viên, và vị thế thị trường ngang nhau vớitất cả các quốc gia đó Hàng hóa thâm nhập thị trường khổng lồ này mà không gặp bất
cứ trở ngại nào, miễn là không vi phạm những quy chế và cam kết đã ký
Thách thức:
- Sau nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ về những giảipháp chủ yếu tập trung kiền chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội
Và chỉ thị số 01/CTNHNN-CSTT ngày 01/03/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
về thực hiện giải pháp tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm kiểm soát lạm phát, ổn địnhkinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội Thì ngành thép đã chịu ảnh hưởng tiêu cực do
sự khó khăn của lĩnh vực xây dựng-bất động sản Chi phí tài chính ròng của toàn Tậpđoàn năm 2011 tăng mạnh so với năm 2010 (tăng gấp 1.51 lần) Các mảng hoạt độngcủa Tập đoàn đều bị ảnh hưởng, trong đó đáng kể nhất là bất động sản và thép
- Theo nghị định 69, chi phí giá vốn đất của chủ đầu tư sẽ sát với giá thị trường, trong khitrước đây giá vốn đất của chủ đầu tư chỉ tương đương với khung giá đất mà UBNDtỉnh/TP quy định ra, vốn thường thấp hơn giá thị trường khoảng 30%-40% Nó tác độngtrực tiếp đến thị trường bất động sản, chủ đầu tư bất động sản sẽ khó mà có thể có lãi.Nên việc đầu tư vào BĐS sẻ bị hạn chế hơn dẫn tới nguồn cầu về thép sẽ giảm
- Chính sách pháp luật của Việt Nam còn đang trong quá trình hoàn thiện, luật khoáng sản
2011 đã thay đổi cơ chế cấp phép thăm dò khai thác mỏ theo cơ chế đấu giá; biểu thuếcủa nhiều loại khoáng sản được điều chỉnh theo hướng tăng lên làm gia tăng chi phí đầuvào cho doanh nghiệp
- Các loại thuế cơ bản của ngành thép là thuế xuất nhập khẩu Tuy nhiên chính sách thuếliên quan đến thép thay đổi liên tục, lúc tăng, lúc giảm, dựa theo đề nghị của các doanhnghiệp trong ngành và đề nghị của Hiệp hội thép Việt Nam, từ đầu năm 2008 đến nay đã
5 lần điều chỉnh thuế nhập khẩu thép Điều này tạo tính chất bất ổn, mang lại nhiều longại cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong ngành
- Luật và các văn bản dưới luật chưa hoàn chỉnh Các chính sách và hướng dẫn về thuếthay đổi thường xuyên, chưa đồng bộ với các quy định khác…Việc không cập nhật kịpthời các thay đổi về chính sách đặc biệt là chính sách thuế có thể ảnh hưởng trực tiếpđến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (ví dụ như việc xác định ưu đãi thuếTNDN đối với các dự án của Tập đoàn)
2.1.1.3 Môi trường văn hóa – xã hội.
- Môi trường văn hóa - xã hội là bao gồm các chuẩn mực và các giá trị được chấp thuận
và tôn trọng bởi một văn hóa hoặc một văn hóa cụ thể Sự thay đổi của yếu tố Văn hoá
Trang 11-Xã hội là một phần hệ quả của sự tác động lâu dài của các yếu tố vĩ mô khác, do vậy nóthường xảy ra và tác động rất chậm đến doanh nghiệp:
- Theo báo cáo Tình hình Dân số Thế giới 2010 của Liên Hiệp Quốc, dân số Việt Namhiện là 89 triệu người và sẽ tăng lên 111,7 triệu người vào năm 2050 Việt Nam hiệnđứng thứ 14 trong số những nước đông dân nhất thế giới Việt Nam là một nước đôngdân, cơ cấu dân số trẻ, số lượng người trong độ tuổi lao động cao Năm 2010, Việt Nam
có 58 triệu người trong độ tuổi lao động thực tế (từ 15 đến 64 tuổi), bình quân hai ngườilao động nuôi một người phụ thuộc Kết cấu dân số trẻ, tỷ lệ tăng trưởng dân số cao1,0% hằng năm, tốc độ tăng trưởng nhanh dẫn đến nhu cầu xây dựng nhà ở lớn;
- Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá Việt Nam là nước có tốc độ đô thị hóa cao nhấtĐông Nam Á Nếu năm 1986, tỉ lệ dân cư sống tại đô thị Việt Nam mới 19% (khoảng11,8 triệu người) thì đến năm 2010 đã tăng lên 30,5% (khoảng 26,3 triệu người) Theođánh giá của World Bank, Việt Nam đang có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất trong khu vựcĐông Nam Á Theo định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Namđến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, để mức đạt mức đô thị hóa 50% vào năm
2025, bên cạnh những đòi hỏi về phát triển CSHT, dịch vụ xã hội, thì mỗi năm ViệtNam cũng cần phải xây mới hơn 15 triệu m2 nhà ở Đầu tư cơ sở hạ tầng là đòi hỏi cấpthiết và nền tảng cơ bản để phát triển các dự án chung cư, nhà ở…Tốc độ đô thị hóa caocùng với cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực bấtđộng sản phát triển
2.1.1.4 Các yếu tố công nghệ.
Trong giai đoạn hiện nay, tốc độ phát triển công nghệ cũng như chuyển giao công nghệtrong sản xuất thép ngày càng phát triển với nhiều công nghệ hiện đại được áp dụng như: Kỹ
Trang 12thuật phát điện bằng áp suất dư đỉnh lò cao, công nghệ phun than cám và ôxy vào lò cao,công nghệ ép viên bụi lò luyện thép, công nghệ hoàn nguyên bột sắt từ vảy cán…
Trong “Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) của Bộ CôngThương”, thép là một trong những ngành được định hướng ứng dụng và chuyển giao cáccông nghệ các-bon thấp thân thiện với khí hậu Chính vì vậy, việc đầu tư đổi mới công nghệtiên tiến phù hợp cho sản xuất thép là biện pháp hết sức cần thiết
Do đó, các doanh nghiệp sản xuất thép Việt Nam đã đầu tư áp dụng các biện pháp kỹthuật tiên tiến và tổ chức sắp xếp lại sản xuất để giảm tiêu hao năng lượng và tăng tính hiệuquả trong sản xuất như: Công nghệ sấy và cán thép liên tục, sản xuất thép từ phôi nóng đượcnạp trực tiếp từ nhà máy luyện đã giúp giảm 30% chi phí gia nhiệt trong quá trình cán thépthành phẩm; việc sử dụng gang lỏng trong phối liệu, loại bỏ tất cả các lò điện có dung lượngnhỏ hơn 10 tấn, kiểm tra, bảo dưỡng thiết bị và chuẩn bị nguyên liệu… cũng góp phần giảmtiêu thụ nhiên liệu khoảng gần 20%; nâng cấp nhằm tăng tỷ lệ quặng thiêu kết và vê viên,thay quặng sống nạp vào lò cao, giảm tiêu hao than cốc cho luyện gang, xử lý thép phế trướckhi nạp vào lò điện hồ quang; hệ thống lọc bụi,
Công nghệ Danieli Morgardshamma do tập đoàn hàng đầu thế giới Danieli-Italy cungcấp, có những tính năng vượt trội như: Lò có khả năng cung cấp nhiệt từ hai hay nhiều phíađến kim loại và tận dụng nhiệt của sản phẩm cháy; Đảm bảo nung kim loại đồng đều; Dễđiều khiển tốc độ nung kim loại trong phạm vi công suất 50 tấn/h đảm bảo thành phần hóahọc của phôi không bị thay đổi; Giảm lượng vảy oxit sắt tạo ra trong quá trình nung; Nângcao cơ lý tính của sản phẩm như: độ giãn dài, độ bền kéo, tối ưu hóa độ bền uốn, Độ ổn định
cơ lý tính cao trong thời gian dài, Khả năng chịu tải cao của lớp bề mặt do đó được xử lýnhiệt, tạo thành lớp Mactenxit cho phép sử dụng trong các kết cấu chịu tải nặng,
Đặc biệt là xu hướng sản xuất thép theo quy trình khép kín Quy trình khép kín bắt đầu
từ hai nguyên liệu chính là quặng sắt tinh chế và than cốc (coke) sử dụng công nghệ lò cao(hoặc thép phế sử dụng công nghệ lò điện), luyện thành phôi: phôi dài hoặc phôi dẹt (slab).Phôi dài sản xuất thép xây dựng, phôi dẹt (chỉ có thể luyện bằng công nghệ lò cao) sản xuấtthép cán nóng Từ thép cán nóng sản xuất thép cán nguội, từ cán nguội qua các công đoạn ủ,công đoạn mạ… sản xuất ra sản phẩm đa dạng, ví dụ như tôn, xà gồ, thùng ô tô, ống thônghơi nhà cao tầng, vỏ tủ lạnh, máy lạnh… Nhu cầu sử dụng rất cao
Công nghệ lò cao hiện rất phổ biến, 65% sản lượng thép thế giới được sản xuất từ quặngsắt theo công nghệ này Ở Việt Nam mới có một số DN như Thái Nguyên, Hòa Phát, VạnLợi, Formusa, thép Quảng Liên và Tycoons đầu tư công nghệ lò cao Tự động hóa trong lĩnhvực sản xuất ngày càng được nghiệp ngành Thép quan tâm
Trang 13Đa dạng hóa kênh truyền thông tin đại chúng như đài tiếng nói, truyền hình giúp cácdoanh nghiệp ngành Thép có thêm nhiều kênh để quảng bá hình ảnh của mình.
Cơ hội:
Giúp tăng năng suất
Đảm bảo an toàn trong quá trình giao nhận sản phẩm
Chất lượng bề mặt và tính mỹ quan cao: gai thép đều và đẹp, nước thép sáng
Với việc sản xuất thép bằng quy trình khép kín giúp tiết giảm chi phí, nâng cao năngsuất lao động, giảm giá thành sản phẩm
Ngành thép đã giảm được lượng khí bụi thải phát tán ra môi trường trong quá trìnhsản xuất gang thép, giảm được lượng phát thải khí nhà kính
Giúp giảm tiêu hao cốc luyện kim, giảm ô nhiễm môi trường, hạ giá thành sản phẩm,tận thu tài nguyên…
Với tự động hóa trong sản xuất, sản phẩm làm ra có chất lượng tốt hơn, ít hao tốnnguyên vật liệu và tiết kiệm chi phí nhân công thừa;
Quảng bá hình ảnh, thương hiệu cũng như tăng uy tín cho các doanh nghiệp sản xuấtthép
Thách thức:
Để duy trì công nghệ hiện tại sẽ tiêu tốn rất nhiều tiền vốn, đặc biệt các doanh nghiệpphải đổi mới liên tục để tăng cường khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp đốithủ
Việc sử dụng công nghệ lò cao cũng đặt ra thách thức phải đảm bảo đủ quặng đầu vàoliên tục, không được dừng lò Rủi ro này cũng có liên quan rất nhiều đến rủi ro vềnguyên vật liệu
2.1.1.5 Các yếu tố tự nhiên.
Các yếu tố tự nhiên bao gồm môi trường sinh thái ( Không khí, nước, đất đai, ) để chocác công ty hoạt động và các yếu tố đầu vào như than, quặng sắt, thủy năng,… là nhữngnhân tố đầu vào cần thiết cho hoạt động của DN và ảnh hưởng nhất định đến các hoạt độngkinh doanh của DN Sản phẩm chính của thép Hòa Phát là thép xây dựng được sản xuất từnguyên liệu chính là quặng sắt và than cốc
- Về quặng sắt cho đến nay lãnh thổ Việt Nam đã ghi nhận được hơn 300 mỏ và điểmquặng sắt Trong đó có 48 mỏ đã được tìm kiếm, thăm dò ở các mức độ khác nhau.Quặng sắt phân bố rất không đồng đều, chủ yếu ở phía Bắc và tập trung chủ yếu ở cáckhu vực sau:
Khu vực Đông Bắc Bắc Bộ: phân bố chủ yếu ở Thái Nguyên, Cao Bằng, Hà Giang
Khu vực Tây Bắc Bắc Bộ: phân bố chủ yếu ở Yên Bái, Lào Cai
Khu vực Bắc Trung Bộ: quặng sắt tập trung ở mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh), ThanhHoá
Khu vực Trung Trung Bộ: quặng sắt gặp ở Mộ Đức (Quảng Ngãi) và rải rác ở một sốđiểm khác với quy mô không đáng kể
Trang 14 Khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ chưa gặp các mỏ sắt có giá trị công nghiệp.
Các mỏ thăm dò tương đối tỷ mỷ bao gồm: Ngườm Chám tỉnh Cao Bằng; Quý Xatỉnh Lào Cai; Nghĩa Lộ tỉnh Quảng Ninh; Thạch Khê tỉnh Hà Tĩnh; Tiến Bộ, Đồng
Hỷ, Đại Khái, Trại Cau tỉnh Thái Nguyên Tổng trữ lượng sắt Việt Nam khoảng là956,415 triệu tấn Mỏ có trữ lượng lớn nhất Việt Nam là mỏ sắt Thạch Khê với tổngtrữ lượng là 544,08 triệu tấn Hầu hết các mỏ có trữ lượng dưới 10 triệu tấn Tỉnh cótrữ lượng sắt lớn nhất là tỉnh Hà Tĩnh 544,08 triệu tấn, tiếp đến là các tỉnh Lào Cai,
Hà Giang, Yên Bái, Cao Bằng, Thái Nguyên
Tổng trữ lượng sắt cấp cao (A+B) chiếm tỷ lệ ít so với tổng trữ lượng sắt hiện có(14,02%), tập trung chủ yếu ở mỏ Thạch Khê (Hà Tĩnh), mỏ Quý Xa (Lao Cai) vàmột số mỏ ở tỉnh Thái Nguyên Trữ lượng sắt cấp C1 chiếm 48,51% tổng trữ lượngsắt, tập trung chủ yếu ở mỏ Thạch Khê (Hà Tĩnh), Quý Xa (Lao Cai), Tiến Bộ (TháiNguyên)
Đến thời điểm hiện nay trên toàn lãnh thổ nước ta gồm 2 mỏ có quy mô mỏ lớn là mỏsắt Thạch Khê (Hà Tĩnh), Quý Xa (Lao Cai); 6 mỏ quy mô trung bình: Tòng Bá, SàngThần, Nam Lương (Hà Giang), Nà Lũng (Cao Bằng), Làng Mỵ (Yên Bái), Tiến Bộ(Thái Nguyên); còn lại đều thuộc loại mỏ nhỏ Trong đó, riêng 2 mỏ lớn đã chiếm69,44% tổng trữ lượng sắt quốc gia
- Về trữ lượng than của Việt Nam khá lớn Theo số liệu của tập đoàn Than - Khoáng sảnViệt Nam công bố, tổng trữ lượng than của Việt Nam trên 220 tỉ tấn, trong đó khu mỏthan Quảng Ninh 10,5 tỉ tấn và mỏ than ở vùng đồng bằng sông Hồng 210 tỉ tấn nằm trảirộng trên diện tích 3.500 ki lô mét vuông Trữ lượng than của Việt Nam tuy lớn nhưngphần có thể khai thác không nhiều Khả năng khai thác tốt nhất là ở phần trữ lượng 3,5 tỉtấn nằm ở độ sâu dưới 300 mét đã được thăm dò chi tiết ở khu mỏ Quảng Ninh
xỉ 2.600 tỷ đồng, tổng công suất thiết kế là 700.000 tấn than cốc thành phẩm/năm Nhàmáy được áp dụng công nghệ và thiết bị tiên tiến nhất trong lĩnh vực sản xuất than cốc Vì
Trang 15vậy, ngoài sản phẩm chính là than cốc luyện kim chất lượng cao phục vụ ngành luyện kim,Nhà máy còn có trạm phát điện nhiệt dư 37MW, cung cấp mỗi năm khoảng 270 triệu kWhđiện thương phẩm luyện than cốc Với lượng than cốc tự sản xuất hiện tại, DN không chỉcung cấp đủ nguyên liệu cần cho khu liên hợp sản xuất gang thép của Tập đoàn mà còn cónguồn thặng dư để hướng tới phục vụ cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu Sản phẩm than cốccủa DN với chất lượng cao bước đầu đã thâm nhập được vào các thị trường lớn như Ấn
Độ, Nhật Bản và sẽ tiếp tục mở rộng sang kinh doanh các thị trường tiềm năng khác.Doanh thu từ kinh doanh than cốc cũng góp phần không nhỏ vào tăng trưởng doanh thu củatập đoàn
Thách thức:
- Tình trạng ô nhiểm môi trường là vẫn đề cấp thiết phải được ưu tiên hàng đầu hiện nay.Bụi lò luyện thép (các kim loại độc hại như kẽm, chì, crom,… bị cuốn theo khói thải, đượcthu lại bằng hệ thống xử lý bụi của nhà máy thép) được Bộ Tài nguyên và Môi trường xếpvào danh mục chất thải nguy hại (CTNH) Lượng bụi phát sinh trong quá trình luyện thépphụ thuộc vào công nghệ luyện thép, nhưng thông thường chiếm khoảng 1,5 - 2,5% sảnlượng sản phẩm phôi thép Đây là loại chất thải rất độc hại với con người Theo quy địnhcủa Luật Bảo vệ môi trường, Nhà nước cho phép các DN luyện thép nhập khẩu phế liệusắt, thép làm nguyên liệu sản xuất, nhưng phải bảo đảm xử lý triệt để các chất thải phátsinh từ quá trình luyện thép, trong đó có xử lý bụi Tuy nhiên, trong thời điểm hiện naychưa có đơn vị nào có năng lực xử lý loại chất thải này, các nhà máy buộc phải đóng bao,lưu giữ trong các nhà kho, nên rất tốn kém và không bảo đảm vệ sinh môi trường, cũngnhư quy định về quản lý CTNH, gây khó khăn cho chính các nhà máy luyện thép trong quátrình sản xuất Sự can thiệp của nhà nước vào việc sự dụng và tái chế tài nguyên, yêu cầuquản lí, kiểm soát chặt chẽ hơn nữa việc khai thác tài nguyên, tái chế nguyên nhiên liệu vàbảo vệ môi trường ảnh hưởng to lớn đến hoạt động của DN, phải tăng các khoản chi phícho việc xử lý các vấn đề về môi trường
- Tuy trữ lượng than của nước ta khá lớn nhưng nguồn tài nguyên về than cốc, nguyên liệuchính cho luyện gang, thép ở nước ta còn rất hạn chế, phải nhập khẩu từ bên ngoài, đặc biệt
là Trung Quốc Cùng với lượng tiêu thụ ngày càng lớn như hiện nay mà nguồn cung lại phụthuộc nhiều, nên kinh tế gặp nhiều khó khăn, bên cung cấp cũng liên tục tăng giá nguyênliệu Sự gia tăng chi phí năng lượng làm tăng chi phí hoạt động sản xuất của DN đồng thờilàm tăng chi phí sinh hoạt, sử dụng sản phẩm-dịch vụ của người tiêu dùng làm giảm nhucầu tiêu dùng
2.1.2 Môi trường ngành.
Trang 16Như chúng ta biết ngành kinh doanh ở đây là ngành thép và các sản phẩm được sảnxuất từ thép, bao gồm các doanh nghiệp cùng làm ra các sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) cóthể thay thế cho nhau để thỏa mãn cùng một nhu cầu nào đó của người tiêu dùng Nhiệm vụcủa chúng tôi là phân tích các tác lực cạnh tranh trong môi trường cạnh tranh để nhận diện racác cơ hội và nguy cơ mà doanh nghiệp gặp phải theo lý thuyết, việc lựa chọn 5 thế lực tácđộng cạnh tranh của Mr.Porter sẽ giúp nhận diện vấn đề đó Chúng tôi sử dụng để phân tíchcác lực cạnh tranh mà Tập đoàn Hòa Phát gặp phải trong ngành Do vậy điều quan trọng khi
sử dụng mô hình này phải có những nhận định chính xác về mỗi thành tố của mô hình cụthể:
2.1.2.1 Đối thủ cạnh tranh hiện tại.
Năm 2011, theo số liệu của VSA— Hiệp hội sắt thép Việt Nam cung cấp:
Qua bảng số liệu trên có thể nhận định đối thủ cạnh tranh hiện tại của thép Hòa Phát làCông ty cổ phần thép Pomina (POM) Hiện nay là doanh nghiệp thép lớn nhất Việt Nam,
có thương hiệu mạnh với hơn 14% thị phần thép xây dựng cả nước; là một trong nhữngnhà sản xuất thép có công suất lớn nhất nước, với năng lực sản xuất gồm 03 dây chuyềncán thép (tổng công suất 1,1 triệu tấn/năm) và 01 dây chuyền luyện phôi (500 nghìntấn thép/năm)
Cạnh tranh trong ngành thép hiện nay chủ yếu là giữa các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh thép dài, còn thép dẹt chủ yếu nhập khẩu nên cạnh tranh không rõ nét, tuy nhiên từ
2010 đến 2012 trở đi, một số dự án lớn sản xuất thép dẹt đi vào hoạt động thì mức độ cạnhtranh ở sản phẩm thép dẹt sẽ tăng lên Nhìn chung cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngàycàng lớn thể hiện ở các điểm sau:
- Là ngành mới đồng thời sự phân tán cao nên sẽ xảy ra tình trạng cạnh tranh mạnh mẽgiữa các doanh nghiệp trong ngành Thị phần tiêu thụ sẽ dễ bị mất trong tay các đốithủ trong ngành
- Là ngành phân tán nên có sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp
Trang 17- Số lượng công ty ngày càng tăng, đặc biệt các công ty có quy mô công suất lớn sắpđược thành lập
- Ngành thép là ngành có chi phí cố định cao, do đó các doanh nghiệp có thể tăng lợithế nhờ quy mô, doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ giảm được chi phí cố định/sản phẩm,giảm giá bán, tạo lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác
- Hiện nay nhu cầu thép trong nước đã bão hòa, đồng thời do tác động mạnh từ khủnghoảng kinh tế năm 2008, ngành bất động sản, nguồn tiêu thụ chính của ngành thép,rơi vào trạng thái trầm lắng trong năm 2011 Do chịu tác động của ngành bất động sản
bị trầm lắng và chính sách cắt giảm đầu tư công của chính phủ, nhu cầu tiêu thụ thépxây dựng trong 6 tháng cuối năm 2011 giảm mạnh Cụ thể, sản lượng thép tiêu thụtrong tháng 10 ở mức 326.000 tấn, giảm 29% yoy, tháng 11 ở mức 330.000 tấn, giảm37% yoy, tháng 12 được dự báo chỉ ở mức tương đương tháng 11 là 330.000 tấn,giảm 25% yoy Như vậy, sản lượng thép xây dựng tiêu thụ trong 6 tháng cuối năm
2011 chỉ ở mức 2,2 triệu tấn, giảm 13% yoy, và sản lượng thép xây dựng tiêu thụ cảnăm 2011 chỉ ở mức 4,6 triệu tấn, giảm 5,5% yoy Việc giảm sút của nhu cầu sẽ đẩymức độ cạnh tranh giức các doanh nghiệp lên cao
- Rào cản rời ngành cao do việc thanh lý máy móc của các doanh nghiệp ngành khôngmang lại nhiều giá trị kinh tế Điều này làm cho nhiều doanh nghiệp buộc phải ở lạingành mặc dù hoạt động không hiệu quả như trước, làm tăng tính cạnh tranh trongngành
- Tốc độ phát triển ngành khá cao mang lại nhiều lợi nhuận; dẫn đến rào cản rời ngànhcao, làm tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành
Hiện nay về mảng thép dài có nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau nhưng không códoanh nghiệp nào đủ khả năng chi phối các doanh nghiệp còn lại Khả năng cạnh tranh tốthơn nằm ở các doanh nghiệp có quy mô công suất ở mức tương đối lớn (từ 200.000 tấn/năm)
và xây dựng về sau (sau năm 2002) hoặc các doanh nghiệp liên doanh có ưu thế về vốn,công nghệ, cách thức quản lý và quảng bá sản phẩm như Pomina, Vinakyoei, Việt Úc, HoàPhát v.v Ngược lại một số các doanh nghiệp cán thép thành lập từ trước như thép Đà Nẵng(1992), thép Miền Trung (1998), Nasteel (1996) v.v và các xưởng cán thép mini của tư nhânđang mất dần thị trường và hoạt động không hiệu quả
Nhìn chung, cạnh tranh trong ngành thép đang ngày càng gay gắt giữa các đơn vị sảnxuất trong ngành, trong đó chủ yếu tập trung vào một số doanh nghiệp mới thành lập trongmấy năm gần đây
Vậy mức độ cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành là tác lực cạnh tranh mạnh
2.1.2.2 Khách hàng.
Trang 18Trải qua hơn 20 năm, tập đoàn Hòa Phát đã có một lượng khách hàng đông đảo, thươnghiệu Hòa Phát đã có bề dày hình thành và phát triển, tạo dựng niềm tin và tín nhiệm đối vớikhách hàng trong nhiều sản phẩm và đặc biệt là trong lĩnh vực thép.
- Sản phẩm ngành Thép đóng vai trò thiết yếu đối với sự phát triển của các ngành khác vàdường như là không có sản phẩm thay thế nên mức độ quan trọng của thép đối vớikhách hàng là rất cao, khách hàng buộc phải mua khi có nhu cầu tiêu dùng
- Hơn thế nữa là việc khách hàng không thể đe dọa với công ty buộc giảm giá khi họkhông có khả năng hội nhập dọc ngược chiều
- Mức độ tập trung của khách hàng không cao Các đại lý phân phối dễ làm giá trongtrường hợp xảy ra tình trạng khan hiếm thép;
Đối với khách hàng tiêu thụ thép là các cá nhân thì áp lực từ khách hàng không lớn do
họ không có nhiều thông tin về chất lượng sản phẩm và giá cả cũng như khả năng đàm phángiá thấp
Năng lực thượng của khách hàng cá nhân là thấp
Tuy nhiên, đối với khách hàng là các doanh nghiệp thì tạo áp lực lớn do các yếu tố sau:
- Thép xây dựng: nguồn cung trên thị trương hiện đã dư thừa so với nhu cầu tiêu thụ.Thép dẹt hiện chưa đáp ứng đủ nhu cầu nhưng từ năm 2013 trở đi có khả năng nguồncung thép dẹt cũng thừa đáp ứng nhu cầu
- Khách hàng doanh nghiệp thường có nhiều thông tin về giá cả, chất lượng sản phẩm, do
đó khả năng đàm phán giá cao, cũng như việc lựa chọn và thay đổi nhà cung cấp dễdàng
- Khối lượng đặt mua lớn và việc ký được hợp đồng cung cấp dài hạn với khách hàngmang lại nhiều lợi ích với doanh nghiệp
Ngoài ra:
- Chi phí để khách hàng chuyển đổi thấp
- Mặc dù giá thép trên thị trường luôn biến động không ngừng, song người bán khônghoàn toàn có khả năng áp đặt giá đối với người mua bởi luôn có sự cạnh tranh giữa cáccông ty Giá bán của các công ty trong nước đối với từng dòng sản phẩm khác nhaukhông có sự chênh lệch lớn Thép cũng được đưa vào một trong những mặt hàng nằmtrong danh sách bình ổn giá của nhà nước nên nhà cung cấp khó có thể gây áp lực về giácho khách hàng
Năng lực thượng của khách hàng tổ chức là cao