MỤC LỤC CHƯƠNG 1:VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1 1.1. Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, thành phần vốn kinh doanh 1 1.1.1.1. Khái niệm vốn kinh doanh 1 1.1.1.2. Đặc trưng của vốn kinh doanh 2 1.1.1.3. Thành phần của vốn kinh doanh 4 1.1.2. Vốn cố định 4 1.1.2.1. Khái niệm vốn cố định 4 1.1.2.2. Đặc điểm chu chuyển của vốn cố định: 4 1.1.3. Vốn lưu động. 5 1.1.3.1. Khái niệm vốn lưu động. 5 1.1.3.2. Đặc điểm của vốn lưu động. 6 1.1.4. Nguồn hình thành vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. 6 1.1.4.1. Căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn: 7 1.1.4.2. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn 8 1.1.4.3. Căn cứ vào phạm vi huy động vốn. 9 1.2. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 10 1.2.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 10 1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 12 1.2.2.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định 12 1.2.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động. 14 1.2.2.3. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. 17 1.2.3. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VKD 19 1.2.3.1. Những nhân tố khách quan 19 1.2.3.2. Nhóm nhân tố chủ quan. 20 1.2.4. Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 22 CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG 25 VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG BẠCH ĐẰNG 201 25 2.1. Khái quát về Công ty cổ phần xây dựng Bạch Đằng 201 25 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty 25 2.1.1.1. Tên, địa chỉ công ty 25 2.1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển 26 2.1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty 27 2.1.2.1. Chức năng, ngành nghề kinh doanh 27 2.1.2.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty 27 2.1.2.3. Công tác tổ chức bộ máy quản lý tài chính kế toán của Công ty 31 2.1.2.4. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 32 2.1.2.5. Đặc điểm nguồn nhân lực 33 2.1.2.6. Đặc điểm sản phẩm 34 2.1.2.7. Đặc điểm tiêu thụ 34 2.1.2.8. Những thuận lợi và khó khăn chủ yếu trong hoạt động SXKD của công ty 35 2.1.3. Tình hình tài chính chủ yếu của công ty 36 2.2. Tình hình quản lý sử dụng và hiệu quả quản lý sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần xây dựng Bạch Đằng 201 39 2.2.1. Khái quát tình hình cơ cấu và sự biến động vốn kinh doanh của công ty 39 2.2.2. Khái quát tình hình cơ cấu và sự biến động nguồn vốn kinh doanh 42 2.2. Tình hình tổ chức sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn lưu động 45 2.2.1. Tình hình tổ chức sử dụng vốn lưu động 45 2.1.1.1.Tình hình quản lý vốn bằng tiền 46 2.2.1.2. Tình hình quản lý hàng tồn kho. 49 2.2.1.3. Tình hình quản lý các khoản phải thu 52 2.2.1.4. Tình hình quản lý tài sản ngắn hạn khác 56 2.1.1. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động 57 2.1. Tình hình tổ chức sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn cố định 59 2.3.1. Tình hình tổ chức sử dụng vốn cố định 59 2.3.2.Tình hình cơ cấu và sự biến động tài sản cố định 59 2.3.2.2.Tình hình khấu hao tài sản cố định 62 2.3.1.Hiệu quả sử dụng vốn cố định 65 2.3.2.Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty 67 2.3.4. Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng VKD của công ty 69 2.3.4.1. Những kết quả đạt được: 69 2.3.4.2. Những hạn chế còn tồn tại: 70 CHƯƠNG 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG BẠCH ĐẰNG 201 72 3.1. Định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới 72 3.1.1. Bối cảnh kinh tế xã hội trong và ngoài nước 72 3.1.2. Định hướng phát triển sản xuất kinh doanh năm 2013 74 3.2. Một số giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần xây dựng Bạch Đằng 201 75 3.2.1. Chủ động trong công tác huy động vốn và sử dụng linh hoạt các nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở đảm bảo cơ cấu nguồn vốn mục tiêu 75 3.2.2. Đẩy mạnh công tác quản lý vốn lưu động 77 3.2.3. Đầu tư đúng hướng TSCĐ, phát huy tối đa công suất máy móc thiết bị hiện có nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định 79 3.2.3.1. Trong công tác đầu tư TSCĐ 79 3.2.3.2. Về công tác quản lý, sử dụng TSCĐ 80 3.2.4. Không ngừng phấn đấu hạ giá thành sản phẩm, tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp 81 3.2.5. Thực hiện tốt việc quảng bá sản phẩm và công nghệ của công ty để đẩy mạnh tiêu thụ 82 3.2.6. Tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán và phân tích tài chính, qua đó tăng cường công tác quản lý nội bộ trong công ty 83 3.3. Một số kiến nghị nhằm thực hiện các biện pháp trên 83 KẾT LUẬN 85
Trang 1CHƯƠNG 1 VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, thành phần vốn kinh doanh
1.1.1.1 Khái niệm vốn kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh của từng doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp đều có những đặc thù riêng song trong quá trình SXKD đều có đặc điểm chung là bắt đầu bằng các yếu tố đầu vào và kết thúc là các yếu tố đầu ra Để tạo ra đầu ra thì DN cần phải có các yếu tố đầu vào với giá trị nhất định Vì vậy, doanh nghiệp phải có một lượng tiền tệ nhất định để đầu tư mua sắm các yếu tố đầu vào cơ bản cho quá trình sản xuất kinh doanh như sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Lượng tiền tệ này gọi là vốn kinh doanh (VKD) của doanh nghiệp
“Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn
bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”
Vốn trong sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp luôn tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là hình thái giá trị và hình thái hiện vật
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa
từ hình thái ban đầu là tiền Sau quá trình sản xuất, vốn được kết tinh vào sản phẩm và khi sản phẩm được tiêu thụ, các hình thái khác nhau của vật chất lại được chuyển về hình thái ban đầu là tiền
Trang 2Vốn không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp
mà nó còn là một trong các yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp thì kết quả thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh phải đảm bảo bù đắp được toàn bộ chi phí bỏ ra và có lãi Như vậy số tiền đã ứng ra ban đầu phải được sử dụng có hiệu quả thì mới bảo toàn và phát triển được vốn
1.1.1.2 Đặc trưng của vốn kinh doanh
Để quản lý và sử dụng VKD trong doanh nghiệp một cách hợp lý và hiệu quả đòi hỏi các nhà quản trị phải nhận thức đúng đắn và đầy đủ các đặc trưng của vốn kinh doanh trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp VKD của doanh nghiệp có các đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất: VKD được biểu hiện bằng một lượng giá trị thực tế của các
tài sản hữu hình và vô hình dùng để sản xuất ra một lượng giá trị thực các sản phẩm khác Vốn chính là biểu hiện về mặt giá trị của các loại tài sản như: máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hóa, bằng phát minh sáng chế, lợi thế kinh doanh… trong hoạt động SXKD của DN Do đó, không thể có vốn mà không có tài sản hoặc ngược lại Song, chỉ có những tài sản có giá trị và giá trị sử dụng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của DN mới được coi là vốn
Thứ hai: VKD phải được vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh
doanh của DN Ban đầu, vốn được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn Để biến tiền thành vốn thì đồng tiền đó phải được đưa vào hoạt động SXKD Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn vốn phải là hình thái tiền tệ với giá trị lớn hơn, đó là mục tiêu kinh doanh lớn nhất của bất kỳ doanh nghiệp nào
Thứ ba: VKD phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới
có thể phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này cho thấy để có thể sử dụng vốn một cách có hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải tính toán
Trang 3chính xác lượng vốn cần sử dụng tránh tình trạng thiếu vốn doanh nghiệp sẽ rơi vào thế bị động hoặc thừa vốn sẽ ảnh hưởng đến chi phí cơ hội trong quá trình
sử dụng vốn, không thể quay vòng vốn nhanh Vì vậy các doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào tiềm năng sẵn có của mình mà còn phải tìm cách huy động thu hút vốn từ nhiều nguồn khác nhau như: góp vốn liên doanh, vay nợ, phát hành
cổ phiếu
Thứ tư: VKD có giá trị về mặt thời gian, tức là đồng vốn tại các thời
điểm khác nhau có giá trị không giống nhau (do ảnh hưởng của các nhân tố như lạm phát, sự biến động của giá cả, tiến bộ khoa học kỹ thuật…) Do đó, việc huy động và sử dụng vốn kịp thời là điều hết sức quan trọng
Thứ năm: VKD phải gắn với chủ sở hữu Mỗi loại vốn bao giở cũng gắn với
một chủ sở hữu nhất định Người sử dụng vốn chưa chắc đã là người sở hữu vốn
do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn Điều này đòi hỏi mỗi người sử dụng vốn phải có trách nhiệm với đồng vốn mà mình nắm giữ và sử dụng
Thứ sáu: Tại một thời điểm, vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau, vốn không chỉ là biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà của
cả các tài sản vô hình như: vị trí địa lý, uy tín, thương hiệu, quy trình công nghệ sản xuất, bằng phát minh sáng chế…
Thứ bảy: VKD được coi là một hàng hóa đặc biệt Những người có vốn
có thể đưa vốn vào thị trường, những người cần vốn có thể đến thị trường để huy động vốn (sử dụng vốn) nhưng phải trả một khoản chi phí sử dụng vốn nhất định cho chủ sở hữu nguồn vốn Như vậy, khác với hàng hóa thông thường, vốn khi
“bán ra” sẽ không mất đi quyền sở hữu mà chỉ mất đi quyền sử dụng Người mua được quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định
Trang 41.1.1.3 Thành phần của vốn kinh doanh
Căn cứ vào vai trò và đặc điểm chu chuyển giá trị của vốn kinh doanh khi tham gia vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp thì vốn kinh doanh gồm hai bộ phận chính là vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ)
1.1.2 Vốn cố định
1.1.2.1 Khái niệm vốn cố định
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền giá trị tài sản cố định, là số vốn đầu
tư ứng trước hình thành nên tài sản cố định của doanh nghiệp, sự vận động của nó luôn gắn liền với sự vận hành và chu chuyển của tài sản cố định.
1.1.2.2 Đặc điểm chu chuyển của vốn cố định:
VCĐ là số vốn ứng trước để mua sắm, xây dựng các tài sản cố định nên quy mô của vốn cố định lớn hay nhỏ nó ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang
bị kĩ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác, trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, VCĐ thực hiện chu chuyển giá trị của nó Sự chu chuyển này của VCĐ chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của TSCĐ TSCĐ có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh; TSCĐ giữ nguyên hình thái hiện vật ban đầu; giá trị của nó dịch chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kì sản xuất Đặc điểm này của TSCĐ đã quyết định đến đặc điểm luân chuyển của VCĐ:
Một là: VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD mới hoàn thành một
vòng chu chuyển
Hai là: Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, VCĐ được
luân chuyển giá trị dần dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh
Trang 5Ba là: VCĐ chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được
TSCĐ về mặt giá trị – tức là khi thu hồi tiền khấu hao TSCĐ
Từ đặc điểm đó đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải quản lý VCĐ trên cả hai phương diện: hiện vật và giá trị
+ Về mặt hiện vật: đòi hỏi công tác quản lý sử dụng VCĐ không chỉ giữ
nguyên hình thái hiện vật và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ mà quan trọng hơn là phải duy trì được thường xuyên năng lực hoạt động ban đầu của TSCĐ, tránh tình trạng mất mát hoặc bị hư hỏng trước thời hạn sử dụng
+ Về mặt giá trị: đòi hỏi phải duy trì được sức mua của TSCĐ ở thời
điểm hiện tại so với thời điểm bỏ vốn ra ban đầu bất kể sự biến động của thị trường
VCĐ là một bộ phận quan trọng của VKD Việc làm tăng thêm VCĐ trong các doanh nghiệp nói riêng và trong ngành nói chung có tác động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp và nền kinh tế
Do giữ vị trí then chốt và đặc điểm vận động của VCĐ tuân theo tính qui luật riêng, nên việc quản lý VCĐ được coi là một trọng điểm của công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp Để quản lý sử dụng VCĐ có hiệu quả cần nghiên cứu về khấu hao TSCĐ và các phương pháp khấu hao TSCĐ
1.1.3 Vốn lưu động.
1.1.3.1 Khái niệm vốn lưu động.
Vốn lưu động là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện được thường xuyên liên tục Vốn lưu động chu chuyển toàn bộ giá trị trong một lần
và được bù đắp toàn bộ khi doanh nghiệp kết thúc chu kì kinh doanh Vốn lưu động cũng hoàn thành một vòng chu chuyển sau một chu kỳ kinh doanh.
Trang 61.1.3.2 Đặc điểm của vốn lưu động.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bị chi phối bởi đặc điểm của TSLĐ nên VLĐ của doanh nghiệp có một số đặc điểm sau:
Một là, VLĐ luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong quá trình chu
chuyển Khởi đầu vòng tuần hoàn vốn lưu động ở hình thái tiền tệ (T), sau đó chuyển sang hình thái vật tư, hàng hoá dự trữ (H) Qua quá trình lưu thông, sau khi sản phẩm được tiêu thụ, VLĐ trở về hình thái ban đầu là hình thái tiền
tệ (H-T’) khi đó coi như vốn lưu động kết thúc một vòng tuần hoàn
Hai là, VLĐ chuyển dịch toàn bộ giá trị một lần vào giá trị của sản
phẩm sản xuất, có nghĩa là khi kết thúc quá trình sản xuất giá trị của TSCĐ được chuyển dịch toàn bộ vào giá trị sản phẩm
Ba là, VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh
doanh
Từ những đặc điểm trên đòi hỏi mỗi doanh nghiệp bố trí vốn lưu động ở từng khâu một cách hợp lý, đảm bảo quá trình sản xuất diễn ra bình thường, đồng thời vẫn tiết kiệm được vốn Hơn nữa phải rút ngắn thời gian VLĐ luân chuyển qua các khâu, từ đó rút ngắn vòng luân chuyển của VLĐ, là cơ sở nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ
1.1.4 Nguồn hình thành vốn kinh doanh trong doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, ứng với mỗi nguồn thường có ưu nhược điểm nhất định Để có thể lựa chọn hình thức huy động vốn phù hợp, đồng thời tổ chức sử dụng vốn kinh doanh được hiệu quả thì các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp phải nhìn nhận nguồn vốn theo nhiều tiêu thức khác nhau
Trang 71.1.4.1 Căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn:
Căn cứ vào tiêu thức này thì vốn kinh doanh được chia thành vốn chủ
sở hữu và nợ phải trả Đây là cách phân loại sẽ được sử dụng để nghiên cứu chính trong đề tài Cụ thể:
Vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp bao gồm: số vốn chủ sở hữu bỏ ra, vốn bổ sung từ lợi nhuận để lại, vốn liên doanh liên kết, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính…
Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể xác định bằng công thức sau:
VCSH = Tổng tài sản – Nợ phải trả
Đặc điểm của nguồn vốn này là không có thời gian đáo hạn, độ an toàn cao, lợi nhuận chi trả không ổn định tùy thuộc vào tình hình kinh doanh và chính sách lợi nhuận của công ty Doanh nghiệp có quyền chiếm hữu và định đoạt đối với nguồn vốn này
Nợ phải trả.
Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế như: nợ vay, các khoản phải trả người bán, cho Nhà nước, cho người lao động trong doanh nghiệp……
Đặc điểm của nợ phải trả là có thời gian đáo hạn, tiền lãi cố định hoăc không phải trả lãi, tuy nhiên chủ nợ không có quyền tham gia quản lí doanh nghiệp Nợ phải trả được chia thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
* Nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ có thời gian đáo hạn nhỏ hơn hoạc
bằng một năm Nợ ngắn hạn là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, doanh
Trang 8kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các nợ ngắn hạn khác.
*Nợ dài hạn: Là các khoản nợ có thời gian đáo hạn trên một năm Bao
gồm vay và nợ dài hạn, phải trả dài hạn người bán
1.1.4.2 Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn
Theo cách phân loại này, nguồn vốn được chia thành nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn thường xuyên:
Nguồn vốn thường xuyên là tổng thể nguồn vốn có tính chất ổn định
mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức:
Nguồn vốn thường xuyên = Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu
(Hoặc Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng tài sản – Nợ phải trả)
Nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn tạm thời là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn vốn tạm thời thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các nợ ngắn hạn khác
Trang 9Phân loại theo cách này giúp DN xem xét, huy động các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng tài sản và có cơ sở để lập các kế hoạch tài chính.
1.1.4.3 Căn cứ vào phạm vi huy động vốn.
Căn cứ vào tiêu thức phân loại này thì nguồn vốn của doanh nghiệp được chia làm hai loại: nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài
Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp:
Là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư từ chính hoạt động của bản than DN tạo ra Nguồn vốn bên trong giúp cho Dn phát huy được tính tự chủ trong việc sử dụng đồng vốn đồng thời thể hiện khả năng tự tài trợ của
DN Nguồn vốn bên trong của DN bao gồm:
Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư
Khoản khấu hao tài sản cố định
Các khoản dự phòng, thu từ thành lý nhượng bán tài sản cố định…
Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp:
Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: vốn vay của ngân hàng, vốn vay của các tổ chức tín dụng khác, vốn chiếm dụng, vốn huy động từ thị trường vốn…
Với cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có sự lựa chọn khi huy động vốn sao cho cơ cấu nguồn vốn tối ưu hay cơ cấu nguồn vốn có chi phí thấp nhất và mang lại hiệu quả cao nhất Nguồn vốn bên trong quan trọng nhưng thường không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng vốn của DN đòi hỏi DN phải huy động cả nguồn vốn từ bên ngoài Tuy nhiên khi sử dụng nguồn vốn bên ngoài thì DN phải trả lợi tức tiền vay và hoàn trả tiền vay đúng hạn, trong trường hợp doanh nghiệp làm ăn thua lỗ sẽ tạo ra gánh nặng nợ trong tương lai và doanh nghiệp có thể bị phá sản Vì vậy doanh nghiệp cần cân nhắc
Trang 10Từ các cách phân loại trên có thể thấy nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng Tìm được phương án huy động vốn tối ưu, đảm bảo đủ vốn phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh với chi phí sử dụng vốn thấp nhất là một chính sách quan trọng luôn được các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp quan tâm Đây chính là điểm khởi đầu cho việc để ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại doanh nghiệp.
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là kết quả của tổng thể hàng loạt các biện pháp tổ chức kinh tế, kỹ thuật và tài chính Việc tổ chức đảm bảo kịp thời, đầy đủ vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là mục tiêu và là yêu cầu khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu
về khả năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn nó phản ánh mối quan hệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh Kết quả thu được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả
sử dụng vốn càng cao Do vậy bất kỳ doanh nghiệp nào muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng và tối đa hoá giá trị doanh nghiệp cần phải đặt vấn để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lên hàng đầu
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh đang trở nên rất cấp thiết đối với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay Sự cần thiết này xuất phát từ những lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 11Mục tiêu phấn đấu của mọi doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp dựa trên cơ sở tối đa hóa lợi nhuận Muốn vậy, đòi hỏi DN phải tổ chức, thực hiện đồng bộ mọi hoạt động trong lĩnh vực SXKD Trong đó, vấn
đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không chỉ mang lại lợi ích trước mắt cho doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa lâu dài với sự phát triển của doanh nghiệp Khi đồng vốn được sử dụng hiệu quả cũng đồng nghĩa với doanh nghiệp làm ăn có lãi, bảo toàn và phát triển được vốn Đó chính là cơ sở để doanh nghiệp tiến hành tái sản xuất cả chiều rộng
và chiều sâu
Thứ hai, xuất phát từ vị trí, vai trò của vốn trong quá trình SXKD
Trong nền kinh tế thị trường, sẽ không có bất cứ hoạt động SXKD nào diễn ra nếu không có vốn Vốn là tiền đề, là xuất phát điểm của mọi hoạt động kinh doanh, là nền tảng vật chất để biến mọi ý tưởng kinh doanh thành hiện thực Vốn quyết định quy mô đầu tư, mức độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật
và quyết định cả thời cơ kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ ba, xuất phát từ thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng VKD ở DN
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải chịu nhiều áp lực như: áp lực cạnh tranh, áp lực về giá cả, áp lực tiêu thụ… Do vậy việc quản lí
và sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh sẽ giúp các doanh nghiệp vượt qua được những thách thức của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên thói quen nếp nghĩ về một thời bao cấp được tài trợ toàn bộ về vốn trong mọi lúc cần thiết đã khiến cho một số doanh nghiệp gặp không ít những khó khăn trong quản lí vốn Như vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lí vốn được hiệu quả, làm gia tăng lợi nhuận
Thứ tư, xuất phát từ ý nghĩa nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Trang 12Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh một mặt sẽ giúp doanh nghiệp tăng lợi nhuận, đảm bảo an ninh tài chính, có điều kiện đổi mới trang thiết bị công nghệ sản xuất kịp thời, nâng cao chất lượng sản phẩm ; mặt khác quan trọng hơn giúp các doanh nghiệp có được uy tín tốt trên thị trường, chứng minh được tiềm lực kinh tế của mình, tạo cơ hội huy động vốn dễ dàng hơn, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Mặt khác, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cũng tạo điều kiện để cho doanh nghiệp có khả năng tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện điều kiện lao động và sinh hoạt cho cán bộ công nhân viên đồng thời thực hiện tốt các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, để từ đó Nhà nước có điều kiện thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ta đi vào xem xét ba phần: hiệu quả sử dụng vốn cố định, hiệu quả sử dụng vốn lưu động và hiệu quả sử dụng chung của vốn kinh doanh Cụ thể:
1.2.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định
(1) Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh
một đồng vốn cố định tham gia vào sản xuất kinh doanh trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong kỳ
Doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất sử dụng VCĐ =
VCĐ bình quân sử dụng trong kỳ
(2) Chỉ tiêu hàm lượng vốn cố định: Là đại lượng nghịch đảo của
chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định Nó phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ cần bao nhiêu đồng vốn cố định
Số VCĐ bình quân sử dụng trong kỳ
Hàm lượng VCĐ =
Doanh thu thuần trong kỳ
Trang 13(3) Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh
một đồng vốn cố định được sử dụng trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế)
LN trước thuế (hoặc sau thuế) x100%
Tỷ suất lợi nhuận VCĐ =
Số VCĐ bình quân trong kỳ
(4) Hệ số hao mòn tài sản cố định: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ
hao mòn tài sản cố định của doanh nghiệp tại thời điểm đánh giá so với mức
độ đầu tư ban đầu
Số KH lũy kế của TSCĐ tại thời điểm đánh giá
Số lượng công nhân trực tiếp sản xuất
(6) Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cố định: Chỉ tiêu này phản
ánh một đồng tài sản cố định trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ(7) Kết cấu tài sản cố định của doanh nghiệp: Phản ánh quan hệ tỷ
lệ giữa giá trị từng nhóm, từng loại tài sản cố định trong tổng số giá trị tài sản
cố định của doanh nghiệp tại thời điểm đánh giá Chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp đánh giá mức độ hợp lý của cơ cấu tài sản cố định được trang bị trong doanh nghiệp
Trang 141.2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
(1) Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: có thể đo bằng 2 chỉ tiêu
- Chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động (số lần luân chuyển vốn lưu
động): Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được mấy vòng
Chỉ tiêu này càng cao thì phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động đạt hiệu quả cao
Doanh thu thuần bán hàng
360 ngày
Kỳ luân chuyển VLĐ =
(ngày) Số vòng quay VLĐ
(2) Mức tiết kiệm vốn lưu động: chỉ tiêu này phản ánh số VLĐ có
thể tiết kiệm được hoặc phải tăng them do tốc độ luân chuyển VLĐ trong kỳ tăng (hoặc giảm) so với kỳ gốc
Mức tiết kiệm VLĐ =
(3) Hàm lượng vốn lưu động: chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một
đồng doanh thu thuần thì có sự tham gia của bao nhiêu đồng vốn lưu động
Hàm lượng VLĐ =
(4) Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động: Phản ánh một đồng vốn lưu
động trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc sau
VLĐ bình quân trong kỳ Doanh thu thuần Tỏng mức vốn luân chuyển trong kỳ
Số ngày trong kỳ
Trang 15thuế) Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động càng cao thì chứng tỏ việc sử dụng vốn lưu động càng hiệu quả.
LN trước thuế (hoặc sau thuế)
Tỷ suất lợi nhuận VLĐ =
VLĐ bình quân trong kỳ
(5) Chỉ tiêu kết cấu vốn lưu động: Phản ánh kết cấu vốn lưu động
theo các tiêu thức phân loại khác nhau Việc xem xét kết cấu vốn lưu động nhằm đánh giá mức độ hợp lý của cơ cấu này, từ đó phát hiện những điểm không hợp lý của cơ cấu và có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp
Trang 16(6) Hệ số khả năng thanh toán hiện thời: Phản ánh một đồng nợ
phải trả được đảm bảo bao nhiêu đồng tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
TSLĐ và đầu tư ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh =
toán hiện thời Nợ ngắn hạn
(7) Vòng quay vốn vật tư hàng hóa: Là một chỉ tiêu khá quan
trọng bởi vì dự trữ vật tư là để tiêu dùng nhằm thu tiền bán hàng và lợi nhuận cao trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của thị trường
Giá vốn hàng hóa bán ra
Vòng quay vốn vật tư =
hàng hóa Số dư bình quân vốn vật tư hàng hóa
(8) Vòng quay các khoản phải thu: Phản ánh số vòng quay các
khoản phải thu được thực hiện trong một kỳ nhất định, thường tính là một năm Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì tốc độ thu hồi các khoản phải thu càng nhanh, điều này là tốt vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu
Doanh thu tiêu thụ
Vòng quay các khoản =
phải thu Số dư bình quân các khoản phải thu
(9) Kỳ thu tiền trung bình: Phản ánh số ngày cần thiết để thu được
các khoản phải thu (số ngày của một vòng quay các khoản phải thu)
360
Kỳ thu tiền trung bình =
(ngày) Vòng quay các khoản phải thu
1.2.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh (1) Hệ số nợ: Là chỉ tiêu phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh
của doanh nghiệp có mấy đồng vốn hình thành từ vay nợ Hệ số này càng cao thì mức độ phụ thuộc về tài chính của doanh nghiệp đối với bên ngoài càng lớn
Nợ phải trả
Hệ số nợ =
Tổng nguồn vốn
Trang 17(3) Vòng quay toàn bộ vốn (Lv): Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ
vốn kinh doanh chu chuyển được bao nhiêu vòng hay mấy lần Vòng quay toàn bộ vốn càng cao, hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh càng cao Chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng của đặc điểm ngành kinh doanh, chiến lược kinh doanh
và trình độ quản lý sử dụng tài sản vốn của doanh nghiệp
Doanh thu thuần trong kỳ
Trang 18Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)
Tỷ suất sinh lời của tài sản =
(ROAE) VKD bình quân
(5) Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh (Tsv): Chỉ
tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế
Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp
Tsv = x100
Số VKD bình quân trong kỳ
(6) Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh (ROA): Chỉ
tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh sử dụng trong kỳ có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
ROA = x100
Số VKD bình quân trong kỳ
(7) Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE): Chỉ tiêu này phản
ánh một đồng vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu Đây chính là chỉ tiêu mà các nhà đầu
tư rất quan tâm
Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
ROE = x100 VCSH bình quân trong kỳ
Khi sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh chúng ta cần sử dụng kết hợp các chỉ tiêu nhằm đánh giá một cách toàn diện về hiệu quả công tác quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VKD
Vốn kinh doanh được hình thành từ nhiều nguồn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và thường xuyên chuyến hóa lẫn nhau Trong quá trình vận động đó vốn kinh doanh chịu tác động của nhiều nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả tổ chức và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Trang 191.2.3.1 Những nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan là các nhân tố tồn tại ngoài doanh nghiệp nhưng có tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm:
- Cơ chế quản lý và chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước: Các chính
sách của Nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như chính sách thuế, chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách khuyến khích đầu tư, chế độ khấu hao TSCĐ… đến chính sách cho vay, bảo
hộ và khuyến khích nhập khẩu một số loại công nghệ nhất định đều có thể làm tăng hay giảm hiệu quả sử dụng TSCĐ, TSLĐ của doanh nghiệp
- Đặc thù ngành kinh doanh: đây là nhân tố có ý nghĩa hết sức quan
trọng khi xem xét quản lý và sử dụng vốn Đặc thù của ngành thường ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và cơ cấu nguồn vốn cũng như vòng quay vốn Do vậy việc so sánh các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp vói chỉ tiêu trung bình của ngành là cần thiết nhằm phát hiện những ưu điểm, hạn chế trong quản lý và sử dụng vốn
- Khả năng cạnh tranh trên thị trường: Có ảnh hưởng tích cực nếu
doanh nghiệp giành thế chủ động trong cạnh tranh: sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng, chất lượng tốt, giá cả phải chăng, thị phần ổn định và phát triển, kinh doanh sẽ thu được lợi nhuận lớn, từ đó tạo ra tỷ suất lợi nhuận trên vốn cao Ngược lại nếu doanh nghiệp không có sức cạnh tranh thì sẽ bị đào thải, không thể bảo toàn vốn kinh doanh
- Biến động của nền kinh tế: Nền kinh tế không khi nào đứng yên mà
luôn biến động Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại nhóm nhân tố có tác động trái ngược tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chẳng hạn như lạm phát, lãi suất thị trường… và các nhân tố này đều gây ra ảnh hưởng trực tiếp
Trang 20hoặc gián tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Do vậy việc nghiên cứu thị trường là rất quan trọng, giúp các doanh nghiệp có thể ứng phó kịp thời trước nhũng biến động của nền kinh tế.
- Nhân tố tự nhiên: Trong tự nhiên thường xảy ra các biến động bất
thường của tự nhiên như bão lụt, động đất…ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó không chỉ gây tổn thất tài chính mà có thể đe dọa sự tồn tại của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp trong ngành xây dựng, nông nghiệp, khai thác mỏ Sự ảnh hưởng này rất khó có thể lường trước được, vì vậy doanh nghiệp cần chuẩn bị các biện pháp
để phòng ngừa hoặc khắc phục nhanh chóng nếu không may các rủi ro xảy ra
- Sự phát triển của khoa học công nghệ:
Khoa học công nghệ sẽ là cơ hội nhưng cũng là thách thức đói với doanh nghiệp Nó làm cho tài sản cố định bị hao mòn nhanh hơn (đặc biệt là hao mòn vô hình) làm giảm giá trị trao đổi của tài sản, doanh nghiệp có thể bị mất vốn hoặc khó bảo toàn được lượng vốn đã đầu tư vào tài sản cố định
1.2.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan.
Đây là nhân tố chủ yếu quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp bao gồm:
Trang 21* Trình độ và năng lực của các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp
Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Trình độ quản lý tốt, bộ máy gọn nhẹ, đồng bộ nhịp nhàng sẽ giúp cho doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả, ngược lại trình độ quản lý yếu kém hoặc bị buông lỏng sẽ không có khả năng bảo toàn được vốn Trong công tác này phải chú trọng đến việc tổ chức và sử dụng VKD như: lựa chọn phương
án sản xuất kinh doanh, xác định nhu cầu vốn, bố trí cơ cấu vốn, sử dụng cơ cấu vốn hợp lý đúng mục đích, tổ chức công tác thu hồi nợ, tránh lãng phí
- Lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh: Việc lựa chọn phương án
đầu tư kinh doanh với mức sinh lời cao, mức độ rủi ro thấp, phù hợp với thị trường thì sẽ tạo ra được những sản phẩm đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng về mẫu mã, chất lượng, giá cả…thì sẽ có được hiệu quả kinh tế cao, lợi nhuận thu được lớn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kimh doanh của doanh nghiệp
- Xác định nhu cầu vốn và huy động vốn: Xác định nhu cầu vốn là một
công việc cần thiết bởi xác định thừa hay thiếu đều ảnh hưởng không tốt Nếu xác định vốn quá cao sẽ gây nên tình trạng ứ đọng vốn, vốn chậm luân chuyển và phát sinh các chi phí không cần thiết làm tăng giá thành sản phẩm ảnh hưởng tới khả năng tiêu thụ và doanh thu của doanh nghiệp Mặt khác nếu xác định nhu cầu vốn quá thấp sẽ gây nên tình trạng thiếu vốn trong quá trình sản xuất, mất đi các cơ hội kinh doanh lớn ảnh hưởng tới tiến độ kinh doanh của doanh nghiệp
- Sử dụng vốn: Sử dụng vốn thông qua việc tính toán đúng đắn nhu cầu
vốn thường xuyên cần thiết, khai thác hết thời gian sử dụng của các tài sản đã đầu tư, phát huy tối đa công suất thiết kế của dây chuyền công nghệ Tránh sử dụng vốn không đúng mục đích kém hiệu quả như dùng vốn ngắn hạn để đầu
tư dài hạn vào tài sản cố định dẫn đến không trả được nợ đúng hạn…
Trang 22* Trình độ của người lao động, chế độ lương và cơ chế khuyến khích người lao động.
- Trình độ của người lao động có tác động rất lớn đến mức độ sử dụng
hiệu quả của tài sản, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm… từ đó tác động rất lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm và lợi nhuận của doanh nghiệp
- Chế độ lương và các chính sách khuyến khích người lao động: có ảnh
hưởng rất lớn đến thái độ và ý thức làm việc của người lao động Một mức lương tương xứng với mức độ cống hiến cùng với chế độ khuyến khích hợp
lý, gắn với hiệu quả công việc sẽ tạo ra động lực cho việc nâng cao năng suất lao động trong doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Sự tác động của các nhân tố khách quan và chủ quan vào doanh nghiệp luôn theo hai hướng là tích cực và tiêu cực Vì thế doanh nghiệp cần nắm rõ những tác động của chúng tới doanh nghiệp để từ đó đưa ra những giải pháp kịp thời nhất, thích hợp nhất làm giảm thiệt hại và tạo điều kiện tôt nhất cho vốn kinh doanh phát huy hiệu quả cao
1.2.4 Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, doanh nghiệp cần căn cứ vào điều kiện tình hình kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp mình để từ đó đề ra các biện pháp quản lý phù hợp Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các biện pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, thực hiện chặt chẽ việc đánh giá, lựa chọn và thực hiện tốt các dự án đầu tư phát triển doanh nghiệp Việc lựa chọn dự án đầu tư tốt hay không có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của DN
Thứ hai, quản lý chặt chẽ, huy động tối đa tài sản hiện có vào hoạt động kinh doanh để góp phần nâng cao hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
Trang 23Thứ ba, lựa chọn phương pháp khấu hao và mức khấu hao hợp lý Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả quỹ khấu hao tài sản cố định.
Thứ tư, doanh nghiệp được quyền cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản của doanh nghiệp theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh theo quy định của pháp luật
Thứ năm, thực hiện tốt kết hợp hiện đại hóa tài sản cố định cần tính toán hiệu quả sử dụng của tài sản cố định
Thứ sáu, áp dụng nghiêm minh các biện pháp thưởng, phạt vật chất trong việc bảo quản và sử dụng các tài sản kinh doanh để tăng cường ý thức của người quản lý, sử dụng để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Thứ bảy, chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro, bảo toàn vốn kinh doanh như: mua bảo hiểm tài sản, lập quỹ dự phòng tài chính…
- Doanh nghiệp cần có các biện pháp quản lý thích hợp đối với từng loại vốn: đối với vốn cố định và vốn lưu động:
+ Lựa chọn phương án khấu hao hợp lý, trong việc trích khấu hao phải tính đến cả hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình, đảm bảo thu hồi đầy đủ, kịp thời vốn cố định
Trang 24+ Thực hiện việc bảo dưỡng, sửa chữa tài sản cố định, thường xuyên kiểm tra giám sát tình hình sử dụng và bảo quản tài sản Ngoài ra cần phải chú trọng thực hiện đổi mới kịp thời tài sản cố định, đặc biệt là thiết bị công nghệ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
+ Doanh nghiệp có quyền cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản của mình theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển được vốn kinh doanh Đây cũng là cách làm tăng vốn kinh doanh và phát huy một khía cạnh giá trị khác của tài sản cố định
Đối với vốn lưu động:
+ Xác định, dự báo chính xác kịp thời nhu cầu VLĐ trong từng khâu,
và toàn bộ vốn trong doanh nghiệp Xác định và giám sát các khoản phải thu
và HTK để có biện pháp quản lí kịp thời tránh tình trạng ứ đọng vốn
+ Tổ chức tốt quá trình sản xuất và công tác tiêu thụ sản phẩm, tìm hiểu
và nắm bắt thị trường mục tiêu để thấy được đặc điểm tiêu dùng của thị trường
Trong thực tế, ngoài các biện pháp trên, DN cần căn cứ vào điều kiện
và phương hướng của mình để đưa ra các biện pháp cụ thể có tính khả thi nhằm đẩy mạnh công tác tổ chức và sử dụng có hiệu quả VKD cho doanh nghiệp mình
Trang 25CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG
BẠCH ĐẰNG 201 2.1 Khái quát về Công ty cổ phần xây dựng Bạch Đằng 201
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
2.1.1.1 Tên, địa chỉ công ty
- Tên công ty viết bằng tiếng Việt:
Công ty cổ phần xây dựng Bạch Đằng 201
- Tên công ty viết bằng tiếng nước ngoài:
BACH DANG 201 CONSTRUCTION JOINT STOCK COMPANY
- Tên công ty viết tắt: BACHDANG 201
ký kinh doanh lần đầu số 0203003319 cấp ngày 23/07/2010 của Sở kế hoạch
và đầu tư Hải Phòng Đăng ký thay đổi lần thứ 2 vào ngày 27/10/2012
Trang 26+ Các cổ đông của công ty bao gồm:
1 Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng
2 Còn lại là các cổ đông cá nhân khác
- Lĩnh vực kinh doanh: Xây dựng
- Vốn điều lệ: 17.500.000.000 VND
- Vốn kinh doanh (tính đến ngày 31/12/2011): 143,119 tỷ VND
- Chế độ kế toán áp dụng tại công ty
+ Kỳ kế toán năm: từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 năm Dương lịch
+ Đơn vị tiền tệ sử dụng trong kỳ kế toán: Đồng Việt Nam (VND)
+ Hình thức kế toán áp dụng: Nhật ký chứng từ
- Số lượng cổ phiếu đăng ký phát hành: 1.750.000
- Số lượng cổ phiếu đang lưu hành: 1.750.000
- Số lượng cổ phiếu lưu hành bình quân: 1.750.000
- Số cổ phần được quyền chào bán: 0
- Mệnh giá cổ phiếu đang lưu hành: 10.000 đồng/1 cổ phiếu
Trang 27Năm 2007: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần số
0203003319 của Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hải Phòng (Đăng ký lần đầu) với tên công ty: “Công ty cổ phần xây dựng 201 – C.J.C 201”
Năm 2010: Đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế Công ty cổ phần với
mã số doanh nghiệp 0200158890 của Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hải Phòng (Đăng ký thay đổi lần thứ nhất và lần thứ hai) với tên công ty: “Công ty cổ phần xây dựng Bạch Đằng 201 – BACHDANG 201”
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty
2.1.2.1 Chức năng, ngành nghề kinh doanh
- Xây dựng công trình công nghiệp, dân dụng, giao thông, thủy lợi, bưu điện, các công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị và khu công nghiệp, đường dây, trạm biến áp;
- Sửa chữa cơ khí, dịch vụ, thiết bị xây dựng;
- Sản xuất, buôn bán bê tông thương phẩm, cấu kiện bê tong phục vụ công trình xây dựng;
- Hoạt động kiến trúc: Thiết kế tổng mặt bằng xây dựng công trình, thiết kế kiến trúc công trình, thiết kế nội ngoại thất công trình;
- Hoạt động tư vấn kỹ thuật có liên quan khác, hoạt động tư vấn quản lý;
- Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê;
- Cho thuê máy móc thiết bị…
2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty
* Mô hình tổ chức của công ty:
Công ty cổ phần xây dựng Bạch Đằng 201 là một công ty cổ phần
do đó bộ máy quản lý cao nhất sẽ là Hội đồng quản trị sau đó tới Giám đốc,
Trang 28Phó giám đốc rồi tới các phòng ban và các đội Bộ máy quản lý của công ty khá gọn nhẹ, năng động và bám sát cơ chế thị trường.
SƠ ĐỒ 2.1: TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT
ĐỘI THI CÔNG
CƠ GIỚI
ĐỘI THI CÔNG LẮP DỰNG KCT
ĐỘI KẾT CẤU THÉP VÀ XÂY
DỰNG
ĐỘI BÊ TÔNG
VÀ XÂY DỰNG
ĐỘI BỐC XẾP
PHÒNG
KẾ TOÁN TÀI VỤ
Trang 29 Hội đồng quản trị:
Hội đồng quản trị là cấp quản lý cao nhất của công ty có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của các cán bộ, công nhân viên trong công ty Hội đồng quản trị có nhiệm vụ:
- Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ thông qua các hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và các hợp đồng kinh tế khác
- Quyết định tiền lương và các lợi ích khác của Giám đốc, Phó giám đốc,
kế toán trưởng công ty Quyết định quy chế trả lương, tiền thưởng theo quy chế trả lương, tiền thưởng cho người lao động trong công ty
- Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty
Ban kiểm soát:
Là tổ chức thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, quản trị và điều hành công ty Ban kiểm soát có quyền và nghĩa vụ kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty; kiểm tra sổ sách kế toán, tài sản; thẩm định các báo cáo tài chính của công ty và kiến nghị các biện pháp khắc phục sai phạm; được quyền yêu cầu Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các Phòng ban nghiệp vụ cung cấp tình hình, số liệu, tài liệu và thuyết minh các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Giám đốc:
Là người điều hành cao nhất mọi hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước pháp luật, cổ đông, hội đồng quản trị về thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao Giám đốc thay mặt công trong mọi hoạt động giao dịch với cơ quan Nhà nước và các đơn vị kinh tế khác Giúp việc cho Giám đốc có các Phó giám đốc và Kế toán trưởng
Trang 30 Phó giám đốc:
Tư vấn cho Giám đốc trong các quyết định đến hoạt động của công ty đồng thời quản lý trực tiếp các phòng ban
Phòng tổ chức lao động:
Là phòng chuyên môn tham mưu giúp việc cho Giám đốc công ty quản
lý và tổ chức thực hiện các công tác: Tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, hành chính, y tế, tự vệ, an ninh trật tự của cơ quan công ty
Phòng Đấu thầu – Quản lý dự án:
- Công tác đấu thầu: Nắm bắt thông tin thị trường xây dựng, tiếp cận, quan hệ các đầu mối, các chủ đầu tư để khai thác Dự án xây lắp Tổ chức lập
hồ sơ, tài liệu, chào giá, phương án liên doanh, liên kết để nhận thầu hoặc đấu thầu xây lắp Báo cáo Giám đốc công ty hiệu quả dự kiến đạt được của Dự án trước khi bỏ thầu hoặc đấu thầu xây lắp Đề xuất với Giám đốc công ty mô hình quản lý từng dự án cụ thể
- Công tác quản lý dự án: Đề xuất nhân sự và phương án, biện pháp triển khai cho từng Dự án Chủ trì trong công tác nghiệm thu thanh quyết toán
và bảo hành công trình hoặc hạng mục công trình theo nội dung Hợp đồng kinh tế A – B Chủ trì cùng phối hợp với các phòng ban liên quan theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng xây lắp
Trang 31 Phòng Kế toán – Tài vụ:
Là phòng tham mưu giúp việc cho Giám đốc công ty về công tác tài chính, sử dụng vốn và quỹ của công ty để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và phát triển
Phòng Kế toán - Tài vụ có nhiệm vụ sau:
- Lập sổ kế toán, ghi chép sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ và lập báo cáo tài chính trung thực, chính xác theo quy định của pháp luật, thực hiện các chế độ báo cáo thống kê, kế toán, báo cáo định kỳ theo quy định của Nhà nước và báo cáo bất thường theo yêu cầu của Giám đốc công ty và chịu trách nhiệm về tính xác thực của báo cáo
- Tuân thủ các chế độ hạch toán, kế toán thống kê, các nghĩa vụ về thuế và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
- Đăng ký, kê khai nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật
- Kê khai định kỳ, báo cáo đầy đủ, chính xác các thông tin về tình hình tài chính công ty
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Giám đốc công ty giao
Các đội xây dựng – Chủ hạng mục công trình:
Nhận nhiệm vụ trực tiếp của Giám đốc công ty và Phó giám đốc phụ trách khu vực chịu trách nhiệm quản lý điều hành thi công công trình Tổ chức giao ban thường kỳ hàng tuần với Tư vấn giám sát và Cán bộ phụ trách tài chính, kế hoạch của Chủ đầu tư Quan hệ với Chủ đầu tư, Kỹ sư Tư vấn để giải quyết các vấn đề kinh tế, kỹ thuật liên quan đến Hợp đồng
2.1.2.3 Công tác tổ chức bộ máy quản lý tài chính kế toán của Công ty
Hiện nay, bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến tham mưu; công tác kế toán của công ty được tổ chức theo mô hình tập
Trang 32thu nhận, phân loại, ghi sổ, xử lý thông tin trên hệ thống báo cáo phân tích và tổng hợp của đơn vị Các đội xây dựng không có bộ phận kế toán mà chỉ bố trí các nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ xử lý ban đầu, định kỳ hàng tháng các đội trưởng tập hợp chứng từ và gửi về phòng kế toán của công ty.
Phòng kế toán gồm 7 người: 1 kế toán trưởng, 1 thủ quĩ và 5 kế toán ứng với 5 phần hành Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo sơ
đồ sau:
SƠ ĐỒ 2.2: TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY
2.1.2.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Để có được các công trình, hạng mục công trình, công ty có thể được Tổng công ty trực tiếp giao hoặc phải tự đấu thầu Song thực tế trong những năm qua, do sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, nên công ty phải tự tìm kiếm công trình, rất ít khi Tổng công ty giao việc
Đối với các công trình do Tổng công ty giao, công ty phải thực hiện đúng theo qui định trong Qui chế của Tổng công ty Khi công trình hoàn thành sẽ thanh quyết toán với Tổng công ty
Còn với công trình do công ty tự tìm kiếm thì qui trình hoạt động kinh doanh theo trình tự sau: Căn cứ vào thông báo mời thầu của Chủ đầu tư, công
KẾ TOÁN TRƯỞNG
KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG
VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
KẾ TOÁN TIÊU THỤ, CÔNG NỢ
VÀ THANH TOÁN
THỦ QUỸ
KẾ TOÁN TỔNG HỢP
Trang 33ty sẽ mua hồ sơ tham gia dự thầu và tiến hành dự thầu Nếu công trình trúng thầu, quá trình ký kết hợp đồng sẽ tiến hành Hai bên sẽ thỏa thuận với nhau
về phương thức thanh toán, bảo hành công trình, ngày bàn giao công trình… Trong quá trình thi công, công ty tiến hành sử dụng các yếu tố vật liệu, nhân công, máy thi công và các yếu tố chi phí khác để tạo nên các công trình, hạng mục công trình Khi công trình hoàn thành, giá trúng thầu, giá dự toán là cơ
sở để nghiệm thu, bàn giao công trình đưa vào sử dụng Song công ty vẫn phải chịu trách nhiệm bảo hành cho công trình Sau thời gian bảo hành, hai bên tiến hành thanh quyết toán công trình và lập biên bản thanh lý hợp đồng
2.1.2.5 Đặc điểm nguồn nhân lực
Yếu tố con người luôn luôn được chú trọng và giữ vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh doanh của công ty, vì thế chính sách với người lao động luôn được đảm bảo
Công ty có một hệ thống cán bộ có trình độ, đó là sự kết hợp đầy đủ về năng lực và kinh nghiệm
- Tổng số công nhân viên: 825 người Trong đó
+ Cán bộ chuyên môn nghiệp vụ là 73 người, trong đó 58 người có trình độ Đại học, trên Đại học các ngành kinh tế, xây dựng, cơ khí, điện, cấp thoát nước,… Còn lại 15 người có bằng Trung cấp các loại
+ Đội ngũ công nhân kỹ thuật cao chiếm hơn 300 người Những công nhân này đều là các thợ mộc, thợ nề, thợ sắt, thợ máy các loại, thợ điện, thợ hàn, thợ nước… có tay nghề cao Còn lại là thợ bậc 3,4,5,6 và thợ sơ cấp, thợ bậc thấp
+ Công nhân lao động là 302 người
- Công ty cũng thường xuyên gửi nhiều cán bộ quản lý đi đào tạo, bồi
Trang 34môn của từng cán bộ, công ty phân công cho từng cá nhân theo dõi, bám sát từng địa bàn trong phạm vi cả nước Cán bộ ở vùng nào phải nắm chắc thông tin dự án vùng đó, thường xuyên báo cáo về Công ty những dự án, công trình
có thể tiếp cận Công ty đổi mới cách giao việc cho các đội xây dựng và chủ hạng mục công trình với nguyên tắc không giao việc cho đội không hoàn thành nhiệm vụ Cán bộ cấp đội phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Cty về chất lượng, tiến độ công trình được giao
2.1.2.6 Đặc điểm sản phẩm
Các sản phẩm mang tính chất của sản phẩm xây lắp Đó là các công trình, hạng mục công trình mang tính đơn chiếc, đáp ứng các yêu cầu cả về kỹ thuật và cả về mỹ thuật, có thời gian xây dựng cũng như sử dụng lâu dài, đòi hỏi vốn đầu tư lớn
Đặc điểm này làm cho tổ chức quản lý và hạch toán có điểm khác biệt với những ngành khác Thứ nhất, sản phẩm xây lắp phải lập dự toán Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với giá dự toán Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư Mặt khác, tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp cũng có nét riêng biệt Giá cả được xác định trước khi xây dựng (thông qua hợp đồng giao nhận thầu), thời điểm ‘sản xuất’ xong cũng là thời điểm tiêu thụ Thêm nữa, sản phẩm xây lắp thì cố định về vị trí, còn các nguồn lực đầu vào đa dạng, phải dịch chuyển theo địa điểm lắp đặt công trình Hoạt động xây lắp thường tiến hành ngoài trời nên tiến độ, chất lượng đôi khi phụ thuộc vào thời tiết
2.1.2.7 Đặc điểm tiêu thụ
Do tính chất của sản phẩm phải được tiến hành tại nơi chủ đầu tư yêu cầu nên địa bàn hoạt động, hay nói cách khác, thị trường tiêu thụ của công ty rất rộng lớn Thị trường của công ty trải rộng khắp trên mọi miền của đất nước Điều đó được thể hiện rõ qua một loạt các công trình, hạng mục công trình của công ty: Dây chuyền 1 và 2 Nhà máy Xi măng Hoàng Thạch, Nhà
Trang 35máy xi măng Uông Bí (Quảng Ninh), Nhà máy Thủy điện Trị An, Nhà điều hành sản xuất cảng Hải Phòng, Đài phát thanh sóng Bắc Bộ - Hưng Yên, nút giao thông Đông Du-quốc lộ 18, trạm điện 220kV Đồng Hòa (Hải Dương), Nhà máy nhiệt điện Phả Lại, Nhà máy sợi Đình Vũ (Hải Phòng)…
Đó là đặc điểm thị trường Còn về phương thức thanh toán: sản phẩm xây dựng là sản phẩm đơn chiếc được người mua đặt trước bằng hợp đồng kinh tế
2.1.2.8 Những thuận lợi và khó khăn chủ yếu trong hoạt động SXKD của công ty
Thuận lợi:
- Công ty luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ và chỉ đạo kịp thời của Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng, cơ quan các cấp, Thường vụ Đảng ủy, Ban giám đốc, các phòng ban chức năng của Công ty và Chủ đầu tư
- Công ty tập hợp được đội ngũ cán bộ kỹ sư, công nhân kỹ thuật lành nghề, nhiều năm quản lý, chỉ đạo thực hiện các công trình công nghiệp lớn của ngành Xi măng, các công trình dân dụng với quy mô lớn
- Trang thiết bị máy móc chuyên dùng không ngừng đổi mới, các thiết bị kiểm tra hiện đại, áp dụng thi công, nghiệm thu theo TCVN, theo quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn Quốc tế
- Công ty có mối quan hệ hợp tác với các DN trong và ngoài ngành
Khó khăn:
- Thị trường xây dựng trong những năm qua có nhiều biến động Tác động của khủng hoảng và suy thoái kinh tế thời gian qua cùng các chính sách thắt chặt tiền tệ ban hành đã siết chặt nguồn tín dụng đối với các doanh nghiệp làm cho thanh khoản thị trường sụt giảm mạnh, hàng loạt dự án ngưng trệ do thiếu vốn Lãi suất tín dụng duy trì ở mức cao làm tăng chi phí khiến các DN nói chung và các DN trong ngành xây dựng nói riêng gặp nhiều khó
Trang 36khăn trong hoạt động dẫn đến chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án hoặc giải thể, dừng hoạt động.
- Lạm phát tăng cao, giá cả các nguyên vật liệu đầu vào tăng liên tục có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh
- Sự biến động của thị trường bất động sản trong nước cùng với việc cắt giảm đầu tư công theo tình thần Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ cùng
sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp xây dựng làm cho công tác tìm kiếm việc làm ngày càng gặp nhiều khó khăn
- Đặc điểm của công ty là hoạt động trên địa bàn rộng, tiến hành xây dựng ở nhiều địa phương trên cả nước nên công tác quản lý cũng gặp không ít khó khăn
- Công tác xây lắp trong những năm qua có những tiến bộ rõ rệt, đạt mức đột tăng trưởng về giá trị sản lượng nhưng năng lực xây lắp hiện tại chưa phát triển tương xứng với yêu cầu và nhiệm vụ mới cả về con người lẫn phương tiện thiết bị thi công
- Năng lực thiết bị vận tải phần lớn đã qua sử dụng lâu năm vì vậy năng suất sử dụng thấp, chi phí sửa chữa lớn nên hiệu quả không cao
- Trình độ một số cán bộ chuyên môn kỹ thuật còn hạn chế Các máy móc phương tiện sử dụng cải tiến liên tục, trong khi đó đội ngũ công nhân viên chỉ có trình độ nhất định
2.1.3 Tình hình tài chính chủ yếu của công ty
Năm 2012 là năm nền kinh tế Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã trải qua một thời kỳ hết sức khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng
và suy thoái kinh tế Lạm phát và các cơn bão giá cùng sự cạnh tranh rất lớn của các công ty thuộc cùng ngành gây nhiều khó khăn cho các DN Mặc dù vậy công ty đã đạt được những thành tựu nhất định
Để đánh giá đúng và sâu hơn về tình hình SXKD của CTCP xây dựng Bạch Đằng 201 ta xem xét biểu đồ doanh thu và lợi nhuận sau:
Trang 37Biểu đồ 2.1: Tình hình doanh thu 4 năm gần đây
Biểu đồ 2.2: Tình hình lợi nhuận 4 năm gần đây
Trang 38Căn cứ vào bảng số liệu 2.1 ta thấy, quy mô vốn kinh doanh của công ty cuối năm 2012 đã giảm 23,87% so với cuối năm 2011 Điều này cho thấy quy
mô sử dụng vốn kinh doanh của công ty đang bị thu hẹp Cùng với việc thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh là việc tăng quy mô vốn chủ sở hữu Có thể
lý giải điều này là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, việc có được các hợp đồng xây dựng mới là hạn chế và việc tiếp cận với nguồn vốn vay của Ngân hàng là rất khó khăn nên công ty phải tăng sử dụng vốn chủ trong cơ cấu vốn của mình
Tổng doanh thu và lợi nhuận trước thuế có sự tăng trưởng qua các năm
và có xu hướng tăng dần Trong khi doanh thu từ hợp đồng xây dựng tăng khá nhanh, đặc biệt là từ năm 2010 đến năm 2011 (tăng từ 170,4 tỷ năm 2010 lên 264,8 tỷ năm 2011) thì doanh thu từ cung cấp dịch vụ là tương đối ổn định qua các năm Điều này cũng dễ hiểu, bởi các năm gần đây lĩnh vực xây dựng được ưa chuộng, nhiều công ty tập trung nguồn lực cho lĩnh vực này Công ty
cổ phần xây dựng Bạch Đằng 201 cũng không phải ngoại lệ Một lý do cũng rất đáng quan tâm nữa xuất phát từ bản thân công ty là công ty con của Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng – một Tổng công ty có bề dày lịch sử và có nhiều thành tựu vẻ vang trong ngành xây dựng Quan sát bảng trên ta có thể thấy rõ doanh thu từ hoạt động xây dựng các năm đều chiếm phần rất lớn, đặc biệt là trong 2 năm 2011 và 2012 thì doanh thu từ nguồn này đều chiếm tới 96% trong tổng doanh thu của doanh nghiệp Thực tế cũng cho thấy, trong năm 2010, 2011 thì lĩnh vực xây dựng diễn ra khá sôi nổi, điển hình là sự xuất hiện liên tục của các công trình lớn nhỏ ở Thủ đô cũng như các thành phố lớn Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua nên trong năm 2012, doanh thu của công ty chỉ tăng nhẹ Trong khi nhiều doanh nghiệp trong ngành làm ăn thua lỗ thậm chí còn phá sản mà doanh thu của doanh nghiệp không những không giảm mà còn tăng như vậy cũng là một dấu hiệu hết sức đáng mừng
Trang 39Số lượng lao động sử dụng trong công ty biến động qua các năm Năm
2011 công ty tăng tới 201 lao động so với năm 2010 do tình hình kinh doanh tốt, công ty kí được nhiều hợp đồng xây dựng nên cần tuyển dụng nhiều lao động để phục vụ hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, đến năm 2012 đã giảm 48 lao động so với năm 2011 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, công ty cũng như nhiều DN khác phải cắt giảm nhân công do gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất, số lượng hợp đồng mua hàng hóa, số lượng công trình cũng bị hạn chế Lợi nhuận thu về được ít nên công ty muốn giảm lượng tiền dùng để trả cho công nhân viên Song về cơ bản số lượng lao động vẫn được duy trì và đảm bảo phục vụ cho hoạt động của công ty có thể diễn ra suôn sẻ
Mức lương của người lao động liên tục tăng qua các năm Nếu như năm
2009 thu nhập bình quân là 3,25 (Trđ/người) thì đến năm 2012 đã tăng lên 5,32(Trđ/người) chứng tỏ công ty đã cố gắng nhiều trong việc nâng cao mức sống cho người lao động, tạo động lực kích thích người lao động nhiệt tình, hăng say sản xuất
Qua những phân tích sơ bộ trên, có thể thấy kết quả kinh doanh của công
ty trong 2 năm khá tốt và có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên để có những nhận xét chính xác hơn về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty nói chung và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói riêng thì cần phải đi sâu phân tích nhiều khía cạnh của vấn đề hơn
2.2 Tình hình quản lý sử dụng và hiệu quả quản lý sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần xây dựng Bạch Đằng 201
2.2.1 Khái quát tình hình cơ cấu và sự biến động vốn kinh doanh của công ty
Để đưa ra những đánh giá khái quát về tình hình cơ cấu và sự biến
động vốn kinh doanh ta đi xem xét Bảng 2.2
Trang 40Thông qua bảng 2.2, ta có thể thấy năm 2012 vốn kinh doanh của công ty
có sự biến động cả về quy mô và cơ cấu vốn
Về quy mô vốn kinh doanh: Tổng vốn kinh doanh của công ty tính đến
thời điểm 31/12/2012 là 108.955,73 (Trđ) giảm 34.159,35 (Trđ) so với thời
điểm ngày 31/12/2011 tương ứng với tỷ lệ giảm 23,87% Như vậy có thể nói rằng năm 2012 quy mô vốn kinh doanh của công ty đã giảm so với năm 2011 Vốn kinh doanh giảm là do cả hai bộ phân vốn lưu động và vốn cố định đều giảm Cụ thể như sau:
- Vốn lưu động của công ty cuối năm 2012 là 95.780,31 (Trđ) giảm 2.191 (Trđ) so với đầu năm, với tỷ lệ giảm tương ứng là 14,26% Tỷ lệ giảm này là không lớn Nguyên nhân chính làm vốn lưu động tại thời điểm cuối năm 2011 giảm là:
+ Do chính sách dự trữ, chính sách huy động vốn và chiến lược sản xuất của công ty đã thay đổi làm hàng tồn kho, tiền và tương đương tiền giảm mạnh ở cuối năm 2012, nhằm thích ứng trước sự biến động mạnh của nền kinh tế hiện nay
+ Bên cạnh đó tại thời điểm cuối năm 2012 cũng có một bộ phận vốn lưu động tăng lên là bộ phận các khoản phải thu ngắn hạn Tuy nhiên, tốc độ tăng này lại nhỏ hơn tốc độ giảm của bộ phận hàng tồn kho, tiền và các khoản tương đương tiền nên làm cho vốn lưu động của công ty giảm ở cuối năm 2012
- Vốn cố định của công ty cuối năm 2012 là 13.175,43 (Trđ), so với thời điểm này năm 2011 thì giảm 31.968,35 (Trđ) với tỷ lệ giảm là 25,02 Vốn
cố định giảm là do TSCĐ giảm, bao gồm cả TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình đều giảm Xem xét sự biến động của nguyên giá và giá trị hao mòn lũy kế của TSCĐ ta thấy: VCĐ giảm với tỷ lệ khá lớn (giảm 25,02%) do công ty đầu tư mua sắm máy móc thiết bị với số tiền chênh lệch về nguyên giá TSCĐ tăng lên 353,18 (Trđ) với tỷ lệ tăng là gần 1%, trong khi đó số trích khấu hao trong năm