Đây là nội dung quan trọng giúp phân biệt đề nghị giao kếthợp đồng với một số hành vi tương tự như là mời chào hàng, báo giá, giới thiệu sảnphẩm, trưng bày, quảng cáo… 4, Đề nghị giao kế
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong các quan hệ xã hội, việc giao kết hợp đồng dân sự (HĐDS)diễn ra rất phổ biến Việc giao kết hợp đồng phù hợp với các quy định của phápluật sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các bên với nhau được pháp luậtbảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi để các bên thực hiện HĐDS, hạn chế vi phạm và là
cơ sở để giải quyết một cách nhanh chóng và chính xác khi có tranh chấp xảy ra
Hiện nay, việc giao kết HĐDS được điều chỉnh chung bởi các quy định củaBLDS của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2005 (BLDS 2005) Các quyđịnh trong bộ luật đã phát huy tác dụng tích cực trong thực tế, giúp các bên xác lậpcác quyền, nghĩa vụ dân sự với nhau một cách tương đối thuận lợi Tuy nhiên, một
số quy định về giao kết hợp đồng vẫn còn những bất cập, gây khó khăn trong quátrình thực hiện giao kết hợp đồng và khi giải quyết tranh chấp phát sinh Để phântích, làm rõ những quy định của BLDS 2005 về giao kết HĐDS, trên cơ sở đó, tìm
ra những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành và định hướng một số giải pháp,
dưới đây em xin nghiên cứu về đề tài: “Giao kết hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành- Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”.
B. NỘI DUNG
I.1 Khái quát chung về HĐDS.
Các vấn đề cơ bản về HĐDS được điều chỉnh bởi các quy phạm trong
BLDS 2005 Điều 388 BLDS 2005 đưa ra khái niệm về HĐDS như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” Khái niệm này nhìn chung giống như khái niệm được
quy định tại Điều 394 BLDS 1995 HĐDS là hành vi có ý thức của chủ thể nhằmđạt được mục đích nhất định nên hành vi này mang tính ý chí của chủ thể tham giahợp đồng với những mục đích nhất định HĐDS là hình thức pháp lý quan trọng và
Trang 2của HĐDS là sự thỏa thuận về ý chí của các bên nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứtquyền và nghĩa vụ dân sự HĐDS có hai đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất: HĐDS là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các chủ thể dân sự,
sự thỏa thuận này phải được thể hiện dưới một hình thức nhất định (lời nói, vănbản, hành vi, …) và đây cũng là đặc điểm để phân biệt HĐDS với hành vi pháp lýđơn phương
Thứ hai: Mục đích của hợp đồng là nhằm làm phát sinh, thay đổi chấm dứt
quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật Điều này thể hiện HĐDS làhành vi có ý thức và mục đích của chủ thể; mục đích của HĐDS phải không đượctrái với quy định của pháp luật cũng như đạo đức xã hội – Đây là một trong nhữngđiều kiện để HĐDS có hiệu lực
I.2 Khái niệm giao kết HĐDS và bản chất của giao kết HĐDS.
Có nhiều quan niệm về thuật ngữ “ giao kết HĐDS” Theo nghĩa hẹp, giao
kết hợp đồng dân sự được hiểu nghĩa là một thời điểm mà tại đó, sự thống nhất ý
chí giữa các bên làm hình thành HĐDS Đây là quan điểm nhìn nhận về kết quả
cuối cùng mà không quan tâm đến quá trình hình thành hợp đồng Theo nghĩa
rộng, giao kết hợp đồng dân sự là một quá trình hình thành quan hệ HĐDS với hai
yếu tố chủ yếu là đề nghị giao kết hợp đồng (bày tỏ ý chí từ một bên) và chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng (sự ưng thuận của bên kia) Quan điểm khác lại cho
rằng: “giao kết HĐDS là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc, trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền và nghĩa vụ dân sự” (7,
trang 107) thông qua những hình thức nhất định Có nhiều quan điểm khác nhau về
“giao kết HĐDS”, trong các văn bản pháp luật của nước ta hiện nay (kể cả BLDS
2005) cũng chưa có định nghĩa cụ thể về giao kết HĐDS Nhưng tổng hợp các quan
điểm trên, có thể khái quát: “Giao kết HĐDS là quá trình bày tỏ thống nhất ý chí giữa các bên theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định được pháp luật quy định thừa nhận nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự với nhau” (8,
trang 9)
Trang 3Kết quả cuối cùng của quá trình giao kết HĐDS nói chung đều là thể hiện
sự thỏa thuận, thống nhất ý chí để làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền vànghĩa vụ dân sự giữa các bên trong quan hệ hợp đồng Như vậy, bản chất của giaokết HĐDS là quá trình bày tỏ ý chí của các bên chủ thể tham gia hoạt động nhằmthỏa thuận, thống nhất hình thức và nội dung của hợp đồng
1.3 Các nguyên tắc giao kết HĐDS.
Tiếp nối hững quy định của các văn bản pháp luật trước về nguyên tắc giaokết HĐDS như: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, Pháp lệnh HĐDS 1991, BLDS1995…, trong BLDS 2005, tại Điều 389 có quy định về nguyên tắc giao kết HĐDS:
“Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
1 Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội;
2 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.”
Việc quy định rõ các nguyên tắc giao kết HĐDS có ý nghĩa rất quan trọngtrong Nó tạo cơ sở pháp lí trong suốt quá trình giao kết hợp đồng của các chủ thể
và là một cơ sở để xác định HĐDS vô hiệu
VIỆT NAM HIỆN HÀNH.
BLDS 2005)
Về hình thức đề nghị giao kết HĐDS: Hình thức đề nghị giao kết HĐDS là
sự thể hiện ý chí của bên đề nghị giao kết ra bên ngoài dưới dạng nhất định màngười khác có thể nhận biết được BLDS 2005 không quy định về hình thức của đềnghị giao kết HĐDS nhưng có thể thấy việc giao kết này có thể được thể hiện dưới
Trang 4thuận trực tiếp thông qua điện thoại, gián tiếp qua thư mời, công văn… miễn là cóthể biểu lộ được ý chí của mình để người kia nhận biết được.
Nội dung đề nghị giao kết HĐDS: Đề nghị giao kết HĐDS phải có nội dung
rõ ràng để bên được đề nghị có thể hình dung ra được HĐDS sẽ được giao kết vớinội dung thế nào, có thể tham gia giao kết HĐDS đó được hay không
BLDS 2005 cũng chưa có quy định cụ thể về nội dung của đề nghị giao kếthợp đồng, nhưng về cơ bản, nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng cần có bốn yếu
tố chính sau:
1, Đề nghị giao kết HĐDS phải thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng củabên đề nghị giao kết HĐDS Ví dụ khi muốn bán tài sản thì cần phải thể hiện rõ nộidung mình muốn bán tài sản để bên kia có thể hiểu được
2, Đề nghị giao kết hợp đồng phải có các nội dung chủ yếu của loại HĐDS
mà các bên muốn xác lập nhưng chưa phải là HĐDS Nói cách khác, đề nghị giaokết hợp đồng có chứa các nội dung của hợp đồng trong tương lai
3, Đề nghị giao kết HĐDS phải hướng tới một hoặc một vài chủ thể đãđược xác định cụ thể Đây là nội dung quan trọng giúp phân biệt đề nghị giao kếthợp đồng với một số hành vi tương tự như là mời chào hàng, báo giá, giới thiệu sảnphẩm, trưng bày, quảng cáo…
4, Đề nghị giao kết hợp đồng có thể xác định thời hạn trả lời chấp nhận đềnghị có thể được xác định rõ trong nội dung đề nghị giao kết HĐDS Điều này sẽtạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp của chấp nhận đềnghị giao kết cũng như trách nhiệm của các bên trong quá trình giao kết HĐDS
BLDS 2005, khoản 2 Điều 390 có quy định về đề nghị giao kết có nêu rõthời hạn trả lời và như vậy cũng thừa nhận trường hợp đề nghị giao kết hợp đồngkhông nêu rõ thời hạn trả lời Tuy nhiên, Bộ luật lại không quy định bắt buộc phảinêu rõ thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị đồng thời cũng không quy định về cáchthức xác định thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong trườnghợp để nghị đó không nêu rõ thời hạn trả lời chấp nhận Có thể nói đây là một thiếusót của luật
Trang 5Vấn đề quan trọng khác cần phải bàn đến đó là việc xác định thời điểm đềnghị giao kết HĐDS có hiệu lực Đây là thời điểm bắt đầu phát sinh sự ràng buộccũng như trách nhiệm các bên liên quan trong quá trình giao kết HĐDS Điều 391BLDS 2005 quy định về vấn đề này :
“1 Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau:
a) Do bên đề nghị ấn định;
b) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể
từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó
2 Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng: a) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;
b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; c) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác.”
Trong đề nghị giao kết HĐDS thì vấn đề thay đổi, rút lại, sửa đổi hay hủy
bỏ đề nghị giao kết HĐDS cũng là một vấn đề thường thấy BLDS 2005 có quyđịnh các trường hợp thay đổi, rút lại, hủy bỏ, sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng nhưsau:
- Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợpđồng trong các trường hợp sau đây: Nếu bên được đề nghị giao kết nhận đượcthông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhậnđược đề nghị; điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên
đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phátsinh (Điều 392)
- Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng thực hiện quyền hủy bỏ
đề nghị do đã nêu rõ quyền này trong đề nghị thì phải thông báo cho bên được đềnghị và thông báo này chỉ có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được thông báotrước khi họ trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 393)
Trang 6- Khi bên được đề nghị giao kết đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng cónêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới(Điều 395).
BLDS cũng đã quy đinh về chấm dứt đề nghị giao kết HĐDS tại Điều 394như sau:
“Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
1 Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận;
2 Hết thời hạn trả lời chấp nhận;
3 Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực;
4 Khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực;
5 Theo thoả thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời.”
Như vậy, những quy định về chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng đã kháđầy đủ nhưng thiết nghĩ, vẫn cần bổ sung một số trường hợp như các bên chết hoặcmất năng lực hành vi dân sự, mất tư cách pháp nhân trước thời điểm thời điểm bênđược đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị hoặc đối tượng của HĐDS dự kiến đượcgiao kết không còn tồn tại do nguyên nhân bất khả kháng
Trang 7Tuy nhiên, việc quy định như vậy cũng có bất cập khi mà sự “im lặng” đó có thể dobên được đề nghị chưa được biết thông tin là có đề nghị giao kết hợp đồng Mộtvấn đề nữa là hình thức chấp nhận đề nghị giao kết HĐDS không phụ thuộc vàohình thức đề nghị giao kết và hình thức HĐDS.
Cũng tương tự như hình thức thì nội dung chấp nhận đề nghị giao kết hợpđồng cũng không được quy định cụ thể trong BLDS 2005 hay các văn bản khác.Nhưng về cơ bản, trên tinh thần quy định trong Điều 396 thì nội dung chấp nhận đềnghị giao kết HĐDS thông thường phải đảm bảo hai yếu tố:
Thứ nhất, chấp nhận toàn bộ nội dung như đã nêu trong đề nghị giao kết
HĐDS và không bỏ qua nội dung nào
Thứ hai, không có bổ sung nội dung nào khác so với đề nghị giao kết
HĐDS
Nội dung mà bên được đề nghị giao kết hợp đồng trả lời mà không thỏamãn hai yếu tố nào trên sẽ được gọi là đưa ra đề nghị mới hoặc không chấp nhận đềnghị giao kết HĐDS Về thời hạn chấp nhận đề nghị giao kết Điều 397 BLDS
2005 quy định như sau:
“1 Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời
Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý
do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.
2 Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thoả thuận về thời hạn trả lời”
Trang 8Trong trường hợp các bên cách xa nhau về địa lý thì pháp luật các nước cóquy định khác nhau về thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Nhưng
nhìn chung theo hai phương hướng là “thuyết tống phát” (hiệu lực của chấp nhận
được tính theo thời điểm chấp nhận được gửi đi, thời điểm giử đi được tính theo
dấu bưu điện nơi gửi đi) và “thuyết tiếp nhận” (hiệu lực của chấp nhận được tính
theo thời điểm trả lời chấp nhận đến được tới người đề nghị, thời điểm giử đến tínhtheo dấu bưu điện nơi đến) Tuy nhiên, hai thuyết này còn hạn chế ở chỗ chưa loạitrừ được những điểu kiện bất khả kháng làm tăng thời gian vận chuyển so với dấubưu điện và việc quyết định tính theo đường bưu điện là còn hạn chế khi mà việc
đề nghị cũng như trả lời đề nghị có thể có nhiều hình thức thực hiện khác nhau (vàtất nhiên những hình thức đó không có dấu bưu điện) BLDS 2005 cũng chưa thểhiện là theo khuynh hướng nào trong hai thuyết trên
Sau khi chấp nhận giao kết hợp đồng, một hiện tượng pháp lý có thể xảy ra
đó là rút lại thông báo chấp nhận giao kết HĐDS Đây là việc bên được đề nghị chủđộng thể hiện ý định thay đổi chấp nhận đề nghị giao kết theo hướng không đồng ývới chấp nhận hợp đồng giao kết đã được thể hiện trước đó Theo Điều 400 BLDS
2005 thì bên được đề nghị giao kết có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết nếuthông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lờichấp nhận giao kết hợp đồng
Chấp nhận đề nghị giao kết HĐDS là yếu tố quan trọng để hình thànhHĐDS Khi đề nghị giao kết hợp đồng được chấp nhận thì quyền và nghĩa vụ củacác bên trong quan hệ giao kết HĐDS đó được xác lập và có sự ràng buộc về pháp
lý giữa các bên BLDS 2005 cũng quy định hậu quả pháp lý của sự trả lời chấpnhận đề nghị giao kết HĐDS trong trường hợp bên đề nghị, bên được đề nghị giaokết HĐDS chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự (Điều 398 và 399) theo hướngbảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên khi giao kết hợp đồng đã được thực hiện hợppháp Tuy nhiên, BLDS cũng chưa quy định rõ về vấn đề này đối với yếu tố nhânthân vì khi chủ thể chết thì giá trị nhân thân không thể chuyển giao, khác hoàn toàn
Trang 9đối với tài sản (do điều kiện giới hạn nên xin phép không trình bày cụ thể về vấn
đề này)
2 3 Địa điểm, thời điểm giao kết HĐDS
Việc xác định thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng là quan trọng bởi từ
đó sẽ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa các bên, các bên trong quan hệ giaokết hợp đồng sẽ có ràng buộc về pháp lý Việc giao kết hợp đồng có thể được thựchiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Trong trường hợp giao kết hợp đồng trựctiếp thì địa điểm giao kết hợp đồng được xác định là nơi mà trực tiếp các bên đạtđược thỏa thuận đồng ý toàn bộ nội dung hợp đồng và thời điểm giao kết HĐDS làthời điểm mà các bên thỏa thuận xong toàn bộ nội dung hợp đồng hoặc thời điểmcác bên cùng kí vào văn bản Trong trường hợp các bên giao kết HĐDS gián tiếp
thì BLDS 2005 có quy định như sau: “Địa điểm giao kết hợp đồng dân sự do các bên thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng dân sự là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng” (Điều 403 BLDS 2005) Tuy nhiên, điều này cũng khá bất cập đối với
trường hợp người đề nghị giao kết có nơi cư trú xa nơi giao kết ví dụ như ngườiquốc tịch nước ngoài, cư trú ở nước ngoài thực hiện giao kết hợp đồng ở Việt Nam.Điều 404 BLDS 2005 cũng quy định:
“1 Hợp đồng dân sự được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết
2 Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết.
3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.
4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản ”
Trang 102 4 Hiệu lực của HĐDS
Xác định hiệu lực của HĐDS là vấn đề quan trọng bởi nó sẽ liên quan đếncác quyền và nghĩa vụ của mỗi bên theo hợp đồng đó Điều 404 BLDS 1995 có quyđịnh khá cụ thể là:
“Hiệu lực của hợp đồng dân sự
1- Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên.
2- Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc huỷ bỏ, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật
2005 chỉ tập trung xác định thời điểm bắt đầu có hiệu lực của HĐDS để làm cơ sởxác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện và giải quyếttranh chấp HĐDS khi xảy ra trên thực tế
III.1 Trách nhiệm dân sự của bên giao kết HĐDS.
Trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý, là việc một chủ thể phảigánh chịu những hậu quả bất lợi theo quy định của pháp luật do có hành vi vi phạmpháp luật
Các trường hợp phát sinh trách nhiệm dân sự của bên đề nghị giao kếtHĐDS được BLDS 2005 quy định như sau:
- Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếubên để nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đềnghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giaokết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh (khoản 2 Điều 390 BLDS 2005)
- Trong trường hợp các bên có thỏa thuận sử dụng biện pháp đặt cọc để bảođảm việc giao kết HĐDS theo quy định tại Điều 358 BLDS 2005, thì đặt cọc là
Trang 11biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Tuy nhiên, trong luật chưa có quyđịnh cụ thể về một số trường hợp có thể phát sinh trong thực tế như trường hợp đềnghị giao kết hợp đồng dận sự không nêu rõ thời hạn trả lời hay việc thực hiện thayđổi, rút lại, hủy bỏ đề nghị giao kết HĐDS không đúng các trường hợp quy định tạiĐiều 392 và 393 BLDS 2005.
3.2 Trách nhiệm dân sự của bên được đề nghị giao kết HĐDS
Tuy trong BLDS 2005 chưa có quy định cụ thể trách nhiệm dân sự của bênđược đề nghị giao kết hợp đồng nhưng nhìn chung, trách nhiệm dân sự của bênđược đề nghị giao kết hợp đồng có thể phát sinh trong các trường hợp như:
- Các bên có thỏa thuận sử dụng biện pháp đặt cọc để bảo đảm việc giao kếthợp đồng thì bên được đề nghị cũng có trách nhiệm bồi thường thiệt theo Điều 358nếu vi phạm (tương tự như trường hợp bồi thường của bên đề nghị giao kết)
- Bên được đề nghị giao kết vi phạm các nguyên tắc giao kết hợp đồng theoĐiều 389 mà gây thiệt hại cho bên đề nghị giao kết hợp đồng
3.3 Trách nhiệm dân sự của chủ thể khác trong quá trình giao kết HĐDS.
HĐDS có thể được giao kết bằng nhiều hình thức, do vậy có thể có chủ thểkhác ngoài bên đề nghị giao kết và bên được nhận giao kết có trách nhiệm trongquá trình giao kết HĐDS Ví dụ: Trung tâm giao dịch chứng khoán, bất động sản;trung tâm bán đấu giá; đơn vị chuyển công văn, tài liệu, email, thư tín…) Do đókhi có thiệt hại xảy ra, theo hợp đồng đã giao kết hoặc theo quy định của pháp luật
mà các chủ thể này cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường Trách nhiệm bồithường trong vấn đề này được ghi nhận trong các văn bản chuyên ngành như pháplệnh Bưu chính viễn thông, Nghị định số 05/2005/ NĐ- CP về bán đấu giá tài sản,Luật Chứng khoán 2005, Luật kinh doanh bất động sản 2006, …
IV.1 Giao kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử.
Ngày nay, sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin đã bổ sung thêm