Xuất phát từ thực tiễn và tầm quan trọng của ngành công nghiệp dệt may đối với sự phát triển kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh nước ta đã là thành viên của WTO, người viết đã kiến nghị
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LƯU THỊ BÍCH THẢO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TẬP ĐOÀN DỆT MAY THEO CÁCH TIẾP CẬN
“MÔ HÌNH KIM CƯƠNG”
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
LƯU THỊ BÍCH THẢO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TẬP ĐOÀN DỆT MAY THEO CÁCH TIẾP CẬN
“MÔ HÌNH KIM CƯƠNG”
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Năng lực cạnh tranh của Tập đoàn
Dệt May theo cách tiếp cận”Mô hình kim cương” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu
của chính bản thân tôi trong quá trình học tập tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu, các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi, tất cả các tài liệu tham khảo được sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn một cách tường minh, theo đúng các quy định hiện hành
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đối với PGS.TS Trần Anh Tài, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Thầy đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, các giảng viên đã tham gia giảng dạy khóa học mà tôi được tham gia học tập, những người đã định hướng và trang bị cho tôi những kiến thức hữu ích và chuyên sâu về chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và hỗ trợ cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Và cuối cùng, xin cảm ơn tất cả các anh chị, các bạn học viên cùng khóa đã động viên, hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH CANH 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu: 4
1.2 Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh 7
1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh 7
1.2.2 Năng lực cạnh tranh 9
1.2.3 Các loại hình cạnh tranh 11
1.3 Các mô hình lý thuyết phân tích năng lực cạnh tranh và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 19
1.3.1 Ma trận SWOT 19
1.3.3 Mô hình kim cương của Michael Porter 25
1.4 Đề xuất áp dụng mô hình kim cương vào phân tích năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Dệt may Việt Nam 35
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Thết kế nghiên cứu 37
2.2 Khung phân tích 37
2.3 Phương pháp nghiên cứu 38
2.3.1 Phương pháp thu nhập số liệu 38
2.3.2 Phương pháp xử lý dữ liệu: 39
2.3.3 Phương pháp chuyên gia: 41
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TẬP ĐOÀN
DỆT MAY VIỆT NAM (VINATEX) THEO “MÔ HÌNH KIM CƯƠNG’’ 42
3.1 Tổng quan về ngành dệt may thế giới và Việt Nam 42
3.2 Giới thiệu Tập đoàn Dệt may Việt Nam 46
3.3 Phân tích năng lực canh tranh của Tập đoàn Dệt may Việt Nam theo “mô hình Kim cương” 49
3.3.1 Các điều kiện về yếu tố sản xuất 49
3.3.2 Điều kiện cầu 59
3.3.3 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan 64
3.3.4 Chiến lược công ty, cấu trúc và sự cạnh tranh 69
3.3.5 Các yếu tố khác 77
CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM (VINATEX) THEO “MÔ HÌNH KIM CƯƠNG’ 85
4.1 Quan điểm và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Dệt may Việt Nam 85
4.1.1 Quan điểm phát triển của Vinatex 85
4.1.2 Định hướng phát triển của Vinatex 86
4.2 Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Dệt may Việt Nam theo mô hình kim cương 88
4.2.1 Giải pháp phát triển các yếu tố sản xuất 88
4.2.2 Giải pháp phát triển nhu cầu 96
4.2.3 Giải pháp phát triền các ngành hỗ trợ và có liên quan 101
4.2.4 Giải pháp về chiến lực và cấu trúc doanh nghiệp 102
4.2.5 Kiến nghị đối với chính phủ 102
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 7i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 AEC Cộng đồng Kinh tế ASEAN
2 AFTEX Liên đoàn các nhà sản xuất dệt may Đông Nam Á
3 ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
4 CMT Cắt vải, may, hoàn thiện sản phẩm
5 EU Liên minh Châu Âu
6 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
7 FOB Phương thức sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng
với các đơn hàng cụ thể, tự chủ nguyên phụ liệu
8 FTA Hiệp định Thương mại Tự do
9 OBM Phương thức tự thiết kế, sản xuất, phân phối
10 ODM Phương thức tự thiết kế và sản xuất
11 TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
12 TPP Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình
Dương
13 VIFF Hội chợ Thời trang Việt Nam
14 VINATEX Tập đoàn Dệt may Việt Nam
15 VITAS Hiệp hội Dệt may Việt Nam
16 WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 8ii
DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1 Ma trận SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội,
2 Bảng 3.1 Tổng quan ngành dệt may Việt Nam 44
3 Bảng 3.2 Mục tiêu phát triển ngành dệt may đến năm
2015, định hướng đến năm 2020 46
4 Bảng 3.3 Tình hình tài chính kinh doanh qua các năm của
5 Bảng 3.4 Cơ cấu lao động của Vinatex năm 2012 54
6 Bảng 3.5 Báo cáo bậc thợ của công nhân trực tiếp sản
7 Bảng 3.6 Quy mô VIFF qua các năm 63
8 Bảng 3.7 Chuỗi cung ứng của Vinatex năm 2013 66
9 Bảng 3.8 Năng lực sản xuất sợi của một số thành viên tiêu
10 Bảng 3.9 Năng lực sản xuất dệt nhuộm của Vinatex 68
10 Bảng 3.10 Cơ cấu tổ chức Tập đoàn Dệt may Việt Nam 71
Trang 9iii
DANH MỤC HÌNH
1 Hình 1.1 Mô hình 5 yếu tố cạnh tranh của Michael Porter 23
2 Hình 1.2 Mô hình kim cương của Michael Porter 34
3 Hình 2.1 Mô hình kim cương các nhân tố quyết định lợi
4 Hình 3.1 Tháp dân số Việt Nam năm 2014 53
5 Hình 4.1 Nhu cầu mặc phân theo tháp nhu cầu Maslow 99
Trang 101
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những nước sản xuất đồ may mặc nhiều nhất thế
giới Năm 2014 ngành dệt may xuất khẩu trên 24 tỷ USD, tăng xấp xỉ 19% so với năm 2013 Trong đó , riêng mặt hàng may mặc đạt khoảng 21 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ; còn lại là giá trị xuất khẩu xơ sợi dệt đạt trên 3 tỷ USD Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) đóng một vai trò quan trọng trong việc khẳng định vai trò và tầm vóc của ngành dệt may Việt Nam trong hoạt động kinh tế trong nước và trên trường quốc tế Năm 2015 đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của Vinatex, chính thức hoạt động theo mô hình tập đoàn cổ phần sẽ mở ra nhiều hướng đi mới có lợi cho ngành dệt may nói chung và tập đoàn nói riêng
Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO và trở thành thành viên của khối thị trường chung thống nhất ASEAN, nếu biết tận dụng lợi thế của các hiệp định thương mại xuyên quốc gia thì Việt Nam có tiềm năng trở thành một nước có khả năng cạnh tranh toàn cầu mạnh mẽ hơn trong ngành may mặc Phân tích năng lực cạnh tranh của tập đoàn, ta có thể vận dụng “mô hình kim cương” của Michael Porter (M.Porter) để xem xét bốn nhân tố bao gồm: yếu tố sản xuất; điều kiện cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan; chiến lược công ty, cấu trúc và sự cạnh tranh; ngoài ra còn có hai nhân tố bổ trợ là chính phủ và cơ hội Những nhân tố này tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau, và các quốc gia chỉ có thể thành công cao nhất trong ngành có các nhân tố ở trạng thái thuận lợi nhất
Vì lý do đó, tác giả chọn đề tài Năng lực cạnh tranh của Tập đoàn dệt may theo cách tiếp cận "mô hình kim cương" làm luận văn thạc sĩ kinh tế -
chuyên ngành Quản trị kinh doanh Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) có phạm vi thị trường và đối thủ cạnh tranh mang tính quốc tế nên luận văn sẽ
Trang 112
thiên về hướng tiếp cận lợi thế cạnh tranh quốc gia và đề xuất những giải pháp phù hợp và khả thi nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Tập đoàn
Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đề ra, nhiệm vụ của nghiên cứu là
trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Mô hình kim cương là gì? Có thể sử dụng cách tiếp cận theo mô hình
kim cương để đánh giá năng lực cạnh tranh của tập đoàn dệt may không?
- Để nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn dệt may theo cách tiếp
cận mô hình kim cương cần phải thực hiện các giải pháp gì?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Chỉ ra những ưu điểm về năng lực cạnh tranh của Tập đoàn dệt may cũng như những điểm còn hạn chế xét theo “mô hình kim cương” của M.Porter Từ
đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp chủ yếu nhằm giữ vững và nâng cao
năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Dệt may Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản của “mô hình
kim cương”
- Áp dụng lý luận vào thực tiễn, phân tích thực lực của doanh nghiệp về các mặt để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng khả năng cạnh
tranh của Tập đoàn Dệt May Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Dệt May Việt Nam theo cách tiếp cận mô hình kim cương
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Về nội dung: phân tích năng lực cạnh tranh của tập đoàn theo mô hình kim cương
+ Về thời gian: phân tích năng lực cạnh tranh của tập đoàn trong thời gian
từ năm 2011-2014
Trang 123
4 Những đóng góp của luận văn nghiên cứu
- Đóng góp về mặt lý luận của đề tài
Tác giả hệ thống hóa và đúc kết lý luận về lợi thế cạnh tranh bằng việc vận dụng sáng tạo “mô hình kim cương” vào phân tích để chỉ ra những điểm mạnh trong năng lực của doanh nghiệp, đồng thời cũng cho thấy những điểm
còn yếu kém
- Đóng góp về mặt thực tiễn của đề tài
Đề tài có những đóng góp liên quan đến sự phát triển của Tập đoàn Dệt may Việt Nam nói riêng và ngành dệt may trong nước nói chung
Đánh giá đúng thực trạng của Tập đoàn Dệt may Việt Nam, chỉ ra những tồn tại, nguyên nhân của tồn tại; để từ đó đề ra những giải pháp nhằm
giúp Tập đoàn Dệt may Việt Nam phát triển ổn định và bền vững
Góp phần hỗ trợ hoạch định chính sách để nâng cao khả năng cạnh tranh về sản phẩm, định vị thương hiệu trong nước và trên trường quốc tế Từ
đó góp phần tăng thu nhập, ổn định kinh tế cho cán bộ, công nhân viên ngành dệt may nước ta
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu chính của luận văn gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tập đoàn dệt may Việt Nam (VINATEX) theo “mô hình kim cương”
Chương 4: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn dệt may Việt Nam (VINATEX) theo “mô hình kim cương”
Trang 134
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ
LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH CANH
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Dệt may vốn là một trong những mặt hàng truyền thống không chỉ mang lại giá trị cao về kinh tế – xã hội cho Việt Nam mà còn đóng góp quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua không ngừng được tăng lên cả về
số lượng, chủng loại và giá trị kim ngạch xuất khẩu, đưa Việt Nam trở thành một trong 10 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu dệt may dẫn đầu thế giới Do
vị trí quan trọng của ngành dệt may trong nền kinh tế quốc dân và những biến động không ngừng của tình hình kinh tế thế giới nên vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành đã và đang nhận được sự quan tâm, chú ý của đông đảo các cấp, các ngành, các nhà quản lý và các nhà khoa học Cho đến nay đã
có rất nhiều cuộc thảo luận, buổi hội nghị hội thảo, công trình nghiên cứu về chủ đề này; trong số đó có một số bài nghiên cứu tiêu biểu đã được đăng trên các báo, tạp chí như:
Dương Thị Thúy Hà, 2010 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
ngành dệt may Việt Nam Kinh tế và Dự báo, số 15, trang 3
Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng của hàng dệt may Việt Nam trong giai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO đến năm 2010 Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trên trường quốc tế Trong đó có một số giải pháp thuộc về nhà nước như: Hoàn thiện môi trường kinh tế, pháp luật; chính sách huy động vốn; nâng cao hiệu quả hoạt động của Hiệp hội dệt may; và một số giải pháp
về phía ngành là: tổ chức hệ thống thông tin; đẩy mạnh công tác xúc tiến
Trang 145
thương mại, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường liên kết doanh nghiệp, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm
Nguyễn Thùy Lan, 2010 Năng lực cạnh tranh của ngành Dệt – May
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh, đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam trên các khía cạnh: cạnh tranh nội lực và so với đối thủ Từ đó thấy được những mặt mạnh và những mặt còn tồn tại của ngành, đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của ngành dệt – may Việt Nam trong những năm từ sau 2010 Sức cạnh tranh của sản phẩm dệt – may ở tầm ngành công nghiệp và doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế Tác giả chỉ đề cập đến tính cạnh tranh của sản phẩm dệt – may Việt Nam so với một số đối thủ tiêu biểu như Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước châu Á khác trên thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản và Đông Âu
Võ Phước Tấn, 2007 Các giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam Tạp chí Phát triển kinh tế: Trường
ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh, số 3, trang 4
Bài viết đã đánh giá thực trạng của hàng dệt may Việt Nam Tác giả cho rằng bộ máy hành chính nước ta cồng kềnh với các yêu cầu về thủ tục hành chính rườm rà và phức tạp là một trở ngại cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngành kinh tế Sự chậm chễ trong việc phê duyệt, cấp phép đầu
tư cho các dự án khiến các dự án sản xuất rơi vào tình trạng ngưng đọng vốn lâu và kém hiệu quả Ngoài ra, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu với nhiều loại thủ tục xuất nhập khẩu phức tạp cũng ảnh hưởng đến xuất khải của ngành dệt may Ví dụ như một số mặt hàng và nguyên liệu của ngành dệt may được nhập khẩu thường xuyên, nhưng mỗi lần nhập lại phải qua các khâu kiểm
Trang 156
định chất lượng với thời gian giám định kéo dài làm phát sinh chi phí lưu kho, chậm tiến độ sản xuất, làm giảm khả năng cạnh tranh trong khi mặt hàng dệt may lại mang tính thời vụ ngắn hạn Xuất phát từ thực tiễn và tầm quan trọng của ngành công nghiệp dệt may đối với sự phát triển kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh nước ta đã là thành viên của WTO, người viết đã kiến nghị và đề xuất một số giải pháp chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới
Nguyễn Bằng Việt, 2012 Năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang Liên minh Châu Âu (EU) trong bối cảnh hội nhập WTO
Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế
Việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO và Khu vực mậu dịch
tự do AFTA đem đến cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức Sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam có thể vươn ra tầm thế giới Doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm kiếm thị phần cho sản phẩm của mình, nhưng phải nâng cao năng lực để có thể đương đầu với các đối thủ đến từ các quốc gia sản xuất nhiều sản phẩm dệt may tryền thống như Trung Quốc, Hàn Quốc Bài viết tập trung đưa ra giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp dệt may khác trên thị trường EU trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt
Các công trình nghiên cứu nói trên đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh và đưa ra những cái nhìn tổng quan về thực trạng ngành dệt may Việt Nam đang ở mức độ phát triển ra sao, các giải pháp các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu dệt may Việt Nam nên như thế nào Một số nghiên cứu đã đề cập đến năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam nhưng mới chỉ tập trung vào sức cạnh tranh nội lực của ngành thông qua thực trạng xuất khẩu dệt may vào một số thị trường trọng điểm mà chưa đi vào xem xét
Trang 167
toàn diện và đầy đủ các tố về yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cấu trúc doanh nghiệp, sự hỗ trợ của chính phủ và yếu tố thời cơ Trong khi đó các yếu tố này có mối tương quan mật thiết với nhau và chúng tác động qua lại lẫn nhau Muốn đạt được thành công cao nhất trong lĩnh vực may mặc thì Việt Nam phải có các nhân tố này ở trạng thái thuận lợi nhất
1.2 Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh
1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là một khái niệm phổ biến nhưng ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội khái niệm cạnh tranh được tiếp cận và trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau Từ góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì có thể hiểu cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa
vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác
Dưới thời Chủ nghĩa tư bản phát triển vượt bậc, Marx đã quan niệm:
“Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật điều kiện thuận lợi trong sản xuất và mua bán hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Nghiên cứu sâu thêm về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Marx đã tìm ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành Quy luật đó là nếu ngành nào hoặc lĩnh vực nào có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ có nhiều người để ý và tham gia; ngược lại, những ngành hoặc lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ có sự thu hẹp về quy mô và sự rút lui của các nhà đầu tư Tuy nhiên, sự tham gia hay rút lui của các nhà đầu tư không phải là dễ dàng, vội vã một sớm một chiều mà là cả một chiến lược lâu dài đòi hỏi sự nghiên cứu, tính toán kỹ lưỡng
Trang 178
Chủ nghĩa tư bản phát triển đến đỉnh điểm thì chuyển sang thời kỳ Đế quốc chủ nghĩa rồi sau đó suy vong Ngày nay nền kinh tế thế giới đã dần đi vào quỹ đạo của sự ổn định và xu hướng chính là hội nhập, hòa đồng giữa các nền kinh tế trong một cơ chế hoạt động mang tính thị trường năng động và có sự quản lý điều tiết của nhà nước nên khái niệm cạnh tranh mất dần đi tính giai cấp, tính chính trị nhưng về bản chất vẫn không thay đổi Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doanh nghiệp nhằm đạt được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh hay lợi nhuận
Dưới góc độ kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh
tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với những người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ; giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ
Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, là một yếu tố trong cơ chế vận động của thị trường Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh canh gay gắt Kết quả trong cạnh tranh là sẽ có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường, trong khi đó một số doanh nghiệp sẽ tồn tại và phát triển hơn nữa Cũng chính nhờ sự cạnh tranh không ngừng mà nền kinh tế thị trường vận động theo hướng ngày càng nâng cao năng suất lao động xã hội Đó cũng là yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia trên con đường phát triển
Ngày nay, hầu như tất cả các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh, coi cạnh tranh là một tất yếu khách quan Ở Việt Nam, cùng với việc
Trang 189
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, cạnh tranh đã từng bước được tiếp cận như một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức quản lý và điều khiển nền kinh tế quốc dân nói chung, trong tổ chức và điều hành kinh doanh trong các doanh nghiệp nói riêng Cạnh tranh không những là môi trường và động lực của sự phát triển mà còn là một yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì ở đó thường trì trệ, kém phát triển Do đó có thể nhìn nhận khái niệm cạnh tranh một cách đầy đủ như sau: Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất, kinh doanh với nhau dựa trên những chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển Cạnh tranh trong kinh tế
là cuộc chạy đua “Marathon kinh tế” nhưng không có đích cuối cùng, ai cảm nhận thấy thì người đó sẽ trở thành nhịp cầu cho các đối thủ khác vươn lên phía trước
1.2.2 Năng lực cạnh tranh
Ở Việt Nam, thuật ngữ năng lực cạnh tranh có thể thay thế cho thuật ngữ lợi thế cạnh tranh, khả năng cạnh tranh hay sức cạnh tranh Xét trên phương diện cạnh tranh, một tập đoàn kinh tế của một quốc gia sẽ bao gồm nhiều doanh nghiệp con của tập đoàn đó cùng tham gia cung cấp một chủng loại sản phẩm và sẽ cùng cạnh trạnh với các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp của các quốc gia khác trên thị trường quốc tế Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ Ở bài nghiên cứu của mình, tác giả sẽ chủ yếu đề cập đến năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao Như vậy, năng lực canh
Trang 1910
tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đấy là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính băng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách riêng biệt mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trường
Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ, cũng
có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh,…Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e chưa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Năng lực cạnh tranh của tập đoàn có thể được hiểu là tổng hợp các khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn bộ các doanh nghiệp thuộc tập đoàn nhằm duy trì, mở rộng thị trường các sản phẩm của tập đoàn và các sản phẩm, dịch vụ khác, được tiêu thụ trên thị trường trong nước và quốc tế so với các doanh nghiệp trong ngành của các nước trong khu vực hoặc thế giới Khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia được hình thành như là một khái niệm phức hợp, dựa trên nhiều yếu tố khác nhau như độ lớn của nền kinh
tế, sức mua thực tế, mức độ ổn định chính trị - kinh tế, trật tự an toàn xã hội, truyền thống lịch sử văn hóa, tài nguyên thiên nhiên Năng lực cạnh tranh
Trang 2011
quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được sự tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế - chính trị - xã hội, nâng cao đời sống của người dân
1.2.3 Các loại hình cạnh tranh
1.2.3.1 Căn cứ vào đối tượng cạnh tranh
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau
Cạnh tranh giữa những người bán là cuộc cạnh tranh chính và khốc liệt nhất trong nền kinh tế thị trường Nó có ý nghĩa sống còn đối với các chủ doanh nghiệp Cạnh tranh giữa những người bán điều chỉnh cung cầu hàng hóa trên thị trường Khi cung một hàng hóa nào đó lớn hơn cầu thì cạnh tranh giữa người bán làm cho giá cả hàng hóa đó giảm xuống, chỉ những doanh nghiệp nào đủ khả năng cải tiến công nghệ, trang bị kỹ thuật, phương thức quản lý, sản xuất và hạ được giá bán sản phẩm mới có thể tồn tại Kết quả để đánh giá doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này là tăng lợi nhuận, tăng doanh số và thị phần Trong nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh là hiện tượng tất yếu không thể tránh khỏi đối với bất kỳ doanh nghiệp nào
Thực tế cho thấy, cạnh tranh giữa những người bán với nhau sẽ đem lại lợi ích cho người mua và trong quá trình ấy những doanh nghiệp nào không
có chiến lược cạnh tranh thích hợp thì sẽ bị gạt ra khỏi thị trường và đi đến phá sản Nhưng mặt khác, thị trường cũng sẽ có những doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh nhờ nắm chắc “vũ khí” cạnh tranh thị trường và dám chấp nhận “luật chơi” phát triển
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau
Cạnh tranh giữa những người mua là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu, khi một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó mà mức cung nhỏ hơn mức cầu thì cuộc cạnh tranh càng trở nên quyết liệt và giá hàng hóa, dịch vụ đó sẽ càng cao Kết quả cuối cùng là người bán thu được lợi nhuận cao, còn người
Trang 211.2.3.2 Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường
- Cạnh tranh hoàn hảo
Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người bán, họ đều quá nhỏ lẻ nên sản xuất được bao nhiêu, họ đều có thể bán tất cả sản phẩm của mình tại mức giá thị trường hiện hành Vì vậy mặt hàng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo không có lý do gì để bán rẻ hơn mức giá thị trường Đồng thời hàng năm cũng không tăng giá của mình lên cao hơn giá thị trường vì nếu tăng giá thì doanh nghiệp sẽ không bán được hàng, do người sẽ tiêu dùng sẽ đi mua hàng với mức giá hợp lý từ các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Do đó các doanh nghiệp sản xuất sẽ luôn tìm biện pháp để giảm chi phí sản xuất đến mức tối đa, nhờ đó để có thể tăng lợi nhuận
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ không có những hiện tượng cung cầu giả tạo, không bị hạn chế bởi các biện pháp hành chính Nhà nước, vì vậy trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo giá cả thị trường sẽ dần tới chi phí sản xuất
- Cạnh tranh không hoàn hảo
Nếu một doanh nghiệp có thể tác động đáng kể đến giá cả thị trường đối với đầu ra của doanh nghiệp ấy thì doanh nghiệp đó được liệt vào hàng
“cạnh tranh không hoàn hảo” Như vậy, cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh trên thị trường không đồng nhất với nhau Một loại sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau mặc dù sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể Mỗi loại sản phẩm lại có uy tín, hình ảnh khác nhau, các điều kiện mua bán hàng cũng rất khác nhau Người bán có thể có uy tín độc đáo khác
Trang 2213
nhau đối với người mua do nhiều nguyên nhân, lý do khác nhau như: khách hàng quen, gây được lòng tin từ trước,… Người bán kéo khách về phía mình bằng nhiều cách: quảng cáo, khuyến mại, khuyến mãi, phương thức bán hàng
và cung cấp dịch vụ, tín dụng, chiết khấu giá,… Loại hình cạnh tranh không hoàn hảo hiện nay rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường
- Cạnh tranh độc quyền
Cạnh tranh độc quyền là cạnh tranh trên thị trường mà ở đó có một số người bán một số sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một loại sản phẩm không đồng nhất Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm hay hàng hóa bán ra trên thị trường Thị trường này có pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh, được gọi là thị trường cạnh tranh độc quyền Ở đây xảy ra cạnh tranh giữa các nhà độc quyền Điều kiện gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường cạnh tranh độc quyền có nhiều trở ngại do vốn đầu tư lớn hoặc
do độc quyền về bí quyết công nghệ Thị trường này không có cạnh tranh về giá cả, mà một số người bán toàn quyền quyết định giá cả
Họ có thể định giá cao hơn, điều này tùy thuộc vào đặc điểm tiêu dung của từng sản phẩm, mục đích cuối cùng là họ thu được lợi nhuận tối đa Những doanh nghiệp nhỏ tham gia thị trường này thường phải chấp nhận bán hàng theo giá cả của nhà độc quyền
Trong thực tế có thể có tình trạng độc quyền xảy ra nếu có sản phẩm nào thay thế sản phẩm độc quyền hoặc khi các nhà độc quyền liên kết với nhau Độc quyền gây trở ngại cho sự phát triển và làm thiệt hại đến người tiêu dùng Vì vậy, hiện nay ở một số nước đã có luật chống độc quyền nhằm chống lại sự liên minh độc quyền giữa các nhà kinh doanh
1.2.3.3 Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó Trong cuộc
Trang 2314
cạnh tranh này, các chủ doanh nghiệp thôn tính nhau Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường Những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh, thậm chí phá sản
- Cạnh tranh giữa các ngành
Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất Trong quá trình cạnh tranh này, các chủ doanh nghiệp luôn say mê với những ngành đầu tư có lợi nhuận nên đã chuyển vốn kinh doanh từ những ngành ít thu được lợi nhuận sang những ngành có lợi nhuận cao hơn Sự điều chỉnh này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành nên sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất Kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau và chỉ thu được lợi nhuận như nhau Tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành
tế, với quy mô kinh doanh và thị trường của doanh nghiệp từ đó phát huy được hiệu quả sử dụng công vụ Việc lựa chọn công cụ cạnh tranh có tính chất linh hoạt và phù hợp không theo một khuôn mẫu cứng nhắc nào
1.2.3.5 Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng, lợi ích sản phẩm Nếu như trước kia giá cả được
Trang 2415
coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm Khi có cùng một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thỏa mãn được nhu cầu của người tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn Nhất là trong nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của sản xuất, thu nhập của người lao động ngày càng được nâng cao, họ có đủ điều kiện để thỏa mãn nhu cầu của mình, cái mà họ cần là chất lượng và lợi ích sản phẩm đem lại Nếu nói rằng giá cả là yếu tố
mà khách hàng không cần quan tâm đến là hoàn toàn sai bởi giá cả cũng là một trong những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho phù hợp với mức thu nhập của mình Điều mong muốn của khách hàng và của bất cứ ai có nhu cầu mua hay bán là đảm bảo được hài hòa giữa chất lượng và giá cả
Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở hiện tại và trong tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần thiết Nâng cao chất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay đổi công nghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu dùng Hay nói cách khác, nâng cao chất lượng sản phẩm là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu mã, bền hơn và tốt hơn Điều này làm cho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu được ngày càng tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp, làm tăng lòng tin và sự trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp
Chất lượng sản phẩm dược coi là một vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải đương đầu đối với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam Một khi chất lượng hàng hóa dịch vụ không được đảm bảo thì có nghĩa là khách hàng sẽ đến với doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường dẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh Mặt khác chất lượng thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chất
Trang 251.2.3.6 Cạnh tranh bằng giá cả
Giá cả được hiểu là số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cung ứng một số hàng hóa dịch vụ nào đó Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hóa để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khách hàng được tôn vinh là “Thượng đế”, họ có quyền lựa chọn những gì họ cho là tốt nhất, khi có cùng hàng hóa dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn để lợi ích họ thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất Do vậy mà từ lâu giá cả đã trở thành một biến số chiến thuật phục
vụ mục đích kinh doanh Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường là do sự khéo léo, tinh tế chiến thuật giá cả Giá cả
đã thể hiện như một vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định giá sản phẩm: định giá thấp hơn giá thị trường, định giá ngang bằng giá thị trường hay chính sách giá cao hơn giá thị trường
Một mức giá ngang bằng với giá thị trường sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm giá mà chất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo khi đó lượng tiêu thụ sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao và lợi sẽ thu được nhiều hơn
Với một mức giá thấp hơn mức giá thị trường thì chính sách này được
áp dụng khi cơ sở sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hoá lớn, thu hồi vốn và lời nhanh Không ít doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính
Trang 2617
sách định giá thấp Họ chấp nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến lúc có thể
để sau này chiếm được cả thị trường rộng lớn, với khả năng tiêu thụ tiềm tàng Định giá thấp giúp doanh nghiệp ngay từ đầu có một chỗ đứng nhất định
để định vị vị trí của mình từ đó thâu tóm khách hàng và mở rộng thị trường
Với chính sách định giá cao hơn giá thị trường: là ấn định giá bán sản phẩm cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trường hiện tại khi mà lần đầu tiên người tiêu dùng chưa biết chất lượng của nó nên chưa có cơ hội để so sánh, xác định mức giá của loại sản phẩm này là đắt hay rẻ chính là đánh vào tâm lý của người tiêu dùng rằng những hàng hoá giá cao thì có chất lượng cao hơn các hàng hoá khác Doanh nghiệp thường áp dụng chính sách này khi nhu cầu thị trường lớn hơn cung hoặc khi doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền, hoặc khi bán những mặt hàng quý hiếm cao cấp ít có sự nhạy cảm về giá
Như vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và thành công khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ lưỡng xem mình đang ở tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất là nghiên cứu xu hướng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng cũng như cần phải xem xét các chiến lược các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng
1.2.3.7 Cạnh tranh bằng chính sách Marketing
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì chính sách Maketing đóng một vai trò rất quan trọng bởi khi bắt đầu thực hiện hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng đang có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm gì?, thu thập thông tin thông qua sự phân tích và đánh giá doanh nghiệp sẽ đi đến quyết định sản xuất những gì? kinh doanh những gì mà khách hàng cần, khách hàng có nhu cầu Trong khi thực hiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp thường sử dụng các chính sách xúc tiến bán hàng thông qua các hình thức quảng cáo, truyền bá sản phẩm đến người tiêu dùng Kết thúc quá trình bán hàng, để tạo
Trang 271.2.3.8 Các công cụ cạnh tranh khác
- Dịch vụ sau bán hàng
Hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp không dừng lại sau lúc bán hàng thu tiền của khách hàng mà để nâng cao uy tín và trách nhiệm đến cùng đối với người tiêu dùng về sản phẩm của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải làm tốt các dịch vụ sau bán hàng
Nội dung của hoạt động dịch vụ sau bán hàng:
+ Cam kết thu lại sản phẩm và hoàn trả tiền cho khách hoặc đổi lại hàng nếu như sản phẩm không theo đúng yêu cầu ban đầu của khách hàng
+ Cam kết bảo hành trong thời gian nhất định Qua các dịch vụ sau bán hàng, doanh nghiệp sẽ lắm bắt được sản phẩm của mình có đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng hay không
- Phương thức thanh toán
Đây cũng là một công cụ cạnh tranh được nhiều doanh nghiệp sử dụng, phương thức thanh toán gọn nhẹ, rườm rà hay nhanh chậm sẽ ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ và do đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Các doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp như:
+ Đối với khách hàng ở xa thì có thể trả tiền hàng qua ngân hàng, vừa nhanh vừa đảm bảo an toàn cho cả khách hàng lẫn doanh nghiệp
+ Với một số trường hợp đặc biệt, các khách hàng có uy tín với doanh nghiệp hoặc khách hàng là người mua sản phẩm thường xuyên của
Trang 28- Vận dụng yếu tố thời gian
Những thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ làm thay đổi nhanh cách nghĩ, cách làm việc của con người, tạo thời cơ cho mỗi người, mỗi đất nước tiến nhanh về phía trước Đối với các doanh nghiệp yếu tố quyết định trong chiến lược kinh doanh hiện đại là tốc độ chứ không phải là yếu tố
cổ truyền như nguyên liệu lao động Muốn chiến thắng trong công cuộc cách mạng này, các doanh nghiệp phải biết tổ chức nắm bắt thông tin nhanh chóng, phải chớp lấy thời cơ, lựa chọn mặt hàng theo yêu cầu, triển khai sản xuất, nhanh chóng tiêu thụ để thu hồi vốn nhanh trước khi chu kỳ sản xuất sản phẩm kết thúc
1.3 Các mô hình lý thuyết phân tích năng lực cạnh tranh và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Hiện nay, có nhiều lý thuyết được áp dụng để phân tích năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, từ việc phân tích môi trường kinh doanh để đánh giá năng lực cạnh, đến việc phân tích lựa chọn các chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp Tuy nhiên, các mô hình được được sử dụng nhiều nhất, phổ biến nhất để phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là ma trận SWOT, mô hình 5 áp lực và mô hình Kim cương của M Porter Tùy từng hoàn cảnh và giai đoạn cụ thể mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn mô hình phân tích năng lực cạnh tranh khác nhau
1.3.1 Ma trận SWOT
Ma trận phân tích SWOT là một công cụ hữu dụng cho việc nắm bắt và
ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức nào SWOT viết tắt
Trang 2920
của 4 chữ Strengths (những điểm mạnh), Weaknesses (những điểm yếu), Opportunities (các cơ hội) và Threats (các nguy cơ) SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng năng lực kinh doanh hoặc cạnh tranh của một một doanh nghiệp SWOT là một kỹ thuật phân tích rất tốt trong việc xác định Điểm mạnh, Điểm yếu để từ đó tìm
ra Cơ hội và Nguy cơ Để xây dựng ma trận SWOT cần phải liệt kê tất cả các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức thông qua ma trận theo các thứ tự ưu tiên Tiếp đó là phối hợp tạo ra các nhóm tương ứng với mỗi nhóm này là các phương án chiến lược cạnh tranh
Bảng 1.1: Ma trận SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức)
Mô hình SWOT được sử dụng để đưa ra 4 chiến lược cơ bản:
i) S/O: chiến lược dựa trên ưu thế của doanh nghiệp để tận dụng các cơ
hội thị trường
ii) W/O: chiến lược dựa trên khả năng vượt qua các yếu điểm của doanh
nghiệp để tận dụng cơ hội thị trường
iii) S/T: chiến lược dựa trên ưu thế của của doanh nghiệp để tránh các
nguy cơ của thị trường
iv) W/T: chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc hạn chế tối đa các
yếu điểm của doanh nghiệp để tránh các nguy cơ của thị trường
Để thực hiện phân tích SWOT cho vị thế cạnh tranh của một doanh nghiệp, người ta thường tự đặt các câu hỏi sau:
i) Các điểm mạnh: Lợi thế, ưu thế của doanh nghiệp là gì? Công việc nào
làm tốt nhất? Đâu là điểm mạnh của doanh nghiệp trên thị trường?
Trang 3021
Các ưu thế thường được hình thành khi so sánh với đối thủ cạnh tranh
ii) Các điểm yếu: Doanh nghiệp cần phải cải thiện gì, lĩnh vực nào? Cần
tránh làm gì? Vấn đề gì đang được xem như là điểm yếu của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh trên cơ sở xem xét các vấn đề
cả bên trong và bên ngoài Vì sao đối thủ cạnh tranh có thể làm tốt hơn mình? Lúc này phải nhận định một cách thực tế và đối mặt với
sự thật
iii) Các cơ hội: Cơ hội tốt đang ở đâu? Xu hướng đáng quan tâm nào mà
doanh nghiệp mong đợi? Cơ hội có thể xuất phát từ sự thay đổi công nghệ và thị trường dù là quốc tế hay trong phạm vi hẹp, từ sự thay đổi trong chính sách của nhà nước có liên quan tới lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, từ sự thay đổi khuôn mẫu xã hội, cấu trúc dân số hay cấu trúc thời trang, từ các sự kiện diễn ra trong khu vực Phương thức tìm kiếm hữu ích nhất là rà soát lại các ưu thế của mình và tự đặt câu hỏi liệu các ưu thế ấy có mở ra cơ hội mới nào không
iv) Các nguy cơ: Những trở ngại hiện tại? Có yếu điểm nào đang đe dọa
doanh nghiệp? Các đối thủ cạnh tranh đang làm gì? Những đòi hỏi đặc thù về công việc, về sản phẩm hay dịch vụ có thay đổi gì không? Thay đổi công nghệ có nguy cơ gì với doanh nghiệp hay không? Có vấn đề gì về nợ quá hạn hay dòng tiền? Các phân tích này thường giúp tìm ra những việc cần phải làm và biến yếu điểm thành triển vọng
Ma trận phân tích SWOT thích hợp cho việc đánh giá hiện trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thông qua việc phân tích tình hình bên trong và bên ngoài doanh nghiệp và thực hiện lọc thông tin theo một trật tự dễ hiểu và dễ xử lý hơn Các yếu tố bên trong cần phân tích có thể
Trang 3122
là: văn hóa doanh nghiệp; hình ảnh doanh nghiệp; cơ cấu tổ chức; nhân lực chủ chốt; khả năng sử dụng các nguồn lực; kinh nghiệm đã có; hiệu quả hoạt động; năng lực hoạt động; danh tiếng thương hiệu; thị phần; nguồn tài chính; hợp đồng chính yếu; bản quyền và bí mật thương mại Các yếu tố bên ngoài cần phân tích có thể là: khách hàng, đối thủ cạnh tranh, xu hướng thị trường, nhà cung cấp, đối tác, thay đổi xã hội, công nghệ mới, môi truờng kinh tế, môi trường chính trị và pháp luật
Chất lượng phân tích của ma trận SWOT phụ thuộc vào chất lượng thông tin thu thập được Cần tránh cái nhìn chủ quan từ một phía, nên tìm kiếm thông tin từ mọi phía: ban giám đốc, khách hàng, đối tác, nhà cung cấp, đối tác chiến lược, tư vấn SWOT cũng có phần hạn chế khi sắp xếp các thông tin với xu hướng giản lược Điều này làm cho nhiều thông tin có thể bị gò ép vào vị trí không phù hợp với bản chất vấn đề Nhiều đề mục
có thể bị trung hòa hoặc nhầm lẫn giữa hai thái cực S-W và O-T do quan điểm của nhà phân tích
Ưu điểm của phân tích SWOT là đơn giản, dễ hình dung, và bao quát
đủ các yếu tố, cả trong và ngoài doanh nghiệp Sử dụng thông tin bất đối xứng để ra quyết định sẽ rất gay go Bởi vậy, việc xây dựng chiến lược kinh doanh và đưa ra các giải pháp tăng cường năng lực cạnh tranh cần phải phân tích tổng thể các mặt mạnh, yếu, cơ hội thách thức tác động đến doanh nghiệp mà không nên chỉ phân tích điểm mạnh, cơ hội đem đến với doanh nghiệp mà bỏ qua phân tích điểm yếu, thách thức của doanh nghiệp
1.3.2 Mô hình 5 áp lực
Trong cuốn sách "Competitive strategy”, M.Porter đã đưa ra nhận định
về các áp lực cạnh tranh trong mọi ngành sản xuất kinh doanh:
Trang 3223
Hình 1.1 Mô hình 5 yếu tố cạnh tranh của Michael Porter
(Nguồn: Michael E.Porter, P., 1998 Competitive Strategy 2nd ed New
York: The Free Press)
1.3.2.1 Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp
i) Số lượng, qui mô nhà cung cấp sẽ quyết định áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, với doanh nghiệp Nếu trên thị trường chỉ có vài nhà cung cấp có qui mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
ii) Khả năng thay thế sản phẩm của nhà cung cấp thể hiện ở khả năng thay thế những nguyên liệu đầu vào do các nhà cung cấp và chi phí chuyển đổi nhà cung cấp
iii) Các nhà cung cấp thường gây các áp lực nhất định nếu họ có qui
mô, sự tập hợp và việc sở hữu các nguồn lực quí hiếm đối với doanh nghiệp đặc biệt là đối với doanh nghiệp nhỏ lẻ
1.3.2.2 Áp lực cạnh tranh từ khách hàng
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khách hàng có thể phân thành 2 nhóm: khách hàng lẻ và nhà phân phối Cả hai nhóm này đều gây áp
Trang 3324
lực đối với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điều khiển cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau thông qua quyết định mua hàng
1.3.2.3 Áp lực cạnh tranh từ các đối thủ tiềm ẩn
Các đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp trong tương lai Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay ít, áp lực của họ mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố: thứ nhất là sức hấp dẫn của ngành thể hiện qua các chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành; thứ hai đó là những rào cản gia nhập ngành, đây là những yếu tố làm cho việc gia nhập ngành khó khăn, tốn kém hơn Ví dụ: rào cản về kỹ thuật; vốn; các yếu tố thương mại như hệ thống phân phối, thương hiệu, hệ thống khách hàng; và các nguồn lực đặc thù
1.3.2.4 Áp lực từ sản phẩm thay thế
Sản phẩm, dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu tương đương với các sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp Các sản phẩm thay thế này sẽ đe dọa trực tiếp các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp khi cung cấp trên thị trường
1.3.2.5 Áp lực cạnh tranh từ các đối thủ hiện tại
Các doanh nghiệp cùng kinh doanh một loại sản phẩm dịch vụ trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh Trong một ngành, các yếu tố sau sẽ làm tăng sức ép cạnh tranh của các đối thủ bao gồm: tình trạng ngành (nhu cầu, tốc độ tăng trưởng, số lượng đối thu cạnh tranh), cấu trúc ngành (tập trung hay phân tán)
và các rào cản rút lui (rào cản về công nghệ, vốn đầu tư; ràng buộc với người lao động; ràng buộc với Chính phủ và các tổ chức liên quan (stakeholder); ràng buộc chiến lược, kế hoạch
Trang 3425
Ưu điểm của mô hình này cho phép phân tích đầy đủ các áp lực tác động đến doanh nghiệp từ các đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp, các đối thủ tiềm ẩn, đến khách hàng cũng như các sản phẩm thay thế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Mô hình này giúp cho việc phân tích khá sâu, rộng đến mọi khía cạnh tác động trực tiếp đến doanh nghiệp đòi hỏi người phân tích phải có kiến thức bao quát với việc thu thập thông tin chính xác sẽ đem lại hiệu quả phân tích cao
1.3.3 Mô hình kim cương của Michael Porter
Michael Eugene Porter (sinh ngày 23 tháng 5 năm 1947) là giáo sư lỗi lạc của trường Đại học Harvard, chuyên gia hàng đầu về chiến lược và chính sách cạnh tranh của thế giới, đồng thời là cha đẻ của lý thuyết lợi thế cạnh tranh của các quốc gia Từ năm 1983, Michael Eugene Porter (M Porter) làm việc trong Ủy ban ủy nhiệm của Tổng thống Hoa Kỳ về lĩnh vực cạnh tranh công nghiệp Ông là môt trong những giáo sư tiên phong đưa ra môn học về chiến lược cạnh tranh và mô hình phân tích cấu trúc ngành Năm 2005, M Porter đứng đầu trong danh sách 50 “bộ óc” quản trị có tầm ảnh hưởng nhất thế giới Về lý luận cạnh tranh, ông đã cho xuất bản ba tác phẩm kinh điển gồm có: “Chiến lược cạnh tranh” (competitive strategy), xuất bản năm 1980,
“Lợi thế cạnh tranh” (competitive advantage) xuất bản năm 1985 và “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (competitive advantage of nations) năm 1990 Những cuốn sách nổi tiếng này được dịch ra nhiều thứ tiếng tại nhiều quốc gia và sử dụng trong hầu hết các chương trình đào tạo MBA (Master of Business Administration) của các nước Người ta xem chúng như là sách gối đầu giường của giới quản trị kinh doanh và các nhà hoạch định chính sách vĩ mô trên khắp thế giới
Trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” M Porter đưa ra lý thuyết nổi tiếng là “mô hình kim cương” (Diamond Pattern) nhờ việc vận dụng cơ sản lý
Trang 3526
luận về cạnh tranh trong nước vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế Ông cho rằng không có quốc gia nào có lợi thế cạnh tranh ở tất cả các ngành hay hầu hết các ngành, mỗi quốc gia chỉ có thể thành công ở những ngành nhất định có lợi thế cạnh tranh bền vững khi tham gia vào thương trường kinh doanh quốc tế Theo M Porter, dù hoạt động trong hay ngoài nước, bản chất cạnh tranh nằm trong 4 nhân
tố đó là: Chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh trong nước của công ty; Yếu tố nhu cầu; Những ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ; Yếu tố sản xuất Bốn nhân tố này là những biến nội sinh, tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau và chúng tạo nên môi trường mà trong đó doanh nghiệp tồn tại, phát triển, sinh ra hay mất đi lợi thế cạnh tranh Quốc gia có khả năng thành công cao nhất trong ngành nghề mà bốn nhân tố này ở trạng thái thuận lợi nhất Ngoài ra, còn có hai yếu tố yếu tố ngoại sinh là vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ
M Porter do đó đã phê phán các học thuyết cổ điển trước đây cho rằng
ưu thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế là chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, hay chỉ có lợi thế so sánh của David Ricardo Theo Porter, năng lực cạnh tranh của một quốc gia ngày nay phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và năng lực đổi mới, nâng cấp các ngành công nghiệp của quốc gia đó Khi thế giới cạnh tranh mang tính toàn cầu hóa thì nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối, hay lợi thế so sánh
mà thiên nhiên ban tặng cho con người sang những lợi thế mà quốc gia đó đạt được và duy trì ở vị thế cạnh tranh lâu dài của các ngành, các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế
Trong một thế giới cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt, các quốc gia ngày càng trở nên quan trọng hơn vì cơ sở của sự cạnh tranh đang ngày càng dịch chuyển sang sự sáng tạo và đồng bộ hóa kiến thức Lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra thông qua quá trình địa phương hóa cao độ Tất cả những khác biệt về giá trị, cơ cấu kinh tế, thể chế, chính sách, văn hóa và lịch sử của
Trang 3627
các nước sẽ tạo nên ưu thế quyết định sự thành công trong cạnh tranh Các quốc gia thành công trên thế giới ở một số ngành mà môi trường trong nước của họ năng động, tiên phong và nhiều thách thức nhất Các công ty của một quốc gia thu được lợi thế so với các đối thủ quốc tế nhờ việc họ đối mặt được với các đối thủ trong nước đủ mạnh, họ có nhà cung cấp trong nước đủ lớn, họ lôi kéo được nhu cầu phong phú của khách hàng trong nước và tận dụng được
sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành công nghiệp phụ trợ và có liên quan
Vậy tại sao một số công ty tại một số quốc gia nhất định lại có khả năng đổi mới một cách nhất quán? Tại sao các công ty này không ngừng theo đuổi
sự nghiệp cải tiến, qua đó tìm kiếm lợi thế cạnh tranh tinh vi, nổi trội hơn? Tại sao một số công ty có khả năng vượt qua được những rào cản đáng kể của công cuộc đổi mới mà kết quả họ đạt được là sự thành công? Câu trả lời nằm trong bốn thuộc tính lớn của một quốc gia cần có đó là: các yếu tố sản xuất; các yếu
tố cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan; chiến lược công ty, cấu trúc
và sự cạnh tranh Các thuộc tính này đứng cạnh nhau tạo thành một hệ thống hình thoi như mô hình viên kim cương quyết định lợi thế quốc gia, sân chơi mà mỗi quốc gia thiết lập và hoạt động cho các ngành của mình
Các thuộc tính này bao gồm:
1.3.3.1 Các điều kiện về yếu tố sản xuất:
Thuyết kinh tế cổ điển chỉ ra rằng các nhân tố sản xuất như nguồn lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, cơ sở hạ tầng… quyết định sự thành bại trong nền sản xuất, kinh doanh của mỗi quốc gia Đây là những nhân tố sẵn có hay được thiên nhiên ưu dãi Các doanh nghiệp có thể có được lợi thế cạnh tranh khi họ tận dụng các nhân tố đầu vào có chi phí thấp, chất lượng cao Một quốc gia sẽ xuất khẩu nhiều nhất những hàng hóa mà đầu vào
để sản xuất ra chúng tương đối dưa thừa Học thuyết này đã có từ lâu đời, gắn chặt với kinh tế học cổ điển với hai đại diện là Adam Smith và David Ricardo Theo M Porter thì các học thuyết này là không đầy đủ, thậm chí
Trang 3728
không chính xác vì các nhân tố này sẽ không mang lại lợi thế cạnh tranh nếu như chúng không được phân bố hợp lý và hiệu quả, đặc biết là trong các ngành mà tăng năng suất không phải do yếu tố thiên nhiên ban tặng mà do sự lao động sáng tạo của con người quyết định Nói một cách khác thì việc sử dụng, tạo ra, cải tiến và chuyên biệt hóa đầu vào có tầm quan trọng lớn hơn số lượng các yếu tố đầu vào được sử dụng nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh
Các yếu tố đầu vào sản xuất được chia ra làm hai nhóm là: nhóm các yếu tố cơ bản (các yếu tố chung) và nhóm các yếu tố tiên tiến Các yếu tố cơ bản hay còn gọi là các yếu tố chung bao gồm có vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động chưa qua đào tạo hoặc được đào tạo đơn giản và vốn Đây là nhóm yếu tố được coi như là nền tảng của các ngành sản xuất Nhóm các yếu tố tiên tiến còn gọi là yếu tố chuyên sâu, bao gồm cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc viễn thông, kỹ thuật số hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao như kỹ thuật viên được đào tạo đầy đủ, những lập trình viên máy tính hoặc những nhà nghiên cứu trong những lĩnh vực chuyên môn tinh xảo
Trong hai nhóm yếu tố trên đây thì nhóm các yếu tố tiên tiến thường được hỉnh thành trên cơ sở nhóm các yếu tố cơ bản Sự hình thành này chủ yếu thông qua các hoạt động đào tạo và cơ chế khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới và phát triển Theo M Porter thì nhóm yếu tố tiên tiến là yếu tố cốt lõi quyết định đến khả năng cạnh tranh quốc gia nên cần được chú trọng hơn Ví
dụ, các công ty hàng điện tử tiêu dùng của Hoa Kỳ khi phải đối mặt với chi phí lao động tương đối cao, đã chọn việc từ bỏ các sản phẩm và quy trình sản xuất phần lớn không thay đổi và chuyển những hoạt động thâm dụng lao động sang Đài Loan và các quốc gia châu Á khác Thay vì nâng cấp các nguồn lợi thế của mình, thì các công ty này lại xử lý việc cân bằng chi phí lao động Trái lại, các đối thủ cạnh tranh Nhật Bản, khi đối mặt với sự cạnh tranh trong nước khốc liệt và một thị trường nội địa bão hóa, đã chọn lựa việc loại bỏ lao
Trang 3829
động thông qua việc tự động hóa Điều này đã dẫn đến chi phí lắp ráp thấp hơn, tạo ra các sản phẩm có ít hợp phần hơn và có chất lượng và độ tin cậy được cải thiện Chẳng mấy chốc các công ty Nhật Bản đã xây dựng các nhà máy lắp ráp tại Hoa Kỳ - nơi mà các công ty của Hoa Kỳ đã từ bỏ
1.3.3.2 Các điều kiện về yếu tố cầu:
Điều kiện về cầu được thể hiện trực tiếp ở tiềm năng của thị trường Thị trường là nơi quyết định cao nhất năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, một quốc gia Thị trường trong nước có những đòi hỏi cao về sản phẩm sẽ là động lực thúc đẩy các công ty thường xuyên cải tiến và đổi mới sản phẩm nếu các công ty này muốn tồn tại và phát triển Cũng tương tự như vậy, thị trường nước ngoài đặt ra những tiêu chuẩn cao đối với sản phẩm và các dịch vụ đòi hỏi những công ty muốn thành công trên thị trường quốc tế phải luôn đổi mới và đáp ứng kịp thời các nhu cầu của thị trường nước ngoài (để kinh doanh thành công thì phải biết bán cái gì người ta cần chứ không phải bán cái gì mà mình có) Ví dụ thị trường các mặt hàng điện tử dân dụng
và ô tô du lịch ở Nhật Bản chỉ có chỗ đứng cho các công ty có khả năng cạnh tranh quốc tế cao
Đồng thời, thị trường trong nước đang tiến đến xu hướng quốc tế hóa nghĩa là không còn sự khác biệt giữa các thị trường nước ngoài, thị trường nội địa và nhu cầu nội địa Các sản phẩm được sản xuất ra theo tiêu chuẩn ngày càng cao và có tính quốc tế Vì vậy, các yêu cầu đặt ra đối với thị trường nội địa sẽ ngày càng cao, gắng với nhu cầu của thị trường quốc tế Ví dụ, sự thành công quốc tế của các công ty Hoa Kỳ trong thực phẩm ăn nhanh và thẻ tín dụng phản ảnh không chỉ mong muốn của người Mỹ đối với sự tiện lợi mà còn là sự lan tỏa những thị hiếu đó đến phần còn lại của thế giới Các quốc gia xuất khẩu giá trị và thị hiếu của mình thông qua phương tiện truyền thông, thông qua việc
Trang 39Các ngành cung ứng có năng lực cạnh tranh quốc tế thì có thể tạo ra những lợi thế cho những ngành sản xuất trong nước theo nhiều các khác nhau Thứ nhất, họ cung cấp các yếu tố đầu vào giá rẻ và hiệu quả, nhanh chóng và đôi khi ưu tiên Các công ty đồ trang sức vàng và bạc của nước Ý đã dẫn đầu thế giới trong ngành này một phần bởi vì các công ty khác của Ý đã cung cấp hai phần ba máy chế tạo kim hoàn và tái chế kim loại quý hiếm của thế giới Những công ty sản xuất sản phẩm, dịch vụ và thị trường tiêu thụ nằm gần nhau có thể tận dụng các tuyến liên lạc ngắn, dòng thông tin nhanh chóng và thường xuyên, và sự trao đổi các ý tưởng và sự đổi mới đang diễn ra
Các công ty sản xuất cũng có thể gây ảnh hưởng đến các nhà cung ứng của mình hoặc có thể được coi như là nơi thử nghiệm cho công việc nghiên cứu và phát triển, qua đó đẩy nhanh nhịp độ đổi mới Ví dụ, những nhà sản xuất giày thường xuyên tương tác với các nhà chế tạo da về các mẫu mã và kỹ thuật sản xuất mới và học hỏi về các bề mặt da và màu da mới khi chúng vẫn còn nằm trên bản vẽ Các nhà sản xuất da sớm có được những sự hiểu biết cặn
kẽ đối với các xu hướng thời trang, qua đó giúp họ lên kế hoạch sản xuất những sản phẩm mới đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của người tiêu dùng
Trang 4031
Những ngành liên quan và cung ứng có chất xúc tác chuyển tải thông tin và đổi mới từ doanh nghiệp này đến doanh nghiệp khác, góp phần đẩy nhanh tốc độ đổi mới trong toàn bộ nền kinh tế Ví dụ, thành công của Thụy
Sỹ trong dược phẩm nổi lên từ sự thành công quốc tế trước đó trong ngành nhuộm; sự áp đảo của người Nhật trong đàn oóc-gan điện tử đến từ thành công trong các nhạc cụ được kết hợp với vị thế mạnh trong hàng điện tử tiêu dùng của nước này
1.3.3.4 Chiến lược công ty, cấu trúc và sự cạnh canh
Chiến lược công ty có ảnh hưởng lâu dài đến khả năng cạnh tranh của
nó trong tương lai bởi vì các mục tiêu, chiến lược và cách tổ chức của các công ty trong các ngành công nghiệp có sự khác nhau rất lớn giữa các quốc gia Yếu tố này chi phối đến hoạt động đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm và thị trường của từng doanh nghiệp và từng ngành Khả năng cạnh tranh quốc gia là khả năng kết hợp giữa các sự lựa chọn này với các nguồn lực của lợi thế cạnh tranh trong một ngành công nghiệp cụ thể Ngoài chiến lược phát triển, cơ cấu của một ngành công nghiệp cũng quyết định lớn đến khả năng cạnh tranh toàn ngày Cơ cấu các ngành công nghiệp liên quan đến ngành mũi nhọn được ưu tiên, mức độ liên hệ và
hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngành để phục vụ cho mục tiêu nhất định Cơ cấu của ngành công nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả toàn ngành Bên cạnh đó, cạnh tranh trong nội bộ ngành và giữa các công ty trong một nước càng gay gắt thì năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế của công ty đó càng cao Các đối thủ cạnh tranh trong nội bộ ngành gây sức ép lẫn nhau đối với việc giảm chi phí, cải thiện chất lượng, giá cả và việc sáng tạo ra sản phẩm mới Điều này kích thích hoạt động đổi mới để vượt qua lo ngại bị tụt hậu trong quá trình phát triển của công ty, giúp công ty đứng vững trên cả thị trường trong nước
và quốc tế