Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: trong một tập thể, bầu không khí tâm lí càng tích cực bao nhiêu, sự tương quan giữa các cá nhân càng tốt bao nhiêu, càng thân thiện với nhau bao nhiêu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:TS NGUYỄN ĐÌNH MẠNH
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được thực hiện tạiTrường Đại học sư phạm Hà Nội 2 dưới sự hướng dẫn của TS NGUYỄN ĐÌNH MẠNH Tác giả trân trọng cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 các chị em đồng nghiệp các trường mầm non trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm và gia đình đã luôn quan tâm, tạo điều kiện cho tác giả nghiên cứu trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 8 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Đỗ Thị Thu Hằng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là luận văn nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị
Học viên
Đỗ Thị Thu Hằng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG BẦU KHÔNG KHÍ TÂM LÍ Ở TRƯỜNG MẦM NON 6
1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Trong nước 6
1.1.2 Ngoài nước 9
1.2 Một số vấn đề lý luận của đề tài 13
1.2.1 Quản lý 13
1.2.1.1 Khái niệm quản lý 13
1.2.1.2 Những chức năng cơ bản của quản lí 15
1.2.2 Khái niệm hoạt động và xây dựng 15
1.2.3 Khái niệm bầu không khí tâm lí 15
1.2.4 Khái niệm nhóm và tập thể 18
1.2.4.1 Khái niệm nhóm và tập thể 18
1.2.4.2 Một số hiện tượng tâm lí trong nhóm và tập thể 19
1.2.5 Khái niệm hiệu trưởng, giáo viên mầm non 26
1.2.6 Nội dung quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lý 28
1.2.6.1 Xây dựng kế hoạch quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí: 28
1.2.6.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch 28
1.2.6.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch 29
1.2.6.4 Kiểm tra, đánh giá xây dựng bầu không khí tâm lí 29
1.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí ở tập thể trường mầm non 29
1.2.7.1 Về phía chủ thể quản lí 29
1.2.7.2 Về phía đối tượng quản lí 30
1.2.7.3 Yếu tố môi trường, điều kiện cơ sở vật chất, tài chính, vai trò của các tổ chức đoàn thể 30
Trang 6CHƯƠNG 2: 32
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG BẦUKHÔNG KHÍ TÂM LÝ Ở TRƯỜNG MẦM NON QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32
2.1 Khái quát về Quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 32
2.2.1 Lịch sử hình thành 32
2.2.2 Khái quát về tình hình giáo dục ở các trường mầm non Quận Bắc Từ Liêm – Thành phố Hà Nội 33
2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 35
2.2.1 Mục đích nghiên cứu 35
2.2.2 Nội dung khảo sát 36
2.2.3 Phương pháp khảo sát 36
2.2.4 Địa bàn và khách thể khảo sát 37
2.2.5 Thời gian khảo sát: Từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2015 37
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng Quản lý hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí ở các trường mầm non quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 37
2.3.1 Kết quả khảo sát thực trạng bầu không khí tâm lí 37
2.3.1.1 Nhận thức của khách thể điều tra về tầm quan trọng của các yếu tốcó ảnh hưởng đến tâm trạng và hiệu quả công việc của các thành viên trong tập thể 37
2.3.1.2 Nhận thức của khách thể điều tra về vai trò của các yếu tố đối với sự hình thành bầu không khí tâm lí tập thể trường mầm non 42
2.3.1.3 Thực trạng tần xuất thực hiện của các yếu tố chi phối sự hình thành bầu không khí tâm lý trong trường mầm non ở quận Bắc Từ Liêm 46
2.3.1.4 Thực trạng hiệu quả của các yếu tố chi phối sự hình thành bầu không khí tâm lí tập thể tại các trường mầm non ở quận Bắc Từ Liêm 50
2.3.2 Khảo sát thực trạng quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí ở các trường mầm non 54
2.3.2.1 Đánh giá nhận thức về tầm quan trọng của các biện pháp quản lý hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí của cán bộ, giáo viên tại các trường mầm non quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 54
2.3.2.2 Kết quả khảo sát việc thực hiện các biện pháp quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí ở trường mầm non quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
Trang 7CHƯƠNG 3: 74
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 74
BẦU KHÔNG KHÍ TÂM LÍ TRONG TRƯỜNG MẦM NON 74
QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 74
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 74
3.1.1 Nguyên tắc thực tiễn 74
3.1.2 Nguyên tắc hệ thống 74
3.1.3 Nguyên tắc kế thừa 74
3.1.4 Nguyên tắc khả thi 75
3.2 Một số giải pháp quản lý hoạt động xây dựng bầu không khí làm việc trong trường mầm non Quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 75
3.2.1 Tổ chức hoạt động nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên… về tầm quan trọng của việc xây dựng bầu không khí tâm lí tích cực trong nhà trường 75
3.2.1.1 Mục tiêu 75
3.2.1.2 Nội dung của biện pháp 75
3.2.1.3 Cách thức tổ chức và điều kiện thực hiện biện pháp 76
3.2.2 Đổi mới việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tổ chức hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lý tập thể 78
3.2.2.1 Mục tiêu 78
3.2.2.2 Nội dung của biện pháp 78
3.2.2.3 Cách thức tổ chức và điều kiện thực hiện biện pháp 79
3.2.3 Tổ chức quản lý hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí thông qua việctổ chức lựa chọn và bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ giáo viên 79
3.2.3.1 Mục tiêu 79
3.2.3.2 Nội dung của biện pháp 80
3.2.3.3 Cách thức tổ chức và điều kiện thực hiện biện pháp 80
3.2.4 Tổ chức quản lý hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí thông qua hoạt động xây dựng môi trường cơ sở vật chất 81
3.2.4.1 Mục tiêu của biện pháp 81
3.2.4.2 Nội dung, cách thức tổ chức và điều kiện thực hiện biện pháp 81
3.2.5 Xây dựng môi trường sư phạm thân thiện, tích cực và có các chính sách khuyến khích đối với cán bộ, giáo viên 87
3.2.5.1 Mục tiêu 87
3.2.5.2 Nội dung của biện pháp 87
3.2.5.3 Cách thức tổ chức và điều kiện thực hiện biện pháp 88
Trang 83.2.6 Tổ chức kiểm tra, đánh giá hoạt động xây dựng bầu không khí làm việc
tại nhà trường mầm non quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 90
3.2.6.1 Mục tiêu 90
3.2.6.2 Nội dung của biện pháp 90
3.2.6.3 Cách thức tổ chức và điều kiện thực hiện biện pháp 92
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 92
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí bằng phương pháp chuyên gia 93
3.4.1 Mục tiêu khảo nghiệm 93
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 93
3.4.3 Cách thức khảo nghiệm 93
3.4.4 Thời gian khảo nghiệm: Tháng 9/2015 93
3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 93
Kết luận chương 3 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
1.1 Hiện tượng tâm lý của con người diễn ra rất đa dạng, phức tạp và nó
có sức mạnh vô cùng to lớn đối với hoạt động của con người Con người từ khi sinh ra và lớn lên đã không tồn tại và hoạt động một cách đơn lẻ mà luôn gắn mình vào các nhóm xã hội Bởi vì hoạt động và giao tiếp trong nhóm là nhu cầu không
thể thiếu của con người, hay như nhà xã hội học Comte đã nói rằng: Cá nhân là
một thực thể xã hội, không có con người biệt lập, không có con người phi xã hội
Trong bất kỳ một tập thể hay nhóm xã hội nào đó, con người luôn phải liên kết với nhau để cùng tiến hành các hoạt động, giao tiếp để tạo ra của cải vật chất, những giá trị tinh thần giúp thoả mãn các nhu cầu khác nhau của con người Để nhóm tồn tại bền vững và phát triển thì một nhân tố đóng vai trò then chốt đó là bầu không khí tâm lí xã hội trong nhóm Bầu không khí tâm lí tập thể là trạng thái tâm lí của tập thể, nó thể hiện sự phối hợp tâm lí xã hội, sự tương tác giữa các thành viên
và mức độ dung hợp các đặc điểm tâm lí trong quan hệ liên nhân cách của họ Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: trong một tập thể, bầu không khí tâm lí càng tích cực bao nhiêu, sự tương quan giữa các cá nhân càng tốt bao nhiêu, càng thân thiện với nhau bao nhiêu thì kết quả hoạt động của nhóm, tập thể đó càng tốt bấy nhiêu, sự gắn kết trong nhóm càng bền vững, ý thức trách nhiệm của mọi người trong việc xây dựng và bảo vệ nhóm càng tốt bấy nhiêu
1.2 Tại Việt Nam, vào thời điểm hiện nay, một trong những yêu cầu to lớn
và bức thiết của xã hội là đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Quản lý giáo dục có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục Hơn lúc nào hết, các nhà quản lý nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình: “ Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục Cán bộ quản lý giáo dục phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và trách nhiệm
cá nhân Nhà nước có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
Trang 10quản lý giáo dục nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, bảo đảm phát triển sự nghiệp giáo dục [59] Tuy nhiên, hiện nay: “Đội ngũ cán bộ quản lý Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục”[14; 2] Vì vậy, đổi mới công tác quản lý
để nâng cao chất lượng giáo dục là yêu cầu tất yếu của giáo dục Việt Nam hiện nay
Mặt khác, để thực hiện được sự nghiệp đổi mới này, nền giáo dục phải huy động và vận dụng thành tựu nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học khác nhau, từ các ngành khoa học tự nhiên đến những ngành khoa học xã hội và các ngành khoa học đặc thù Trong đó, một trong những ngành khoa học mà sự nghiệp đổi mới nền giáo dục cần thiết bậc nhất chính là tâm lý học Đây là khoa học nghiên cứu về đời sống tinh thần của con người, là đối tượng chính của công tác giáo dục Muốn góp phần thực hiện được điều đó, tâm lý học phải tìm ra những con đường ứng dụng các thành tựu của mình để phục vụ công cuộc đổi mới ấy
1.3 Trong hệ thống quản lý giáo dục mầm non, tập thể giáo viên là một nhóm xã hội có trình độ tổ chức cao Trong tập thể đó, rất nhiều hiện tượng tâm lý chung nảy sinh như: trí tuệ tập thể, ý thức tập thể, truyền thống tập thể, dư luận trong tập thể và đặc biệt là bầu không khí tập thể Bầu không khí tâm lý này được nảy sinh từ trong quá trình hoạt động chung của tập thể và khi đã hình thành, nó chi phối ngược lại tính tích cực của mỗi thành viên trong quá trình hoạt động Vì vậy, việc nghiên cứu những điểm mạnh, những hạn chế và những ảnh hưởng của bầu không khí tập thể tại các trường mầm non sẽ giúp cho người giáo viên cũng như những nhà quản lý giáo dục tại nơi đó có thể phát huy hay điều chỉnh nó theo hướng tích cực hơn Bên cạnh đó, nếu có thể tìm ra hệ thống biện pháp xây dựng bầu không khí tập thể theo hướng tích cực thì sẽ kích thích được tinh thần làm việc và rèn luyện của từng cán bộ, giáo viên, mang đến những hiệu quả rõ rệt cho quá trình giáo dục
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, học viên mạnh dạn lựa chọn
đề tài: “Quản lý hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lý ở trường mầm non quận
Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.”
Trang 112 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lý tập thể ở trường mầm non, đề xuất một số biện pháp xây dựng bầu không khí tâm lý tập thể ngày càng tốt hơn, có ảnh hưởng tích cực hơn tới chất lượng giáo dục
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lý tập thể ở trường mầm non quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
3.2 Khách thể nghiên cứu
Bầu không khí tâm lý tập thể ở trường mầm non
4 Giả thuyết khoa học
Bầu không khí tâm lí tập thể của trường mầm non hiện nay đã được quan tâm xây dựng nhưng vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và nó có ảnh hưởng tích cực, tiêu cực tới tâm trạng cũng như kết quả làm việc của người giáo viên Dựa trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tế, có thể đề xuất một số biện pháp quản lí phù hợp để xây dựng bầu không khí tâm lí ngày càng tốt đẹp hơn nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực của nó tới các thành viên của tập thể
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lí, hoạt động, xây dựng, bầu không khí tâm lí, tập thể, bầu không khí tâm lí tập thể, giáo viên trường mầm non, biện pháp quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí tập thể trường mầm non
- Điều tra, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm
lí của tập thể giáo viên mầm non và lý giải nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó
- Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí tốt đẹp, tích cực trong tập thể giáo viên mầm non
Trang 126 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc tài liệu nghiên cứu, thu thập, tổng
hợp thông tin, phân tích xử lí thông tin…
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
6.2.1 Phương pháp quan sát
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình phỏng vấn, dự giờ các đồng nghiệp
6.2.2 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
6.2.3 Phương pháp điều tra có sử dụng bảng hỏi
Dựa trên cơ sở lí luận và tham khảo quan điểm của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, luận văn đã lựa chọn, sắp xếp, thiết kế các bảng hỏi để tiến hành điều tra (phụ lục) Khách thể điều tra là 286 cán bộ, giáo viên các trường mầm non Quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
6.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu một số cán bộ, giáo viên các trường mầm non Quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội về thực trạng quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lý tập thể tại đây và ảnh hưởng của bầu không khí đến kết quả làm việc…
6.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lí giáo dục
Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý của các cán bộ quản lý giáo dục nhằm tìm hiểu, thu thập thông tin cần thiết cho vấn đề nghiên cứu
6.2.6 Phương pháp khảo nghiệm
Xin ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lí giáo dục về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí được đề xuất trong đề tài nghiên cứu
6.2.7 Pháp thống kê toán học
Dùng để sử lí các dữ liệu thu được trong quá trình nghiên cứu
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
7.1 Chủ thể quản lí: Hiệu trưởng trường mầm non
7.2 Khách thể điều tra: 286 cán bộ quản lí và giáo viên mầm non
7.3 Nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí tập thể
Trang 137.4 Địa bàn nghiên cứu: 8 trường mầm non quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội ( mầm non Phú Diễn, mầm non Liên Mạc, mầm non Tây Tựu, mầm non Thượng Cát, mầm non Thụy Phương, mầm non Cổ Nhuế 1, mầm non Cổ Nhuế 2, mầm non Minh Khai)
8 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lý ở
trường mầm non quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội Chương 2:Thực trạng quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí tại
trường mầm non quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội Chương 3: Biện pháp xây dựng bầu không khí tâm lí tập thể trường mầm non
quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG BẦU KHÔNG KHÍ TÂM LÍ Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu
Thuật ngữ “bầu không khí làm việc” bắt đầu sử dụng rộng rãi trong tâm lý học xã hội từ nhữngnăm 30 của thế kỉ 20, khi các nhà tâm lý học bắt đầu quan tâm nghiên cứu hiện tượng này Từ đó, thuật ngữ “bầu không khí tâm lý” bắt đầu đi vào nhiều hơn trong các lĩnh vực của đời sống,đặc biệt là lĩnh vực quản lý, kinh doanh, tổ chức lao động, sư phạm, truyền thông… và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và mức độ khác nhau
Trong các lĩnh vực trên, mảng quản lí là lĩnh vực có nhiều nghiên cứu ứng dụng và tác phẩm viết về bầu không khí tâm lí nhất Riêng trong lĩnh vực tâm lí học ứng dụng cho ngành sư phạm, các nghiên cứu còn ít và tương đối nhỏ lẻ
Sau đây là khái quát một số công trình nghiên cứu về bầu không khí tâm lí nói chung và bầu không khí tâm lí trong lớp học nói riêng được tiến hành trong và ngoài nước
+ Môi trường tự nhiên tạo nên: chỗ ở, chỗ làm việc
+ Môi trường tâm lí: mối quan hệ giữa các thành viên trong tập thể Để tạo một môi trường tâm lí tốt, người quản lí cần phải:
* Làm cho các thành viên trong nhóm thấu hiểu nhau
* Hình thành tinh thần tự tôn tập thể, ý thức về nhóm chung
* Hạn chế và giải quyết kịp thời các xung đột trong nội bộ nhóm
- Trong cuốn “Tâm lý học lao động” và cuốn “Tâm lý học quản lý”, tác giả
Trang 15Trần Trọng Thủy đã nghiên cứu theo hướng phân tích các biện pháp nhằm xây dựng bầu không khí tâm lí lành mạnh Trong đó, biện pháp cốt lõi là tích cực ngăn ngừa các xung đột xảy ra giữa các thành viên Để thực hiện được điều đó, người có trách nhiệm phải:
+ Lựa chọn các thành viên có phẩm chất đạo đức, có sự tương đồng tâm lý vào cùng một nhóm, đặc biệt là về mục đích làm việc và tính cách cá nhân
+ Song song đó, phải sắp xếp cán bộ một cách chính xác, người lãnh đạo cần
có cấp phó và người giúp việc phù hợp, vì xung đột hiển nhiên sẽ xảy ra nếu không
có sự nhất trí cao trong phương pháp lãnh đạo Những xung đột trong bộ máy quản
lí sẽ nhanh chóng lây lan sang tập thể, bởi khi xung đột mỗi người sẽ tìm đến một nhóm người nào đó trong tập thể làm chỗ dựa để ủng hộ quan điểm của mình
+ Không chỉ sắp xếp con người, tác giả cũng lưu ý về mặt tổ chức công việc sao cho hợp lý – rõ ràng – có nguyên tắc Công việc trôi chảy, phối hợp nhịp nhàng, tiền lương tốt thì xung đột ít có điều kiện xảy ra
- Tác giả Lê Ngọc Lan trong tác phẩm “Bầu không khí tâm lí gia đình và việc giáo dục trẻ em” đã khẳng định: Một bầu không khí tâm lí tích cực tạo điều kiện thuận lợi để trẻ em sống trong môi trường đó có một nhận thức lành mạnh – thái độ tốt và thói quen tích cực đốivới những người xung quanh
- Ngoài ra, khái niệm về bầu không khí tâm lí cũng được phân tích và mô tả trong các tài liệu chuyên khảo về Tâm lí học xã hội như:
+ Tâm lí học xã hội của tác giả Vũ Dũng
+ Tâm lí học xã hội của tác giả Nguyễn Đình Chỉnh, Phạm Ngọc Uyển
+ Tâm lí học xã hội – những vấn đề lý luận của tác giả Trần Hiệp (chủ biên) Cùng một số tác phẩm khác Trong những tài liệu này, các tác giả đã đúc kết
về định nghĩa – cấu trúc cũng như một số yếu tố chi phối đến sự hình thành và phát triển của một bầu không khí tâm lý tập thể
Nhìn chung, đã có những nghiên cứu lý luận trong nước đề cập đến khái niệm bầu không khí tâm lí tập thể Tuy nhiên, chưa có những nghiên cứu lý luận hệ thống và chuyên sâu
b Về nghiên cứu thực trạng, một số đề tài đã mô tả đặc điểm bầu không khí
Trang 16tâm lý của nhiềunhóm đối tượng, trong đó đa phần là sinh viên Chẳng hạn như:
- Từ năm 1983, tác giả Đỗ Thị Hường đã nghiên cứu “Bầu không khí tâm lí
tập thể sinh viên sư phạm mẫu giáo và ảnh hưởng của nó tới tâm trạng cá nhân”
Trong đề tài này, tác giả đã đưa ra khái niệm về bầu không khí tâm lý tập thể và sự tương tác của nó với tâm trạng củatừng thành viên trong tập thể đó Tuy nhiên, đề tài chưa đưa ra các tiêu chí đánh giá một cáchtoàn diện về bầu không khí tâm lý và mối tương quan giữa bầu không khí chung và tâm trạng riêng của cá nhân chưa thể hiện rõ nét
- Sau đó, trong đề tài tương tự nghiên cứu về “Bầu không khí tâm lí tập thể
sinh viên sư phạm mẫu giáo và ảnh hưởng của nó tới tâm trạng cá nhân”, tác giả Lê
Thị Hân đã khắcphục các khuyết điểm trên và có một cái nhìn tương đối đầy đủ về bầu không khí tâm lí
- Với đề tài “Nghiên cứu bầu không khí tâm lí tập thể ở sinh viên trường cao
đẳng sư phạm Ninh Bình”, tác giả Trần Đức Hội tiếp cận bầu không khí tâm lý tập
thể dưới góc độ xemđó là tổ hợp xu hướng và cảm xúc chung của từng thành viên riêng lẻ trong tập thể Cách tiếp cận này chưa được toàn diện và hệ thống Tuy nhiên, đề tài đã đóng góp cho những nhà nghiên cứu một cái nhìn rõ hơn về mối quan hệ giữa cảm xúc và các yếu tố khác trong cấu trúc của một bầu không khí tâm
lí tập thể
- Nằm trong nhóm đề tài tìm hiểu về các yếu tố chi phối đến bầu không khí
tâm lí tập thể, đề tài “Tìm hiểu ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo của hiệu trưởng
đối với bầu không khí tâm lí tập thể sư phạm một số trường mầm non tại thành phố
Hồ Chí Minh” đã làm sáng rõ mối tương quan nhân quả giữa yếu tố thủ lĩnh – lãnh
đạo đối với tâm trạng của từng thành viên và của chung tập thể Tuy nhiên, do giới hạn nghiên cứu của đề tài, sự ảnh hưởng của người lãnh đạo chưa đặt trong mối quan hệ với rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng khác nhằm kiểm soát các yếu tố gây nhiễu lên bầu không khí tâm lí tập thể
- Nghiên cứu một cách toàn diện hơn về các yếu tố chi phối đến tâm trạng
chung của tập thể, tác giả Hoàng Đình Châu đã tìm hiểu phương pháp“Xây dựng
bầu không khí tâm lí tích cựctrong tập thể khoa giáo viên trong các trường đào tạo
Trang 17sĩ quan” Đề tài đã nêu ra những đặctrưng về hoạt động đào tạo và con người tại
khoa giáo viên trong nhà trường quân đội, từ đó phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến bầu không khí tâm lí nói chung và biện pháp tác động đến bầu không khí này Tuy nhiên, do nghiên cứu trong môi trường quân đội, đề tài quá thiên về yếu tố tuân thủ điều lệnh, chấp hành mối quan hệ cấp trên - cấp dưới mà xem nhẹ yếu tố tình cảm
và giao tiếp thân thiện giữa các thành viên
- Tương tự, đề tài “Nghiên cứu bầu không khí tâm lí tích cực trong tập thể
học viên các trường đào tạo sĩ quan quân đội” của tác giả Trần Đức Long vẫn còn
mang nặng tính kỉ luậtquân đội, lãnh đạo – cấp dưới trong việc hình thành bầu không khí tâm lí trong tập thể học viên Tuy nhiên, đề tài có ưu điểm là đã tách bạch được cấu trúc của bầu không khí tâm lý thành hai yếu tố: yếu tố nhận thức và yếu tố thái độ - cảm xúc để khảo sát và phân tích
Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu về bầu không khí tâm lí đều được tiến hành trên những đối tượng thuộc hai nhóm môi trường: sư phạm và quân đội Trong
đó các nghiên cứu trong môi trường sư phạm được đặt dưới góc nhìn mang tính toàn diện hơn, các nghiên cứu trong môitrường quân đội có những đặc trưng riêng Tuy nhiên, tất cả các đề tài đều chưa đưa ra một hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến bầu không khí tâm lí một cách đầy đủ Bên cạnh đó, các biện pháp để cải thiện bầu không khí tâm lí còn tương đối ít, mang tính kinh nghiệm và chưa có cách tiếp cận bài bản
Một trong những nghiên cứu đầu tiên được tiến hành trong khoảng thời gian
1924 – 1932,hai nhà tâm lí học người Mỹ là E Mayo và F Roethlisberger đã tiến hành nghiên cứu các quan hệ không chính thức và ảnh hưởng của nó đến hiệu quả
Trang 18sản xuất tại các nhóm lao động Mặc dù chưa đề cập đến bầu không khí tâm lí một cách chính thức nhưng đề tài đã đề cập đến khá nhiều khía cạnh của hiện tượng này, đặc biệt là hệ thống thái độ cảm xúc giữa các thành viên, đó là một cơ sở quan trọng trong cấu trúc bầu không khí tâm lí nhóm
Cũng trong những năm 30 của thế kỉ 20, K Lewin đã cho ra đời tác phẩm
“Một lý thuyết động lực về nhân cách” Trong tác phẩm này, K Lewin đã tập trung nghiên cứu quan hệ bên trong nhóm và vai trò của người lãnh đạo, quản lý đối với bầu không khí tâm lý nhóm ở các thờiđiểm khác nhau Ông đã chỉ ra tính quy định của phong cách lãnh đạo trong việc tạo ra bầu không khí tâm lí tích cực hoặc tiêu cực trong các nhóm nhỏ và chính K Lewin là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ bầu không khí tâm lý mà tâm lý học phương Tây hiện nay đang dùng Như vậy, K Lewin được xem như người khởi đầu những nghiên cứu chính thức về bầu khôngkhí tâm lý của tổ chức và người đầu tiên phát hiện ra quy luật tâm lý về việc phụ thuộc hành vi các nhân vào các mối quan hệ tác động qua lại giữa môi trường hoàn cảnh với tâm lí cá nhân
Các nghiên cứu về bầu không khí tâm lí bắt đầu nở rộ trong tâm lí học phương Tây từ những năm 50 của thế kỉ 20 như công trình của L Festinger, S Schater , K W Back
E Colins, B Raven Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc làm rõ ảnh hưởng của bầu không khí tâm lí tập thể đối với hiệu quả sản xuất của tập thể đó
G Forehand đã nhậnđịnh về các nghiên cứu bầu không khí tâm lí của tổ chức là: làm rõ những chỉ số về nhân cách tạo ra bầu không khí tâm lí của tổ chức, tìm ra các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bầu không khí tâm lí của tổ chức; một số nghiên cứu khác hướng vào mối quan hệ phụ thuộc của hành vi vào các yếu tố tâm
lí nhân cách và các yếu tố tâm lí nhóm
Hiện nay, các nghiên cứu về bầu không khí tâm lí trong tâm lí học phương Tây đang rất phát triển và được tiến hành dưới nhiều góc độ và nhiều hướng ứng dụng như một bộ phận của tâm lý học xã hội, tâm lý học công nghiệp, tâm lý học quản lý… Với các hướng nghiên cứu chủ yếu này, tâm lý học phương Tây đã đưa ra các tiêu chí đánh giá mức độ hình thành, phát triển bầu không khí tâm lý của tổ
Trang 19chức Các chỉ số sau đây được hầu hết các nhà nghiên cứu sử dụng để lượng hóa bầu không khí tâm lý:
+ Cơ cấu tổ chức
+ Khen thưởng trong tổ chức
+ Sự quan tâm của lãnh đạo đối với thành viên
+ Giao tiếp thân thiện trong tổ chức
+ Quan hệ liên nhân cách trong tổ chức
+ Quan hệ chỉ huy, phục tùng trong tổ chức
Hiện tại, bầu không khí tâm lí được nhìn dưới ba góc độ:
- Xem bầu không khí tâm lí của tổ chức như là kết quả của sự tác động phức hợp qua lại củacác yếu tố trong tổ chức đó
- Xem bầu không khí tâm lí của tổ chức như là yếu tố mang tính nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
- Xem bầu không khí tâm lí của tổ chức như là yếu tố điều chỉnh, điều khiển hành vi của cá nhân, của nhóm
Tóm lại, tâm lí học phương Tây đã có khá nhiều kết quả trong nghiên cứu bầu không khí tâm lí của tổ chức Các công trình nghiên cứu không những chỉ ra các yếu tố quy định bầu không khí tâm lí của tổ chức mà còn xác định vai trò của bầu không khí tâm lý đối với việc thực hiện các chức năng của tổ chức Đặc biệt, tâm lý học phương Tây đã có nhiều cố gắng trong việc xác định hệ thống phương pháp nghiên cứu bầu không khí tâm lí của nhóm, tổ chức trong các đơn vị sản xuất cụ thể
Tuy nhiên, do các nghiên cứu xuất phát từ nhiều quan điểm lý luận khác nhau, phương pháp khác nhau nên kết quả nghiên cứu thu được có nhiều mâu thuẫn
b Trong tâm lý học Mác-xít: Các nhà tâm lý học Xô-viết đặc biệt quan tâm đến việc nghiêncứu các hiện tượng tâm lí xã hội từ sau Cách mạng tháng Mười Nga Nội dung tìm hiểu chính của các công trình là làm rõ nguồn gốc, bản chất, vai trò của những hiện tượng tâm lí xã hội - trong đó có hiện tượng bầu không khí tâm lí tập thể - đối với hoạt động của cá nhân cũng như của nhóm và tập thể nhằm mục đích xây dựng tập thể lao động xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhân cách con người trong chế độ mới
Trang 20- Năm 1963 ba nhà tâm lý học là E.V.Xô-rô-khô-va, N.C.Man-xu-nốp, K.K.Pla-tô-nốp đã trình bày những kết quả nghiên cứu ban đầu về mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong một tập thể - làm cơ sở cho việc nghiên cứu bầu không khí tâm lý tập thể
- Năm 1966, thuật ngữ “Bầu không khí tâm lý” lần đầu tiên được N.C xu-rốp sử dụng Ông đã chỉ ra trong các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động có bầu không khí tâm lí tậpthể N.C Man-xu-rốp cũng chỉ ra một số con đường để xây dựng một bầu không khí tâm lí tập thể tích cực như tổ chức một môi trường làm việc tốt, chăm sóc đời sống tinh thần cho người lao động, chăm lo đời sống vật chất cho người lao động, sử dụng các biện pháp kích thích động cơ làm việc của tập thể
Man Năm 1969, V.M.Sêpel là người đầu tiên đưa ra định nghĩa bầu không khí tâm
lí tập thể: “Bầu không khí tâm lí là sắc thái xúc cảm giữa các thành viên trong tập thể Nó xuất hiện trên cơ sở có sự gần gũi thiện cảm giống nhau về mặt tính cách, hứng thú, xu hướng”
- Những năm kế tiếp, các nhà tâm lí học Xô-viết như E.X.Cu-đơ-min, cốp, O.I.Zô-tô-va, B.V.Sô-rô-khô-va tiếp tục đi sâu nghiên cứu bầu không khí tâm lí tập thể và đạt được nhiều thành tựu
J.P.Vôn-Nhìn chung, các nhà tâm lí học Xô-viết tập trung vào các vấn đề sau:
- Bản chất của bầu không khí tâm lí tập thể (phản ánh các điều kiện của đời sống tập thể, phản ánh tính chất các mối quan hệ qua lại trong tập thể)
- Hình thức biểu hiện (thể hiện thông qua hành vi cư xử, thái độ giao tiếp)
- Quá trình hình thành (qua con đường hoạt động và giao tiếp chung)
- Những ảnh hưởng trong các lĩnh vực của cuộc sống (lao động sản xuất, giáo dục…)
Tóm lại, tâm lí học mác-xít do các nhà tâm lý học Xô-viết nghiên cứu đã có những đóng góp quan trọng trong việc lí giải một cách khá toàn diện hiện tượng bầu không khí tâm lí tập thể trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là đã chỉ ra được đúng bản chất của bầu không khí tâm lí tập thể
Trang 211.2 Một số vấn đề lý luận của đề tài
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Thuật ngữ “quản lý” gồm 2 quá trình: Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lí” gồm sự sửa sang, sắp xếp mới, đưa hệ thống vào trạng thái “phát triển” Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản” tức là lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm việc
“lí”, tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức đổi mới mà không đặt nền tảng của sự ổn định thì việc phát triển của tổ chức sẽ không bền vững Trong “quản” phải có “lí”, trong “lí” phải có “quản” để động thái của hệ luôn ở thế cân bằng động Hệ vận đông phù hợp, thích ứng có hiệu quả trong mối tương tác giữa các yếu tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)
Thuật ngữ “quản lí” cũng có thể quan niệm như một số người hiện nay: hoạt động nhằm cho hệ thống vận động theo mục đích đề ra và tiến tới trạng thái chất lượng mới
Có người cho quản lí là hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác
Có tác giả lại cho quản lí là hoạt động phối hợp có hiệu quả hoạt động của những cộng sự khác cùng chung một tổ chức
Cũng có tác giả cho quản lí là hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của cả nhóm
Đã có nhiều tác giả đưa ra khái niệm quản lý theo những cách tiếp cận hoạt động ở các góc độ khác nhau:
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lí là những tác động có tính định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí trong tổ chức để vận hành tổ
chức, nhằm đạt được mục đích nhất định” ”[46;12]
“ Quản lí nhằm kết hợp những nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá
nhân biến thành thành tựu của tổ chức, của xã hội.” ”[48 24]
Trang 22Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí nhằm đạt được mục đích nhất
định.” ”[71;51]
Tất cả mọi người lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động độc lập của nó “Một người độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, còn một giàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng.”
Theo quan điểm của Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện
biến động của môi trường” ”[82;29]
Theo định nghĩa trên thì quản lí bao gồm các yếu tố, điều kiện sau:
- Phải có mục tiêu đặt ra cho các đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ
Các định nghĩa, quan niệm về quản lí có thể khác nhau tùy theo góc độ xem xét Căn cứ vào điểm chung khi bàn về quản lí có thể hiểu: Quản lí là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích gây ảnh hưởng của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Để hình thành nên hoạt động quản lí trước tiên cần có chủ thể quản lí: ai là người quản lí? Sau đó cần xác định đối tượng quản lí: quản lí cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lí vì cái gì?
Trang 23Có được 3 yếu tố trên nghĩa là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lí Đồng thời cần chú ý rằng, bất cứ hoạt động quản lí nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong môi trường, điều kiện nhất định nào đó
1.2.1.2 Những chức năng cơ bản của quản lí
Theo các chuyên gia về tổ chức quản lí của trường Cán bộ Quản lí giáo dục Đào tạo thuộc Bộ giáo dục, quản lí có 4 chức năng sau:
- Chức năng kế hoạch hóa: Là soạn thảo và thông qua được những quyết định
về chủ trương quản lí quan trọng Trên cơ sở những yêu cầu cơ bản kết hợp với thực tiễn của cơ sỏ để đưa ra mục tiêu, những phương hướng kế hoạch cho sát hợp và có tính khả thi cao
- Chức năng tổ chức: Thực hiện các quyết định, chủ trương bằng cách xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lí, tạo dựng mạng lưới quan hệ tổ chức tuyển lựa sắp xếp bồi dưỡng cán bộ, làm cho mục tiêu trở nên có ý nghĩa, tăng tính hiệu quả về mặt tổ chức
- Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, vận động, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng tích cực hăng hái, chủ động theo sự phân công và kế hoách đã định
- Chức năng kiểm tra đánh giá: Là chức năng liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống Nó thực hiện việc xem xét tình hình thực hiện công việc, đối chiếu với yêu cầu để có cơ sở đánh giá đúng đắn
1.2.2 Khái niệm hoạt động và xây dựng
Theo tâm lí học: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Hoạt động tạo nên mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế giới khách quan, qua đó tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới (khách thể), cả về phía con
người (chủ thể) ”[90;32]
Theo từ điển Tiếng Việt 2014 thì "Xây dựng” có nhiều ý nghĩa trong đó có nghĩa: làm cho hình thành một chỉnh thể về xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa theo một phương hướng nhất định
1.2.3 Khái niệm bầu không khí tâm lí
Bầu không khí tâm lí là trạng thái tâm lí xã hội của tập thể, phản ánh tính chất, nội dung và xu hướng tâm lí thực tế của các thành viên trong tập thể đó Trạng
Trang 24thái tâm lý này lại có ảnh hưởng nhất định đến các quan hệ trong tập thể, đến điều kiện hoạt động và tổ chức lao động
V.I Mikheep cho rằng: “bầu không khí là dư luận ở tập thể về thái độ lao
động đối với lãnh đạo, thái độ lao động đối với tập thể, đối với lãnh đạo và đối với
cá nhân khác”
Theo V.M Sepen thì: “không khí tâm lí là trạng thái cảm xúc của những sự
liên hệ tâm lí giữa các thành viên trong tập thể Yếu tố này xuất hiện trên cơ sở gần gũi giữa các thành viên, của thiện cảm, của sự trung hợp các tính cách, hứng thú và khuynh hướng”
Trần Trọng Thủy quan niệm “không khí tâm lí thường được hiểu là tính chất
của các mối quan hệ qua lại giữa mọi người trong tập thể, là tâm trạng trung của tập thể đó”.[80;36]
Ngô Công Hoàn cho rằng, “bầu không khí tâm lí là toàn bộ các trạng thái
tâm lí có ý nghĩa quyết định đến tốc độ, nhịp điệu, cường độ hoạt động chung của các thành viên trong nhóm trong một thời gian nhất định” [39;35]
Bầu không khí tâm lí trong tập thể không đơn thuần là tổng thể các phẩm chất
cá nhân của từng người mà được hình thành từ các mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân Khi nói đến tính chất của các mối quan hệ và tâm trạng chung của tập thể Tâm trạng đó có thể buồn hoặc vui, phấn khởi, lạc quan hoặc bi quan… Vì vậy, nó
có ảnh hưởng to lớn đến cá nhân và hoạt động chung của tập thể Chính thuật ngữ
“bầu không khí” đã nói lên sự cần thiết cho sức sống của tập thể như không khí đối với sự sống Do đó, thuật ngữ “ bầu không khí tâm lí” còn được tồn tại dưới nhiều tên gọi như: khí hậu tâm lí, khí sắc tâm lí,…
Có thể nói, bầu không khí tâm lí trong tập thể như nguồn gốc sức mạnh của tập thể, là hạt nhân cố kết mọi thành viên của tập thể thành một sức mạnh thống nhất Sức mạnh của tập thể không phải là phép cộng các sức mạnh của những cá nhân riêng lẻ mà là sự thống nhất hữu cơ, biện chứng, cho phép tập thể đó giải quyết được những nhiệm vụ lớn lao mà nhiều cá nhân không có được
Bầu không khí tập thể còn ảnh hưởng đến hoạt động cá nhân, tạo điều kiện
để cá nhân có thể hoàn thành những việc mà nếu để riêng lẻ một mình, không có sự
Trang 25động viên, khuyến khích, thi đua, không có trách nhiệm đối với công việc, với tập thể thì khó có thể hoàn thành được Vì vậy, nhà tâm lí học người Mỹ Mc Dougall đã nhận xét: “khi người ta cùng nhau suy nghĩ, cũng nhau rung cảm hoặc hành động thì quá trình tư duy và cách ứng xử của từng cá nhân trong tập thể sẽ rất khác so với quá trình tư duy và cách ứng xử của người đó khi cùng gặp một hoàn cảnh y như thế, nhưng chỉ là đơn độc” Nếu trong tập thể lớp học có bầu không khí tâm lý lành mạnh, thân ái thì sẽ tạo ra tâm trạng phấn khởi, vui vẻ ở mỗi thành viên; tạo sự tích cực cho mỗi người khi thực hiện nhiệm vụ được giao; tạo sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân; hạn chế những xung đột gay gắt, những nhóm không chính thức đối lập và các thủ lĩnh tiêu cực Điều đó sẽ có tác dụng củng cố và phát triển các mối quan hệ tốt đẹp giữa các thành viên trong lớp, các hoạt động chung của tập thể được tổ chức và thực hiện có kết quả, các thành viên trong tập thể gắn bó, thương yêu nhau và đồng cảm với nhau hơn
Ngược lại, ở một tập thể mà bầu không khí tâm lí tẻ nhạt, căng thẳng, cảm xúc, tâm trạng của các thành viên tiêu cực…dễ hình thành nên các nhóm không chính thức, đối nghịch với tập thể Trong tập thể này các cá nhân ít gắn bó với tập thể, ít có sự quan tâm giúp đỡ
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới bầu không khí tâm lí trong tập thể các tổ chức; cơ quan; như: phong cách làm việc của người lãnh đạo; sự tương hợp tâm lí giữa các thành viên, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ, chính sách; bản thân công
việc; các yếu tố khác, như “truyền thống tập thể” Truyền thống tập thể cũng là một
hiện tượng tâm lí có ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động của tập thể Đó là kết quả của quá trình hoạt động của tập thể, được ghi lại dưới hình thức những khái niệm và quy tắc điều chỉnh hành vi, cách ứng xử của các cá nhân trong tập thể Mỗi tập thể cần phải bảo vệ và xây dựng, củng cốvững chắc những truyền thống tốt đẹp cho tập thể của mình do vai trò và ý nghĩa của nó Trước hết, truyền thống được coi là nhân
tô rất vững chắc, là chất xúc tác hòa nhập mỗi cá nhân với tập thể Tập thể càng có truyền thống phong phú, rộng rãi thì các thành viên mới càng dễ dàng hòa nhập vào tập thể Có thé nói, truyền thống có ý nghĩa lớn trong việc hình thành và đoàn kết
tập thể Nó được coi là “chất keo xã hội” gắn bó những thành viên khác nhau trong
Trang 26tập thể thành một khối thống nhất và tạo ra tính độc đáo của tập thể đó Truyền thống còn là niềm tự hào của mỗi thành viên trong tập thể đó Như vậy, truyền thống tập thể còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục nhân cách trong tập thể,
là “tấm gương” để mỗi thành viên noi theo
- Nhóm không chính thức hình thành và tồn tại trên cơ sở quan hệ tâm lí giữa các thành viên Quyền hành trong nhóm không chính thức không do ai ấn định
*Khái niệm tập thể
Tập thể là một nhóm độc lập về mặt pháp lý có tổ chức chặt chẽ, hoạt động theo một mục đích nhất định phục vụ cho lợi ích của xã hội vì sự tiến bộ của xã hội Tập thể tồn tại trên một địa bàn và trong một khoảng thời gian nhất định do xã hội qui định
Các giai đoạn phát triển của một tập thể :
Giai đoạn thứ nhất: tập thể mới bắt đầu hình thành Trong giai đoạn này các
thành viên còn giữ nhiều cái riêng chưa có sự phối hợp đồng bộ, mọi người đang làm quen dần với nhau, mọi người trong tập thể chưa biết hết mặt nhau, cả lãnh đạo cũng chưa biết mặt cấp dưới Trong tập thể đang có sự cạnh tranh để xác định thủ lĩnh của từng nhóm
Giai đoạn thứ hai: Giai đoạn phân hoá về cấu trúc của tập thể Trong giai
đoạn này một số thành viên có ý thức hình thành đội ngũ cốt cán làm chỗ dựa cho
Trang 27nhà quản trị, một số khác thụ động nhưng có ý thức tương đối tốt, một số khác có ý thức tiêu cực Nói chung trong tập thể chưa có sự thống nhất và tự giác trong hoạt động
Giai đoạn thứ ba: tập thể đã hình thành trọn vẹn, hoàn chỉnh Trong giai
đoạn này tập thể đã có bầu không khí tâm lí - xã hội tương đối tốt, các thành viên trong tập thể phối hợp ăn ý với nhau, có ý thức kỷ luật và tinh thần tự giác cao
Một tập thể được đánh giá là phát triển tốt khi: (1) nhà quản trị xây dựng được cơ cấu chính thức chặt chẽ, phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng; lựa chọn cán
bộ, sử dụng người xứng đáng và thích hợp, gắn liền việc phân công trách nhiệm với việc giáo dục, bồi dưỡng, khen thưởng kịp thời; xây dựng được lực lượng nòng cốt
có chuyên môn và đáng tin cậy; vừa tác động giáo dục tới từng cá nhân vừa tới tập thể, gây sự tự hào về tập thể của mình, về truyền thống của đơn vị (2) các thành viên trong tập thể cảm thấy có một dư luận tập thể lành mạnh; có xúc động tập thể-
đó là sự hoà đồng về tình cảm và ý chí; có tư duy tập thể; trong tập thể có sự bắt chước học tập lẫn nhau về tác phong làm việc và hành vi tốt đẹp; trong tập thể có sự khẳng định lẫn nhau và sự giúp nhau khắc phục khuyết điểm; có sự quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của từng thành viên trong tập thể; có sự thống nhất về mục đích chung giữa nhóm chính thức và nhóm không chính thức; có sự đối xử có văn hoá trong giao tiếp
1.2.4.2 Một số hiện tượng tâm lí trong nhóm và tập thể
- Vị trí của một cá nhân trong nhóm:
Một cá nhân có thể chiếm một trong năm vị trí sau trong nhóm hoặc tập thể tuỳ thuộc vào năng lực, phẩm chất đạo đức của anh ta:
- Vị trí ngôi sao: là người được đa số các thành viên trong nhóm, tập thể yêu mến, tin cậy và thường tìm đến hỏi ý kiến khi gặp khó khăn Đây thường cũng là thủ lĩnh nhóm
- Vị trí được yêu mến: là người được đa số thành viên trong nhóm, tập thể yêu mến, tin cậy
- Vị trí được thừa nhận: là người được các thành viên trong nhóm yêu mến, nhìn nhận sự có mặt và đóng góp của anh ta cho nhóm
Trang 28- Vị trí bị lãng quên: các thành viên trong nhóm, tập thể không quan tâm đến
sự có mặt hay vắng mặt của anh ta trong nhóm
- Vị trí bị ghét bỏ: là người bị các thành viên trong nhóm, tập thể cảm thấy khó chịu, không ưa
Thủ lĩnh của nhóm là người nổi bật trong nhóm được các thành viên trong nhóm nghe theo một cách tự giác Thủ lĩnh nổi lên bằng con đường tự phát do uy tín của cá nhân
- Mối quan hệ chính thức và không chính thức:
Mối quan hệ chính thức là mối quan hệ được pháp luật qui định, được xã hội thừa nhận và được ghi thành văn bản chính thức Mối quan hệ này thường tạo nên
hệ thống phòng, ban hành chính
Mối quan hệ không chính thức là mối quan hệ có tính chất tâm lí riêng tư nảy sinh trong quá trình giao tiếp, tiếp xúc hàng ngày giữa các cá nhân không theo một qui định nào cả, nó mang đậm tính cảm xúc cá nhân
- Hiện tượng lây lan tâm lí trong nhóm và tập thể
Lây lan tâm lí là quá trình chuyển toả trạng thái cảm xúc từ cá thể này sang
cá thể khác ở cấp độ tâm sinh lí nằm ngoài sự tác động của ý thức, nghĩa là người này tự đưa mình vào trạng thái tâm lý của người khác một cách vô thức
Lực lây lan tâm lí truyền đi theo nguyên tắc cộng hưởng tỷ lệ thuận với số lượng thành viên trong nhóm và cường độ cảm xúc được truyền
Lây lan tâm lý có hai cơ chế: (1) cơ chế dao động từ từ: trạng thái cảm xúc được lan truyền từ người này sang người khác một cách từ từ, (2) cơ chế bùng nổ: trạng thái cảm xúc truyền đi rất nhanh và mạnh, thường xảy ra khi con người lâm vào trạng thái căng thẳng cao độ
Lây lan cho phép giải thích các cao trào cảm xúc, tâm trạng hoảng loạn tập thể, tính thuần nhất của tập thể…
Bắt chước được hiểu là một sự mô phỏng, tái tạo, lập lại các hành động, hành
vi, tâm trạng, cách thức suy nghĩ, ứng xử của một người hay một nhóm người nào đó
Trang 29Các thành viên của nhóm bắt chước đám đông và bắt chước lẫn nhau và bắt chước thủ lĩnh của họ Bắt chước giúp giải thích các khuynh hướng về mốt, xu hướng thời thượng…
- Dư luận và tin đồn trong nhóm và tập thể
Tin đồn là những thông tin chỉ chứa đựng một phần sự thật hoặc hoàn toàn không đúng sự thật, làm méo mó, cường điệu sự thật
Dư luận là thái độ mang tính đánh giá của tập thể, của xã hội về một sự việc, một hiện tượng, cá nhân hay nhóm người trong tập thể, trong xã hội
Dư luận là công cụ tác động tâm lí hữu hiệu trong hầu hết mọi trường hợp Đối với chiến tranh tâm lí dư luận được coi là công cụ để mở rộng biên giới mềm (biên giới về tư tưởng)
Dư luận hình thành qua một quá trình tiếp nhận thông tin người ta tham gia bàn luận đánh giá và cuối cùng thống nhất hình thành nên thái độ chung của số đông
- Hiện tượng áp lực nhóm
Hiện tượng áp lực nhóm là hiện tượng cá nhân từ bỏ ý kiến ban đầu của mình
để nghe theo hoặc tuân thủ theo ý kiến của người khác Hiện tượng áp lực nhóm chia thành hai dạng là tính khuôn phép và tính vâng theo
Tính khuôn phép: Tính khuôn phép là sự thay đổi một ứng xử để cá nhân đáp
ứng với những sức ép của một nhóm, bằng cách đồng ý với việc thực hiện những chuẩn mực cá nhân được đề nghị hay áp đặt Khuôn phép có hai loại:
- Khuôn phép bên trong: cá nhân hoàn toàn bị ý kiến của đa số thu phục
- Khuôn phép bên ngoài: Cá nhân tiếp nhận ý kiến của nhóm mang tính hình thức, còn trên thực tế anh ta chống lại ý kiến của nhóm
Tính khuôn phép sinh ra là do hoàn cảnh cô lập của đối tượng, nếu phá bỏ được sự cô lập có thể giảm bớt tỷ lệ tính khuôn phép
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tính khuôn phép:
- Đặc điểm của cá nhân:
Trang 30+ Năng lực: những cá nhân có năng lực, thấy mình đủ sức hoàn thành nhiệm
vụ, tính khuôn phép thường thấp; Những cá nhân năng lực thấp, thấy mình không thể hoàn thành nhiệm vụ thường dựa nhiều vào nhóm để lấy thông tin từ nhóm làm căn cứ đưa ra các quyết định của mình, nghĩa là tính khuôn phép cao
+ Giới tính: Nói chung nữ tính khuôn phép cao hơn nam, nghĩa là nữ dễ từ
bỏ ý kiến của mình để nghe theo người khác hơn nam giới
- Đặc điểm của tổ chức:
+ Tính khuôn phép tăng theo qui mô của nhóm cho đến khi nhóm đạt đến 4 người thì giảm xuống Đây là một căn cứ để thành lập ê kíp lãnh đạo chỉ nên có 3 hoặc 5 người
+ Khi trong nhóm xuất hiện một cá nhân không nghe theo ý kiến nhóm (kẻ lệch lạc) tính khuôn phép giảm xuống; Nếu kẻ lệch lạc lại là người lãnh đạo và lãnh đạo từ bên ngoài tổ chức thì tính khuôn phép giảm rất nhanh, thậm chí mất hẳn
- Đặc điểm của hoàn cảnh: Khi hoàn cảnh khó khăn, nhiệm vụ phức tạp, khó
hoàn thành tính khuôn phép cao; ngược lại khi hoàn cảnh thuận lợi, nhiệm vụ dễ dàng tính khuôn phép thấp
Tính vâng theo: Vâng theo là sự thay đổi ứng xử qua đó một cá nhân đáp lại
một mệnh lệnh đến từ một uy quyền hợp pháp bằng sự phục tùng Tính vâng theo sẽ mất nếu mệnh lệnh mất đi uy quyền hoặc tính hợp pháp
Trong trạng thái “tay sai”, nghĩa là khi một uy quyền đã được nhận biết thì
đối tượng nhận mọi cái từ uy quyền và đón nhận rất ít cái đến từ người khác Uy quyền trở thành nguồn biết ơn và xét đoán đạo đức của đối tượng Cá nhân không cảm thấy mình chịu trách nhiệm về những hành vi do uy quyền đòi hỏi
Nguyên nhân sinh ra tính vâng theo là do con người có sự nhập tâm phục tùng, do đã được dạy dỗ từ bé là phải biết vâng lời
- Mâu thuẫn - xung đột nhóm
Xung đột mâu thuẫn là trạng thái thay đổi cơ bản gây rối loạn về mặt tổ chức đối với sự cân bằng trước đó của nhóm, tập thể, xảy ra khi một nhóm: (1) sử dụng
sự đe doạ để đạt tới sự phục tùng hoặc quy phục, (2) quá chú ý tới nhu cầu, mục
Trang 31tiêu và vị trí của nó, (3) có thái độ lợi dụng nhóm kia bất cứ khi nào có thể, (4) nỗ lực cô lập nhóm kia
Những thay đổi trong nhóm khi có xung đột xảy ra: khi hai nhóm xung đột với nhau những thay đổi sau đây thường xảy ra trong mỗi nhóm: sự vững chắc tăng lên, sự trung thành tăng lên, độc đoán tăng lên trong lãnh đạo, những nhận thức của các thành viên nhóm trở nên méo mó, những thay đổi giữa các nhóm khi có xung đột xảy ra:
- Thông tin giảm
- Nhận thức bị bóp méo Xung đột tạo ra sự nghi ngờ và ngăn cản con người nhận thức đúng đắn về hành vi và động cơ của phía bên kia
- Sự khái quát hoá tiêu cực Các thành viên của nhóm có xu hướng tạo ra sự khái quát hoá tiêu cực đối với nhóm đối phương
Biện pháp giải quyết mâu thuẫn - xung đột nhóm:
Chọn biện pháp giải quyết mâu thuẫn xung đột phải phù hợp với nguyên nhân Phương hướng giải quyết: các mâu thuẫn mang tính chất chủ thể - đối tượng thường giải quyết đơn giản hơn các mâu thuẫn mang tính chủ thể - chủ thể
Do xung đột là tự nhiên trong các tổ chức phức tạp, các nhà quản lý phải có khả năng giải quyết nó trước khi nó tàn phá hoạt động của tổ chức
Tuy nhiên không phải cứ xảy ra mâu thuẫn xung đột là tình hình trở lên xấu
đi, ở một mức độ nhất định, mâu thuẫn là động lực phát triển của nhóm, của tập thể Chính giai đoạn mâu thuẫn, xung đột là một trong những nấc thang để tiến tới sự đoàn kết nhất trí cao trong tập thể
Các dạng mâu thuẫn xung đột:
- Mâu thuẫn xung đột chức năng: là những xung đột có cường độ tương đối yếu, chúng có thể làm cho người ta trở lên tích cực hơn, sáng tạo hơn và có một chút căng thẳng cần thiết giúp họ làm việc hiệu quả hơn
- Mâu thuẫn xung đột phi chức năng: ảnh hưởng xấu tới hoạt động của nhóm,
nó tàn phá các mối quan hệ giữa các bên
Giải quyết mâu thuẫn xung đột:
Trang 32Để giải quyết mâu thuẫn – xung đột cần tìm hiểu rõ nguyên nhân gây mâu thuẫn xung đột Có một số nguyên nhân sau:
Đối với xung đột cá nhân: Các cá nhân trong tổ chức luôn có những sự khác nhau bởi vì giá trị và ước muốn của họ bị ảnh hưởng bởi tiến trình xã hội hoá, lệ thuộc vào văn hoá và truyền thống gia đình, mức độ giáo dục, bề dày kinh nghiệm
Do đó các giải thích về các sự kiện và các kỳ vọng về mối quan hệ với những người khác trong tổ chức của họ là khác nhau đáng kể Xung đột xuất phát từ sự xung khắc các giá trị và nhu cầu cá nhân là những vấn đề khó khăn nhất cần giải quyết
Những nguyên nhân gây nên xung đột cá nhân: (1) sự đối xử không công
bằng hoặc phân biệt đối xử trong công ty, (2) sự thiếu hụt trong hệ thống thông tin trong tổ chức, (3) xung đột giữa các thành viên có các công việc phụ thuộc lẫn nhau nhưng có vai trò xung khắc nhau, (4) những khó khăn từ môi trường xung quanh đem lại
Đối với xung đột tổ chức: các nghiên cứu vể xung đột đã chỉ ra các nguyên nhân quan trọng nhất, bao gồm:
- Sự phụ thuộc lẫn nhau đối với việc hoàn thành nhiệm vụ Có ba loại phụ thuộc lẫn nhau đối với nhiệm vụ là: (1) sự phụ thuộc lẫn nhau khi cùng làm việc với nhau, (2) sự phụ thuộc lẫn nhau mang tính nối tiếp nhau, (3) sự phụ thuộc qua lại lẫn nhau
- Mục tiêu không tương đồng: sự không tương đồng vốn có đôi khi tồn tại giữa các nhóm do những mục tiêu cá nhân của họ
- Sử dụng đe doạ
Khi không có sự đe doạ, các bên dường như sẽ hợp tác nhiều hơn và hướng tới việc phát triển các quan hệ hợp tác Khi một bên có khả năng đe doạ phía bên kia, họ thường không thông báo về sự đe doạ mà thường sử dụng nó
Trang 33định việc theo đuổi những mục tiêu riêng của họ, (3) Khi một nhóm hiểu nhu cầu của họ nhưng lại che đậy nó, (4) Khi một nhóm nỗ lực làm tăng vị trí quyền lực của
nó
Năng lực giải quyết các xung đột là một kỹ năng quản lý có giá trị Những chiến lược phổ biến trong việc giải quyết các xung đột có thể là: né tránh; can thiệp bằng quyền lực; khuếch tán và kiên trì giải quyết
Né tránh có các hình thức: 1) Lờ đi Nếu xung đột là không quá căng thẳng
và hậu quả của nó là không lớn, các nhà quản lý thường có xu hướng thích lờ đi, làm ra vẻ là nó không tồn tại 2) Tách ra Nếu hai bên xung đột bị tách ra, khả năng của sự thù địch và công kích sẽ được giảm
Can thiệp bằng quyền lực: 1) Tương tác được quy định Các nhà quản lí cấp cao hơn có thể thiết lập những luật lệ, thủ tục để hạn chế xung đột ở mức độ chấp nhận được 2).Sự vận động chính trị Hai nhóm có thể quyết định chấm dứt xung đột bằng một số hình thức của vận động chính trị, trong đó một bên nỗ lực tích luỹ quyền lực đủ để ép bên kia phục tùng
Khuếch tán: 1) Làm dịu Quá trình của việc làm dịu bao gồm việc nhấn mạnh những điểm tương đồng và lợi ích chung của hai nhóm và tối thiểu hoá những khác biệt của họ 2) Thoả hiệp Thỏa hiệp giữa hai nhóm bao gồm việc thoả thuận
về vấn đề cùng bàn bạc để tìm ra lợi ích chung và những lợi ích đối kháng và thống nhất hướng hành động chung trong tương lai 3) Nhận dạng kẻ thù chung Khi hai nhóm đối diện với một kẻ thù chung, sự khác biệt về quan điểm và sự cạnh tranh qua lại giữa họ có thể được tạm gác lại, trong khi hai nhóm thống nhất để đánh bại
kẻ thù chung
Kiên trì giải quyết: 1) Tương tác giữa các nhóm Làm cho các nhóm đến với nhau và làm tăng liên hệ giữa hai phía có thể giúp làm giảm xung đột 2).Những mục tiêu cao cả Những mục tiêu cao cả là những mục tiêu quan trọng hơn cho cả hai nhóm, hơn là những vấn đề nhỏ gây ra xung đột 3) Giải quyết vấn đề Việc giải quyết vấn đề là gặp nhau mặt đối mặt của các nhóm xung đột để nhận dạng nguyên nhân xung đột, và phát triển các giải pháp để giải quyết nó
Trang 341.2.5 Khái niệm hiệu trưởng, giáo viên mầm non
- Hiệu trưởng trường mầm non
Hiệu trưởng là thủ trưởng nhà trường, đại diện cho nhà trường về pháp lý, có trách nhiệm và có thẩm quyền cao nhất về hành chính và chuyên môn trong nhà trường Vì thế hiệu trưởng có vai trò to lớn, quyết định kết quả phấn đấu của nhà trường Nhiệm vụ của nhà trường thực hiện tốt hay không phần lớn tùy thuộc vào những phẩm chất và năng lực của người hiệu trưởng Nơi nào có cán bộ quản lý tốt thì nơi đó làm ăn phát triển, ngược lại nơi nào cán bộ quản lý kém thì làm ăn trì trệ, suy sụp Hiệu trưởng trường mầm non thực hành với tư cách là người tổ chức, người điều phối, người đại diện và người chịu trách nhiệm về mọi hoạt động trong nhà trường
Người hiệu trưởng tổ chức thực hiện những chủ trương chính sách, đường lối giáo dục thông qua nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp Người hiệu trưởng phải là nhà giáo dục có kinh nghiệm, có năng lực, có uy tín về chuyên môn, là con chim đầu đàn của tập thể giáo viên Do vậy, năng lực tổ chức thực tiễn của người hiệu trưởng quyết định hiệu quả của quản lý giáo dục
Hiệu trưởng trường mầm non phải thực hiện nhiệm vụ cơ bản sau:
- Đảm bảo chất lượng giáo dục trẻ theo mục tiêu đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục trẻ là nhiệm vụ chủ yếu của trường mầm non Đó cũng là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác chỉ đạo của người hiệu trưởng
- Bảo đảm chỉ tiêu số lượng trẻ đến trường Duy trì và phát triển số lượng trẻ đến lớp là điều kiện sống còn của nhà trường Vì vậy, hàng năm hiệu trưởng phải có
kế hoạch tuyển sinh trẻ vào trường trên cơ sở khả năng thực tế và nhu cầu gửi con của các bậc cha mẹ
- Xây dựng tập thể sư phạm trong trường vững mạnh đủ về số lượng, đồng
bộ về cơ cấu, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp
- Từng bước hoàn thiện việc trang bị cơ sở vật chất cho trường lớp theo đúng yêu cầu của ngành, chỉ đạo việc bảo quản sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị phục vụ yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ
Trang 35- Tham mưu cho lãnh đạo và tăng cường kết hợp với các lực lượng xã hội để làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục mầm non
- Thường xuyên rút kinh nghiệm và cải tiến công tác quản lí nhà trường để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ theo mục tiêu kế hoạch đào tạo
- Giáo viên mầm non
Nghề dạy học là lĩnh vực hoạt động của người giáo viên theo sự phân công của xã hội, trong đó người thầy sử dụng các năng lực thể chất và tinh thần của mình
để dạy dỗ, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ trở thành con người hữu ích cho xã hội Trên
cơ sở khái niệm nghề dạy học (sư phạm), khái niệm nghề giáo viên mầm non được xác định là lĩnh vực hoạt động của người giáo viên mầm non theo sự phân công của
xã hội, trong đó người giáo viên mầm non sử dụng các năng lực thể chất và tinh thần của mình để chăm sóc, giáo dục trẻ từ 24 tháng đến 6 tuổi theo những mục tiêu, yêu cầu, phương pháp, hình thức tổ chức, nội dung giáo dục mầm non mà xã hội đòi hỏi
Ngoài các đặc điểm chung của lao động sư phạm (của các giáo viên dạy các bậc học khác), lao động của giáo viên mầm non còn có những đặc thù nhất định Lao động của giáo viên mầm non trong một chừng mực nào đó là sự tổng hòa các đặc điểm lao động của nhà giáo dục, lao động của người mẹ, lao động của người thầy thuốc và lao động của người nghệ sĩ Nó được thể hiện rõ ở các đặc điểm như mục đích lao động, đối tượng lao động, phương tiện lao động, môi trường lao động
và sản phẩm lao động Do đối tượng hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non là trẻ tuổi từ 24 tháng đến 6 tuổi, độ tuổi phát triển mãnh liệt cả về tâm lí lẫn sinh lí cho nên giáo viên mầm non không những dạy trẻ, giáo dục trẻ mà còn phải chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ trẻ trong mọi hoạt động của trẻ ở trường mầm non Mục đích hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non là “làm phát triển toàn diện trẻ em tuổi mầm non và chuẩn bị cho trẻ đi học ở trường phổ thông có kết quả” Nhân cách của trẻ trong tương lai như thế nào sẽ phụ thuộc rất lớn vào công lao dạy dỗ, chăm sóc giáo dục và nuôi dưỡng, bảo vệ của người giáo viên mầm non Trẻ càng nhỏ thì nhân cách của người giáo viên mầm non càng có ảnh hưởng sâu sắc đến trẻ Vì thế người giáo viên mầm non có một vị trí cực kỳ quan trọng và phải có nhân cách phù hợp mới có thể hoàn thành tốt nhất công việc giáo dục trẻ, đáp ứng được mục tiêu đổi mới giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay Tóm lại, lao động của người
Trang 36giáo viên mầm non không những mang chức năng hình thành và phát triển mà còn
có chức năng chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ mầm non
1.2.6 Nội dung quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lý
Nội dung quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí được xây dựng trên bốn chức năng của quản lí nói chung là: Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá việc xây dựng bầu không khí tâm lí
1.2.6.1 Xây dựng kế hoạch quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí:
Phân tích thực trạng hoạt động xây dựng kế hoạch trong năm học của ngành, trường, địa phương; xác định điều kiện xây dựng cơ sở vật chất (khung cảnh sư phạm, phòng học, phương tiện dạy học…), điều kiện xây dựng môi trường tinh thần (bầu không khí tâm lí); phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài nhà trường để xác định mục tiêu và các hoạt động đạt mục tiêu trong hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí
cơ sở vật chất; tiến độ thực hiện; thời gian bắt đầu; thời gian kết thúc
Tổ chức thực hiện kế hoạch xây dựng bầu không khí tâm lí cần được tiến hành theo 4 bước sau:
- Lập danh sách những công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu về xây dựng bầu không khí tâm lí
- Phân chia những công việc thành những nhiệm vụ cụ thể
- Kết hợp các nhiệm vụ một cách logic và hiệu quả
Trang 37- Thiết lập một cơ chế điều phối Sự liên kết các bộ phận một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện để đạt được mục tiêu một cách dễ dàng và hiệu quả
1.2.6.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch
Chỉ đạo là chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ để đảm bảo việc xây dựng bầu không khí tâm lí diễn ra đúng hướng, đúng
kế hoạch
Sau khi kế hoạch xây dựng bầu không khí tâm lí đã được xác lập, cơ cấu bộ máy đã được hình thành, nhân sự đã được tuyển chọn thì phải có sự chỉ đạo, dẫn dắt Lãnh đạo bao hàm việc liên hệ với các cá nhân và động viên họ hoàn thành nhiệm vụ Việc lãnh đạo không phải chỉ có sau khi lập kế hoạch và tổ chức thực hiện mà nó đã được thấm và ảnh hưởng quyết định tới hai nội dung trên
1.2.6.4 Kiểm tra, đánh giá xây dựng bầu không khí tâm lí
Kiểm tra, đánh giá xây dựng bầu không khí tâm lí đề cập đến phương pháp và
cơ chế được sử dụng để đảm bảo các hoạt động được tuân thủ, phù hợp, nhất quán với những kế hoạch, mục tiêu xây dựng bầu không khí tâm lí đã xây dựng Kiểm tra giúp chúng ta có thông tin phản hồi, xác định được những lệch lạc nếu co để tiến hành những hành động điều chỉnh cần thiết
1.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí ở tập thể trường mầm non
1.2.7.1 Về phía chủ thể quản lí
- Hiệu trưởng trường mầm non chính là người đứng đầu trong việc xây dựng bầu không khí tâm lí của tập thể Người hiệu trưởng phải vận dụng các chức năng quản lý để lãnh đạo nhà trường hình thành,phát triển bầu không khí tâm lí tích cực, tốt đẹp Đối với công tác xây dựng bầu không khí tâm lí của tập thể thì bản thân hiệu trưởng phải là người hiểu rõ nhiệm vụ và vai trò đầu tầu của mình Hiệu trưởng phải là người có phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và phải luôn đi đầu trong mọi lĩnh vực của nhà trường, biết thuyết phục cán bộ giáo viên công nhân viên thực hiện thành công kế hoạch năm học Hiệu trưởng rất cần phải có năng lực sáng tạo, thực hiện các chức năng quản lí thông qua các phương tiện kĩ thuật…
Trang 38- Hiệu trưởng phải có kế hoạch và có sự đầu tư để xây dựng bầu không khí tâm lí của tập thể ngay từ đầu năm học Chính sự quan tâm của hiệu trưởng đến các thành viên, sự phân công công việc khách quan, công bằng, khoa học, sự đoàn kết, phối hợp có hiệu quả giữa Đảng, chính quyền với công đoàn… là những yếu tố hình thành nên bầu không khí tâm lí tích cực của tập thể
1.2.7.2 Về phía đối tượng quản lí
Đội ngũ giáo viên là một trong những chủ thể ảnh hưởng lớn đến hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí của tập thể Đối với công tác xây dựng bầu không khí tâm lí của tập thể thì trước hết đội ngũ giáo viên phải có sự đổi mới, sáng tạo, có năng lực công tác, năng động, đoàn kết, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau… Để hoàn thành nhiệm vụ xây dựng bầu không khí tâm lí của tập thể, mỗi cán bộ giáo viên đều phải nắm bắt được sự yêu cầu đổi mới của ngành GD&ĐT, luôn nâng cao trình
độ, nắm vững mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, được đồng nghiệp và trẻ mầm non yêu quý, mến phục…
1.2.7.3 Yếu tố môi trường, điều kiện cơ sở vật chất, tài chính, vai trò của các tổ chức đoàn thể
Để hình thành, phát triẻndược bầu không khí tâm lí tích cực của tập thể, thì yếu tố môi trường, điều kiện cơ sở vật chất, tài chính, vai trò của các tổ chức đoàn thể cũng hết sức quan trọng Môi trường xanh, sạch, đẹp, cảnh quan sư phạm khang trang, trang thiết bị của lớp học: bàn ghế, đồ chơi, điều hòa…đầy đủ, sẽ tạo nên tâm trạng, cảm xúc thoải mái dễ chịu
Đối với trường mầm non thì trang bị cơ sở vật chất cho nhà trường chủ yếu từ phía lãnh đạo Quận nhưng trang thiết bị được đầu tư đôi khi chưa đi đôi với việc sử dụng Chính sách từ phía các cấp lãnh đạo như Bộ GD&ĐT, Sở, các phòng ban có liên quan về việc mua sắm trang thiết bị cho nhà trường chưa phù hợp
Cơ sở vật chất, trang thiết bị là công cụ lao động sư phạm của các nhà giáo dục và trẻ em Nguồn lực tài chính dùng để mua sắm cơ sở vật chất thiết bị, huy động nguồn nhân lực tham gia các hoạt động giáo dục Nếu thiếu kinh phí, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trong nhà trường sẽ gặp nhiều khó khăn hoặc không thể thực hiện được Trang thiết bị hiện đại phù hợp với thực tiễn là yếu tố quyết định trong việc xây dựng bầu không khí tâm lí của tập thể
Trang 39Hiện nay, ngân sách giáo dục, tài chính trong nhà trường còn hạn chế Thông qua hội phụ huynh học sinh, nhà trường cần chủ động tuyên truyền để được phụ huynh tự ủng hộ trong việc mua sắm trang thiết bị theo đúng văn bản quy định
Nhà trường cũng cần tích cực liên hệ với chính quyền địa phương, các cơ quan đoàn thể…trên địa bàn để được sự ủng hộ của các cấp lãnh đạo, các ban ngành đoàn thể trên địa bàn phường
Kết luận chương 1 Trên cơ sở phân tích tài liệu về quản lí, hoạt động xây dựng, bầu không khí tâm lí của tập thể trường mầm non, đề tài đã hệ thống hóa và sử dụng các khái niệm
cơ bản sau:
- Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống
để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
- Hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Hoạt động tạo nên mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế giới khách quan và với chính bản thân mình, qua đó tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới (khách thể), cả về phía con người (chủ thể)
- Bầu không khí tâm lí là trạng thái tâm lí xã hội của tập thể, phản ánh tính chất, nội dung và xu hướng tâm lí thực tế của các thành viên trong tập thể đó Trạng thái tâm lí này có ảnh hưởng nhất định đến các quan hệ trong tập thể, đến tâm trạng
và hiệu quả làm việc của các thành viên
- Quản lý hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí tích cực của tập thể trường mầm non là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lí lên các thành tố tham gia quá trình hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu xây dựng bầu không khí tâm lí tích cực của tập thể
- Nội dung quản lí hoạt động xây dựng bầu không khí tâm lí tích cực của tập thể được xây dựng trên bốn chức năng của quản lí nói chung là: Xây dựng kế hoạch,
tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá việc xây dựng bầu không khí tâm lí tích cực của tập thể
- Biện pháp quản lí hoạt động xây dựng dựng bầu không khí tâm lí tích cực của tập thể là những cách thức tác động có hướng đích của chủ thể quản lí lên hoạt động xây dựng dựng bầu không khí tâm lí của tập thể trường mầm non nhằm đạt được các mục tiêu đề ra