1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của các công ty may trên thị trường hà nội

70 226 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 255,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực chất của việc triển khai một chiến lược định vị thị trường chính là xác định cho sản phẩm và doanh nghiệp một vị trí nhất định trên thị trường mục tiêu sao cho nó có một hình ảnh ri

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Đất nước ta đang đứng trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Nền kinh tế thị trường của nước ta đang phát triển đồng đều, cộng thêm những thách thức và cơ hội trong thời gian tới sẽ tạo động lực cho nền kinh tế nước ta phát triển hơn nữa Dưới tác động và quy luật của nền kinh tế thị trường như quy luật cung cầu quy luật cạnh tranh….các doanh nghiệp cần phải có những giải pháp chiến lược phù hợp Ngành dệt may Việt Nam không đứng ngoài xu thế hội nhập đó Các công ty dệt may Việt Nam đã và đang cố gắng hết mình để không những làm chủ trên sân nhà mà còn vươn rộng cánh tay của mình sang các nước khác

Xuất phát từ đó em chọn đề tài: "Một số giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của các công ty may trên thị trường Hà Nội"

Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận là phương pháp duy vật biện chứng, các tư duy quan điểm của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ hội nhập

Nội dung : bao gồm 3 chương

Chương 1: Một số lý luận về sức cạnh tranh sản phẩm của

các doanh nghiệp trong nền kinh tế nước ta.

Chương 2: Thực trạng marketing kinh doanh sản phẩm

may mặc trên thị trường Hà Nội.

Chương 3: Các biện pháp nâng cao sức cạnh tranh mặt

hàng may mặc

Trang 2

CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ SỨC CẠNH TRANH SẢN PHẨM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG

NỀN KINH TẾ NƯỚC TA.

1 Tổng quan về sản phẩm

1.1 Khái niệm về sản phẩm theo quan điểm marketing.

Người ta thoả mãn nhu cầu và mong muốn của mình bằng cả hàng hoá và dịch vụ Chúng ta sử dụng thuật ngữ sản phẩm để ám chỉ cả hàng hoá lẫn dịch vụ Như vậy, sản phẩm là bất kỳ thứ gì có thể đem chào bán để thoả mãn nhu cầu hay mong muốn Ý nghĩa quan trọng của sản phẩm vật chất bắt nguồn không phải từ việc sở hữu chúng mà chính là từ việc có được những dịch vụ từ nó đem lại

Thực ra thì dịch vụ còn có những yếu tố khác để đảm bảo như con người địa điểm các hoạt động tổ chức và ý tưởng

Các nhà sản xuất đã phạm sai lầm là chú trọng nhiều đến các sản phẩm vật chất của mình hơn là đến những dịch vụ mà sản phẩm

đó thực hiện Họ chỉ nghĩ đến việc tiêu thụ một sản phẩm chứ không phải việc đảm bảo giải quyết một nhu cầu Người ta bảo người phụ

nữ không mua 1 thỏi son mà bà ta mua niềm hy vọng ở đó, vì thế nên các nhà làm marketing không bán miếng thịt rán mà bán tiếng xèo xèo của nó Còn lại những người bán hàng chỉ chú tâm đến sản phẩm vật chất chứ không phải nhu cầu người tiêu dùng là những người mắc bệnh "thiển cận marketing"

1.2 Chu kỳ sống của sản phẩm

Trang 3

Khi đem bán sản phẩm của mình trên thị trường doanh nghiệp nào cũng mong muốn sản phẩm của mình bán chạy, tồn tại lâu dài khối lượng bán luôn đạt ở mức cao Nhưng đó chỉ là những kỳ vọng bởi vì hoàn cảnh môi trường và thị trường luôn biến đổi" Do đó sự thích ứng của sản phẩm với nhu cầu của thị trường cùng biến đổi theo Điều đó ảnh hưởng trực tiếp qua sự biến đổi và khối lượng doanh số tiêu thụ sản phẩm Để mô tả hiện tượng này người ta dùng đến khái niệm chu kỳ sống của sản phẩm Chu kỳ sống của sản phẩm có thể được xem cho từng mặt hàng cụ thể từng nhóm chủng loại thậm chí từng nhãn hiệu sản phẩm.

Chu kỳ sống của sản phẩm là thuật ngữ mô tả sự biến đổi của doanh số tiêu thụ kể từ khi hàng hoá được tung ra khỏi thị trường cho đến khi nó phải rút lui khỏi thị trường

Sự tồn tại chu kỳ sống của sản phẩm là hiển nhiên hy vọng về

sự tồn tại lâu dài với doanh sóo cao đối với một sản phẩm chủng loại sản phẩm nhãn hiệu sản phẩm là chính đáng Nhưng hy vọng đó chỉ đạt được khi doanh nghiệp biết được sự diễn biến chu kỳ sống, đặc điểm của nó, đồng thời có những điều chỉnh chiến lược marketing thích hợp

Đối với từng sản phẩm nhóm chủng loại hoặc nhãn hiệu sản phẩm có thể có số lượng và độ dài từng giai đoạn khác nhau Nhưng dạng khái quát về mặt lý thuyết thì chu kỳ sống của sản phẩm có 4 giai đoạn giai đoạn tung sản phẩm vào thị trường, giai đoạn phát triển, giai đoạn chín muồi và giai đoạn suy thoái có thể hình dung các giai đoạn đó qua sơ đồ

Giai đoạn chín muồi

Giai đoạn suy thoái

Mức tiêu thụ

Lợi nhuận

Trang 4

Thời gian

Trang 5

1.2.1.Giai đoạn tung sản phẩm ra thị trường (giai đoạn giới thiệu).

Đây là giai đoạn mở đầu của việc đưa sản phẩm ra bán chính thức trên thị trường Bởi vậy nó đòi hỏi phải có thời gian và sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt Mặc dù vậy mức tiêu thụ trong giai đoạn này thường tăng chậm chạp vì các lý do sau:

- Doanh nghiệp chậm mở rộng năng lực sản xuất

- Doanh nghiệp còn gặp phải những vướng mắc về kỹ thuật

- Chậm triển khai một kênh phân phối hiệu quả

- Khách hàng chưa từ bỏ thói quen tiêu dùng trước đây

- Khả năng mua sắm còn hạn chế

Trong giai đoạn này doanh nghiệp thường chịu lỗ hoặc lãi rất

ít mặc dù giá bán thường được quy định cao Hướng chiến lược của hoạt động marketing trong giai đoạn này là:

- Tập trung nỗ lực bná vào nhóm khách hàng có điều kiện sẵn sàng mua nhất

-Động viên khuyến khích các trung gian marketing

- Tăng cường quảng cáo và xúc tiến bán

1.2.2 Giai đoạn phát triển

Trong giai đoạn này mức tiêu thụ bắt đầu tăng nhanh trên thị trường xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh mới, lợi nhuận trong giai đoạn này tăng Để khai thác và kéo dài tối đa cơ hội này, doanh nghiệp có thể thực hiện các tư tưởng chiến lược sau:

- Giữ nguyên mức giá hoặc giảm chút ít để thu hút khách hàng

Trang 6

- Giữ nguyên hoặc tăng chi phí kích thích tiêu thụ.

- Tiếp tục thông tin mạnh mẽ về hàng hoá cho công chúng

- Nâng cao chất lượng hàng hoá tạo cho nó tính chất mới sản xuất những mẫu mcơ mor

- Xâm nhập vào những phần thị trường mới

- Sử dụng kênh phân phối mới

-Thay đổi đôi chút về thông điệp quảng cáo để kích thích khách hàng

1.2.3 Giai đoạn bão hoà.

Đến thời điểm nào đó nhịp độ tăng mức tiêu thụ bắt đầu chững lại, việc tiêu thụ sản phẩm bước vào giai đoạn chín muồi Về thời gian giai đoạn này thường dài hơn các giai đoạn trước và đặt ra những nhiệm vụ phức tạp trong lĩnh vực quản trị marketing

Sản phẩm tiêu thụ chậm cũng có nghĩa là chúng tràn đầy trên các kênh lưu thông điều đó hàm chứa một cuộc cạnh tranh gay gắt

Để cạnh tranh các đối thủ dùng nhiều thủ thuật khác nhau như bán

hạ giá, bán theo giá thấp hơn giá niêm yết chính thức tăng quảng cáo kích thích các trung gian thương mại Tăng cường chi phí đầu

tư cho việc nghiên cứu thiết kế thử nghiệm nhằm tạo ra các mẫu hàng mới Tình hình đó dẫn đến sự giảm sút lợi nhuận

Để tiếp tục tồn tại trên thị trường các nhà quản trị mar có thể

có các phương án lựa chọn sau:

- Cải biến thị trường tức là tìm thị trường mới cho sản phẩm

- Cải biến hàng hoá thay đổi một số yếu tố, đặc tính của sản phẩm

Trang 7

- Cải biến các công cụ marketing - mix

1.2.4 Giai đoạn suy thoái.

Giai đoạn suy thoái xuất hiện khi mức tiêu thụ các loại sản phẩm hoặc nhãn hiệu sản phẩm giảm sút Việc giảm sút có thể diễn

ra nhanh chóng chậm chạp thậm chí đến số không Cũng có sản phẩm mà mức tiêu thụ chúng giảm xuống thấp rồi dừng lại ở đó trong nhiều năm

Mức tiêu thụ giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau như: thành tựu về công nghệ làm xuất hiện sản phẩm mới thay thế, thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi, cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ trong và ngoài nước

Khi mức tiêu thụ giảm sút dẫn đến lợi nhuận giảm sút một số doanh nghiệp có thể rút lui khỏi thị trường số còn lại có thể thu hẹp chủng loại hàng hoá chào bán từ bỏ phần thị trường nhỏ những kênh thương mại ít hiệu quả nhất cắt giảm chi phí khuyến khích và hạ giá nhiều hơn Nhưng việc giữ lại hàng hoá đã suy thoái có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp, thậm chí làm giảm uy tín cho toàn doanh nghiệp vì những sản phẩm đó Vì vậy để hạn chế bớt ảnh hưởng xấu của hiện tượng này, doanh nghiệp cần quan tâm đến các khía cạnh sau:

- Phải luôn theo dõi để phát hiện những sản phẩm bhước vào giai đoạn suy thoái

- Đối với từng mặt hàng phải nhanh chóng thông qua quyết định tiếp tục lưu giữ hay thải loại chúng

1.3 Khái niệm về sức cạnh tranh của sản phẩm

Trang 8

Một sản phẩm có sức cạnh tranh cao là một sản phẩm đạt ưu thế nổi bật trong thị trường, thu được doanh số cao về cho doanh nghiệp Những sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận, hay là những sản phẩm "ruột" của những hãng nổi tiếng sẽ có uy tín khi được tung ra thị trường.

1.4 Định vị sản phẩm trên thị trường.

1.4.1 Khái niệm.

a Định vị thị trường còn được gọi là "xác định vị thế trên thị trường mục tiêu" Marketing luôn coi định vị thị trường là chiến lược chung nhất chi phối mọi chương trình marketing được áp dụng

ở thị trường mục tiêu

Định vị thị trường là thiết kế sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp nhằm chiếm một vị trí đặc biệt và có giá trị trọng tâm trí khách hàng mục tiêu Định vị thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải quyết định khuyếch trương bao nhiêu điểm khác biệt và những điểm khác biệt nào giành cho khách hàng mục tiêu Thực chất của việc triển khai một chiến lược định vị thị trường chính là xác định cho sản phẩm và doanh nghiệp một vị trí nhất định trên thị trường mục tiêu sao cho nó có một hình ảnh riêng trong tâm trí khách hàng (KH

có thể nhận thức và đánh giá được về sản phẩm của doanh nghiệp)

và có khả năng cạnh tranh với các đối thủ trên cùng một thị trường mục tiêu

b Lý do phải định vị thị trường

Có 3 lý do để marketing coi định vị thị trường là tất yếu

Trang 9

Thứ nhất, do quá trình nhận thức của khách hàng Có thể

khẳng định rằng khả năng nhận thức và ghi nhớ thông tin của con người có hạn Bộ não của con người để sử dụng chọn lọc hình ảnh

về thế giới xung quanh và loại bỏ những thông tin không cần thiết

Vì vậy cần phải có những thông điệp rõ ràng xúc tích gây ấn tượng cùng với việc chào bán các sản phẩm dịch vụ có vị thế tốt mới có khả năng thâm nhập vào nhận thức khách hàng

Thứ hai, do yêu cầu tất yếu để cạnh tranh, mức độ cạnh tranh

ngày càng gay gắt vừa là một thực tế vừa là một thách thức đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển Xác định vị thế là một phương pháp được sử dụng nhằm tạo ra cho sản phẩm một hình ảnh độc đáo và khác biệt so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh

Thứ 3: do dung lượng lớn của thông điệp quảng cáo dung

lượng quá lớn của các thông điệp quảng cáo làm cho khách hàng khó lòng tiếp nhận được tất cả những gì họ đã xem, nghe hay nhìn, đọc

1.4.2 Các hoạt động trọng tâm của chiến lược định vị.

Để có một chiến lược định vị trở nên sắc bén, người làm marketing cần tập trung nỗ lực vào một số hoạt động chính sau đây

a Tạo ra một hình ảnh cụ thể cho sản phẩm, nhãn hiệu trong tâm trí khách hàng ở thị trường mục tiêu Khởi đầu của một chiến lược định vị là tạo ra được một hình ảnh cụ thể về sản phẩm, nhãn hiệu của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng ở thị trường mục tiêu

Trang 10

Hình ảnh trong tâm trí khách hàng là sự kết hợp giữa nhận thức và đánh giá của khách hàng về doanh nghiệp và các sản phẩm

mà doanh nghiệp cung ứng Nó là một tập hợp các ấn tượng cảm giác và khái niệm khách hàng có được về sản phẩm và nhãn hiệu đó

Hình ảnh của một doanh nghiệp sản phẩm và nhãn hiệu của nó được hình thành dựa trên

+ Sự thiết kế và truyền bá những hình ảnh mà doanh nghiệp lựa chọn

+ Kinh nghiệm của khách hàng qua tiêu dùng sản phẩm Một định vị thị trường thành công khi tìm ra được cầu nối giữa niềm tin thầm kín của khách hàng với đặc tính độc đáo của một doanh nghiệp

b Lựa chọn vị thế của sản phẩm, của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu

Hình ảnh được khắc hoạ trong tâm trí khách hàng khong chỉ

do bản thân sản phẩm và hoạt động marketing của doanh nghiệp tạo dựng mà còn do tương quan so sánh với các sản phẩm cạnh tranh

Vì vậy công việc của một chiến lược định vị không chỉ dừng lại ở việc tạo dựng một hình ảnh mà còn phải lựa chọn cho hình ảnh đó ở một vị thế trên thị trường mục tiêu

c Tạo được sự khác biệt cho sản phẩm nhãn hiệu

Nhóm 1: tạo điểm khác biệt cho sản phẩm vật chất Để tạo

được điểm khác biệt cho sản phẩm vật chất các doanh nghiệp cung ứng có thể sử dụng đơn chiếc hoặc kết hợp những yếu tố chủ yếu.:

Trang 11

như tính chất công dụng, mức độ phù hợp, độ bền độ tin cậy khả năng sửa chữa, kiểu dáng, kết cấu…các yếu tố này có khả năng tạo cho sản phẩm những đặc tính khác biệt.

Vấn đề quan trọng bậc nhất khi sử dụng công cụ này là marketing chỉ nên hoạ chọn và đầu tư vào những yếu tố có khả năng cống hiến cho khách hàng

Nhóm 2: tạo điểm khác biệt cho dịch vụ

Đây được coi là chìa khoá để cạnh tranh thắng lợi trong trường hợp khó tạo điểm khác biệt cho sản phẩm vật chất

Những yếu tố chính tạo được điểm khác biệt cho dịch vụ là: giao hàng lắp đặt, huấn luyện kế hoạch sử dụng sản phẩm dịch vụ tư vấn sửa chữa và nhiều dịch vụ khác nữa

Nhóm 3: tạo điểm khác biệt về nhân sự: các doanh nghiệp

cùng có thẻ giành được lợi thế cạnh tranh nhờ vào hoạt động tuyển chọn và huấn luyện được đội ngũ nhân viên tốt hơn đối thủ cạnh tranh Chẳng hạn hãng hàng không của Singapore nối tiếng khắp thế giới vì có đội ngũ tiếp viên đẹp cả ngoại hình lẫn phong cách phục vụ

Nhóm 4: tạo sự khác biệt về hình ảnh.

Khi các sản phẩm cạnh tranh hoàn toàn giống nhau khách hàng thường có phản ứng khác nhau với hình ảnh của doanh nghiệp hay nhãn hiệu Nếu họ thấy nhãn hiệu họ được tiếp xúc đã tạo được một ấn tượng nhất định hay những đặc điểm nhận dạng và hình ảnh sâu sắc nó có thể làm khách hàng liên tưởng đến doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp với một thái độ thiện chí

Trang 12

Các công cụ để tạo ra hình ảnh và đặc điểm nhận dạng bao gồm: logo, tên gọi, biểu tượng bầu không khí

d Lựa chọn và khuyếch trương những điểm khác biệt có ý nghĩa

Nỗ lực cuối cùng của chiến lược định vị là trả lời câu hỏi

"doanh nghiệp phải khuyếch trương bao nhiêu điểm khác biệt và những điểm khác biệt nào là có ý nghĩa (hay giá trị) đối với khách hàng mục tiêu

1.4.3 Các bước của tiến trình định vị.

Để định vị thị trường thành công doanh nghiệp cần lên kế hoạch định vị sản phẩm Kế hoạch đó thường bao gồm các nội dung

Trang 13

"Nhiều người hài lòng với chiếc xe của chúng ta vì mục đích của chúng ta là làm ra những sản phẩm với niềm vui thích…." (Honda)

Đó là phương châm mục đích của những hàng lớn trên thế giới, điều đó đã chứng tỏ một điều là các nhà lãnh đạo luôn hướng công ty của mình theo đuổi một mục tiêu đúng đắn cho khách hàng

đó là chát lượng

Khi trên thị trường cung nhỏ hơn cầu thì người ta có thể bán bất kỳ sản phẩm tối thiểu nào dù cho cũ kỹ, hay xấu xí Nhưng ngược lại khi cung > cầu thì việc mua bán lại khác, người mua có quyền lựa chọn những sản phẩm mà họ cho là tốt nhất đối với họ

Ngày nay trình độ học vấn sự am hiểu của người tiêu dùng càng cao, chính vì thế đòi hỏi của họ về hàng hoá càng cao

Hoạt động thực tiễn của những hãng sản xuất siêu hạng như Toyota, Sony…và những người bán lẻ siêu hạng như Marks, Spencer….đã góp phần nâng cao những câu hỏi về chất lượng của

họ Sự thu hẹp về nhiều ngành sản xuất của Hoa kỳ như ô tô máy áy công cụ, hàng điện tử tiêu dùng là một bằng chứng hùng hồn về việc cung ứng chất lượng trung bình

Có quá nhiều công ty nghe rằng công việc của bộ phận Marketing kinh doanh chỉ là tìm kiếm khoa học Nếu họ không thể tìm kiếm được khách hàng thì đã vội kết luận họ không thể làm công việc đó được Thực ra bộ phận Marketing giỏi nhất cũng không thể bán được những sản phẩm tồi tệ

Trang 14

Tóm lại chất lượng sản phẩm là yếu tố đầu tiên và căn bản nhất tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm đó so với những sản phẩm cùng loại khác

1.5.2 Giá cả sản phẩm.

-Theo quan điểm của:

+Người mua: giá cả của 1 sản phẩm hay dịch vụ là khoản tiền

mà người mua phải trả cho người bán để được quyền sở hữu sử dụng sản phẩm hay dịch vụ đó

+Đối với người bán

=

* Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quyết định về giá cả(1) Nhân tố bên trong

a Các mục tiêu marketing

- Mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận hiện hành

- Mục tiêu dẫn đầu về tỷ phần thị trường

- Mục tiêu dẫn đầu về chất lượng

- Quyền quyết định về giá

- Nhiều đặc tính sản phẩm ảnh hưởng - giá

(2) Nhân tố bên ngoài

Trang 15

a Đặc điểm của thị trường và cầu.

- Mối quan hệ giữa giá và cầu

- Độ co giãn của cầu theo giá

- Tâm lý của khách hàng khi chấp nhận mức giá

b Cấu trúc cạnh tranh

* Xác định mức giá bán:

Qua phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến các quyết định về giá người ta đều nhận thấy giá cả là 1 biến số phức tạp và luôn ẩn chứa những mâu thuẫn vì vậy để có 1 mức giá bán hợp lý đòi hỏi người làm giá cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc và thực hiện việc định giá theo quy trình mang tính "công nghệ"

Tóm lại, nếu một sản phẩm có chất lượng tốt nhưng giá cả lại quá cao thì chưa hẳn đã được người tiêu dùng ưa chuộng, nhưng nếu giá quá thấp người ta sẽ không đánh giá đúng giá trị của nó Vì vậy việc đưa ra một mức giá cho 1 sản phẩm là vô cùng quan trọng

1.5.3 Thương hiệu, và uy tín sản phẩm

Khi hoạch định chiến lược cho sản phẩm của mình các nhà quản lý phải nghĩ đến việc tạo cho nó một nhãn hiệu, việc gắn nhãn cho sản phẩm là một vấn đề rất quan trọng Mặt khác việc phát triển một sản phẩm có gắn nhãn đòi hỏi phải chi phí rất nhiều cho việc đầu tư dài hạn đặc biệt là việc quản cáo khuyến mại và bao bì Một

ví dụ là các công ty của Nhật và Hàn quốc đã chi tiêu thoải mái cho việc gắn nhãn, tạo dựng nên những tên tuổi lớn như Sony , Joyota, Sam sung Ngay cả khi các công ty đó không còn đủ sức sản xuất

Trang 16

các sản phẩm của mình ở trong nước tên nhãn đó cần gũi được lòng trung thành của khách hàng.

Thương hiệu về cơ bản là sự hưa hẹn của người bán đảm bảo cung cấp cho người mua một tập hợp nhất định những tính chất lợi ích và dịch vụ Những nhãn hiệu tốt nhất đều kèm theo sự đảm bảo chất lượng

* Khái niệm về việc lượng định uy tín của thương hiệu các thương hiệu có giá trị và sức mạnh khách nhau trên thị trường có những nhãn hiệu mà người mua không hề biết đến hoặc không hề quan tâm Còn có những nhãn hiệu luôn là sự lựa chọn tối ưu của khách hàng

Một thương hiệu mạnh là một thương hiệu có uy tín cao Hiện nay mười thương hiệu mạnh nhất trên thế giới là

Trang 17

vì mức độ biết đến và trung thành với thương hiệu đã cao Công ty

có thể đỏi hỏi giá cao hơn đối thủ cạnh tranh của mình Bởi vì thương hiệu có chất lượng đã được thừa nhận cao hơn Đặc biệt thương hiệu sẽ tạo cho công ty một lợi thế cạnh tranh lớn khi cạnh tranh về giá

Tóm lại việc xây dựng thương hiệu là một việc cần phải làm,

và nó sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo được một vị thế vững chắc trên thương trường

1.5.4 Tính khác biệt của sản phẩm.

Một sản phẩm mới tung ra có ưu thế nổi trộ so với các sản phẩm khác cùng loại Sẽ thu hút được sự chú ý của khách hàng Sự khác biệt của sản phẩm có thể là về mẫu mã, kiểu dáng, sự nổi trộ

về chất lượng

1.5.5 Hình ảnh và uy tín:

Hình ảnh của doanh nghiệp là yếu tố đầu tiên mà khách hàng nhìn vào Nếu một doanh nghiệp biết nâng cao hình ảnh của mình sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh rất lớn Nhiều doanh nghiệp trên thế giới

và ngay ở Việt Nam chúng ta đã chỉ ra rất nhiều tiền đề tạo dựng cho mình một hình ảnh riêng Hình ảnh của doanh nghiệp trong mắt khách hàng không được hình thành ngay lập tức mà nó thành một quá trình một khoảng thời gian nhất đinh Khi công ty xây dựng hình ảnh của mình thì cần quan tâm đến rất nhiều yếu tố như mẫu

mã chất lượng sản phẩm, thái độ làm việc của nhân viên, thông điệp của doanh nghiệp đối với khách hàng Các doanh nghiệp dệt may cũng vậy, và còn hơn thế nữa các doanh nghiệp dệt đặc biệt phải

Trang 18

chú trọng đến hình ảnh của mình Vì loại hàng hoá mà doanh nghiệp sản xuất là quần áo Thử nghĩ xem khi chúng ta nhìn thấy nhân viên bán hàng của công ty May 10 không ăn mặc quần áo do cụng ty sản xuất ra thì chúng ta sẽ suy nghĩ như thế nào, hay họ có thái độ bán hàng không tốt cùng ảnh hưởng đến tâm lý của khách hàng.

Hình ảnh của công ty sẽ quyết định uy tín của công ty trên thị trường Khi công ty khằng định được uy tín của mình điều đó đồng nghĩa với việc bán được hàng tốt, và hàng hoá luôn được chấp nhận một cách dễ dàng

1.5.6 Sự đa dạng sản phẩm.

Tính đa dạng của sản phẩm giúp cho công ty có thể thực hiện tốt được chiến lược marketing mục tiêu

Ví dụ như: tập đoàn Sony họ không chỉ sản xuất một loại thiết

bị điện sinh hoạt mà hàng hoá của họ rất đa dạng như tivi, tủ lạnh, đài, điện thoại…họ tạo nên một cơ cấu sản phẩm đa dạng hướng tới nhiều tập khách hàng mục tiêu

Khi công ty thực hiện nghiên cứu marketing tốt sẽ giúp cho việc đa dạng hoá được mặt hàng

Về phía các công ty may việc thực hiện đa dạng hoá sản phẩm

là vô cùng quan trọng Nhưng có vẻ như các công ty may trên thị trường Hà Nội chưa thực hiện được việc này

1.5.7 Mức độ đáp ứng nhu cầu thị hiếu của thị trường.

Các nhà kinh doanh luôn biết một điều rằng "chúng ta không sản xuất cái chúng ta có mà chúng ta sản xuất cái thị trường cần" chính vì thế nên hàng hoá luôn luôn được đổi mới, chu kỳ sống của

Trang 19

sản phẩm có vể càng ngày càng ngắn đi Một doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu thị hiếu cao thì họ sẽ được khách hàng lựa chọn.

Ngành dệt may, việc đáp ứng nhu cầu thị hiếu thời trang của khách hàng thay đổi từng ngày, từng giờ nếu doanh nghiệp không thay đổi đáp ứng được kịp thời những nhu cầu đó thì họ sẽ bị loại

bỏ ra khỏi cuộc chơi

2 Nguyên lý sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường.

2.1 Cấu hình sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp.

Sản phẩm theo quan điểm marketing là 1 sản phẩm hỗn hợp , mỗi nhãn hiệu lại tương ứng với một tên gọi và gắn liền với mỗi một giá trị bổ sung là hình ảnh danh tiếng của nó Chính những thuộc tính hỗn hợp và toàn diện này đã tạo nên sự khác biệt về sức cạnh tranh của một nhãn hiệu mặt hàng, với các quan niệm truyền thống về chất lượng sản phẩm Bên cạnh giá cả bán sản phẩm khái niệm giá sử dụng sản phẩm đặc biệt quan trọng với các sản phẩm có giá trị, chất lượng cao hàm lượng kỹ thuật chất xám lớn Vì vậy sức cạnh tranh của sản phẩm không phải là giá bán thấp trên thị trường

mà là tạo ra được chi phí đầu tư sản phẩm thấp nhất trong thời gian mua và sử dụng sản phẩm nghĩa là có hiệu quả và chi phí lợi nhất

-Chất lượng sản phẩm là một sản phẩm của quá trình lao động, chất lượng sản phẩm trong kinh tế thị trường do thị trường quy định chứ không phải do người sản xuất, cung ứng quyết định Hơn nữa chất lượng sản phẩm phản ánh được sự tương thích giữa các thông

số, chất lượng sản phẩm và điều kiện sử dụng, vì vậy khái niệm sức

Trang 20

cạnh tranh rộng hơn khái niệm chất lượng sản phẩm vì nó bao hàm điều kiện tiêu dùng (SD) sản phẩm ấy mà mức độ thích hợp với nhu cầu.

Sức cạnh tranh sản phẩm được xác định bằng các tiêu chuẩn thuộc tính của nó gây được sự chú tâm chú ý nhiều nhất của khách hàng Vì vậy yếu tố sức cạnh tranh là then chốt trong việc mở rộng tiêu thụ sản phẩm trong kinh doanh và khái niệm sức cạnh tranh sản phẩm xem xét trong vòng đời sản phẩm

-Đánh giá và đảm bảo nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm được xem xét toàn diện trong 4 nhóm thông số sau

- Các thông số đặc trưng kỹ thuật công nghệ như các thông số hợp thành công năng sản phẩm, thông số về sinh thái, hệ số tiêu chuẩn hoá và điều hành hoá sản phẩm mặt hàng Các thông số về kinh tế thông thường là các thông số hợp thành giá sử dụng, bên cạnh giá bán trên thị trường hay giá trị của sản phẩm

- Các thông số có đặc trưng tổ chức liên quan đến yếu tố bán cầu kinh doanh, điều kiện thanh toán giao hàng, tính đồng bộ kịp thời bán hàng hệ thống kho điện hệ thống giảm giá

- Các thông số thường dùng có đặc trưng xã hội và tâm lý như truyền thông điều kiện tự nhiên hệ thống dịch vụ trong tiêu dùng, điều kiện sử dụng sản phẩm

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp.

Để đảm bảo được sự tồn tại và phát triển của thị trường các doanh nghiệp phải tạo ra và không ngừng trăng trưởng, "sức cạnh

Trang 21

tranh của sản phẩm" nhằm chiếm lĩnh thị trường tạo được lợi thế so sánh tối ưu của thị trường Sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi các nhân tố sau.

+ Nguồn đầu vào: bao gồm cả nguyên liệu chính và nguyên liệu phụ tạo ra sản phẩm nguyên liệu đầu vào tốt thì sản phẩm làm

ra mới có chất lượng cao giá của nguyên liệu đầu vào thấp thì sản phẩm làm ra mới có chất lượng cao Giá của nguyên liệu đầu vào thấp thì giá cả sản phẩm làm ra mới có thể đạt được xu thế cạnh tranh

- Trang thiết bị công nghệ của doanh nghiệp là yếu tố vật chất

kỹ thuật của quá trình sản xuất kinh doanh Tạo lập và gia tăng sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp Hệ thống thiết bị kỹ thuật công nghệ với số lượng lớn chất lượng công nghệ, cơ cấu sắp xếp quy hoạch theo trật tự của giải pháp công nghệ sản xuất kinh doanh, tính ưu việt và lợi thế của giải pháp công nghệ sản xuất kinh doanh

- Tài sản vô hình và bản sắc doanh nghiệp: yếu tố này là một trong những yếu tố trọng yếu thuộc nguồn lực của doanh nghiệp đảm bảo điều kiện tối ưu để tồn tại và thành công trong kinh doanh, trên thị trường và nó là yếu tố tạo lập sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp Tài sản vô hình và bản sắc của doanh nghiệp đó là hình ảnh uy tín, tín nhiệm của tập khách hàng tiềm năng đối với doanh nghiệp….vì vậy tạo lập và phát triển tài sản vô hình và bản sắc của doanh nghiệp là mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp được xác lập và thực thi hữu hiệu mà cơ bản nhất là: hiệu lực giải pháp

Trang 22

marketing và tăng trưởng tối đa hiệu lực giải pháp nhân sự của doanh nghiệp

2.3 Các vũ khí và thủ pháp phổ biến trong cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa những doanh nghiệp là tất yếu mọi doanh nghiệp đều mong muốn tạo được lợi thế

so sánh ngày càng lớn trong lịch sử cạnh tranh trên thị trường tình thế tưong tác cạnh tranh các doanh nghiệp đều lựa chọn cho mình một vũ khí cạnh tranh hữu hiệu nhất nhằm nâng cao hiệu lực giải pháp đồng bộ phát triển sức cạnh tranh sản phẩm Sau đây là các thủ pháp phổ biến trong cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp

* Cạnh tranh về bí quyết sản phẩm sản phẩm: là vũ khí cạnh tranh được các doanh nghiệp sử dụng đầu tiên , cạnh tranh qua sản phẩm được tập trung biểu hiện bằng cạnh tranh về bí quyết sản xuất sản phẩm và sản lượng sản xuất Trong giai đoạn hiện nay doanh nghiệp rất cần có bí quyết sản xuất sản phẩm công nghệ sản xuất tiên tiến tạo ra được sản lượng cao thì sản phẩm của doanh nghiệp

có lợi thế

* Cạnh tranh về giá: khi trình độ nền sản xuất hàng hoá có những bước phát triển, bí quyết công nghệ sản xuất đã góp cho doanh nghiệp có sản lượng khá lớn để tạo lợi thế cạnh tranh nhằm tiêu thụ khối lượng sản phẩm được sản xuất Các doanh nghiệp sử dụng vũ khí cạnh tranh này mang tính chiến thuật là giá cả Các doanh nghiệp với khối lượng sản phẩm lớn mức giá bán thấp hơn

Sẽ có những khả năng tiêu thụ lớn hơn, có nghĩa là có sức cạnh

Trang 23

tranh lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh của mình trên cùng một thị trường cạnh tranh Bên cạnh đó có những doanh nghiệp không xác lập được các giải pháp tiết kiệm chi phí, không hạ thấp được mức giá ngày càng có xu thế bị thu hẹp về quy mô sản xuất, thế lực ngày càng nhỏ, thậm chí bị phá sản.

* Cạnh tranh về chất lượng sản phẩm: khi cách mạng kỹ thuật công nghệ đóng vai trò có tính chất quyết định trong sự phát triển nền sản xuất hàng hoá thì vũ khí cạnh tranh là chất lượng sản phẩm Những doanh nghiệp tạo ra được sản phẩm chất lượng cao, thoả mãn tốt hơn nhu cầu người tiêu dùng thì những doanh nghiệp đó có lợi thế so sánh ngày càng phát triển về quy mô và thế lực chất lượng sản phẩm là vũ khí cạnh tranh mang tính chiến lược

* Cạnh tranh về các yếu tố marketing - mix Sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng ở giai đoạn này đã khẳng định nền chỉ số cá biệt các biến số nhu cầu giá cả thì sản phẩm sẽ không tạo ra được sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp Muốn có được sức cạnh tranh thì lợi thế so sánh lớn hơn, các doanh nghiệp phải sử dụng và phối hợp tối ưu các yếu tố marketing -mix bao gồm sản phẩm giá, phân phối và giao tiếp khuyếch trương

* Cạnh tranh qua marketing mục tiêu: lựa chọn phân đoạn thị trường phù hợp với khả năng của công ty, cạnh tranh trên thị trường khốc liệt đã đặt các doanh nghiệp vào tình thế hết sức khó khăn trong vấn đề tiếp thị hàng hoá vào thị trường Các doanh nghiệp phải có một sự lựa chọn thích hợp riêng với mình: như chiến lược thách đố, dẫn đạo, theo đuổi ẩn náu…Vũ khí cạnh tranh bằng

Trang 24

marketing mục tiêu không chỉ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp có quy mô lớn mà doanh nghiệp vừa và nhỏ tuy không có thế vị tuyệt đối và thị phần lớn nên khéo léo lựa chọn đoạn thị trường có sức cạnh tranh nhỏ nhất, ở đó doanh nghiệp có điều kiện thoả mãn cao nhu cầu thì họ vẫn có khả năng nâng cao sức cạnh tranh.

- Cạnh tranh bằng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh hiện đại

Sự phát triển rất cao của trình độ sản xuất hàng hoá Một hàng hoá sản xuất ra không chỉ lợi về số lượng mà còn có chất lượng cao,

sự chênh lệch về chất lượng hàng hoá nhỏ, bí quyết công nghệ sản xuất cũng được bình quân và xã hội hoá Khi việc khai thác vũ khí cạnh tranh trên có xu thế bình quân hoá giữa các doanh nghiệp thì dịch vụ và các điều kiện trong mua bán là vũ khí cạnh tranh có hiệu quả rất lớn

Phát triển đồng bộ các dịch vụ trước trong và sau khi bán mở

ra phạm vi lựa chọn rộng phong phú để thu hút kích đẩy nâng cao

hệ số thoả mãn nhu cầu toàn diện của khách hàng là vũ khí đảm bảo cho cạnh tranh trong kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả

4 Sự cần thiết nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

4.1 Đặc trưng xu thế toàn cầu hoá và hội nhập.

* Xu thế toàn cầu hoá và quá trình hội nhập của nước ta nói chung và của ngành dệt may nói riêng

Con người lớn lên ngày càng xã hội hoá các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc lẫn nhau và hỗ trợ cho nhau, sự phát triển của kinh

Trang 25

tế, khoa học kỹ thuật đặc biệt là khoa học công nghệ thông tin cũng như giao lưu văn hoá vừa cho phép vừa thúc đẩy tiến trình nhất thể hoá kinh tế thế giới Thể hiện bằng sự vận động nhanh chóng của toàn cầu hoá và sự gia tăng phụ thuộc lẫn nhau và bổ sung cho nhau của các nền kinh tế thế giới.

Toàn cầu hoá là một xu hướng vận động khách quan, nhưng mỗi quốc gia chọn một lộ trình hội nhập cũng nền kinh tế thế giới nhưng với bước đi và vị thế nào là một vấn đề mang tính chủ quan đòi hỏi chủ động Chủ động hạn chế những tác động tiêu cực và chủ động biến tiến trình tất yếu đó thành những tiền đề tạo lợi thế cho mình

Đối với ngành dệt may kết thúc giai đoạn 1 của việc hội nhập vào thị trường quốc tế thách thức hiện nay đối với ngành công nghiệp dệt may Việt Nam là phải phát triển một cuộc vận động xuất khẩu rộng rãi bao gồm cả việc chuyển sang sản xuất sản phẩm có chất lượng cao hơn về phạm vi, sản xuất sản phẩm lớn hơn để đương đầu với điều kiện của cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu á, cuộc khủng hoảng này đã nhấn mạnh thêm vai trò của cải cách Việt Nam phải cạnh tranh với các nước láng giềng mà ở đó đồng tiền của

họ đã bị phá giá mạnh và hơn bất kỳ nền kinh tế đông Nam á nào khác, một mô hình kinh tế và đầu tư của Việt Nam bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế Việt Nam hiện đang trong tình trạng khó khăn hoặc

ít nhất là đang trải qua tình trạng suy giảm về tăng trưởng kinh tế

4.2 Hội nhập và sức ép, thách thức cạnh tranh với sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam.

Trang 26

- Hiện nay xu thế hội nhập kinh tế mang tính nổi bật trong nền kinh tế thế giới và của từng khu vực để có thể nâng cao mức sống của dân cư và đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao, các quốc gia chú trọng nhiều hơn việc thúc đẩy thương mại và cố gắng hạn chế tối đa rào cản thương mại Khi hoà mình vào nền kinh tế khu vực và thế giới, các rào cản thuế quan được phá bỏ thì các doanh nghiệp nước ta phải đứng trước một sức ép về cạnh tranh rất lớn phải đối mặt với các công ty và các tập đoàn có tiềm lực tài chính dồi dào với đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn nắm bắt được tình hình thị trường rất nhanh nhạy và bản sắc của doanh nghiệp, cộng thêm đó là công nghệ sản xuất của họ rất hiện đại và thường xuyên được cải tiến Nếu các doanh nghiệp Việt Nam không có những phương pháp thích hợp sẽ gặp không ít khó khăn và bất lợi khi đương đầu với họ Mặt khác khi rào cản thuế quan bị bãi bỏ thì các công ty của các nước phát triển lại dùng một hình thức bảo hộ thay thế các hình thức bảo hộ bằng thuế quan, đó chính là bảo vệ xanh có nghĩa là sử dụng các quy định và tiêu chuẩn liên quan đến môi trường bảo hộ hàng trong nước Đây sẽ là điều kiện bất lợi mang tính thách thức cao đối với các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển.

Trang 27

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CỦA SẢN

PHẨM MAY MẶC TẠI HÀ NỘI

1 Một số kết quả đạt được của ngành may trong thời gian gần đây

Hiện nay trên địa bàn Hà nội có khoảng 12 doanh nghiệp may quốc doanh, trực thuộc trung ương, 13 doanh nghiệp Nhà nước địa phương và 7 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn rất nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh khoảng hơn 2000 doanh nghiệp Thu hút 10440 lao động trong tổng số khoảng trên 62.000 lao động trong các Công ty may trên địa bàn hàng hóa và chiếm ≈ 12% giá trị sản lượng dệt may địa bàn Trong đó các Công ty may trực thuộc trung ương chiếm ≈ 63%, các Công ty Nhà nước thuộc địa phương chiếm ≈ 20%, và các Công ty có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 5% tổng giá trị sản lượng Các Công ty may trên địa bàn Hà nội chiếm 1514% giá trị tổng sản lượng toàn ngành, sử dụng khoảng 10% số lao động Hàng năm Hà nội sản xuất được khoảng trên 30 triệu sản phẩm may sẵn chiếm 7,1%, bằng 1/7 lần của TP HCM gấp

2 lần Đà Nẵng, Bình Dương và 6 lần Hải Phòng Đặc biệt là mặt hàng bít tất hàng năm Hà nội sản xuất được 10,5 triệu đôi chiếm 86,5% và hầu như hoàn toàn không có cạnh tranh trong cả nước

Hà nội còn là nơi tập trung nhiều Công ty may nổi tiếng và uy tín như may 10, Việt Tiến, may Chiến Thắng, may Hồ Gươm… Hầu hết các Công ty này đã đổi mới 100% thiết bị may cũ, lạc hậu

Trang 28

để sản xuất những mặt hàng cao cấp Có khoảng gần 70% các Công

- Tại Công ty Việt Tiến doanh thu trên địa bàn Hà nội là 100 tỷ đồng, hàng tháng sản xuất 400.000 - 450.000 áo sơ mi, 300.000 quần áo các loại, 200.000 áo Jacket, 401.000 bộ complet veston, và 100.000 áo T - Shiet… tương đương 58 triệu sơ mi/năm Đầu tư xây mới và sắm sửa máy móc thiết bị từ 30 - 40 tỷ khoảng 5-7% tổng doanh thu Mức lương trung bình của công nhân ở Việt Tiến là 2 triệu đồng

- Tại Công ty may Chiến Thắng: có 20 đơn vị trực thuộc, 3000 lao động làm việc, tổng diện tích nhà xưởng rộng 42.500m2 cùng với trên 2000 thiết bị máy móc được bố trí tại 3 địa bàn khác nhau Tổng doanh thu năm 2005 đạt 81,18 tỷ

- Tại Công ty may Thăng Long: doanh thu nội địa năm 2005 là 35,4 tỷ Thu nhập bình quân của lao động khoảng 1,54 triệu

Trang 29

đồng/tháng Tổng số lao động là 1500 người và năng lực sản xuất hàng năm của Công ty là 6 triệu sản phẩm/ năm.

Một số dự án đầu tư trọng điểm của ngành dệt may Hà nội đến năm 2010

Đơn vị: tỷ đồng

Tổng vốn đầu tưSản xuất phụ liệu may và bổ sung thiết bị 153

Trang 30

2 Thực trạng về nội lực của các Công ty may

2.1 Công nghệ

Các Công ty may trên thị trường Hà nội đã có nhiều cố gắng

và thay đổi trong công nghệ sản xuất Theo số liệu thống kê của Bộ Công nghiệp, tính đến nay các Công ty may trên địa bàn Hà nội đã đổi mới thiết bị đến 95% trang thiết bị công nghệ hiện có Hiện nay các doanh nghiệp quốc doanh đổi mới gần 100%, số công nghệ hiện

có năng lực sản xuất tăng cao, sản phẩm sản xuất ra chất lượng cao Những doanh nghiệp đi đầu trong quá trình đổi mới, đầu tư công nghệ phải kể đến đó là may 10, may Việt Tiến, may Đức Giang, Thăng Long, Hồ Gươm… Trong đó may Đức Giang trong năm

2001 - 2002 đã đầu tư 43 tỷ đồng xây dựng nhà xưởng và mua sắm trang thiết bị Việt Tiến đã đầu tư xây dựng mới và sắm sửa máy móc từ 30-40 tỷ đồng khoảng 5-7% doanh thu

Trong năm 2002 Công ty đã đầu tư trên 45 tỷ mua sắm thiết bị điện tử mạnh dạn đưa dây chuyền hanger tự động hoá vào các xí nghiệp may

Công ty may Thăng Long đang tập trung đầu tư để phát triển năng lực sản xuất trọng tâm là đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ kết hợp đầu tư mở rộng và đầu tư mới tận dụng tối đa cơ sở vật chất

kỹ thuật và năng lực hiện có:

trị

Nhà xưởng

Trang 31

Hầu hết các máy móc thiết bị đều được nhập từ những nước có công nghệ tiến tiến và hiện đại có uy tín chất lượng cao như Mỹ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hungari… Nhiều Công ty may đã tích cực đầu tư đổi mới công nghệ tăng năng suất và chất lượng sản phẩm nhờ đó tạo được thế vững chắc trên thị trường như may Việt tiến, may Thăng long, Đức giang, may 10… Cùng với quá trình đổi mới công nghệ các Công ty quốc doanh đã thực hiện đổi mới quản

lý, sắp xếp lại dây chuyền sản xuất cho thích hợp, tổ chức các lớp huận luyện nâng cao tay nghề và nâng cao kỹ thuật vận hành thao tác xử lý công nghệ theo ISO 9000, ISO 14000 và SA 8000 Nhiều Công ty may đã được cấp chứng chỉ ISO 9002 và SA 8000 như may

10, Thăng long, Việt tiến, Hồ gươm…

* Hạn chế:

Tuy nhiên khả năng tự động hoá trong toàn bộ trong quá trình sản xuất các Công ty trên địa bàn còn chưa cao và chưa tận dụng hết năng suất của máy móc, thiết bị Công nghệ cắt và may còn lạc hậu Công nghệ phục vụ các công đoạn phụ trợ bao gồm khâu giặt còn nhiều bất cập Công tác thiết kế công nghệ tạo mẫu của các Công ty vẫn đang trong giai đoạn khởi đầu… đã làm hạn chế đến chất lượng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm

Mặc dù tốc độ đổi mới công nghệ ngành may trong thời gian gần đây đạt được nhiều tiến bộ đáng kể nhưng chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Còn lại các doanh nghiệp tư nhân đa phần là sử dụng các công nghệ lạc hậu, cũ hoặc hạn chế Sở dĩ có tình trạng này là do

Trang 32

các doanh nghiệp quốc doanh được hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước, cơ

sở hạ tầng đã có sẵn trong khi các doanh nghiệp tư nhân không nhận được sự hỗ trợ như vậy Họ phải tự bỏ vốn trong quá trình đầu tư ngay từ đầu nên tốc độ đầu tư mới công nghệ diẽn ra không được như ý muốn Hơn nữa, do quy mô nhỏ, năng lực sản xuất còn hạn chế nên các doanh nghiệp tư nhân cũng không dám mạnh dạn đầu tư công nghệ Trên thực tế muốn đầu tư thêm công nghệ lại phải mở rộng thêm mặt bằng sản xuất phải bỏ tiền mua hoặc thuê đất Tất cả những chi phí này không phải doanh nghiệp tư nhân nào cũng có thể làm được

2.2 Thiết kế:

Công tác thiết kế tại Công ty may trên địa bàn Hà nội trong những năm gần đây ngày được nâng lên và đạt hiệu quả cao hơn Rất nhiều doanh nghiệp lớn đã mạnh dạn đầu tư đổi mới trang thiết

bị phục vu, hỗ trợ khâu thiết kế và tuyển thêm một đội ngũ các nhà thiết kế trẻ, năng động, có óc sáng tạo và có chuyên mô vững vàng như Việt Tiến, Thăng Long, may 10… Song vấn đề thiết kế lại được các chuyên gia trong nước và nước ngoài đánh giá là một trong những khâu yếu của các Công ty may hiện nay Do công tác thiết kế gặp khó khăn trong việc lựa chọn chất liệu Bởi vị ngành dệt nước ta sản xuất quá ít, chất lượng mẫu mã thì không cao… chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu trong nước Còn lại các Công ty đều phải đi nhập khẩu vải chủ yếu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật… và một số nước trong khu vực Mặt khác vải của nước ngoài lại khá đắt tiền Môi trường làm nghề như chi phí thực hiện các bộ sưu tập còn cao, và có

Trang 33

sự cạnh tranh của các sản phẩm nước ngoài Hầu hết các Công ty trên địa bàn vẫn chưa chú trọng lắm đến khâu thiết kế Đầu tư cho khâu thiết kế là rất ít khoảng 3 - 5% doanh thu.

Mặt khác các nhà thiết kế có chuyên môn nhưng lại thiếu kiến thức kinh doanh và đội ngũ thiết kế còn rất trử Nếu có thì hầu như không có thực tế, rất thiếu thông tin về ngành thời trang trong nước

và trên thế giới Sách báo, bằng đĩa nói về thời trang quá ít Cơ hội giao lưu học hỏi từ các nhà thiết kế thế giới và khu vực không nhiều Chính sự "thiếu vắng" thông tin này đã dẫn đến việc mẫu mã các sản phẩm còn đơn giản khá đồng đều tương tự nhau giữa các Công ty và giữa năm này so với năm khác, thiếu tính hội nhập và xu thế thời trang thế giới

Theo ông Mai Quốc An - Tổng giam đốc Công ty dệt may Việt Nam cũng đưa ra nhận định:"Khâu yếu nhất của chúng tôi chính là thiết kế, và các Công ty may quốc doanh vẫn rất thờ ơ với các hoạt động chuyên nghiệp này Ngành sản xuất ngày càng đầu tư cho chất liệu, kỹ thuật cắt may nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng mẫu mã vẫn chưa hề có dấu ấn của những nhà thiết kế" Trong khi đó kiểu dáng mẫu mã quyết định đến 50% việc mua hay không mua của khách hàng Các Công ty may vẫn chưa nắm được cơ hội khám phá

và sử dụng các nhà thiết kế trong việc tạo mẫu hàng may sẵn, chưa

hề có sự đầu tư tìm hiểu thị hiếu người tiêu dùng hiện nay đang cần

gì Đây cũng là một thực trạng chung của toàn ngành may Việt Nam

và các Công ty may trên đại bàn Hà nội cũng không nằm ngoài thực trạng này

Trang 34

2.3 Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là một trong những vấn đề bức xúc nhất đối với Công ty may thể hiện ở 2 điểm: một là trình độ yếu kém của đội ngũ lao động cả về trình độ văn hoá lẫn trình độ chuyên môn và hai là: sự thiếu hụt về số lượng lao động

Các lao động chủ yếu là lao động trẻ với 23% dưới 20 tuổi, 47% từ 21-30 tuổi trong đó 21% văn hoá cấp 1, 61% văn hoá cấp 2

và 14% văn hoá cấp 3 Do trình độ văn hoá thấp nên dễ bị cuốn hút bởi những thông tin học nghề ngắn hạn 3 -6 tháng vì vậy tay nghề rất yếu Tại Công ty may Thăng Long là một Công ty lớn trên địa bàn vậy mà trình độ tay nghề công nhân chưa cao, bậc công nhân không cao trung bình là 3,1/7 trong khi yêu cầu việc là 3,5/7

Cao đẳng

Trang 35

học nghề 3 - 6 tháng nên chỉ biết may một số mẫu mã đơn giản khi thử tay nghề đều không đạt yêu cầu"

Với các trưởng chuyền trình độ chuyên môn được cấp bằng trung bình chiếm 10,5%, cao đẳng là 8,2%, đại học là 6,5% và có đến 74,8% số lao động công tác chuyên môn không có bằng cấp chính quy Số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ cao đẳng trở lên chiếm 3,4% tổng số

Đối với vấn đề thiếu hụt lao động thì theo đánh giá của các chuyên gia trong ngành tỷ lệ thiếu hút lao động ở các doanh nghiệp may hiện nay đến 25% - 30% nhưng vấn đề tuyển thêm số lượng lao động bù vào số lượng thiếu hụt quả là không dễ Theo ông Lê Việt Toà - phó tổng giám đốc Công ty may Việt Tiến cho biết:"Do nhu cầu mở rộng năng lực sản xuất chúng tôi đã đầu tư thêm 2 nhà máy mới thế nhưng cho đến nay Công ty vẫn chưa đi vào hoạt động vì thiếu công nhân" Cũng do trình độ văn hoá thấp nên những hiểu biết về mặt pháp luật cũng như các chính sách lao động, nội quy kỷ luật và khả năng tiếp thu vận dụng những kỹ thuật tiên tiến của người lao động chưa cao Về lao động quản lý theo đánh giá sơ bộ của Hiệp hội Dệt May Việt Nam hầu hết những người này đều trưởng thành trong quá trình làm việc nhưng là các lao động chuyên ngành như kỹ thuật viên, nhân viên kiểm phẩm, trưởng chuyền và quản đốc quá trình đào tạo chủ yếu là tại chỗ Do đó trình độ quản

lý yếu và hậu quả là các Công ty nay có lực lượng rất lớn song hiệu quả rất thấp Theo bà Nguyễn Thị Nga - trưởng phòng tổ chức hành chính Công ty may Chiến Thắng: "với trình độ tay nghề yếu các lao

Ngày đăng: 19/04/2016, 15:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w