Lời mở đầu1/Tính tất yếu của đề tài Trước xu thế quốc tế hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự vận động và những yêu cầu cấp bách về hợp táccủa các nước trong khu vực, th
Trang 1Lời mở đầu
1/Tính tất yếu của đề tài
Trước xu thế quốc tế hóa và khu vực hóa đang diễn ra mạnh
mẽ cùng với sự vận động và những yêu cầu cấp bách về hợp táccủa các nước trong khu vực, theo sang kiến của Ôxtrâylia, Nhậtbản và một số nước khác, tháng 11-1989, Diễn đàn hợp tác kinh tếchâu Á-Thái Bình Dương(gọi tắt là APEC) đã được thành lậpnhằm hợp tác và hỗ trợ nhau trong xây dựng và phát triển kinh tế,cũng như trên các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế,xã hội Trongquá trình thúc đẩy sự phát triển thương mại, đầu tư và hợp tác kinh
tế, khoa học-công nghệ ở khu vực này, sự ra đời và phát triển củadiễn đàn này đã và đang có một vai trò quan trọng
Là một nước đang phát triển nằm trong khu vực kinh tế hếtsức năng động này, Việt Nam đứng trước những cơ hội và tháchthức rất lớn.Chính sách đối ngoại của Việt Nam là chủ động vàtích cực hội nhập khu vực, hội nhập thế giới Vì vậy việc nghiêncứu mối quan hệ hợp tác về thương mại giữa Việt Nam và APEC
là một việc làm có ý nghĩa thực tiễn quan trọng và hết sức cầnthiết.Do đó, đề tài ‘‘Quan hệ thương mại Việt Nam-APEC: thựctrạng và giải pháp’’
được lựa chọn và nghiên cứu
Trang 22/Mục đích nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu quan hệ thương mại giữa Việt Nam vàAPEC cụ thể là tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá từ Việt Namsang thị trường này trong thời gian qua nhằm rút ra những kinhnghiệm cho Việt Nam trong thời gian tới qua đó nâng cao kimnghạch xuất nhập khẩu đồng thời tạo điều kiện phát triển mạnh mẽnền kinh tế, tăng khả cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thịtrường quốc tế nói chung và thị trường APEC nói riêng
3/Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu xoay quanh hoạt động thương mạigiữa Việt Nam-APEC thể hiện qua việc xuất khẩu những mặt hàng
có thế mạnh, có khả năng cạnh tranh và nhập khẩu những hàng hoáthiếu hụt cũng như chưa có điều kiện sản xuất trong nước của ViệtNam
4/Những đóng góp của đề tài.
Đề tài này mong muốn góp một phần nhỏ giúp cho ngườiđọc có thể hiểu được phần nào về quan hệ thương mại giữa ViệtNam và APEC,từ những thực trạng còn tồn tại đưa ra những đánhgiá cũng như những giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ kinh
Trang 3tế,thương mại,hợp tác phát triển giữa Viêt Nam và APEC nói riêngcũng như giữa Việt Nam và phần còn lại của thế giới nói chung.
5/Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo của đề tài là phương phápduy vật biện chứng và duy vật lịch sử của CN Mác-Lênin,ngoài ra
đề tài còn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, thu thập cáctài liệu sách báo liên quan đến mối quan hệ thương mại Việt Nam–APEC để từ đó đưa ra những nhận định đánh giá và những giảipháp nhằm tạo đà cho nền kinh tế của Việt Nam ngày càng pháttriển
Trang 46/Kết cấu đề tài
Chương I: Tổng quan chung về APEC
1.1.Sự ra đời, mục tiêu và quá trình phát triển của APEC
1.1.1.Sự ra đời của APEC 1.1.2.Mục tiêu của APEC 1.1.3.Quá trình phát triển của APEC 1.2.Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của APEC
1.2.1.Cơ cấu tổ chức của APEC 1.2.2.Nguyên tắc hoạt động của APEC
1.3.Kinh nghiệm phát triển quan hệ thương mại của một sốnước với APEC
Chương II : Thực trạng quan hệ thương mại
Trang 52.2.Tình hình nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ thị trường một số
nước APEC
2.2.1.Tình hình nhập khẩu của Việt Nam từ ASEAN
2.2.2 Tình hình nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản
2.2.3 Tình hình nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ
2.3 Đánh giá tổng quan trong thời gian qua
2.3.1.Ưu điểm 2.3.2.Nhược điểm
2.3.3.Nguyên nhân tồn tại
Chương III: Định hướng và giải pháp phát triển
Trang 6Chương 1:
Tổng quan chung về APEC
1.1.Sự ra đời, mục tiêu và quá trình phát triển của APEC
1.1.1Sự ra đời của APEC
1.1.1.1.Sáng kiến của Ôxtrâylia về việc thành lập APEC
Ngay từ những năm 1960, ý tưởng về liên kết kinh tế khuvực đã được một số học giả Nhật Bản đề xuất Năm 1965 hai họcgiả Nhật Bản Kojima và Kurimoto đã đề nghị thành lập Khu mậudịch tự do Thái Bình Dương mà thành viên gồm năm nước côngnghiệp phát triển và mở cửa cho các thành viên liên kết và cácnước đang phát triển ở khu vực lòng chảo Thái Bình Dương thamgia Sau này, một số học giả khác như tiến sĩ Saburo Okita (cựu bộtrưởng ngoại giao Nhật Bản )và tíên sĩ John Crawford (Đại họctổng hợp quốc gia Ôxtraylia) đã sớm nhận thức được sự cần thiếtphải xây dựng sự hợp tác có hiệu quả về kinh tế ở khu vực này Tưtưởng đó đã thúc đẩy những nỗ lực hình thành Hội đồng hợp tácKinh tế Châu Á Thái Bình Dương (PECC).Chính PECC sau này đãcùng với ASEAN đóng vai trò trong việc hình thành chế độ tư vấnkinh tế rộng rãi giữa các nền kinh tế trong khu vực cũng như thúcđẩy ý tưởng thành lập APEC
Vào cuối những năm 1980, một số quan chức chính phủNhật Bản, đặc biệt Bộ trưởng Thương mại và công nghiệp (MITI)
Trang 7lúc đó là Hajime Tamura đã gợi ý thành lập một diễn đàn hợp tác
có tính chất kĩ thuật về các vấn đề kinh tế khu vực Trong khi Mỹlúc đầu tỏ ra ít quan tâm đến gợi ý này vì đang tập trung thúc đẩytiến trình vòng đàm phán Uruguay của tổ chức Hịêp định chung vềthuế quan và thương mại (GATT) và hình thành khu vực tự do Bắc
Mỹ (NAFTA), chính phủ công đảng của thủ tướng Bob Hawke ởÔxtraylia lúc đó đã nhận thức được tầm quan trọng thiết yếu củamối quan hệ kinh tế, thương mại với Châu Á đối với Ôxtraylia nên
đã kịp thời nắm bắt và thúc đẩy ý tưởng về một diễn đàn hợp táckinh tế ở khu vực
Tháng 1/1989, tại Xơun (Hàn Quốc ) thủ tướng BobHawke đã nêu ý tưởng về việc thành lập một diễn đàn tư vấn kinh
tế cấp Bộ trưởng ở Châu Á-Thái Bình Dương với mục đích phốihợp hoạt động của các chính phủ nhằm đẩy mạnh phát triển đaphương Nhật Bản, Malayxia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philipin,Xingapo, Bruney, Indonexia, Niujilân, Canada và Mỹ đã ủng hộsang kiến này Tháng 11-1989, các Bộ trưởng kinh tế và Bộ trưởng
Bộ ngoại giao của 12 nước nói trên đã họp tại Cabera(Ôxtraylia)quyết định chính thức thành lập diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương ( gọi tắt là APEC)
Năm 1991, APEC kết nạp thêm Trung Quốc, Hồng Kông
và Đài Loan, Mêhicô, Papua Niu Ghinê gia nhập APEC năm 1993
và Chilê tham gia năm 1994
Trang 8Đến nay, qua gần chục năm tồn tại và phát triển, APEC đã
có 18 nền kinh tế thành viên chiếm gần 40% dân số, 56% GNP và46% thương mại thế giới (xem Bảng 1).APEC bao gồm cả hai khuvực kinh tế mạnh và năng động nhất thế giới: khu vực Đông Á(gồm Nhật Bản,các nền kinh tế công nghiệp hoá mới (NICs),Trung Quốc và ÁEAN) và khu vực Bắc Mỹ (gồm Mỹ, Canađa vàMêhicô) với những nét đặc thù và vô cùng đa dạng về chính trị, xãhội, kinh tế và văn hoá
1.1.1.2.Những nhân tố dẫn đến sự ra đời của APEC
Từ cuối những năm 1970, đặc biệt là trong những năm
1980, sự tăng trưởng kinh tế liên tục và với nhịp độ cao cảu Châu
Á mà nòng cốt là các nền kinh tế Đông Á đã thu hút sự chú ý của
cả thế giới Tiếp theo ‘‘sự thần kỳ’’ của nhật Bản, các NIC,ASEAN và đặc biệt là sự nổi lên của Trung Quốc đã biến Châu Áthành khu vực phát triển kinh tế năng động bậc nhất thế giới
Từ những năm 1980,các nước Châu Á luôn luôn dẫn đầuthế giới về tốc độ phát triển kinh tế (xem bảng 2) trong khi kinh tếthế giới bị suy thoái vào đầu những năm 1990.Xuất khẩu thực sự làđộng lực tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á.trong giai đoạn1980-1992, xuất khẩu của các nước Châu Á tăng nhanh nhất thếgiới, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trên 10% so với4% của các nước Châu Âu và Mỹ Latinh và 6% của các nước côngnghiệp phát triển vốn chiếm 2/3 thương mại thế giới Đầu tư trực
Trang 9tiếp nước ngoài( FDI ) vào các nước Châu Á tăng mạnh, phần lớn
từ Mỹ, Nhật Bản và các nước NIC ( xem bảng 3).Tiềm lực lớn vềxuất khẩu hàng hóa, dịch vụ và vốn đầu tư đòi hỏi phải có thịtrường ổn định, mở rộng và hạn chế đến mức tối đa những hàngrào ngăn trở sự lưu chuyển của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư trong khuvực.Do đó, hợp tác và liên kết kinh tế khu vực trở thành nhu cầucấp thiết để bảo đảm cho sự phát triển kinh tế cao và ổn định
Trong khi đó, xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ thểhiện cho sự phân công lao động quốc tế đan xen nhau dưới tácđộng của những tiến bộ khoa học kỹ thuật đặc biệt là công nghệthông tin.Việc Trung Quốc cải cách và mở cửa càng làm gia tăng
xu thế này ở Châu Á-Thái Bình Dương.Trong nền kinh tế thế giới,các hoạt động sản xuất, thưong mại, tài chính và dịch vụ ngày càngđược quôc tế hóa.Cùng với toàn cầu hóa, xu thế khu vực hóa cũngphát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu.Từ cuối nhữngnăm 1980,liên kết kinh tế khu vực ở Châu Âu và Bắc Mỹ được đẩymạnh thêm một bước.Các nước thuộc Liên hiệp Châu Âu đã thoảthuận lập ra một thị trường chung vào năm 1992 và ráo riết lập kếhoạch cho một liên minh tiền tệ với một đồng tiền chung.Còn ởBăc Mỹ, tháng 1-1989 Mỹ và Canađa chính thức ký hiệp địnhthành lập Khu Vực Mậu Dịch Tự Do Bắc Mỹ.Trong khi đó, ởChâu Á- Bình Dương tuy có ổn định tương đối về chính trị, là mộtkhu vực năng động và có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng
Trang 10chưa có một hình thức liên kết nào có tính chất chính thức, liênchính phủ và toàn khu vực để đảm bảo lợi ích của các nước trongkhu vực trước sự gia tăng ngày càng mạnh của chủ nghĩa bảo hộkhu vực ở Tây Âu và Bắc Mỹ.
Từ những năm 1970-1980, nhất là cuối những năm 1980,trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đã thấy rõ xu thế là cácnền kinh tế ngày càng tùy thuộc lẫn nhau một cách chặt chẽ hơn vềnhiều mặt.Chỉ nói riêng về thương mại, năm 1989, xuất khẩu hànghóa của các nước Châu Á-Thái Bình Dương sang Mỹ chiếm 25,8%tổng giá trị xuât khẩu cúa họ, trong khi đó xuất khẩu của Mỹ sangChâu Á-Thái Bình Dương chiếm 30,5% tổng giá trị xuất khẩu của
Mỹ Xuất khẩu của Nhật Bản sang các nước Châu Á-Thái BìnhDương chiếm 33% tổng kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản và giátrị xuất khẩu của Châu Á-Thái Bình Dương sang Nhật Bản chiếm9,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước này Xuất khẩu củaNhật Bản sang Mỹ chiếm34,2% giá trị xuất khẩu của Nhật Bản vàxuất khẩu của Mỹ sang Nhật Bản chiếm 12,3% tổng giá trị xuấtkhẩu của Mỹ Sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế đãtạo ra một lực gắn kết, một nhu cầu phối hợp giữa các nền kinh tếtrong khu vực với nhau
Hiện nay, APEC có 21 thành viên hội tụ khá đầy đủ, đadạng các nền kinh tế như Ôxtrâylia, Brunây, Canađa, Chi Lê,Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái
Trang 11Lan, Hoa Kỳ, Nga, Việt Nam… Đây là một thị trường khá rộnglớn với diện tích chiếm 34,9% diện tích thế giới, dân số hơn 2,5 tỷngười; Tổng GDP 18.000 tỷ USD, chiếm 62% tổng GDP toàn cầu;Kim ngạch thương mại đạt 5.500 tỷ USD, chiếm 47% thương mạithế giới; Trao đổi thương mại trong khối tăng bình quân 27%/năm, trở thành một nhân tố quan trọng đối với sự ổn định, hợp tácphát triển và thịnh vượng ở khu vực châu á-Thái Bình Dương
Như vậy, chính sự tăng trưởng cao liên tục và phát triểnnhanh của các nền kinh tế ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, xuthế toàn cầu hóa và khu vực hóa cũng như sự tùy thuộc lẫn nhaungày càng tăng giữa các nền kinh tế đã đặt ra yêu cầu khách quan,cấp bách cho việc hình thành một diễn đàn mở rộng trong khu vựcnhằm phối hợp chính sách về các lĩnh vực kinh tế, thúc đẩy tự dohóa và khuyến khích thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, tăngcường hợp tác kinh tế, khoa học công nghệ giữa các nền kinh tế ởChâu Á-Thái Bình Dương, qua đó duy trì tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao và đảm bảo sự phát triển bền vững của khu vực Châu Thái Bình Dương trong thế kỷ mới
1.1.2.Mục tiêu của APEC.
Trong bối cảnh quá trình liên kết và hợp tác kinh tế ở cáckhu vực và trên phạm vi toàn cầu phát triển mạnh, tự do hóa kinh
tế, thương mại và đầu tư trở thành xu hướng bao trùm, APEC rađời như một sự đáp ứng đúng lúc đối với yêu cầu và lợi ích của các
Trang 12nền kinh tế ở Châu Á-Thái Bình Dương vốn đang ngày càng tùythuộc lẫn nhau hơn.Từ chỗ ban đầu hoạt động như là một nhóm đốithoại không chính thức, APEC dần dần trở thành một thực thể khuvực đi đầu trong việc thúc đẩy tự do hóa mậu dịch, đầu tư và hợptác kinh tế.Ngày nay, APEC bao gồm tất cả các nền kinh tế trongkhu vực và các nền kinh tế năng động nhất, tăng trưởng nhanh nhấttrên thế giới.Các nền kinh tế của các thành viên APEC cho thấy sự
đa dạng phong phú của khu vực cũng như các trình độ và phươngthức phát triển khác nhau.Mặc dù giữa các nền kinh tế trong khuvực có nhiều điểm khác biệt nhưng việc họ hợp tác được với nhautrong một diễn đàn đã phản ánh mục đích và quyết tâm chính trịchung của họ là thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế bềnvững trong khu vực và trên thế giới.Mục đích chung của APEC đãđược xác định ngay từ Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ nhất ởCanbera (Ôxtrâylia) năm1989.Mục tiêu tăng trưỏng và phát triểnkinh tế của khu vực đòi hỏi phải thúc đẩy hệ thống thưong mại đaphương mở, tập trung giải quyết những vấn đề kinh tế nhằm tăngcường lợi ích chung thông qua việc khuyến khích các luồng hànghóa, dịch vụ, vôn đầu tư và chuyển giao công nghệ giữa các thànhviên
Những yêu cầu cơ bản trên được đúc kết thành các mụctiêu cơ bản của APEC tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ ba tại Xơun(Hàn Quốc) năm1991 Tại hội nghị này các bộ trưởng đã thông qua
Trang 13tuyên bố Xơun, đặt nền móng cho sự phát triển của APEC như mộtkhuôn khổ hợp tác khu vực với 4 mục tiêu là:
- Duy trì sự tăng trưởng và phát triển của khu vực vìlợi ích chung của các dân tộc trong khu vực, và bằng các đó đónggóp vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thế giới
- Phát huy các kết quả tích cực đối với khu vực và nềnkinh tế thế giới do sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tếtạo ra, khuyến khích các luồng hàng hóa, dịch vụ,vốn và côngnghệ
- Phát triển và tăng cường hệ thống thương mại đaphương mở vì lợi ích của các nền kinh tế Châu Á-Thái BìnhDương và các nền kinh tế khác
- Cắt giảm những hàng rào cản trở việc trao đổi hànghóa, dịch vụ và đầu tư giữa các thành viên phù hợp với các nguyêntắc của GATT/WTO, ở những lĩnh vực thích hợp và không làm tổnhại đến các nền kinh tế khác
Tuy nhiên, không giống như các tổ chức khu vực khác(đặcbiệt là EU), ngay từ đầu APEC đã không nhấn mạnh đến mục tiêutạo lập một hệ thống ưu đãi thuế quan, lien minh thuế quan hay thịtrường chung mà nhấn mạnh tới việc tăng cường hệ thống thươngmại đa phương mở Điều này có thể lý giải bởi hai lý do Một là,APEC là tập hợp của các nền kinh tế rất đa dạng vệ trình độ pháttriển, chế độ chính trị -xã hội cũng như điều kiện lịch sử-văn
Trang 14hóa.Vì thế các nền kinh tế đang phát triển như ASEAN, NICskhông muốn thành lập một khu vực tự do hóa và bị lệ thuộc mộtcách bất bình đẳng vào các nền kinh tế lớn hơn, có trình độ pháttriển cao hơn như Mỹ, Nhật Bản, Ôxtrâylia và Canađa Hai là, cácthành viên APEC đặc biệt là các nền kinh tế Đông Á, phụ thuộc rấtlớn vào nền kinh tế thế giới Sự tăng trưởng của các nền kinh tếNhật Bản,NICs và ASEAN trong những năm1970 và 1980 chủ yếunhờ vào sự thành công của chiến lược hướng vào xuất khẩu, dovậy họ rất muốn duy trì một hệ thống thương mại toàn cầu mở và
ổn định Việc thế giới bị chia cắt thành các khu vực sẽ là điều bấtlợi trươc hết đối với những thành viên APEC có nền kinh tế,thương mại phát triển cao
Ngay từ đầu, APEC đã tích cực theo đuổi mục tiêu tăngcường hệ thống thương mại đa phương mở Trong tất cả các hộinghị bộ trưởng hàng năm của APEC đều thảo luận những tiến triểntrong vòng đàm phán đa phương Uruguay của GATT và ra nhữngtuyên bố chung nhằm phối hợp hành động của các thành viênAPEC trong quá trình đàm phán, kêu gọi các nước tăng cường nỗlực để Vòng đàm phán Uruguay đạt kết quả Mỹ và một số thànhviên APEC coi diễn đàn này là chỗ dựa để xúc tiến tự do hóathương mại trong trường hợp vòng đàm phán Uruguay thất bại.Trên thực tế, APEC đã đóng một vai tró quan trọng trong việc thúcđẩy sự thành công của vòng đàm phán Uruguay Tuyên bố chung
Trang 15cúa Hội nghị câp cao lần thứ nhất năm 1993 đã nhấn mạnh:’’cơ sởcủa sự tăng trưởng kinh tế của chúng ta là một hệ thống thươngmại đa phương mở Và vì vậy, chúng ta cam kết cố gắng hết sức đểvòng Uruguay kết thúc thành công vào ngày 15-12 Các bộ trưởngAPEC dẫn đầu là Mỹ và Nhật Bản đã đưa ra sự nhượng bộ về tiếpcận thị trường đối với một loạt sản phẩm trị giá 250 tỷ đôla trongvòng đàm phán cuối cùng ở Uruguay, qua đó thúc đẩy các nướckhác, đặc biệt là Cộng đồng Châu Âu, kết thúc cuộc đàm phánđúng kỳ hạn.
Việc kết thúc thành công Vòng đàm phán Uruguay và sự
ra đời của tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã đặt APEC trongmột khung cảnh mới.Hội nghị bộ trưởng thương mại APEC tạiGiacacta tháng 11-1994 nhận định: ‘’Trong bối cảnh sau Vòngđàm phán Uruguay, đang có một cơ hội mở để APEC bắt đầu tiếntới sự tự do hóa rộng lớn hơn phù hợp với các nguyên tắc cơ bảncủa GATT/WTO, có tính tới sự đa dạng về trình độ phát triển kinh
tế khác nhau của các thành viên APEC’’
Trên thực tế, mục tiêu về một khu vực thương mại mở ởChâu Á-Thái Bình Dương đã được đề cập ngay từ hội nghị bộtrưởng lần thứ hai năm 1990 Tại hội nghị này, các bộ trưởng đãđồng ý rằng:’’ chủ đề trung tâm kế tiếp của APEC sau sự kết thúcVòng đàm phán Uruguay là xúc tiến một hệ thống thương mại cởi
mở hơn’’ Mục tiêu này được thúc đẩy tại hội nghị cấp cao lần thứ
Trang 16nhất tại Seattle (Mỹ) tháng 11-1993 khi các nhà lãnh đạo cấp caocủa APEC thừa nhận sự tùy thuộc lẫn nhau về kinh tế và sự đadạng của các nền kinh tế ở khu vực, đồng thời bắt đầu nhìn nhận
về một cộng đồng Châu Á-Thái Bình Dương
Một năm sau tại hội nghị cấp cao ở Bogor (Inđônêxia), cácnhà lãnh đạo APEC đã tiến một bước lớn hướng tới mục tiêu dàihạn về thương mại và đầu tư tự do và mở cửa trong khu vực ChâuÁ-Thái Bình Dương Tuyên bố về quyết tâm chung của hội nghịnhấn mạnh: ‘’Chúng ta nhất trí tuyên bố cam kết hoàn thành việcđạt được mục tiêu về thương mại, đầu tư tự do và mở trong khuvực Châu Á-Thái Bình Dương không chậm hơn năm 2020
Mặc dù còn có những khác biệt giữa các thành viên APEC
về nhận thức đối với cam kết của các nhà lãnh đạo cấp cao haynhững bảo lưu của một vài thành viên về mục tiêu tự do hóathương mại, cam kết của các nhà lãnh đạo đã đặt nền tảng đầu tiêncho việc hình thành một khu vực tự do hóa thương mại và đầu tưcủa một khu vực rộnh lớn nhất thế giới và có tốc độ tăng trưởngkinh tế nhanh nhất thế giới
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc hợp tác chạet chẽnhằm huy động có hiệu quả các nguồn lực trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, duy trì tốc độ tăng trưởng bền vững của các nềnkinh tế, đồng thời giảm bớt sự chênh lệch về trình độ phát triểngiữa các thành viên, APEC cũng rất coi trọng đẩy mạnh hợp tác
Trang 17kinh tế và kỹ thuật Ngay từ hội nghị bộ trưởng lần thứ nhất năm
1989, các bộ trưởng đã nhất trí rằng để APEC đem lại những lợiích thực sự, các thành viên phải tiến xa hơn, không chỉ đồng ý vềcác nguyên tắc cơ bản mà phải đi vào những vấn đề hợp tác cụ thể.Tại hội nghị bộ trưởng lần thứ hai (năm 1990), đã lập ra 7 nhómcông tác nhằm phối hợp các hoạt động hợp tác trong các lĩnh vực
cụ thể Hội nghị bộ trưởng lần thứ tư (năm1992), đã thông qua mộtkhuôn khổ chung về thương mại và đầu tư trong khu vực Chínhnhững hoạt động của các nhóm công tác và khuôn khổ chung vềthương mại và đầu tư đã đặt nền tảng cho sự hợp tác về kinh tế và
kỹ thuật của APEC và được ghi nhận như là nội dung thứ hai (để
bổ sung và hỗ trợ cho nội dung thứ nhất là thúc đẩy tự do hóathương mại và đầu tư) trong Chương trình hành động Osaka đượcthông qua tại hội nghị cấp cao ở Osaka, Nhật Bản (năm 1995)
1.1.3.Quá trình phát triển của APEC
APEC được hình thành như là một diễn đàn xuyên khuvực Thái Bình Dương trong đó bao gồm ba cơ chế quan hệ thươngmại khu vực và tiểu khu vực :NAFTA, AFTA vàANZERATA(Hiệp định mậu dịch tự do giữa Ôxtralia và Niujilan)với cùng một mục tiêu là tự do hoá buôn bán nhưng với thời hạnthực hiện, các lĩnh vực và nguyên tắc hoạt động Về cơ cấu, APEC
là một thực thể đa dạng gồm các nước công nghiệp phát triển như
Mỹ, Nhật Bản, Canada, Niujilan, Ôxtraylia; các nền kinh tế công
Trang 18nghiệp hoá mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Hôngkông, Xingapo, vàcác nước đang phát triển thuộc ASEAN và Trung Quốc Trình độphát triển kinh tế cũng như tiềm lực và lợi ích của các nền kinh tế
và các nhóm nước trong APEC rất khác nhau, dẫn đến việc APECphải thực hiện mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư theo hai kỳhạn :2010 đối với các nền kinh tế phát triển và 2020 đối với cácnền kinh tế đang phát triển Tuy nhiên, xét về thực lực, APEC làmột tập hợp kinh tế lớn mạnh bậc nhất thế giới gồm hai trung tâmlớn nhất là Mỹ và Nhật Bản, Trung Quốc với nhịp độ tăng trưởngcao liên tục trong nhiều năm và tiềm lực kinh tế rất lớn, và các nềnkinh tế năng động nhất ở Đông Á và Đông Nam Á Trong gần chụcnăm tồn tại, APEC đã có những thay đổi và bước tiến quan trọng
cả về tính chất và nội dung hoạt động cũng như về cơ cấu tổ chức
1.1.3.1.Quá trình phát triển qua các hội nghị
Từ năm 1989 đến năm 1992, đã diễn ra bốn Hội nghị cấp
Bộ trưởng các thành viên APEC Theo quy chế của APEC, thànhviên đăng cai tổ chức hội nghị hàng năm sẽ làm Chủ tịch APEC
Hội nghị bộ trưởng lần thứ nhất họp tháng 11-1989 tạiCanbera, Ôxtrâylia
Hội nghị bộ trưởng lần thứ hai họp tháng 7-1990 tạiXingapo
Hội nghị bộ trưởng lần thư ba họp tháng 11-1991 tại Xơun, HànQuốc
Trang 19Hội nghi bộ trưởng lần thứ tư họp tháng 9-1992 tạiBăngCốc, Thái Lan Tháng 11-1993, Mỹ đảm nhận chức chủ tịchAPEC và tổng thống B.Clinton đã đề nghị triệu tập lần đầu tiên hộinghị không chính thức các nhà lãnh đạo cấp cao các thành viênAPEC vào 20-11-1993 tại Seattle ( Mỹ ), ngay sau khi kết thúc hộinghị bộ trưởng APEC lần thứ năm (từ ngày 17 đến 19-11-1993).Trước tình hình Vòng đàm phán Uruway còn đang gặp rất nhiềukhó khăn bế tắc , nhiều thành viên APEC muốn sử dụng cơ chế tự
do hoá thương mại của APEC và NAFTA để thúc đẩy tiến trìnhđàm phán Uruway của GATT
Hội nghị cấp cao không chính thức lần thứ nhất tổ chức tại
Mỹ đã tạo ra một bước ngoặt trong tầm nhìn và hoạt động củaAPEC Theo thông lệ đó, từ năm 1993 đến nay, hàng năm APECđều tổ chức hội nghị cấp cao không chính thức tiếp ngay sau Hộinghị cấp Bộ trưởng và các quyết định quan trọng cảu APEC từ đóđược thong qua tại Hôij nghị các nhà Lãnh đạo Cấp cao của diễnđàn này
Hội nghị Cấp cao lần thứ hai họp tháng 11-1994 tại Bogor(Inđônêxia), Inđônêxia làm chủ tịch APEC
Hội nghị Cấp cao lần thứ ba họp tháng 11-1995 tại Osaka(Nhật Bản), Nhật Bản làm chủ tịch APEC
Hội nghị Cấp cao lần thứ tư họp tháng 11-1996 tại Subic(Philipin), Philipin làm chủ tịch APEC
Trang 20Hội nghị Cấp cao lần thứ năm họp tháng 11-1997 tạiCanada.Canada làm chủ tịch APEC.Năm1998, Malaysia sẽ đăngcai tổ chức hội nghị cấp cao lần thứ sáu.
1.1.3.2.Quá trình phát triển về nội dung hoạt động
Ngay tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ nhất ởCanbera năm 1989, tư tưởng về ‘‘chủ nghĩa khu vực mở’’ đã đ ượcghi trong tuyên bố chung của Hội nghị.Tại các hội nghị tiếp theo,
‘‘chủ nghĩa khu vực mở’’đã trở thành cơ sở để các thành viênAPEC tiến tới xây dựng trong tương lai một khu vực châu Á TháiBình Dương tự do thương mại và đầu tư, không phân biệt đối xửtrong nội bộ APEC cũng như với các nước hoặc nhóm nước ngoàiAPEC
Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ hai họp tại Xingapo, cácthành viên APEC đã đưa ra 7 lĩnh vực hoạt động: tổng hợp các dữliệu về thương mại và đầu tư, thúc đẩy thương mại, mở rộng đầu tư
và chuỷên giao kĩ thuật ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, pháttriển các nguồn nhân lực đa phương, hợp tác khu vực trong lĩnhvực năng lượng, bảo tồn tài nguyên biển và viễn thông
Hội nghị Bộ trưởng lần thứ ba họp tại Xơun( Hàn Quốc)quyết định tiếp tụcphát triển các lĩnh vực hoạt động của hội nghịtrước và bổ sung 3 lĩnh vực : đánh cá, giao thông và du lịch Các
Bộ trưởng APEC đã ra Tuyên bố Xơun, trong đó xác định nhữngmục tiêu cụ thể, phạm vi và phương thức hoạt động của APEC
Trang 21(xem phần các văn kiện) Nội dung hoạt động của APEC dần dần
đi vào những lĩnh vực và vấn đề cụ thể
Hội nghị Bộ trưởng lần thứ tư, họp tại Băng Cốc (TháiLan) đã xem xét và tiếp tục triển khai 10 lĩnh vực của các hội nghịtrước
Hoạt động của APEC đã tiến đến một bước ngoặt quantrọng khi Hội nghị Cấp cao các thành viên APEC họp lần đầu tiêntại Seattle (Mỹ),tháng 11-1993.Tại Hội nghị này, các thành viênAPEC đã hoạch định một chương trình hợp tác kinh tế sâu rộng vàmột viễn cảnh kinh tế tương lai cho khu vực Châu Á-Thái BìnhDương.Các Bộ trưởng APEC đã thông qua Tuyên bố chung vềkhuôn khổ đầu tư và thương mại nhằm tăng cường các hoạt độngkinh tế và thúc đẩy trao đổi hàng hoá và dịch vụ giãư các nền kinh
tế thành viên.Trong Thông cáo chung của Hội nghị, 14 nguyên thủquốc gia tham dự đã cam kết xây dựng cộng đồng Châu Á-TháiBình Dương thành khu vực tự do mậu dịch và đầu tư, mở rộngmậu dịch với toàn thế giới và cam kết tăng cường quan hệ kinh tếchặt chẽ trong APEC
Nếu như Hội nghị Cấp cao lần thứ nhất tại Seattle chỉ xácđịnh viễn cảnh chung và mục tiêu là tự do hoá thương mại và đầu
tư ở khu vực thì Hội nghị Cấp cao lần thứ hai tại Bogor(Inđônêxia) tháng 11-1994 đã định ra được thời gian cụ thể hoànthành mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư đối với các nước
Trang 22công nghiệp phát triển vào năm 2020.Các thành viên APEC cũng
đạ được thảo thuận tăng cường hợp tác kinh tế trong khu vực nhằmcủng cố hệ thống thương mại đa phương mở, thúc đẩy tự do hoáthương mại và đầu tư ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và đẩymạnh hợp tác phát triển
Hội nghị Cấp cao lần thứ ba họp tháng 11-1995 tạiOsaka( Nhật Bản), đã đánh dấu một bước tiến cụ thể hơn của diễnđàn APEC Chương trình hành động Osaka đã đươc nhất trí thôngqua bao gồm hai nội dung lớn: tự do hóa và các biện pháp thúc đẩythương mại và đầu tư, hợp tác kinh tế và kỹ thuật APEC đã định ra
9 nguyên tắc cơ bản tiến hành tự do hóa thương mại, đầu tư trong
15 lĩnh vực cụ thể Về hợp tác kinh tế và kỹ thuật, APEC cũng đề
ra ba nguyên tắc cơ bản và 13 lĩnh vực hợp tác cụ thể giữa các nềnkinh tế thành viên
Tháng 11-1996, tại Subic (Philippin), hội nghị cấp cao bộtrưởng APEC đã thông qua một bản tuyên bố trong đó đề ra khuônkhổ cho việc củng cố hợp tác kinh tể và phát triển với những mụctiêu, nguyên tắc và các ưu tiên trong hoạt động hợp tác của APEC.Hội nghị cấp cao lần thứ tư tạo Philippin đã ra tuyên bố chung củacác nhà lãnh đạo APEC, nhằm khẳng định lại cam kết duy trì sựphát triển bền vững, công bằng và đề ra kế hoạch Hành độngManila (MAPA) bao gồm những kế hoạch hành động riêng củatừng thành viên và kế hoạch hành động tập thể của cẩ APEC để
Trang 23thực hiện Chương trình hành động Osaka Đây thực sự là bướcđiđầu tiên trong quá trình tự nguyện thực hiện tự do hóa thươngmại và đầu tư của các thành viên APEC trong 15 lĩnh vực cụ thể vàthúc đẩy hợp tác khu vực trong 13 lĩnh vực Khác với các hội nghịtrước, tại Hôị nghị cấp cao ở Philippin, các thành viên APEC đãđưa ra sáu ưu tiên cụ thể trong hoạt động hợp tác của APEC: pháttriển nguồn nhân lực; phát triển một thị trường vốn ổn định và hiệuquả: củng cổ cơ sở hạ tầng kinh tế đặc biệt là viễn thông; giaothông và năng lượng: sử dụng những công nghệ cho tương lai; bảođảm chất lượng cuộc sống thông qua cá chương trình bảo vệ môitrường; phất triển và củng cố các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.3.3.Quá trình phát triển về tổ chức
Đến nay, về cơ bản APEC vẫn đươc coi là một diên đànđối thoại về kinh tế và thương mại, chưa phải là một tổ chức vớinghĩa đầy đủ của khái niệm này APEC chưa có một cơ chế chặtchẽ mang tính ràng buộc cao, chưa có một cơ quan chế tài hoặc cơquan giải quyết tranh chấp để đảm bảo thực thi các chương trìnhhợp tác mà việc thực hiện các cam kết tại APEC là dựa trên cơ sở
tự nguyện của mỗi thành viêun
Từ những ngày đầu mới thành lập, trong APEC luôn diễn
ra cuộc đấu tranh giữa hai xu hướng: xu hướng muốn đẩy nhanhquá trình tự do hóa thương mại, đầu tư, dịch vụ, thể chế hóa APEC
và xu hướng tiến hành tự do hóa thương mại, đầu tư từng bước,
Trang 24duy trì APEC như một diễn đàn tư vấn có các quyết định khôngmang tính bắt buộc Sau gần chục năm tồn tại, APEC đã và đangdần dần được củng cố về mặt tổ chức, từ chỗ là một diễn đàn traođổi ý kiến với cơ chế hoạt động lỏng lẻo ngày càng đi theo hướngthể chế hóa để trở thành một tổ chức liên chính phủ khu vực có ýnghĩa chiến lược đối với tất cả các nền kinh tế thành viên.
Hội nghị bộ trưởng lần thứ tư năm 1992 tại BăngCốc đãquyết định thành lập Ban Thư Ký APEC có trụ sở tại Xingapo, hệthống các ủy ban, các nhóm công tác và các nhóm đặc trách đã đivào triển khai nhiều hoạt động Từ năm 1993, ngoài Hội nghị cấp
bộ trưởng, đã hình thành thêm một cơ chế lãnh đạo mới cao hơn Hội nghị cấp cao không chính thức (AELM) với sự tham gia củacác nguyên thủ quốc gia hoặc những người đứng đầu chính phủcủa các thành viên APEC Tại Hội nghị cấp cao Subic tháng 11-
-1996, các thành viên APEC đã đề ra kế hoạch thực hiện các mụctiêu của APEC Một quy chế về tiêu chuẩn kết nạp thành viên mớiđược thông qua tại Hội nghị cấp cao tháng 11-1997 koet Canađa.Tất cả những bước tiến trên cho thấy cơ chế tổ chức và nội dunghoạt động của APEC ngày càng được hoàn thiện, nâng cao và chặtchẽ hơn theo hướng thể chế hóa như một tổ chức
Nhìn chung so với một số tổ chức khu vực khác, APECcòn khá non trẻ Tuy nhiên APEC đã đi được một chặng đườngquan trọng nhằm mục tiêu đẩy mạnh tự do hóa thương mại, đầu tư
Trang 25và hợp tác kinh tế-kỹ thuật ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.
Do tinh chất đa dạng về mặt chính trị - xã hội của khu vực và trình
độ phát triển kinh tế rất không đồng đều giữa các thành viên,APEC vừa dung hòa những xu hướng khác nhau trong nội bộ đểduy trì sự nhất trí và quyết tâm chung vừa cố gắng đẩy nhanhnhững bước đi cụ thể quan trọng nhằm đạt được mục xây dựngChâu Á-Thái Bình Dương thành khu vực tự do thương mại và đầu
tư chậm nhất vào năm 2020
1.2.Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động
1.2.1.Cơ cấu tổ chức
Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC-AELM (Hội nghịcấp cao APEC không chính thức )H các vấn đề kinh tế Hôi nghịcấp cao APEC lần thứ nhất đã nâng vị thế của APEC lên một tầmcao mới trên trường quốc tế như tuyên bố chung của các nhà lãnhđạo khẳng định : ‘Cuộc họp của chúng ta phản ánh sự nổi lên củamột tiếng nói mới cho khu vực Châu Á-Thái Bình Dương trongcác vấn đề quốc tế”
Để tăng cường hơn nữa cam kết ở cấp Lãnh đạo cao nhấtcủa các thành viên đối với các mục tiêu và tiến trình của APEC,các thành viên APEC đã tiến hành Hội nghị Cấp cao lần thứ hai tạiBogor (Inđônêxia) năm 1994, lần thứ ba tại Osaka (Nhật Bản) năm
1995 và lần thứ tư tại Subic (Philippin) năm 1996 Việc lập ra cơchế Hội nghị Cấp cao hàng năm với tư cách là cơ quan quyết định
Trang 26chính sách cao nhất của APEC đánh dấu một bước tiến quan trọngtrong sự phát triển của APEC.
Giáo sư C.F.Begsten, Chủ tịch “Nhóm Danh nhân” (EPG)thậm chí đã nhận xét : “Các nhà Lãnh đạo tại Seattle đã bắt đầumột quá trình biến APEC từ một cơ chế thuần tuý là tư vấn trởthành một tổ chức quốc tế thực sự” Trong khuôn khổ các Hội nghịCấp cao, tiến trình hợp tác APEC được thúc đẩu mạnh mẽ và đạtnhững kết quả đáng kể.Từ Hội nghị Cấp cao lần thứ nhất đến Hộinghị Cấp cao lần thứ tư đã từng bước hoàn thiện những quan điểmchung của APEC,cụ thể hoá các mục tiêu cũng như thời biểu củaAPEC tiến đến tự do hoá thương mại và đầu tư thành Kế hoạchHành động tập thể và Kế hoạch Hành động riêng của từng bước
Hội nghị bộ trưởng APEC
Hội nghị Bộ trưởng APEC họp lần đầu tiên tại Canbêra(Ôxtrâylia) tháng 11-1989 với sự tham gia của các Bộ trưởngNgoại giao và Bộ trưởng Kinh tế của 12 nền kinh tế thành viên.Hộinghị Bộ trưởng được tổ chức hang năm theo nguyên tắc luân phiêngiữa các thành viên APEC.Thành viên đăng cai tổ chức Hội nghị
Bộ trưởng hàng năm giữ ghế Chủ tịch Hội nghị và Chủ tịch APECtrong nhiệm kì một năm
Hội nghị Bộ trưởng APEC quyết định phương hướng hoạtđộng của APEC và ấn định thời gian thực hiện chương trình hành
Trang 27động cho năm sau.Các quyết định của Hội nghị được thể hiệntrong Thông cáo chung, bao gồm :
- Quyết định về các vấn đề tổ chức : xác định mụctiêu, nguyên tắc hoạt động của APEC; thành lập các uỷ ban, hộiđồng…; thành lập Quỹ APEC và quy định tỷ lệ đóng góp của cácthành viên; kết nạp thành viên mới
- Quyết định nguyên tắc, mục tiêu, nội dung cácchương trình hoạt động và đánh giá tiến trình hợp tác của APECcũng như công tác của 3 Uỷ ban, 10 Nhóm Công tác và 3 NhómĐặc trách (hợp tác về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật nông nghiệp, doanhnghiệp vừa và nhỏ)
- Xem xét và đánh giá việc thực hiện các sang kiếncủa Hội nghị Cấp cao không chính thức
- Thông qua dự thảo chương trình hành động về tự dohoá thương mại và đầu tư, sau đó đệ trình lên Hội nghị Cấp caoxem xét quyết định cuối cùng
Các Hội nghị Bộ trưởng khác có tính chất chuyên ngànhđược triệu tập khi cần thiết để giải quyết các vấn đề cụ thể, liênquan tới lợi ích chung của các thành viên Trong năm 1994 đã có 2Hội nghị Bộ trưởng chuyên ngành được tổ chức Năm 1995 đã tổchức 5 Hội nghị như vậy
Hội nghị Quan chức Cao cấp ( Senior Officals Meeting – SOM)
Trang 28Hội nghị này được tổ chức thường kỳ giữa hai Hội nghị
Bộ trưởng hàng năm nhằm chuẩn bị và đưa ra các khuyến nghịtrình Hội nghị Bộ trưởng về các vấn đề tổ chức, chương trình hoạtđộng của APEC, chương trình hành động tiến tới tự do hóa thươngmại và đầu tư, kế hoạch hành động của các thành viên và cácchương trình hợp tác kinh tế, khoa học – công nghệ của APEC,xem xét và điều phối ngân sách và chương trình công tác của các
Uỷ ban, các Nhóm Công tác và Nhóm Đặc trách
Trước Hội nghị Quan chức Cao cấp sẽ có các cuộc họpcủa các Vụ trưởng (hoặc Phó Vụ trưởng) đại diện cho các thànhviên APEC, do đại diện của thành viên tổ chức Hội nghị Bộ trưởnghàng năm kế tiếp chủ trì, để chuẩn bị những nội dung cần thiết choHội nghị Quan chức Cao cấp
Hội nghị Quan chức Cao cấp có trách nhiệm thúc đẩytiến trình APEC phù hợp với các quyết định của Hội nghị Bộtrưởng và chương trình hành động thông qua tại hội nghị này
Ban thư ký APEC (APEC Secretariat)
Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ tư ở Băng Cốc năm
1992 nhận thấy cần phải có một cơ chế giúp việc hiệu quả để hỗtrợ và phối hợp các hoạt động trong APEC nhằm tăng cường vaitrò và hiệu quả của APEC trong xúc tiến hợp tác kinh tế khu vực,
đã nhất trí thành lập một Ban thư ký APEC, đặt trụ sở tại Síngapo
và lập một quỹ chung của APEC
Trang 29Ban thư ký APEC đứng đầu là một giám đốc điều hành,
do nước giữ ghế Chủ tịch APEC cử với thời hạn một năm.Một phógiám đốc điều hành do nước sẽ giữ Chủ tịch APEC vào năm tiếptheo cử Ngoài ra, Ban thư ký còn có các nhân viên chuyên nghiệp(cũng được biệt phái từ các nền kinh tế thành viên ) và các nhânviên phục vụ
Ban thư ký APEC có chức năng hỗ trợ và phối hợp cáchoạt động của APEC, cung cấp hậu cần, kỹ thuật và điều hành cácvấn đề tài chính Từ năm 1993, do vấn đề tài chính và ngân sáchtrở nên phức tạp, chức năng điều hành tài chính được chuyển giaocho Ủy ban Ngân sách và Quản trị
Ban thư ký làm việc dưới sự chỉ đạo của Hội nghị quanchức cao cấp và có quan hệ thông tin trực tiếp thường xuyên vớicác thành viên, các Ủy ban, các Nhóm công tác và các nhóm đặctrách của APEC
Ủy ban ngân sách và quản trị (The Budget and Adminỉtative Committee – BAC)
Ủy ban ngân sách và quản trị đuợc thành lập năm 1993,
có chức năng tư vấn cho các quan chức cao cấp về những vấn đềngân quỹ, quản lý và điều hành Ủy ban này được trao quyền trongviệc thực hiên những cam kết của Hội nghị cấp cao Bogor
Hội đồng Tư vấn doanh nghiệp (The APEC Business Advisory Council – ABAC)
Trang 30Một trong những mục tiêu chính của APEC là thu hút vàtăng cường sụ tham gia của giới doanh nghiệp trong cá hoạt độngcủa APEC nhằm đảm bảo cho những hoạt động của APEC phùhợp với những vấn đề thực tiễn và đem lại hiệu quả thực sự Hộinghị cấp cao không chính thức đầu tiien đã đồng ý thành lập Diễnđàn khinh doanh Thái Bình Dương (PBF) nhằm xác định các vấn
đề APEC cần tập trung xử lý để tạo điều kiện thuận lợi cho thươngmại và đầu tư
Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ bảy ở Osaka, các Bộtrưởng đã ghi nhận tầm quan trọng của việc đậy mạnh hợp tác và
sự tham gia tích cực của giới doanh nghiệp và tư nhân trong tất cảcác hoạt động của APEC, và đã đồng ý thành lập hội đồng tư vấndoanh nghiệp mà thành viên sẽ do lãnh đạo của từng nền kinh tếthành viên chỉ định Hội đồng tư vấn doanh nghiệp đã hoạt động từsau Hội nghị bộ trưởng ở Osaka năm 1995, thay thế cho Diễn đànkinh doanh Thái Bình Dương (PBF) và tập trung vào các lĩnh vựcnhư: cơ sở hạ tầng., tài chính và đầu tư, các xí nghiệp vừa và nhỏ,phát triển nguồn nhân lực, quan hệ giao dịch qua biên giới
Các Nhóm Công tác và Các Nhóm Đặc trách
Trong APEC đã lập ra 10 Nhóm Công tác phụ trách 10lĩnh vực sau: xúc tiến thương mai, tổng kết dữ liệu thương mại vàđầu tư, khoa học và công nghệ công nghiệp, phát triển nguồn nhânlực, hợp tác về năng lượng trong khu vực, bảo vệ tài nguyên biển,
Trang 31viễn thông, vận tải đánh cá, du lịc Phần lớn hoạt động của cácnhóm là khảo sát tiềm năng phát triển và thúc đẩy sự tăng trưởngtrong các lĩnh vực trong từng Nhóm phụ trách Thông qua các hoạtđộng này, các thành viên APEC xây dựng những mối liên hệ thực
sự giữa các đại diện chính giới, giới doanh nghiệp và học giả.Ngoài ra, trong APEC còn có Nhóm Đặc trách về các vấn đề:chính sách đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, hạ tầng cơ sở và hợptác kỹ thuật nông nghiệp
Hoạt động của 2 Ủy ban chuyên đề, 3 Nhóm Đặc trách và
10 Nhóm Công tác là nền tảng chủ yếu của Diễn đàn APEC Thực
tế, đây là những diễn đàn nhỏ để các thành viên thảo luận, tư vấnchính sách và hợp tác trên những lĩnh vực cụ thể Những nghiêncứu của các ủy ban, các chương trình hợp tác do các nhóm côngtác soạn thảo là cơ sở chủ yếu để Hội nghị Bộ trưởng đưa ra quyếtđịnh liên quan đến phương hướng hoạt động của APEC Đồng thờichúng cũng là những nội dung quan trọng của Chương trình hànhđộng tự do hóa thương mại và đầu tư thông qua Hội nghị Osakanăm 1995 (gọi tắt là Chương trình hành động Osaka) và các biệnpháp, chương trình tự nguyện tự do hóa riêng của từng nước (gọitắt là Kế hoạch hành động riêng) đưa ra tại Hội nghị cấp caoManila năm 1996 Như vậy, thông qua 2 Ủy ban, 3 Nhóm Đăctrách và 10 Nhóm Công tác, các thành viên thực hiện sự hợp táctrong APEC trên các lĩnh vực sau:
Trang 32- Trao đổi thông tin, tư vấn về chính sách và hướng pháttriển phù hợp với các nỗ lực chung của các nền kinh tế APECnhằm duy trì tăng trưởng, thúc đẩy sự điều chỉnh và giảm sự chênhlệch về phát triển kinh tế trong khu vực
- Đề ra các chính sách nhằm giảm bớt các trở ngại đối vớicác luồng hàng hóa, dịch vụ trên toàn thế giới cũng như trong khuvực
- Thúc đẩy thương mại, đầu tư và luồng vốn tư bản, pháttriển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, hợp tác công nghiệp
và phát triển cơ sở hạ tầng trong khu vực
- Hợp tác phát triển trong các lĩnh vực cụ thể: năng lượng,môi trường, nghề nghiệp, du lịch, giao thông và viễn thông
Cơ cấu tổ chức của APEC
1.2.2.Nguyên tắc hoạt động
Nguyên tắc cùng có lợi
Tuyên bố Xơun của Hội nghị bộ trưởng lần thứ ba năm
1991 nêu rõ :Việc hợp tác (trong APEC) dựa trên “Nguyên tắccùng có lợi, có tính đến sự khác biệt trong các giai đoạn phát triểnkinh tế trong các hệ thống chính trị - xã hội, và có tính đầy đủ đếncác nhu cầu của nền kinh tế đang phát triển”
Uỷ ban quản lý và Ngân sách
Uỷ ban kinh tế EC
Hội nghị Bộ trưởng chuyên ngành
Uỷ ban thương mại
và đầu tư ( CTI )
Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao-Thương mại
Ban thư ký APEC
Các nhóm đặc trách của SOM
Hội đồng tư vấn doanh
nghiệp APEC
Hội nghị các nhà lãnh đạo
Các nhóm công tác
WG
Trang 33Việc duy trì nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi đóng vaitrò quyết định đến sự phát triển của APEC vì diễn đàn này là mộttập hợp của các nền kinh tế rất đa dạng về điều kiện địa lý, lịch sử
và văn hoá, về chế độ chính trị - xã hội và đặc biệt có sự chênhlệch rất lớn về trình độ phát triển Trong điều kiện APEC bao gồm
cả những nền kinh tế lớn và phát triển nhất cũng như những nềnkinh tế nhỏ và kém phát triển hơn, APEC đã nhấn mạnh tới cácmối quan tâm chung, lợi ích chung của các thành viên và tập trungvào các vấn đè hợp tác kinh tế và phát triển Nhờ vậy, APEC cósức hấp dẫn lớn đối với các nước trong và ngoài khu vực Chỉ cầnchục năm sau khi thành lập, APEC đã bao gồm 18 thành viên và đã
có khoảng 10 nước và lãnh thổ như Nga, Pêru, Côlômbia, Panama,Pakixtan, Macao, Vieet Nam, Ixraen, Ucraina bày tỏ nguyện vọngxin gia nhập APEC
Trong khi thừa nhận mối quan hệ hợp tác giữa các nướctrong khu vực phải dựa trên cơ sở cùng có lợi, để phù hợp với tính
đa dạng của khu vực, nguyên tắc này cũng nhấn mạnh cần chú ýtới sự khác biệt về trình độ phát triển, chế độ chính trị - xã hội vàyêu cầu của các nền kinh tế đang phát triển Đây là điểm rất quantrọng trong nguyên tắc hoạt động của APEC nhằm giải toả mối longại của một số thành viên là nước đang phát triển trong APECrằng sự khác biệt lớn về trình độ phát triển kinh tế,khoa học vàcông nghệ có thể dẫn tới sự lệ thuộc bất bình đẳng của họ vào các
Trang 34nền kinh tế tiên tiến hơn, làm tăng mâu thuẫn và phân cực Nam ngay trong APEC
Bắc-Các nước ASEAN đã thông qua nguyên tắc nhất tríKuching (1989), trong đó nhấn mạnh: “ Việc tăng cường APECcần phải dựa trên cơ sở công bằng,bình đẳng và cùng có lợi,có chú
ý đầy đủ đến sự khác biệt trong các giai đoạn phát triển kinh tế và
hệ thống chính trị - xã hội của các nước trong khu vực”
Trong các hoạt động của APEC, các thành viên đang pháttriển đã được dành cho những ưu đãi nhất định.Trước hết, việc đạtmục tiêu tư do hoá thương mại và đầu tư được chia làm hai thờibiểu,theo đó các nước phát triển sẽ hoàn thành mục tiêu này vàonăm 2010 và các nền kinh tế đang phát triển sẽ chậm hơn 10năm(2020).Hợp tác trong APEC không chỉ nhấn mạnh tới mục tiêu
tư do hoá thương mại và thương mại mà còn triển khai trên cáclĩnh vực cụ thể nhằm hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển vươnlên rút ngắn khoảng cánh giàu nghèo.Vì thế, tại Hội nghị Bộtrưởng Osaka năm 1995, các thành viên đã thông qua Chương trìnhHành Động Ôsaka, trong đó hợp tác kinh tế và kĩ thuật như là nộidung thứ hai trong hoạt động của APEC, có tác động hỗ trợ để đạttới mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư trong khu vực
Nguyên tắc nhất trí (consensus)
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của hợptác trong APEC, như Tuyên bố Xơun đã nêu rõ, là dựa trên “ cam
Trang 35kết về sự đối thoại cởI mở và xây dựng sự nhất trí,bình đẳng,tôntrọng quan điểm của tất cả các thành viên tham gia”.
Khác với hoạt động của GATT /WTO,trong đó các nướcphảI qua một quá trình thương thuyết, đàm phán lâu dài và thường
là gay gắt để đạt được những thoả thuận và hiệp định có tính pháp
lý quốc tế cao,APEC đi tới các quyết định thông qua quá trình xâydựng sự nhất trí Tất cả các hội nghị, từ hội nghị cấp cao đến hộinghị Cấp Bộ trưởng hay cấp chuyên viên, đều mang tính chất tưvấn, theo nghĩa là các thành viên không tham gia vào những cuộcthương lượng, mặc cả thực sự để đạt tới những quyết định có tínhrang buộc Toàn bộ quyết định của các nhà lãnh đạo Cấp cao, các
Bộ trưởng đều được đưa ra trong Tuyên bố chung phản ánh ý chícủa tất cả các thành viên
Tuyên bố nhất trí thể hiện một mô hình hợp tác tương đốithành công trong khu vực do ASEAN khởI xướng Do tính chất đadạng của các nền kinh tế trong khu vực, nguyên tắc nhất trí tỏ rakhá hiệu quả Thông qua nguyên tắc này, APEC đã xây dựng đượcnền tảng có ý nghĩa quan trọng và thực tế để đẩy mạnh hợp tác,một chương trình làm việc toàn diện và một thoả thuận lịch sử về
tự do hoá thương mại và đầu tư trong khu vực tới năm 2020
Duy trì nguyên tắc nhất trí trong một tập hợp đa dạng nhưAPEC là một điều khó khăn, đặc biệt khi APEC đi vào những vấn
đề hành động cụ thể Tuy nhiên, các thành viên APEC coi đây là
Trang 36một trong những nguyên tắc cơ bản của quá trình hoạt động và raquyết định của APEC, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành viêntrong diễn đàn này.
Nguyên tắc tự nguyện
Xuất phát từ đặc điểm của nền kinh tế thành viên và cácmối quan hệ kinh tế quốc tế trong khu vực Châu Á-Thái BìnhDương, sự hợp tác giữa các thành viên trong APEC mang tính chất
tự nguyện Nguyên tắc bình đẳng thể hiện trên hai điểm:
Trước hết, APEC chỉ là một diễn đàn tư vấn kinh tế, một
cơ chế liên chính phủ nhằm xúc tiến hợp tác, tăng trưởng và pháttriển của khu vực Ngay từ hội nghị đầu tiên, các bộ trưởng APEC
đã nhất trí coi APEC như một diễn đàn tham khảo ý kiến về cácvấn đề kinh tế nhằm tăng cường trao đổi quan điểm giữa các nướcChâu Á- Thái Bình Dương Tính chất tự nguyện trong hoạt độngcủa APEC được thể hiện trong nguyên tắc Kuching do các nướcASEAN đề xướng : “APEC cần cung cấp một diễn đàn tư vấn kinh
tế và không nhất thiết dẫn tới sự thông qua các quyết định có tínhchất bắt buộc bất cứ thành viên nào phảI chấp nhận hay thực hiện”
Cơ chế hoạt động tự nguyện còn được khẳng định lại trong Tuyên
bố Xơun năm 1991 : “APEC sẽ hoạt động thông qua quá trình tưvấn và trao đổi quan điểm giữa các đại diện cao cấp của các nềnkinh tế APEC dựa trên các nghiên cứu, phân tích và các ý tưởng vềchính sách do các nền kinh tế tham gia và các tổ liên quan bao gồm
Trang 37các Ban thư ký của ASEAN và Diễn đàn Nam Thái Bình Dương(SPF), và PECC đóng góp”
Thứ hai, do APEC chỉ là một diễn đàn tư vấn kinh tế nên
nó không đưa ra những chỉ thị, nguyên tắc có tính bắt buộc đối vớicác thành viên Mọi hoạt động hợp tác đều dựa trên cơ sở tựnguyện phù hợp với lợi ích của các bên Điều này phản ánh tínhđặc thù của quá trình hội nhập kinh tế trong khu vực Trong khicác tổ chức hợp tác trong khu vực khác, đặc biệt là liên hiệp Châu
Âu (EU) có cơ cấu tổ chức hết sức chặt chẽ vớI các cơ quan liênchính phủ như Hội đồng Châu Âu, Toà án Châu Âu và Quốc hộiChâu Âu để điều phối sự hợp tác giữa các nước thành viên, APECđến nay về cơ bản vẫn là một cấu trúc tương đốI lỏng lẻo với mộtBan thư ký, Uỷ ban ngân sách và quản trị để điều phối các hoạtđộng trong APEC và của các thành viên.Ngay từ khi, Cộng đồngChâu Âu được thành lập vào những năm 1950, quá trình phát triểncủa nó đã được đặc trưng bởi sự hội nhập thể chế, trong đó nhữngyếu tố chính trị tác động rất quan trọng và đã hình thành một cơcấu liên chinh phủ có khả năng phán quyết trên một số lĩnh vựccủa các thành viên.Trong khi đó, sự hội nhập kinh tế ở khu vựcChâu Á- Thái Bình Dương được dẫn dắt và thúc đẩy chủ yếu bởicác lực lượng thị trường Sự phát triển về cơ cấu tổ chức cho đếnnay mới chỉ mang tính chất hỗ trợ cho quá trình hợp tác trongAPEC chứ không phải là mục tiêu tự thhân nó Con đường phát
Trang 38triển như vậy của APEC phù hợp với đặc điểm đa dạng về chế độchính trị -xã hội của khu vực vì nó cho phép trong khi khai thácđược những lợi ích từ sự hợp tác kinh tế, các thành viên vẫn giữđược chủ quyền kinh tế, bảo đản không có sự can thiệp từ bênngoài vào chế độ chính trị-xã hội của các thành viên
Mặc dù có cơ cấu tổ chức lỏng lẻo, thời gian qua APECvẫn có những bước tiến đáng kể Nếu như EU cần tới 40 năm để cóđược mức độ liên kết kinh tế như ngày nay, GATT/WTO cũng cầntới một thời gian gần 50 năm để đạt đến những mức độ nhất định
về tự do hoá thương mại và đầu tư thì trong vòng gần chục năm,APEC đã đi từ nhận thức chung tớI những hành động cụ thể nhằmđạt mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư TạI hội nghị Bộtrưởng lần thứ năm (Borgo,Indonexia), các Bộ trưởng đã thông qua
10 nguyên tắc đầu tư không ràng buộc nhằm thúc đẩy đầu tư vàluồng tư bản trong khu vực Phù hợp với nguyên tắc tự nguyện,trong tuyên bố chung về Chương trình Hành động Osaka, các Bộtrưởng đã nhấn mạnh cách tiếp cận duy nhất của APEC đối với tự
do hoá và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư là phải kết hợp giữa
ba mặt hành động: Hành động đơn phương có phối hợp, hành đọngtập thể và hành động đa phương Hành động đơm phương có phốihợp là các việc làm có tự nguyện của mỗi thành viên trên lĩnh vựcthuế quan, phi thuế quan, dịch vụ sở hữu trí tuệ…phù hợp vớiphương hướng, mục tiêu và chương trình hành động của APEC
Trang 39Sau hội nghị cấp cao lần thứ ba ở Osaka năm 1995, cácnhà lãnh đạo của các nền kinh tế thành viên đã lần lượt công bốcác cam kết ban đầu nhằm thực hiện chương trình Hành động củaAPEC Trung Quốc đã công bố cam kết lớn nhất, cắt giảm 30%thuế quan cho 2/3 các mặt hàng TạI hội nghị cấp cao lần thứ4(Manila,1996), Philipin tuyên bố tự nguyện giảm hàng rào thuếquan (trừ hàng nông phẩm) xuống mức 5% vào 2004, Thái Lancam kết giảm thuế quan trung bình xuống 17% vào 1997 vàIndonexia hứa sẽ giảm thuế quan xuống còn từ 0-10% vào 2003.Các nhà Lãnh đạo APEC cũng đã thong qua kế hoạch hành độngManila (MAPA) bao gồm các biện pháp hành động cho thời giantrước mắt, trung hạn và dài hạn trong 15 lĩnh vực cụ thể để thựchiện chương trình hành động Osaka (1995)
APEC là diễn đàn mở, hoạt động phù hợp vớI nguyên tắc của GATT/WTO
APEC là diễn đàn “mở” theo nghĩa APEC ủng hộ chế độthương mại đa phương, không tạo ra sự phân biệt đốI xử giữaAPEC với các nước và nhóm nước khác trên thế giới, đồng thờiAPEC mở cửa cho các nền kinh tế không phải là thành viên APECtrong khu vực tham gia
Ủng hộ chế độ thương mạI đa phương mở không chỉ làmột nguyên tắc mà còn là một trong những mục tiêu củaAPEC.Ngay từ giai đoạn đầu của APEC(1989-1993), khi vòng
Trang 40đàm phán Uruguay của GATT bị mất động lực và rơi vào bế tắc,APEC đã đặt việc phấn đấu để kết thúc thành công vòng đàm phánnày thành một trong những mục tiêu chủ yếu của mình Các thànhviên Châu Á của APEC cùng chung mối lo ngại về xu hướng bảo
hộ ở Châu Âu và Bắc Mỹ vì nó có thể sẽ gây tổn hại lớn tới chiếnlược hướng về xuất khẩu của họ, vì thế sự cam kết về một chế độthương mại đa phương mở- thể hiện trong khái niệm “ chủ nghĩakhu vực mở” là một trong những nhân tố quan trọng gắn kết cácthành viên với nhau APEC đã đi đầu trong những nỗ lực nhằmtăng cường hệ thống thương mại đa phương mở Là một khu vựcchiếm tới 46% thương mại hàng hóa toàn cầu có tác động mạnhthúc đẩy châu Âu và các nước khác xúc tiến tự do hóa thương mại
mà không cần tạo ra sự phân biệt đốI xử mới trong hệ thốngthương mạI thế giới
Việc theo đuổI tự do hoá thương mại trong APEC phù hợpvới cơ sở của GATT/WTO và không làm tổn hại đến các nướckhác sẽ tạo ra sự hỗ trợ mạnh mẽ cho hệ thống thương mại toàncầu
Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam –APEC
Việt Nam đã sớm nhận ra APEC có vị trí kinh tế vàchính trị rất quan trọng đối với thế giới và đối với Việt Nam, khi