Để đạt mục tiêu giải đáp những vấn đề trên, tác giả chọn vấn đề “Những xu thế phát triển của Cách mạng khoa học công nghệ mới và thực trạng của hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, khi nhân loại bớc vào Kỷ nguyên của tri thức và côngnghệ, thì vai trò của khoa học và công nghệ trong đời sống kinh tế thếgiới càng đợc phát huy mạnh mẽ Dới tác động không ngừng của yêucầu đổi mới, sự phát triển của công nghệ thực sự lan rộng thành cuộcCách mạng công nghệ mới trên toàn cầu Đặc điểm nổi bật của Cáchmạng công nghệ mới này chính là sự phát triển của công nghệ đangành đan xen và hỗ trợ nhau nh Công nghệ thông tin, Công nghệ sinhhọc, Công nghệ vật liệu mới và Công nghệ Nanô Trớc bối cảnh đó, xuthế phát triển của khoa học và công nghệ mới sẽ phát triển theo chiềuhớng nào, với ngành nghề nào, và có ảnh hởng tiêu cực gì đến đờisống xã hội
Có thể nói, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế,cuộc Cách mạng khoa học công nghệ lần thứ ba này đã tác động khôngnhỏ đến đời sống kinh tế các nớc, nhất là làm cho hoạt động Chuyểngiao công nghệ diễn ra sôi động
Nổi bật nhất vào thập niên cuối của thế kỷ XX, thông qua việctiếp nhận một cách hiệu quả Công nghệ của nớc ngoài, nhiều nớc Châu
á đã đạt những thành công đáng kể trong công cuộc Công nghiệp hoáđất nớc Các nớc đã tạo ra những bớc đi thần kỳ trong phát triển kinh
tế, thu hẹp khoảng cách lạc hậu so với các nớc đi trớc Do đó, đối vớiViệt Nam, chúng ta phải xác định hớng đi phát triển công nghệ gắn vớiđổi mới thì mới tạo ra nền tảng công nghệ vững chắc, công nghệ từ đó
Trang 2động Chuyển giao công nghệ đợc khẳng định là con đờng ngắn nhất đểđổi mới nền công nghệ trong nớc, để Việt Nam vơn lên đuổi kịp vớitrình độ của các nớc trong khu vực và trên thế giới Điều quan trọng là
để thực hiện việc chuyển giao công nghệ có hiệu quả thì Việt Nam cần
có biện pháp gì, có phơng hớng nh thế nào?
Để đạt mục tiêu giải đáp những vấn đề trên, tác giả chọn vấn đề
“Những xu thế phát triển của Cách mạng khoa học công nghệ mới
và thực trạng của hoạt động chuyển giao công nghệ ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho khoá luận của mình.
Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khoá luận tốtnghiệp gồm có 3 chơng:
- Chơng I: Những đặc điểm và xu thế phát triển của Cách mạng khoa học công nghệ mới hiện nay.
- Chơng II: Thực trạng hoạt động chuyển giao công nghệ ước ngoài ở Việt Nam hiện nay.
n Chơng III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam.
Mặc dù đã rất cố gắng nhng do khả năng còn hạn chế, thời gian lại có hạn, nên khoá luận chắc chắn không tránh khỏi có những thiếu sót Vì vậy, ngời viết rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến và sự chỉ bảo của các thầy cô cùng những ngời quan tâm để bài viết này đợc hoàn thiện hơn.
Trang 3Ngay từ thế kỷ XV-XVI, nhân loại đã có nhiều tiến bộ kỹ thuật
về năng lượng và luyện kim Tiếp đó, cùng với giai đoạn hình thành vàphát triển hệ thống công xưởng thay thế công trường thủ công, nhữngsáng tạo mới về kỹ thuật không ngừng xuất hiện Nổi bật lên là quátrình Công nghiệp hoá ở các nước tư bản chủ nghĩa với các cuộc Cáchmạng công nghiệp ở Anh, Pháp, Mỹ
Mở đầu là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất trong lĩnh vực nông nghiệp ( từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX), mà trước
tiên phải kể đến Cách mạng công nghiệp ở Anh diễn ra vào năm 1733
Đó là cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trên thế giới, đã mở ra conđường phát triển của khoa học kỹ thuật Nó bắt đầu từ công nghiệp nhẹrồi đến ngành công nghiệp nặng như luyện kim, cơ khí Từ các máycông cụ đến các máy động lực, đỉnh cao nhất là chế tạo máy hơi nước.Như vậy, kỹ thuật phục vụ sản xuất tuân theo trình tự từ thấp tới cao,
từ thủ công lên nửa cơ khí và cơ khí Giai đoạn này, các phát minh kỹthuật hầu hết tác động đến sự phát triển nông nghiệp của Anh, tiếp đóđến các nước tư bản Pháp, Mỹ Những tiến bộ về kỹ thuật phát triển vàgắn liền với sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa trong các lĩnhvực sản xuất, vận tải và đời sống Trước hết phải kể đến những phát
Trang 4minh về năng lượng Tiếp đó, sự phát minh ra điện và hơi đốt được cácnhà khoa học ứng dụng trong các ngành kinh tế như máy phát điện,máy biến thế, tàu chạy bằng điện, rồi phát minh ra động cơ đốt trongdẫn đến sự ra đời loại phương tiện vận tải mới là ô tô(1883-1885), đầumáy điêden(1891) Trong lĩnh vực hoá học, đã khám phá ra nhữngnguyên tắc phân tích và tổng hợp các chất, là cơ sở tạo ra các loạithuốc nhuộm, thuốc chữa bệnh, nước hoa
Như vậy, với sự phát triển của kỹ thuật mới phục vụ đời sống vàsản xuất, làm xuất hiện nhiều ngành công nghiệp mới như ngành điện,ngành khai thác và chế biến dầu lửa, ngành hoá chất, cơ khí và chế tạo
ô tô, nhất là làm thay đổi cơ cấu sản xuất ở các nước tư bản Từ cáchmạng kỹ thuật trong nông nghiệp dần chuyển sang công nghiệp, rồiđến gắn liền công- nông nghiệp
Đặc biệt, sau chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ hai trong lĩnh vực công nghiệp ( từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX) diễn ra đã tác động mạnh mẽ, trực tiếp tới xu hướng và
tốc độ phát triển của lực lượng sản xuất Mỗi năm trên thế giới cókhoảng 1 triệu phát minh, làm xuất hiện 30 vạn mặt hàng mới Nhờnhững ứng dụng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vào sản xuất,nền kinh tế các nước tư bản thay đổi nhanh chóng diện mạo Côngnghiệp có thể sản xuất ra những sản phẩm thay thế nguyên liệu lấy từnông nghiệp như cao su tổng hợp, sợi tổng hợp Nhiều ngành trướckia thuộc lĩnh vực nông nghiệp nay chuyển sang sản xuất theo phươngpháp công nghiệp như ngành chế biến thức ăn gia súc Tỉ trọng các
Trang 5ngành công nghiệp đã thay đổi so với trước Ngành hoá chất là ngành
có tốc độ phát triển nhanh nhất, ngành cơ khí đứng thứ hai gắn liền vớinhu cầu về hàng tiêu dùng lâu bền tăng lên ( máy giặt, máy hút bụi ),ngành điện phát triển khá nhanh gắn với quá trình Công nghiệp hoá đấtnước Thời kỳ này, các nước tư bản vừa đầu tư cho lĩnh vực khoa học-
kỹ thuật, đẩy mạnh liên kết kinh tế về khoa học- kỹ thuật, đồng thờibắt đầu xuất khẩu kỹ thuật vào các nước đang phát triển
Ngoài ra, chúng ta có thể thấy rõ tác động của khoa học kỹ thuậtmới đối với nước Mỹ Đặc biệt, rất nhiều thành tựu mới nhất của khoahọc kỹ thuật đã được ứng dụng vào các ngành công nghiệp ở Mỹ.Trong đó, Mỹ có những phát minh, sáng chế mới tạo điều kiện cho cácngành công nghiệp mới ra đời như công nghiệp sản xuất ô tô, máy bay,công nghiệp hoá học Đây là bước nhảy vọt trong kỹ thuật sản xuấtcông nghiệp của Mỹ nói riêng và của thế giới nói chung Trong côngnghiệp, nhiều ngành công nghiệp mới xuất hiện như điện tử, vi điện tử,công nghiệp vũ trụ Điều có ý nghĩa quan trọng là Mỹ đã ứng dụngmáy tính điện tử vào công nghiệp cơ khí Nó làm tăng trình độ tự độnghóa trong sản xuất, làm thay đổi quy trình công nghệ, tiến tới xóa bỏnhững ngành công nghiệp truyền thống dễ gây ô nhiễm môi trường vàtiêu tốn nguyên liệu Như vậy, cuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật đãkhởi đầu và không ngừng phát triển trong quá trình Công nghiệp hoá ởcác nước tư bản chủ nghĩa Nhưng không dừng ở đấy, khoa học kỹthuật liên tục được đổi mới Đó chính là sự phát triển của các ngànhcông nghệ mới có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao, vốn đầu tư lớn
Trang 6như công nghệ tin học, công nghệ vũ trụ, công nghệ sinh học, côngnghệ sản xuất vật liệu mới Đây là những ngành hứa hẹn khả năngđem lại hiệu quả kinh tế cao và đang có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển
và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Chúng ta có thể thấy rõ
xu thế phát triển của cách mạng công nghệ mới ở phần sau
1.2 Cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới hiện nay
1.2.1.Đặc điểm, những xu thế phát triển của cuộc cách mạng công nghệ mới
1.2.1.1 Đặc điểm của cuộc Cách mạng khoa học công nghệ mới
Tiếp sau các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp
và công nghiệp đã từng diễn ra trước đây, cuộc cách mạng công nghệlần này nổi lên với phạm vi rộng khắp, mang tính đa ngành, đan xen và
hỗ trợ cho nhau, nhất là nó đang tạo ra những ảnh hưởng sâu sắc đến
sự thay đổi thế giới
Trong ba thế kỷ qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cáchmạng khoa học công nghệ, các chuyển dịch về chất trong phát triểnkhoa học và công nghệ (KH&CN) đã đưa nền văn minh thế giới bướcvào nền kinh tế tri thức Các dịch chuyển này là kết quả của quá trìnhtích luỹ lâu dài các kiến thức khoa học và ứng dụng thành công kỹthuật mới và công nghệ mới trong sản xuất Nói cách khác, đó là kết
quả của chu trình “Khoa học- Công nghệ- Sản xuất- Con Môi trường” Với vai trò dẫn đường trong toàn bộ chu trình, khoa học
người-công nghệ đã làm cho lực lượng sản xuất của xã hội hiện đại biến đổitận gốc và đang dần nổi lên thành một trong những lực lượng sản xuất
Trang 7mạnh mẽ Ngày nay, với những nghiên cứu và tiến bộ không ngừng,khoa học công nghệ đã và đang tiếp tục tạo ra cuộc cách mạngKH&CN hiện đại trong thế kỷ XXI.
Cuộc cách mạng KH&CN hiện đại (hay còn gọi là cách mạng khoahọc và công nghệ mới) này phát triển với một tốc độ ngày càng cao
hơn, với một số đặc điểm lớn:
Một là, sự vượt lên trước của khoa học so với kỹ thuật và công
nghệ trong quá trình diễn ra đồng thời cuộc cách mạng khoa học vàcách mạng công nghệ, đã tạo điều kiện đẩy nhanh tiến bộ công nghệ.Ngược lại, sự tiến bộ đó lại thúc đẩy khoa học phát triển nhanh hơnnữa và đưa khoa học dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Hai là, các yếu tố riêng biệt của quá trình sản xuất được kết hợp
hữu cơ với nhau và kết nối thành một hệ thống liên kết mạng trên quy
mô quốc gia và quốc tế Hệ thống liên kết chặt chẽ này (máy điềukhiển+ máy động lực+ máy công cụ+ máy vận chuyển+ liên kết mạng)tạo điều kiện xuất hiện các hệ thống công nghệ mới về nguyên tắc Đóchính là nền tảng phát triển của cuộc cách mạng công nghệ mới hiệnnay
Ba là, hầu hết các chức năng lao động dần được thay thế từ thấp
lên cao ( từ lao động chân tay sang lao động trí tuệ) trong quá trình sảnxuất dẫn đến sự thay đổi về căn bản vai trò của con người trong sảnxuất Con người từ chỗ bị lệ thuộc, bị trói chặt (quan hệ một chiều)vào quá trình sản xuất tiến đến làm chủ và chi phối lại quá trình sảnxuất ( quan hệ hai chiều)
Trang 8Bốn là, cách mạng KH&CN mới tạo một bước ngoặt trong toàn bộ
hệ thống lực lượng sản xuất, góp phần nâng cao đáng kể năng suất vàhiệu quả của nền sản xuất xã hội Qua đó, nó cũng tác động một cáchsâu sắc và toàn diện tới các quan hệ kinh tế đối ngoại trên mọi lĩnh vựcđời sống xã hội, đồng thời khiến cho phân công lao động xã hội trongphạm vi quốc gia và quốc tế ngày càng mở rộng, quan hệ sản xuấtngày càng tiến bộ
Như vậy, trong thiên niên kỷ thứ ba, từ vị trí đi sau kinh nghiệm ởhai thiên niên kỷ đầu, khoa học và công nghệ đã trở thành động lựcphát triển hàng đầu ở nhiều quốc gia trên thế giới Nền khoa học lớnnày phát triển cực kỳ mạnh mẽ và trên quy mô toàn cầu, với sự thamgia hợp tác của đội ngũ cán bộ khoa học đông đảo và hùng hậu làmcông tác nghiên cứu và phát triển, đi đôi với sự ra đời của nhiều trungtâm nghiên cứu lớn, các phòng thí nghiệm lớn Quan trọng nhất là sựgóp sức của các nhà khoa học đầy uy tín ở nhiều quốc gia
1.2.1.2 Xu thế phát triển của KH&CN mới đầu thế kỷ XXI
Trong thế kỷ XXI, theo đà phát triển như vũ bão của cuộc cáchmạng KH&CN hiện đại, khoa học và công nghệ đang mở đường chonhân loại bước vào nền kinh tế tri thức hay còn gọi là Kỷ nguyên trítuệ Hội đồng tình báo Quốc gia Mỹ cho rằng trong xu thế toàn cầucông nghệ sẽ phát triển theo hướng: Gia tăng tính đa ngành, thay đổinhanh tốc độ phát triển, toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế ngày càng
gay gắt Ngày nay, khoa học và công nghệ phát triển ở các nhóm
công nghệ đa ngành và ngày càng mở rộng và đan xen lẫn nhau.
Trang 9Trong đó, công nghệ thông tin, công nghệ nanô, công nghệ vật liệu mới và công nghệ sinh học kết hợp với nhau tạo ra nhiều khái niệm
và hệ thống mới, làm phong phú thêm công cụ nghiên cứu Các nhànghiên cứu vật liệu đang cộng tác chặt chẽ với các nhà khoa học sinhhọc, máy tính và các kỹ sư ứng dụng để phát triển vật liệu vi sinh, đápứng nhu cầu vật liệu tạo ra các bộ cảm biến và dẫn động trong các cấutrúc thông minh Chính tính đa ngành của công nghệ mới làm tăng sứcmạnh của công nghệ cũng như tăng khả năng ứng dụng trong nhiềulĩnh vực mới
Với sự ra đời của vật liệu thông minh, nó không những đã thựchiện được cả vai trò chức năng, mà còn xử lý khi kết hợp được nhữngtiến bộ về vật liệu với năng lực công nghệ thông tin và các vi hệ thống.Đến lượt mình, hệ thống thông minh lại được dùng để tạo ra năng lựcphỏng sinh cũng như chế tạo ra bản thân các cấu trúc phân tử vật liệumới
Biểu hiện rõ rệt là sản phẩm của công nghệ thông tin, cụ thể làcông nghệ máy tính đã thay đổi nhanh đến mức mà cứ sau 2-3 năm sảnphẩm tạo ra đã lỗi thời Tốc độ thay đổi này còn mạnh hơn ở lĩnh vựccông nghệ y sinh, thậm chí, một số thiết bị đã bị lạc hậu ngay khinguyên mẫu mới được phát triển Từ sự thay đổi nhanh chóng củacông nghệ, các lĩnh vực pháp lý và đạo đức khó theo kịp để xử lýnhững vấn đề nảy sinh về sở hữu trí tuệ, bí mật riêng tư hay môitrường bền vững Chúng ta có thể thấy rõ sự phát triển nhanh chóngcủa các ngành công nghệ mới trên thế giới hiện nay
Trang 10- Trong lĩnh vực Công nghệ thông tin và viễn thông
Có thể nói, công nghệ thông tin- viễn thông đã đi đầu trong lànsóng công nghệ mới hiện nay Với những thành tựu đáng kể như pháttriển công nghệ phần mềm, hệ thống truyền tin nhanh với băng tầnrộng và cáp sợi quang, hệ thống Internet tốc độ cao, công nghệ thôngtin đã làm thay đổi hoạt động của đời sống kinh tế- xã hội Bên cạnh
đó, xu thế phát triển mới của Công nghệ thông tin trong thời gian tớichắc chắn sẽ còn làm thay đổi thế giới nhiều hơn
Thời gian tới, các máy tính bảng sẽ rẻ và dễ sử dụng hơn, đồngthời công nghệ lưu trữ quang dùng tia laser xanh dương để ghi dữ liệuvới dung lượng lớn hơn và độ phân giải cao ra đời sẽ có tác dụng lớntrong lưu trữ và kiểm tra thông tin khi cần Một xu thế nữa là máy tính(PC) không còn cổng và ổ đĩa: những ổ đĩa mềm được thay bởi những
ổ đĩa CD-RW với giá cả rẻ hơn, loại bỏ chiếc cổng song song lẫn cổngnối tiếp trong các thế hệ AT76 và IT7, thay bởi Firewire, USB 2.0 vàcổng nối cho âm thanh số Tiếp đó, Hệ điều hành Linux tiếp tục cấtcánh với các phiên bản mới đa dạng, giá cả rẻ hơn và được sử dụngngày càng phổ biến Nhất là không thể không nhắc đến công nghệkhông dây, vừa nhanh và an toàn và thuận tiện cho truyền thông đườngdài ( giải pháp WIFI đường dài)…
Vì vậy, loài người sẽ được sử dụng những tiện ích mới mà họchưa từng nghĩ tới như: các trung tâm giải trí sử dụng tại nhà có kếthợp truyền hình tương tác, điện thoại và máy tính được thương mạihoá rộng rãi, sử dụng các máy liên lạc bằng hình ảnh, nhận giọng nói,
Trang 11điều khiển người máy với trí tuệ nhân tạo ; con người cũng có thể họctập từ xa, sử dụng máy tính dịch tự động, sách được xuất bản trựctuyến trên mạng… chủ yếu con người sẽ giao dịch làm việc nhờ liênlạc viễn thông từ xa.
Ngoài ra, sự phát triển của ngành gen học cũng đã và đang khôngngừng đưa ra những khám phá mới có ý nghĩa lớn Nhờ có các thiết bịADN và phương pháp nhận dạng ADN sẽ bổ sung cho công nghệ sinhhọc nhận dạng tội phạm, phát hiện và kiểm tra các tác phẩm nghệthuật Việc sản xuất sinh vật thông qua nhân bản vô tính giữ vai tròquan trọng trong cây trồng, gia súc và động vật phục vụ nghiên cứu.Thông qua công nghệ biến đổi gen, người ta có thể tạo ra những tínhchất mong muốn, những đặc tính ưu việt cho sản phẩm của mình, từ
đó con người được sử dụng những sản phẩm tốt nhất, ưu việt nhất…
Ngoài công nghệ gen, trong liệu pháp chữa bệnh và dược phẩm,CNSH có thể giúp hoàn thiện các biện pháp phòng ngừa, điều trị các
Trang 12căn bệnh và sự nhiễm trùng Nổi bật nhất trong công nghệ sinh học là
sự phát triển của kỹ thuật y sinh học, đặc biệt trong nghiên cứu chế tạo
mô và bộ phận nhân tạo của cơ thể người
Tiếp sau đó, nổi lên công nghệ sinh học công nghiệp Công nghệmới này hàm chứa sức mạnh to lớn ẩn chứa trong một số sinh vật bậcthấp nhất và cũng là loài phong phú nhất, nhất là vi khuẩn và nấm Các
vi khuẩn phổ biến trong công nghệ sinh học công nghiệp được nghiêncứu và chế tạo ra các sản phẩm hết sức có ích cho người tiêu dùng.Chắc chắn rằng tương lai của công nghệ sinh học công nghiệp sẽ manglại lợi ích tiềm năng lớn lao cho xã hội
- Công nghệ nanô (CNNN) gắn với tạo ra vật liệu mới
Công nghệ Nanô hiện còn đang trong độ trưởng thành như mộtngành khoa học, còn là lĩnh vực công nghệ rất mới Nhưng chínhCNNN đang được khẳng định là công nghệ có tiềm năng đột phá tạobước ngoặt, có thể giải quyết các vấn đề trong các ngành công nghiệpchuyên biệt như viễn thông, công nghệ sinh học, vi điện tử và nănglượng Hiện nay, có hơn 100 hãng mới khởi sự đang phát triển sảnphẩm trên cơ sở công nghệ nanô, có thể sẽ đưa ra thị trường trongvòng 3 năm tới Trong đó, các hãng nghiên cứu về vật liệu nanôthường thuộc 6 lĩnh vực: vật liệu nanô và xử lý vật liệu nanô, côngnghệ sinh học nanô, phầm mềm, quang tử nanô, điện tử nanô va dụng
cụ nanô
Thứ nhất, trong thiết kế vật liệu, người ta mô phỏng, bắt chước
tự nhiên trong nghiên cứu sẽ tạo ra được những hệ thống và vật liệu
Trang 13đạt độ cứng như vỏ bào ngư hay dai như tơ nhện Bằng sử dụng máytính, có thể chọn lọc nhiều khả năng nhằm tối ưu hoá tính chất trongthiết kế vật liệu, kết hợp nhằm đáp ứng yêu cầu ứng dụng cụ thể vềxúc tác, dược phẩm hay vật liệu quang học.
Tiếp đó, là sự ra đời của một loạt vật liệu nanô với tính chất khácbiệt so với vật liệu thông thường Điểm ưu việt của nó thể hiện quatính chất có thể kiểm soát được ở kích thước nhỏ hơn micro (10-6) hoặcnanô (10-9)
Ngày nay, CNNN phát triển mạnh hơn với sự sáng tạo ra vật liệuthông minh, là vật liệu có khả năng cảm nhận và tự điều chỉnh để thíchứng với điều kiện môi trường Nhóm vật liệu thông minh có tầm quantrọng đáng kể là composit và các vật liệu sắt điện để tăng độ nhạy cảmphản ứng và khả năng thay đổi tần số Ví như polyme thông minh làvật liệu có khả năng biến dạng tuỳ thuộc vào tác dụng của điện trườngdùng để tạo “ cơ bắp nhân tạo”, dùng trong chế tạo robot thám hiểm vũtrụ hoặc làm việc trong môi trường độc hại…
Tính đa ngành của công nghệ cũng làm thay đổi yêu cầu kỹ năngcủa nguồn nhân lực, đòi hỏi lớp cán bộ khoa học phải có hiểu biết rộng
về các ngành có liên quan, phải dành nhiều thời gian cho học hỏi, bổsung kiến thức có bề rộng Vì vậy, công tác giáo dục- đào tạo đa ngànhđang trở thành yêu cầu bức thiết, nhất là đối với những người nghiêncứu hoạch định chiến lược và chính sách Xu thế phát triển mới nàycủa công nghệ, không chỉ các cán bộ khoa học cần tìm hiểu sâu rộng,
Trang 14mà nó buộc mọi thành viên trong xã hội đều phải có nhận thức rõ hơn
về KH&CN để có những lựa chọn đúng đắn và quyết định kịp thời.Tiến bộ không ngừng của công nghệ thông tin- truyền thông,Internet, của vật liệu mới cùng với hiện đại hoá dây chuyền sản xuất,
sẽ đẩy nhanh hơn quá trình toàn cầu hóa Dẫn đến, sự cạnh tranh quốc
tế trong phát triển các công nghệ mũi nhọn trở nên rất cơ động và rộngkhắp không còn ranh giới quốc gia Tuy vậy, hướng đi của từng nước
sẽ tùy thuộc vào những yếu tố chủ quan và khách quan như thoả ướckhu vực, quyền và sự bảo hộ trí tuệ, tổ chức của các công ty đa quốcgia Quan trọng nhất là vai trò hỗ trợ của chính phủ, hay chính là mức
độ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển công nghệ trong khu vực củachính phủ mỗi nước
1.2.2 Những tác động của các ngành công nghệ mới đến sự phát triển kinh tế và xã hội
* Tác động của cách mạng KH&CN tới đời sống xã hội
Kể từ cuối thế kỷ XX, quá trình toàn cầu hoá KH&CN còn kéotheo sự thay đổi căn bản về phương thức tổ chức quản lý trong nhiềulĩnh vực đời sống xã hội Trên thực tế, cơ cấu tổ chức quản lý nền sảnxuất xã hội từ cấu trúc hình tháp đã chuyển sang cấu trúc hình mạng.Điều đó tạo ra tiền đề chuyển giao nhanh chóng các kết quả nghiêncứu cơ bản vào phát triển công nghệ và hình thành nên các Hệ thốngđổi mới công nghệ quốc gia và khu vực
Trang 15Chúng ta có thể thấy rõ sự thay đổi này trong mọi lĩnh vực sản xuất
xã hội Những tiến bộ mới, ứng dụng mới cứ luân phiên thay thế, thậmchí là nhảy vọt trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế
Trong ngành năng lượng, từ sử dụng năng lượng nước, cơ bắp, giósang than, điện, dầu lửa rồi năng lượng nguyên tử và trong thế kỷ XXI
sẽ là năng lượng nhiệt hạch
Trong lĩnh vực sản xuất, từ hợp tác lao động giản đơn qua giai đoạncông trường thủ công, rồi tiến lên phương thức sản xuất đại cơ khí, vớicác quy trình sản xuất và công nghệ được cơ giới hóa, tiếp đó tới cơgiới hoá tổng hợp, làm xuất hiện các hệ thống máy móc Theo đà pháttriển, con người lại tiếp tục tạo ra các máy móc tự động, tự động hoáđồng bộ, hệ thống sản xuất linh hoạt
Trong giao thông vận tải, máy và động cơ hơi nước thay thế bằngđộng cơ đốt trong và động cơ điêden, tuabin và động cơ phản lực, pháttriển cao hơn là tàu con thoi, tàu vũ trụ
Trong sản xuất vật liệu, chuyển đổi từ các nguyên liệu nôngnghiệp, các vật liệu xây dựng truyền thống ( như gỗ, gạch, đá ), sửdụng kim loại đen (như sắt, gang ) là chủ yếu sang sử dụng kim loạimàu, chất dẻo, bêtông, các vật liệu kết cấu mới( composite), vật liệuthông minh, vật liệu siêu dẫn
Trong công nghệ sản xuất- chế tạo, từ sản xuất thủ công tiến lênnửa tự động, rồi bước ngoặt của công nghệ tự động hóa như tự độnghóa thiết kế- chế tạo nhờ trợ giúp của máy tính điện tử CAD/CAM,công nghệ thông tin (như tin học, truyền thông và viễn thông vũ trụ ),
Trang 16tiếp đến là công nghệ nanô, công nghệ hạt nhân, công nghệ khônggian, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ vi điệntử
Như vậy, cuộc cách mạng KH&CN hiện đại đã thâm nhập vào tất
cả mọi lĩnh vực của nền sản xuất xã hội, đồng thời làm cho lực lượng
sản xuất không ngừng phát triển theo hai hướng chủ yếu:
Một là, thay đổi chức năng và vị trí con người trong quy trình sản
xuất trên cơ sở chuyển dịch từ nền tảng điện- cơ khí sang nền tảng điện tử và cơ - vi điện tử
cơ-Hai là, chuyển sang sản xuất trên cơ sở ứng dụng các ngành công
nghệ cao có mối quan hệ “thân thiện” với môi trường
Không những thế, dưới tác động như vũ bão của KH&CN, xã hộiđang thay đổi với tốc độ nhanh chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại
Sự tiến bộ ngoạn mục của KH&CN đang chứng tỏ sức mạnh của nótrong nền kinh tế toàn cầu, đang làm cho lịch sử tăng tốc Điều nàycũng khiến các quốc gia, các tổ chức và các định chế quốc tế lớn khó
có thể quản lý một cách hiệu quả
Tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2000 đã vượt quá mức tăngtrưởng kinh tế của cả thế kỷ XIX Sản lượng hàng hoá, dịch vụ trêntoàn cầu tăng 7 lần kể từ năm 1950, là con số kỷ lục so với bất kỳ thời
kỳ nào trước đây Vào giai đoạn đầu của cuộc Cách mạng Côngnghiệp, mức tăng trưởng kinh tế hiếm khi vượt quá 1-2%/năm Đặcbiệt, hiện nay các nước đang phát triển đang tiến hành công nghiệp hoácòn đạt mức tăng trưởng kỷ lục hơn rất nhiều so với các nước đi trước
Trang 17Đơn giản là vì họ không cần phải đầu tư vào nghiên cứu công nghệ,
mà có thể tiếp nhận và sử dụng công nghệ mới thông qua hoạt độngchuyển giao công nghệ Chỉ riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, mứctăng sản lượng cây lương thực từ 1,1 tấn/ha (năm 1950) lên 2,8tấn/ha(năm 2000), vượt qua con số mà loài người đã đạt được trongsuốt 11.000 năm lịch sử
Bên cạnh những tác động tích cực, có ý nghĩa lớn lao đối với sựphát triển kinh tế- xã hội toàn cầu, nhân loại còn phải đương đầu vớinhững thách thức và sự đe dọa của quá trình đổi mới công nghệ khôngngừng này Chúng ta có thể quan sát thấy tốc độ phát triển của lịch sửcũng đang tăng nhanh, trong khi đó, những nhu cầu tăng vọt của conngười gặp phải giới hạn tự nhiên của Trái đất Các quốc gia đang phảimất nhiều thời gian hơn để giải quyết những hậu quả nảy sinh từ sựbùng nổ, tiến bộ của công nghệ Chẳng hạn như vấn đề bùng nổ dân
số, việc khí hậu nóng lên trên toàn cầu, khả năng cạn kiệt các nguồnnăng lượng không tái tạo được, môi trường sinh thái bị ô nhiễm, cạnkiệt các nguồn nước, nạn phá rừng, phá huỷ sự đa dạng sinh học Rồi
cả việc những luồng cá bị đánh bắt đến mức không thể hồi phục được,tình trạng đói nghèo, những trận bão tàn phá ngày càng dữ dội, kéotheo sự gia tăng đều đặn của các luồng dân tỵ nạn bởi tình trạng môitrường Ngoài ra, còn rất nhiều tác động khác do con người trong quátrình phát triển không ngừng xâm phạm quá mức các giới hạn tựnhiên Đó là còn chưa kể đến việc đại dịch AIDS vẫn đang tiếp tụchoành hành ở nhiều nơi trên thế giới Còn nạn đói vẫn đang là mối đe
Trang 18doạ rất nhiều sinh mạng và là một trong những nguyên nhân gây bất
ổn xã hội ở nhiều nơi
*Những tác động thích ứng với xu thế đang diễn ra của cuộc cách mạng công nghệ này:
Có thể nói, với xu hướng phát triển của các ngành công nghệ mớitrên, đặc trưng trong cách mạng công nghệ đến năm 2015 sẽ chuyển từcác ngành song hành có sự phân cấp sang đa ngành, từ các hệ vi môsang hệ nanô, từ tính địa phương, khu vực chuyển sang toàn cầu và từ
xã hội thông tin chuyển sang thời đại tri thức
Đặc điểm và xu thế của cách mạng công nghệ mới đòi hỏi lựclượng tham gia vào quá trình này phải thay đổi Nguồn nhân lực từ yêucầu chuyên môn hóa sâu phải được đào tạo lại theo hướng đa ngành.Các sản phẩm tạo ra có nguồn gốc địa phương sẽ chuyển sang sảnphẩm được “may đo” dựa theo nguồn lực địa phương, việc đầu tư cũng
sẽ chuyển từ tự gia tăng vốn sang sử dụng các nguồn vốn hỗn hợp Trong xu thế chuyển đổi của cách mạng công nghệ, những nhómnghiên cứu và phát triển đa ngành hình thành sẽ làm thay đổi mối quan
hệ phân cấp trong các mô hình cũ Vấn đề sử dụng tài nguyên cũngthay đổi Trước đây, nguồn tài nguyên sẵn có ở địa phương có ảnhhưởng khá quyết định đến sản xuất Ngày nay, với tiến bộ công nghệ
và các phương tiện tạo ra, các nguồn tài nguyên địa phương có thể kếthợp rộng khắp với nguồn lực ở nhiều nơi khác Nhờ vậy, sẽ tạo rađược nhiều sản phẩm đặc thù phù hợp với yêu cầu đặt ra cho các thànhphẩm Có thể nói, theo hướng phát triển này thì tới năm 2015, thành
Trang 19phẩm sẽ được “may đo” để sẵn sàng đáp ứng những nguồn lực sẵn có
và tạo khả năng cho nhiều người cùng tham gia vào quy trình côngnghệ
Cụ thể, chúng ta có thể nhận thấy rõ nét ở các ngành công nghệmới Trong đó, ngành công nghệ sinh học công nghiệp tuy còn rất nontrẻ nhưng ẩn chứa sức mạnh to lớn: không những giúp giảm chi phícòn thay thế được các hóa chất gây ô nhiễm Đặc biệt, là bước đột phá
về Công nghệ Nanô, công nghệ kiến tạo vật liệu mới, nó có thể giảiquyết các vấn đề trong ngành công nghiệp chuyên biệt như viễn thông,công nghệ sinh học, vi điện tử và năng lượng
Tuy nhiên sự phát triển của cách mạng công nghệ mới trong đờisống xã hội đã và đang đặt ra những vấn đề suy nghĩ:
Trong xu thế phát triển đa ngành, cách mạng công nghệ có thể đemlại những tác động xã hội to lớn hơn nhiều so với những sản phẩm vàdịch vụ mà công nghệ tạo ra Sản phẩm và dịch vụ mới sẽ thay đổiphương thức, lối sống và thay đổi cả trong mối quan hệ con người
A.Mặt tích cực:
Nhờ những tiến bộ của cách mạng công nghệ, hoạt động sản xuấtmau lẹ và việc tạo nguyên mẫu nhanh, hoạt động kinh doanh được kếtnối rộng rãi, tính toàn cầu tiếp tục phát triển mạnh hơn Chẳng hạn nhưđiện thoại tế bào ra đời đã đưa những quan hệ kinh doanh và cá nhânvào những khu vực trước đó được coi là của riêng Vi tiểu hình hóa vàtrang bị cảm biến ngày càng mở rộng trong những vật dụng thôngthường như đồ gia dụng, trang phục, tư trang, ô tô ,nó làm thay đổi
Trang 20lối sống, quan hệ tương tác giữa con người với đồ vật Thực phẩm tạo
ra bằng công nghệ mới, y sinh học phát triển giúp cho việc chăm sócsức khỏe thâm nhập vào cuộc sống con người nhờ việc chẩn đoán vàgiám sát hàng ngày tốt hơn
Do tính liên ngành trong sự phát triển công nghệ ngày càng rộnglớn, các quá trình sản xuất và dịch vụ có nhiều thay đổi Điều này đòihỏi phải đổi mới giáo dục- đào tạo nhằm tăng cường có hiệu quả lựclượng lao động tham gia vào quá trình cách mạng này Giáo dục- đàotạo phải hướng tới chiều rộng ở các bộ môn, để giúp mọi người nângcao kiến thức cơ bản của nhiều ngành Nhất là, đối với các doanhnghiệp, nên dành nhiều nguồn lực để tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng độingữ lao động phù hợp với yêu cầu phát triển của doanh nghiệp mình
B Mặt tiêu cực
Bên cạnh những triển vọng tốt đẹp cho nhân loại, xu thế cáchmạng công nghệ đang diễn ra cũng làm nảy sinh một số hạn chế cần cógiải pháp khắc phục cả trước mắt và lâu dài Đó là những vấn đề cóliên quan đến đạo đức, kinh tế, pháp luật, môi trường và an ninh xãhội Từ những tác động của sản phẩm và dịch vụ mới, cuộc cách mạngcông nghệ có ảnh hưởng lớn đối với văn hóa, thay đổi nhiều phươngthức tương tác xã hội Ví như, nhân bản vô tính người và biến đổi gen
là vấn đề dấy lên những làn sóng phản ứng mạnh mẽ liên quan đến đạo
lý Các cộng đồng xã hội phải ứng phó với nhiều trào lưu mới về vănhóa qua mạng công nghệ thông tin Một số nền văn minh đang mởrộng cửa để đón nhận công nghệ mới, trong khi một số khác lại lo ngại
Trang 21về nguy cơ nền văn hóa truyền thống bị đe doạ hay bị văn hóa phươngTây, văn hóa Mỹ thôn tính Tuy nhiên, với tốc độ thay đổi nhanhchóng của công nghệ, nhờ cách mạng công nghệ làm cuộc sống đượccải thiện rõ rệt, nhờ những chính sách chia sẻ lợi ích mang lại, điều đócàng khẳng định cách mạng công nghệ còn có thể có những kết quả lạcquan hơn nữa
Xu thế cách mạng công nghệ đã và đang mở ra những triển vọngtốt đẹp cho nhân loại, song khả năng này sẽ phụ thuộc rất nhiều vàocác nhân tố thuận lợi, các rào cản và nhất là chính sách của mỗi quốcgia về khoa học và công nghệ
1.3 Tính tất yếu của hoạt động chuyển giao công nghệ
1.3.1.Đặc điểm, các yếu tố cấu thành công nghệ, các thuộc tính của công nghệ, vai trò đối với sự phát triển kinh tế
1.3.1.1 Công nghệ và yếu tố cấu thành công nghệ
Công nghệ có xuất xứ từ hai từ trong tiếng Hy Lạp cổ: “techno” làtài năng, sự khéo léo, kỹ thuật, nghệ thuật, là từ “logy” là lời lẽ, ngôn
từ, cách diễn đạt, học thuyết Trước đây, trong giai đoạn đầu Côngnghiệp hóa, người ta thường dùng khái niệm kỹ thuật trong sản xuất,sau đó khái niệm công nghệ xuất hiện với ý nghĩa ban đầu rất hẹp, đơngiản chỉ là tuần tự các giải pháp kỹ thuật trong một dây chuyền sảnxuất Ngày nay, tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu và đối tượng áp dụng cáckhái niệm khác nhau về công nghệ
Theo Uỷ ban kinh tế- Xã hội Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP)định nghĩa ” Công nghệ là hệ thống tri thức về quy trình kỹ thuật chế
Trang 22biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm tất cả kỹ năng, kiến thức, thiết
bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế biến hoặc dịch vụ côngnghiệp, dịch vụ quản lý”
Với khái niệm này, công nghệ được mở rộng và hoàn thiện hơn.Công nghệ là tập hợp những công cụ, phương pháp dùng để biến đổicác nguồn lực sản xuất thành những sản phẩm hàng hóa và dịch vụphục vụ nhu cầu con người
Như vậy, công nghệ được phân biệt rõ với khoa học và kỹ thuật
“Khoa học là lĩnh vực nghiên cứu nhằm đưa ra những tri thức mới
về tự nhiên, xã hội và tư duy”, còn “kỹ thuật có thể hiểu là tổng hợpcác tư liệu vật chất như công cụ lao động, năng lượng, vật liệu vàphương pháp do con người sáng tạo ra và được sử dụng trong quá trìnhlao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội”
Qua đó, chúng ta có thể thấy công nghệ có cái đồng nhất với kỹthuật, song cái khác nhau cơ bản là kỹ thuật chỉ nặng về phần cứng,còn công nghệ thì đi sâu vào phần mềm của quy trình Hơn nữa côngnghệ còn bao gồm cả sự năng động trong nhận thức của con người đểcải tiến quy trình sản xuất, đặc biệt là khả năng chuyển giao côngnghệ(CGCN) trong hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này có ýnghĩa quan trọng trong giai đoạn cách mạng Khoa học công nghệ hiệnnay Kỷ nguyên mà công nghệ thực sự trở thành nhân tố quyết địnhkhả năng cạnh tranh trên thị trường và tỷ lệ”phần mềm” có vị trí ngàycàng quan trọng trong các quy trình công nghệ sản xuất
Trang 23Theo quan điểm phổ biến hiện nay thì công nghệ gồm 4 thành phần
cơ bản tác động qua lại lẫn nhau
a.Hình thái vật chất của công nghệ
b.Thông tin: là các sơ đồ, bản vẽ, thuyết minh, dự án, mô tả sáng chế,chỉ dẫn kỹ thuật Phần thông tin rất quan trọng, nó quyết định phầnlớn sự thành công hay thất bại của hoạt động chuyển giao công nghệ
Nó thường được tìm kiếm trong khoảng thời gian dài và được hoànthiện trước khi kí hợp đồng chuyển giao công nghệ
c Thiết chế: là cơ cấu tổ chức, quản lý, gồm sự liên hệ, bố trí sắp xếp,đào tạo đội ngũ cho các hoạt động như phân chia nguồn lực, tạomạng lưới, lập kế hoạch, kiểm tra, tiến hành
d.Yếu tố con người: gồm kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm sản xuất làmviệc có trách nhiệm và có năng suất cao của đội ngũ nhân lực có sứckhoẻ
1.3.1.2 Các thuộc tính của công nghệ
Công nghệ là một hàng hóa trên thị trường, với tư cách là một hệthống công cụ chế biến vật chất và thông tin, hàng hóa công nghệ có
thuộc tính riêng Những thuộc tính này do 4 yếu tố cơ bản của công nghệ tạo nên, nó quyết định và ảnh hưởng trực tiếp tới việc mua bán,
đánh giá, định giá, trao đổi và sử dụng công nghệ
A Tính hệ thống: thể hiện hai khía cạnh lớn Mối quan hệ giữa bốn
yếu tố liên kết thành một chuẩn mực nhất định để thực hiện tốt mộtcông nghệ
Trang 24Trong đó, trang thiết bị là cốt lõi của bất kỳ sự chuyển đổi Nóđược phát triển, lắp đặt, vận hành bởi con người Yếu tố con người làyếu tố chủ chốt của bất kỳ thao tác chuyển đổi, nó được phần thông tinhướng dẫn Thông tin được tạo ra và được con người sử dụng để quyếtđịnh và vận hành trang thiết bị.
Thiết chế tiếp nhận và kiểm soát phần thông tin, phần con người vàphần trang thiết bị để tiến hành quá trình chuyển đổi
Bốn yếu tố này liên kết trực tiếp với nhau, trong đó yếu tố conngười là phần tối quan trọng của công nghệ Yếu tố thông tin đưa vàomột loại vốn mới- vốn trí tuệ Tính hệ thống thể hiện trình tự, bướcthực hiện theo một chu trình nghiêm ngặt, theo quy trình, thời gian, địađiểm trong từng yếu tố
B.Tính sinh thể và tiến hoá:
Đây là thuộc tính cơ thể sống, là bảo đảm cung cấp các yếu tố đầuvào, có môi trường tốt, được thích nghi hoá, có bảo dưỡng, duy trì vàhoàn thiện Công nghệ chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu được nuôidưỡng
Công nghệ nào cũng có riêng vòng đời của mình Cho dù côngnghệ nhập từ nước ngoài hay công nghệ phát sinh trong nước đều trảiqua những giai đoạn có quan hệ mật thiết lẫn nhau Đó chính là Vòngđời công nghệ: Nghiên cứu(Reseach), triển khai(Development), sảnxuất(Production) và thị trường(Marketing)
C Công nghệ mang bản chất thông tin
Trang 25Đây cũng là thuộc tính riêng của công nghệ Do đó, việc xác định
sở hữu, bảo vệ, đánh giá, xử lý, cập nhật trong việc mua bán côngnghệ là hết sức phức tạp Nó đòi hỏi sự can thiệp và bảo hộ của hệthống luật pháp không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả quốc tế Đồngthời, nó cũng đòi hỏi các kỹ năng linh hoạt và các kinh nghiệm trongquá trình thăm dò, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyểngiao công nghệ
Giữa thông tin công nghệ và thông tin khoa học có sự khác nhau
Sự nhầm lẫn về bản chất này có thể dẫn đến những thiếu sót khi xử lýthông tin và thất bại khi sử dụng công nghệ Do vậy, chúng ta cần hiểusâu và phân biệt sự khác nhau này Thông tin công nghệ là thông tin cóthể đem lại lợi nhuận ngay hôm nay hoặc ngày mai, còn thông tin khoahọc có thể đem lại lợi nhuận sau một thời gian dài chẳng hạn 5 năm.Thông tin khoa học thường đề cập sâu hơn về một đối tượng, ngược lạithông tin công nghệ lại thường tổng hợp nhiều khía cạnh Có thể nói,thông tin công nghệ hàm chứa rất rộng, không chỉ dừng lại ở khía cạnh
mà còn bao quát cả khía cạnh thương mại hoá, sở hữu công nghiệp vànhững vấn đề xung quanh chuyển giao công nghệ Như vậy, công nghệkhông chỉ đem lại thông tin về chi tiết kỹ thuật mà còn cung cấp cả cácchi tiết khác về mặt công nghệ như đào tạo, huấn luyện, chuyêngia Để sử dụng công nghệ hiệu quả cần phải có đầy đủ thông tin, từ
đó đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn
D Tính đặc thù của công nghệ (đặc thù theo mục tiêu)
Trang 26Nói đến công nghệ là nói đến sản phẩm cụ thể, là chế tạo sản phẩm,dịch vụ, nâng cao chất lượng, tăng số lượng hoặc chủng loại, giảm tiêuhao trên số lượng cụ thể.
Khi một công nghệ được chuyển giao từ nơi này sang nơi khác thì
nó mang tính chất như một sản phẩm hàng hoá mua bán trên thịtrường Một công nghệ khi trở nên lạc hậu ở một nước, không còn đápứng yêu cầu tạo ra sản phẩm mới thì ở nước khác nó vẫn có thể đượccoi là mới và thích hợp Như vậy, lúc sản phẩm đang ở giai đoạn thoáitrào tại nước chuyển giao công nghệ thì cũng lại là lúc nó ở giai đoạncao trào tại nước tiếp nhận công nghệ Sự khác nhau này là do yếu tốcon người, môi trường, thị trường, các yếu tố đầu vào, yếu tố văn hoácủa một nước quyết định Qua đó, còn cho thấy quá trình chuyển giaocông nghệ không đơn thuần là chuyển từ địa điểm này sang địa điểmkhác, mà là cả một quá trình đặc thù của môi trường
1.3.1.3 Vai trò của công nghệ đối với sự phát triển kinh tế- xã hội.
Khoa học công nghệ là một trong bốn nguồn lực quyết định sự pháttriển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Ngày nay, khi mà nhân loại bướcvào kỷ nguyên tri thức thì khoa học công nghệ càng khẳng định hơnvai trò quyết định đến quá trình tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia.Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển trong quá trình tiến hànhCNH- HĐH, nó chính là động lực lớn thúc đẩy và góp phần tích cựcrút ngắn quá trình này
Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay,việc tìm ra những công nghệ mới, vật liệu mới và những nguồn năng
Trang 27lượng mới đã xuất hiện một kiểu tăng trưởng mới về chất- tăng trưởngkinh tế theo chiều sâu trong điều kiện sản xuất phát triển dựa trên cơ
sở cuộc cách mạng khoa học hiện đại Khoa học công nghệ là điềukiện để có sản phẩm cuối cùng đạt chất lượng cao,tăng năng suất laođộng, đảm bảo an toàn sản xuất, chống ỗ nhiễm môi trường và sử dụnghợp lý tài nguyên quốc gia, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triểnnhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của xã hội
Qua nghiên cứu vai trò cụ thể của khoa học công nghệ đối với tăngtrưởng kinh tế, nhà kinh tế học P.A Samuelson và W.P.Nordhaus đãdùng các phân tích của mình để tính toán phần đóng góp của khoa họccông nghệ trong tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ từ 1900 đến 1984 và
đã rút ra kết luận: Trong mức tăng trưởng 2,2%/năm về sản lượng theođầu công nhân, khoảng 0,5% là do tăng yếu tố tư bản(vốn), và do yếu
tố công nghệ là 1,7% Như vậy, nhân tố khoa học công nghệ giữ mộtvai trò đặc biệt đối với tăng trưởng kinh tế
Cũng theo nghiên cứu của các nhà kinh tế học S.A.Samuelson vàW.P.Nordhaus, cho thấy: Từ năm 1981 ở Mỹ với mức tăng trưởngtrung bình là 3,2%/năm thì sự đóng góp của yếu tố đầu vào: đất đai,vốn, lao động chỉ chiếm 1,1%, còn yếu tố giáo dục và khoa học côngnghệ chiếm tới 2,1% (Bảng1.1)
Bảng 1.1 Đóng góp của các yếu tố vào mức tăng trưởng GDP thực tế
Yếu tố đóng góp Tăng % hàng
năm
% của tổng số
Trang 283415190Giáo dục và tiến bộ khoa học công
Cách mạng khoa học và công nghệ đã làm thay đổi chiến lược kinh
tế và chiến lược thị trường Sự xuất hiện của các ngành công nghệ caođưa đến kết quả là năng suất lao động được nâng lên vượt bậc và thực
sự hiệu quả hơn Vì vậy, các nước tư bản phát triển và các công ty
Trang 29xuyên quốc gia đều coi việc phát triển khoa học công nghệ với cácngành công nghệ cao là con bài trong cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường.
Có thể nói, thực chất của Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá của cácnước đang phát triển chính là sự vận dụng thành tựu của khoa họccông nghệ dựa trên những đổi mới công nghệ nhằm chuyển hệ thốngkinh tế xã hội từ trạng thái năng suất thấp, hiệu quả thấp, sử dụng laođộng thủ công là chính, sang một hệ thống có năng suất cao, dựa trênnhững phương pháp công nghiệp, những công nghệ tiên tiến Côngnghiệp hoá- Hiện đại hoá cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng tăng nhanh các ngành có hàm lượng khoa học công nghệgiá trị cao Muốn đạt mục tiêu trên phải đổi mới công nghệ trong toàn
bộ nền kinh tế, phải sử dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và côngnghệ của thế giới
1.3.2 Chuyển giao công nghệ, các phương thức chuyển giao công nghệ và tính tất yếu của hoạt động chuyển giao công nghệ nước ngoài ở Việt Nam.
1.3.2.1 Khái niệm, các phương thức chuyển giao, các dòng chuyển giao công nghệ
*Khái niệm
Chuyển giao công nghệ là một tập hợp nhiều hoạt động được tiếnhành bởi hai bên, bên giao và bên nhận, trong đó hai bên phối hợp cáchành vi pháp lý và các hoạt động thực tiễn mà mục đích và kết quả làbên nhận có được và tự mình khai thác được những năng lực công
Trang 30nghệ xác định do bên giao cung cấp, để thực hiện một mục tiêu xácđịnh.(QuanHệ KTQT)
Hiểu một cách đơn giản hơn, chuyển giao công nghệ là lĩnh vựchoạt động nhằm đưa những công nghệ từ nơi có nhu cầu giao côngnghệ đến nơi có nhu cầu cần công nghệ Lĩnh vực hoạt động chuyểngiao công nghệ thường có sự tham gia của nhiều tổ chức cá nhân với
tư cách là chủ thể
Theo Nghị định số 45/NĐ-CP/1998 của Chính phủ về chuyển giaocông nghệ, khái niệm này được định nghĩa như sau:
“Chuyển giao công nghệ là hình thức mua và bán công nghệ trên
cơ sở hợp đồng chuyển giao đã được thoả thuận phù hợp với quy địnhcủa pháp luật Bên bán có nghĩa vụ chuyển giao các kiến thức tổnghợp của công nghệ hoặc cung cấp máy móc, thiết bị, dịch vụ, đàotạo kèm theo các kiến thức công nghệ cho bên mua, còn bên mua cónghĩa vụ thanh toán cho bên bán để tiếp thu, sử dụng các kiến thứccông nghệ đó theo các điều kiện đã thoả thuận và ghi nhận trong hợpđồng chuyển giao công nghệ”
Ở đây bên bán là “bên giao công nghệ”, là một bên gồm một haynhiều tổ chức kinh tế, khoa học, công nghệ có tư cách pháp nhân hoặc
cá nhân ở nước ngoài có công nghệ chuyển giao vào nước khác Doxuất phát từ nhu cầu đổi mới và cải tiến công nghệ của các nước chủcông nghệ, các nước này thường xuyên chuyển giao công nghệ và thiết
bị đã bắt đầu bão hoà trên thị trường chứ không phải chuyển giao công
Trang 31nghệ mới nhất Vì vậy, hoạt động chuyển giao công nghệ thực chất đãlàm cho vòng đời một sản phẩm công nghệ dài hơn.
“Bên nhận công nghệ” là một hay nhiều tổ chức kinh tế, khoa học,công nghệ có tư cách pháp nhân hay cá nhân tiếp nhận công nghệ Bênmua công nghệ phải có thông tin, có hiểu biết, có nghiệp vụ và kỹnăng cần thiết, mặt khác cũng cần có định hướng, hỗ trợ của các cấpquản lý và sự phối hợp của các doanh nghiệp cùng ngành nghề
* Các phương thức chuyển giao công nghệ
Nói đến hoạt động chuyển giao công nghệ là liên quan đến nhiềukhái niệm khác nhau Vì vậy, trước khi phân loại các hoạt độngchuyển giao cần thống nhất các khái niệm cơ bản sau:
-Sáng chế: là một sáng kiến cải tiến kỹ thuật mới đối với thế giới,mang lại lợi ích kinh tế xã hội cho người sử dụng Sáng chế chỉ đượcgọi là “mới”khi trước ngày đăng ký nó chưa được công bố trong vàngoài nước dưới mọi hình thức
- Sở hữu công nghiệp: là thuật ngữ chỉ quyền sở hữu hợp pháp vềcác đối tượng mua bán trong hoạt động chuyển giao công nghệ gồm:sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá dịch vụ
- Kiểu dáng công nghiệp: là hình dáng bên ngoài của sản phẩm thểhiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc Kiểu dáng công nghiệpđược công nhận là “mới” nếu nó khác biệt cơ bản với các kiểu dángcùng loại đã biết ở trong và ngoài nước
- Nhãn hiệu hàng hoá (Trade-mark): là tên gọi, hình ảnh, biểutượng của hàng hóa với nét đặc trưng được pháp luật bảo hộ
Trang 32- Bí quyết (Know-how): là những kiến thức riêng biệt được giữ kín,những phương pháp đặc biệt mà chưa ai biết để sản xuất sao cho cóhiệu quả tốt nhất Nó có tính quyết định tới sự thành bại của một quytrình sản xuất.
- Patăng (Patent):là một văn bản mà nội dung của nó được bảo hộ
về mặt pháp lý Văn bằng này chỉ được cấp cho những sáng chế Bất
kỳ người nào muốn sử dụng sáng chế vì mục đích thương mại đều phảiđược người chủ văn bằng sáng chế cho phép Người chủ văn bằngsáng chế được bảo hộ về mặt pháp lý quyền sử dụng, khai thác sángchế ghi trong Patăng Thời hạn bảo hộ thường là 15 đến 20 năm Nhưvậy, Patăng là văn bằng công nhận quyền sáng chế và bảo hộ sáng chếđó
- Lixăng( Lisence): là sự chuyển giao các kiến thức kỹ thuật từngười có kiến thức sang một người khác mong muốn có kiến thức đó.Việc mua bán lixăng chính là việc mua bán giấy phép để được sử dụngcác kiến thức kỹ thuật đã được cấp bằng bảo hộ hay chưa được cấpbằng bảo hộ
Chuyển giao công nghệ thường diễn ra với các hình thức cơ bản sau:
a,Phân loại theo nguồn cung cấp công nghệ gồm 2 nguồn:
- Chuyển giao dọc: Công nghệ mới được chuyển giao từ khu vựcnghiên cứu và triển khai( R&D) sang khu vực ứng dụng và sản xuất
Đó là việc đưa ra một kết quả nghiên cứu đã được triển khai, thựcnghiệm với những thông số kỹ thuật thực hiện trong giai đoạn sản xuất
Trang 33thử vào áp dụng trong sản xuất hàng loạt, chứ không phải là kết quảnghiên cứu vừa thu được từ phòng thí nghiệm đem vào ứng dụngngay.
Chuyển giao dọc có ưu thế là mang đến một công nghệ hoàn toànmới, mang lại lợi thế cạnh tranh lớn cho bên nhận Tuy nhiên, bênnhận công nghệ tất nhiên phải nhận mức độ mạo hiểm nhất định Đểhạn chế rủi ro có thể xảy ra, bên nhận phải nắm bắt được thông tin củathị trường công nghệ và các vấn đề kinh tế xã hội khác có liên quan
- Chuyển giao ngang: là chuyển giao một công nghệ hoàn thiện từ
xí nghiệp này( hoặc một nước này) sang một xí nghiệp khác (hoặc mộtnước khác) Ưu điểm của hình thức này là độ tin cậy cao, ít mạo hiểm.Nhưng bên nhận công nghệ thường phải chấp nhận công nghệ tầmvừa Đối với các nước đang phát triển mà nói, một công nghệ tầm vừa
ở khu vực phát triển này vẫn hoàn toàn có thể phát huy tác dụng ở khuvực các nước đang phát triển
b, Phân loại theo chiều sâu của mức độ chuyển giao
Chuyển giao công nghệ theo hình thức “trao kiến thức”: hình thứcnày chỉ dừng ở mức độ truyền đạt, hướng dẫn nhằm trang bị nhữngkiến thức về phương pháp, cách thức, bí quyết để vân hành một côngnghệ nào đó
Chuyển giao công nghệ theo mức độ “chìa khoá trao tay”: là hìnhthức chuyển giao trọn gói Bên giao công nghệ chịu trách nhiệm hoànthành việc thiết kế, thi công, lắp đặt thiết bị công nghệ được chuyển
Trang 34giao, hướng dẫn đào tạo kiến thức cho bên nhận Bên nhận sau khi tiếpnhận có thể tự vận hành công nghệ mới.
Chuyển giao công nghệ theo mức độ “trao sản phẩm”: phương thứcnày muốn ràng buộc, kéo dài trách nhiệm của bên giao công nghệ đốivới bên nhận công nghệ cho đến khi sản xuất được những sản phẩmđầu tiên
Chuyển giao công nghệ theo mức độ “trao thị trường”: ở đây bêngiao công nghệ phải đảm bảo nhận thêm cả phần trách nhiệm bàn giaomột khu vực thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc nguyên vật liệu chobên nhận công nghệ Phương thức này gắn bó cả hai bên giao và nhậnkhông chỉ về thời gian, mà còn trong sản xuất, tiêu thụ, xử lý các rủi ro
kỹ thuật, về thị trường Đây là phương thức đang được ưa chuộng hơn
cả ngày nay
c,Phân loại theo cơ cấu chuyển giao công nghệ
Với tư cách là chuyển giao trọn gói, hình thức này gắn liền với đầu
- Có thể là công trình viện trợ hoặc cho vay, trong đó bên viện trợhoặc bên cho vay cung cấp toàn bộ vốn và công nghệ
Trang 35- Là đầu tư mở rộng sản xuất của một công ty xuyên quốc gia dochi nhánh của nó thực hiện tại nước sở tại.
Bên cạnh đó, còn có chuyển giao bộ phận Đó là quá trình phátminh, sáng chế đến sản xuất theo quy mô công nghệ, và thường trảiqua nhiều giai đoạn: Nghiên cứu cơ bản, triển khai sản xuất thử, sảnxuất công nghiệp Mỗi giai đoạn gồm: cải tiến, hoàn thiện, hiệuchỉnh Vì vậy, chuyển giao bộ phận có thể hiểu là chuyển giao côngnghệ từng phần, diễn ra ở một khâu nào đó, gồm các loại sau:
- Mua bán Lixăng(Licence):đòi hỏi nước nhận phải có trình độ cao
để thích ứng
- Mua bán trang thiết bị kỹ thuật: có lợi thế là nhanh chóng đưa vào
sản xuất, nhưng đòi hỏi nước nhận phải có nhiều vốn vì giá cả trangthiết bị kỹ thuật và chi phí duy trì chúng tương đối cao Ví dụ như ViệtNam, hàm lượng công nghệ nhập khẩu thể hiện trong giá trị gia tăngsản phẩm chế biến khoảng 20% nhứng chi phí vật tư, nguyên vật liệungoại nhập cao hơn 70%
- Mua bán bí quyết kỹ thuật công nghệ( Know-how): là loại chuyển
giao đặc biệt, gắn với tri thức khoa học, kinh nghiệm của nhà quản lýchuyên môn Đó là sự di chuyển hiểu biết kiến thức từ bộ não này sang
bộ não khác Vì vậy, nó rất khó xác định giá cả và lại chịu ảnh hưởngrất nhiều của các nhân tố chủ quan
- Mua bán quyền sở hữu công nghiệp: nhằm xác định quyền được
chi phối một loại sản phẩm gắn với một loại công nghệ sản xuất nào
đó, từ đó tạo cơ sở để xác định thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trang 36Có thể thấy, cả hai hình thức chuyển giao công nghệ “trọn gói” và
“bộ phận” giống nhau ở chỗ đều được tiến hành cùng với sự dịchchuyển vốn, đầu tư máy móc thiết bị gắn liền với việc kinh doanh cụthể
Loại hình này thực tế rất phù hợp và có ý nghĩa đặc biệt với cácnước đang phát triển chưa có điều kiện, cơ sở nghiên cứu Mặt khác,thông qua hoạt động chuyển giao mạnh mẽ dưới nhiều hình thức, lựclượng lao động được tiếp cận, được đào tạo trong môi trường tốt Nhưvậy, cùng với khoa học- công nghệ, lực lượng lao động có trình độchính là động lực thúc đẩy phát triển kỹ thuật, kinh tế- xã hội, đẩynhanh tiến trình CNH-HĐH đất nước
* Các luồng chuyển giao công nghệ(CGCN) hiện nay
Ngày nay, cùng với quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự traođổi kỹ thuật, công nghệ sản xuất giữa các quốc gia diễn ra vô cùngmạnh mẽ, đa dạng với nhiều luồng chuyển giao công nghệ trên thếgiới Theo dõi sự phát triển của hoạt động chuyển giao công nghệ ởcác nhóm nước, có thể chia ra 3 luồng chuyển giao công nghệ sau:
- Chuyển giao công nghệ giữa các nước công nghiệp phát triển
Khi nói đến CGCN, có nhiều quan niệm lầm tưởng cho rằng đó làluồng chuyển giao ồ ạt từ các nước phát triển sang các nước kém pháttriển Điều này là không đúng, bởi lẽ luồng chuyển giao công nghệ lớnnhất hiện nay lại diễn ra giữa các nước phát triển với nhau Điển hình
Mỹ, nguồn vốn đầu tư sang các nước công nghiệp phát triển lớn hơn60%, Anh là 80%, Đức và Pháp 70%, Nhật Bản là 40% Nhật cũng
Trang 37chính là nước nhập khẩu công nghệ lớn nhất trên thế giới về các phátminh Nguyên nhân dẫn đến luồng chuyển dịch này là:
+ Do nền tảng vật chất kỹ thuật của các nước này phát triển rất cao,nên luôn đòi hỏi tạo ra những yêu cầu phải đổi mới về khoa học vàcông nghệ Mặt khác, các nước này có thể thoả mãn tốt nhất những đòihỏi về chi phí nguồn lực mà khoa học và công nghệ mới nhất yêu cầu.+ Sự hình thành các công ty đa quốc gia(TNCs) có phần lớn các chinhánh nằm ở một số nước phát triển Các công ty TNCs này đóng vaitrò quan trọng trong sự phát triển khoa học và công nghệ, đồng thời làlực lượng chủ yếu tiến hành các hoạt động nghiên cứu và triểnkhai( R&D)
+ Giữa các nước phát triển có sự tương đồng về trình độ phát triểnkinh tế, khoa học, kỹ thuật, xã hội và có cùng cấp độ các vấn đề cầngiải quyết Các nước này cùng có mối quan tâm về nguồn năng lượng,bảo vệ môi trường, phát triển thông tin dịch vụ những giải pháp khoahọc công nghệ cho các vấn đề trên, và được xét trong khuôn khổ thịtrường có dung lượng lớn, có cơ chế năng động và nhạy bén
+ Các nguyên nhân nói trên cho thấy các nước công nghiệp pháttriển luôn luôn có sức hấp dẫn cao, là đối tượng đầu tư vốn và khoahọc công nghệ của nhau hơn là các nước bên ngoài Điều này được thểhiện rõ qua số lượng mua bán các phát minh, sáng chế ở các nước pháttriển như Mỹ, Nhật, Pháp, Anh, Đức
- Chuyển giao công nghệ giữa các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển.
Trang 38Luồng chuyển giao này còn gọi là luồng chuyển giao Nam- Bắc.Quy mô của luồng chuyển giao này nhỏ hơn so với luồng chuyển giaogiữa các nước phát triển Tuy nhiên, chuyển giao Nam- Bắc vẫn đượcchú ý đặc biệt bởi trong đó không chỉ có vốn, thiết bị công nghệ, kỹthuật hiện đại, mà còn có cả kiến thức, kỹ năng quản lý, cách thứcthâm nhập thị trường thế giới.
Đối với các nước công nghệ phát triển, trong quá trình nghiên cứusáng tạo ra công nghệ mới để đáp ứng nhu cầu phát triển thì đồng thời
họ cũng phải quan tâm tới việc thải hồi các công nghệ cũ sao cho cólợi nhất Mặt khác, các nước đang phát triển đang cần tìm kiếm côngnghệ tầm vừa, phù hợp để phát triển kinh tế của mình Hơn nữa, cácnước phát triển còn rất quan tâm đến việc đẩy nhanh trình độ củanhững “bạn hàng” có trình độ phát triển còn thấp Còn về phía cácnước đang phát triển muốn nhờ công nghệ đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH đất nước, thực hiện có hiệu quả chiến lược phát triển kinh tế- xãhội
Hình thức chuyển giao này khá phù hợp đối với cả hai phía: bêngiao và bên nhận công nghệ Tuy nhiên, không phải lúc nào việcchuyển giao công nghệ giữa các nhóm này cũng thành công vì nhữngnguyên nhân do thiếu vốn, thiếu hiểu biết về khoa học- công nghệ vàmôi trường, do sự chênh lệch lớn về trình độ khoa học- công nghệ.Thêm vào đó, lại thiếu thốn nghèo nàn về cơ sở vật chất, trang thiết bị,thiếu đội ngũ khoa học chuyên nghiệp, hệ thống pháp luật chưa hoànchỉnh
Trang 39- Chuyển giao công nghệ giữa các nước đang phát triển.
Đây còn gọi là luồng chuyển giao Nam- Nam được gắn liền với sựhình thành các khối liên kết khu vực như Hiệp hội các nước ĐôngNam Á (ASEAN), Cộng đồng kinh tế Đông Phi ở Châu Phi (CEA).Luồng chuyển giao này được đông đảo sự chú ý của các nước thamgia chuyển giao có trình độ phát triển kinh tế- xã hội tương đồng.Thêm nữa các nước này đều đang trong cùng hoàn cảnh và cùng cómối quan tâm phải quyết như: nạn đói, thất nghiệp, cải thiện cơ sở kỹthuật, nâng cao tay nghề đội ngũ khoa học kỹ thuật
Chúng ta có thể thấy hiện nay, một số nước đang phát triển đã vàđang thực hiện đầu tư có hiệu quả vào các nước Châu Á kém phát triểnhơn như nhóm 4 nước NICs (HongKong, Singapore, Hàn Quốc, ĐàiLoan) với tổng số vốn đầu tư trực tiếp vào những năm 80s là 37%(16tỷ) vào các nước Châu Á, còn lại là các khu vực khác
Xu hướng chuyển giao này ngày càng gia tăng nhưng xét về gia trịchuyển giao còn khá nhỏ bé Lĩnh vực chuyển giao cũng hẹp hơn, chủyếu tập trung ở những hàng công nghiệp nhẹ, hàng tiêu dùng, côngnghiệp chế biến thực phẩm, nông lâm hải sản Mục tiêu chuyển vốn vàcông nghệ của các nước này là khai thác nguyên liệu thô, nguồn nhâncông rẻ, thu hồi vốn nhanh Do đó, mục tiêu nâng cao tay nghề và pháttriển đội ngũ nghiên cứu khoa học không được chú trọng, kết quả làtình trạng thiếu kiến thức vẫn diễn ra phổ biến ở các nước nhận đầu tư
Tóm lại, chuyển giao công nghệ trên thế giới dưới hình thức mua
bán công nghệ, đầu tư trực tiếp, nhập khẩu dịch vụ kỹ thuật đã trở
Trang 40thành nhu cầu cần thiết đối với quá trình phát triển kinh tế- xã hội củatất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là một con đường hiệu quả đểthực hiện rút ngắn quá trình CNH- HĐH ở các nước đang phát triểnnói chung và ở Việt Nam nói riêng.
1.3.2.2 Tính tất yếu của hoạt động chuyển giao công nghệ
1/Tính chất của hoạt động chuyển giao công nghệ.
- Chuyển giao công nghệ là hoạt động mang tính kỹ thuật: Phần lớnhoạt động chuyển giao công nghệ được thực hiện dưới dạng trọn gói.Nghĩa là sự chuyển giao không chỉ ở tri thức, bí quyết, phương phápcông nghệ mà còn cả máy móc, phương tiện cũng là hiện thân của trithức và bí quyết ấy Nói cách khác, hoạt động chuyển giao không chỉ
có phần mềm mà còn chuyển giao cả phần cứng của công nghệ, trong
đó phần cứng đóng vai trò quan trọng
- Chuyển giao công nghệ là hoạt động mang tính thương mại: côngnghệ luôn được coi là một loại hàng hoá đặc biệt Do đó, trong hầu hếtcác hợp đồng chuyển giao công nghệ thì mục đích lợi nhuận thườngđược đặt lên hàng đầu đối với cả bên giao và bên nhận công nghệ,thậm chí cả bên môi giới, tư vấn Chính vì thế mà hoạt động chuyểngiao công nghệ thực sự mang tính thương mại
- Chuyển giao công nghệ là lĩnh vực hoạt động mang tính pháp lý:
Do tính chất phức tạp của hoạt động chuyển giao công nghệ của mỗiquốc gia, giữa các quốc gia, các nhóm tổ chức quốc tế đòi hỏi phải
có những quy định mang tính pháp lý, để điều chỉnh hoạt động nàycho phù hợp với lợi ích kinh tế- văn hoá- xã hội của đất nước, phù hợp