Ô nhiễm đất là do người ta sử dụng các loại hóa chất trong nông nghiệp và do người ta thải vào môi trường đất các chất thải đa dạng khác.Trong các chất thải này, có những chất khó hay kh
Trang 1ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT ĐỐI VỚI SỨC
KHOẺ CON NGƯỜI
NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
PHẦN I KHÁI NIỆM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
Ô nhiễm đất là do người ta sử dụng các loại hóa chất trong nông nghiệp
và do người ta thải vào môi trường đất các chất thải đa dạng khác.Trong các chất thải này, có những chất khó hay không thể phân hủysinh học và đặc biệt là những chất phóng xạ éất cũng nhận những kimloại nặng từ khớ quyển dưới dạng bụi (Pb, Hg, Cd, Mo ) và các chấtphóng xạ Rác từ đô thị, việc sử dụng phân tươi bón ruộng rẫy cũnggóp phần làm ô nhiễm đất
éặc biệt đất là trung gian của khí quyển và thủy quyển, là vị trí chiếnlược trong trao đổi với các môi trường khác
Ô nhiễm đất phần lớn là do sản xuất nông nghiệp hiện đại và các hoạt động khác của người Các nhóm quốc gia khác nhau có các loại rác thải khác nhau (rác nhà giàu khác với rác nhà nghèo) Nhưng tất cả đềugóp phần làm ô nhiễm đất trước tiên, nơi sinh sống của con người và của các sinh vật sống ở cạn khác Sau đó lượng rác thải ngày càng tăng này cũn gõy ụ nhiễm môi trường nước và không khí
Theo Bộ KHOA HỌC CễNG NGHỆ và MÔI TRƯỜNG, 1994 thỡ mụitrường đất của nước ta bị suy thoỏi và ụ nhiễm trầm trọng trong thời
gian gần đây
Cả nước có đến hơn 13 triệu đất suy thoái, đất trống đồi nỳi trọc éộ ẩmcao, mưa nhiều, bóo lớn nờn cỏc quỏ trỡnh suy thoỏi diễn ra nhanhchóng, nên khai thác đất khụng hợp lý, nhất là vùng đất dốc khụng cúrừng che phủ Cỏc chất dinh dưỡng bị rữa trụi cú thể đến 150-170tấn/ha/năm ở đất dốc 20-220 Ngoài ra hàm lượng khoáng vi lượng rất
ớt, pH giảm mạnh, lớp mặn bị kết vón, đá ong hóa dẫn tới mất khảnăng canh tác
Trang 2Độ phỡ nhiờu của nhiều vựng lónh thổ đang có nguy cơ thoái hoá doxói mũn, rửa trụi, chua mặn hoá, đồng thời đất nụng nghiệp đang thuhẹp trụng thấy Theo nhúm nghiờn cứu của GS Nguyễn Trọng Hiếu,trờn một số khu vực chớnh ở Trung bộ xuất hiện nguy cơ bị xa mạchoỏ lớn: khu vực Quảng Bỡnh, Quảng Trị, Thừa Thiờn - Huế đang bịmặn hoỏ, khụ hạn và xúi mũn nghiờm trọng, khu vực Quảng Nam,Quảng Ngói, Bỡnh Định đó chớm bị hoang mạc hoỏ ở sụng sau lũ, khụhạn, đá ong hoá và xói mũn trờn vựng nỳi: Phỳ Yờn, Khỏnh Hoà bị xúimũn và đá ong trong khi BỡnhThuận, Ninh Thuận ở vựng ven biểnxuất hiện cả sa mạc hoỏ, muối hoỏ và mặn hoá Đây là khu vực cú xuthế sa mạc hoỏ lớn nhất trong cả nước.
Thêm vào đó là tỡnh trạng phỏ rừng làm đau đầu giới bảo vệ môitrường (BVMT) từ nhiều năm nay vẫn tiếp tục mạnh mẽ Tỷ lệ che phủnay chỉ cũn 28% lónh thổ và chỉ cũn 1% rừng là rừng nguyờn sinh.Mặc dự nhõn dõn nhiều nơi thuộc cõu ca dao truyền đời "Phỏ rừng nhưthể phá nhà - Đốt rừng như thể đốt da thịt mỡnh" thế nhưng ý thức bảo
vệ rừng núi chung vẫn ở tỡnh trạng thấp kộm
Ngoài việc đất mất canh tỏc, hay giảm độ phỡ nhiờu của đất, thỡ việc
sử dụng khụng hợp lý đất và nước trên các lưu vực sẽ gõy hiện tượngbồi lấp dũng sụng, lũng hồ, cửa biển
Ở miền Trung, gió đẩy cỏc cồn cỏt duyờn hải vào đất liền gây suy thoáiđất trầm trọng Ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ, hàng trăm ngàn hađất màu mở đó bị nhiễm mặn và nhiễm phốn éất cũn bị xúi lở cácvùng dân cư ven sông, ven biển Ngoài ra đất cũn bị suy thoỏi hoặc ụnhiễm do khai thỏc nụng nghiệp qúa đáng, không bù đắp đủ số chấtkhoỏng lấy đi qua nông sản Việc dùng phân tươi để bún ruộng hayviệc dựng cỏc chất độc hại làm ụ nhiễm đất
Trang 3PHẦN II.CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
ĐẤT
I Ô NHIỄM ĐẤT DO CHẤT THẢI CÔNG NGHIỆP
Các chất thải công nghiệp ở dạng thải rắn lỏng ,khí đều ảnh hưởngtới môi trường đất Quá trình đốt nhiên liệu hoá thạch sinh ra nhiềuchất thải dạng khí như SO2, NOx, CO, H2S và bụi
Khí SO2, NOx, CO, H2S … sinh ra đi vào khí quyển có thể chuyển hoáthành SO3, SO42-, NO3- gặp mưa tạo thành axit tương ứng gây nên mưaaxit rơi xuống mặt đất, thấm sâu vào đất làm tê liệt các hoạt động môitrường sinh thái, giảm độ pH trong đất tăng độ linh động của các kimloại nặng và làm chuyển dịch cân bằng một số phản ứng trong đất dẫntới thay đổi hoặc ngưng trệ hàng loạt các hoạt động hoá học và vi sinh.Tuy nhiên nhờ tính đệm và khả năng trao đổi iôn của môi trường đất
Trang 4mà tác hại của mưa axit có giảm nhẹ so với đất, song phần đất khônghấp phụ sẽ đi vào trong nước ngầm làm ô nhiễm nước ngầm trong đất.Bụi chứa nhiều kim loại nặng ( như chì, kẽm ) sẽ lắng xuống đất tạikhu vực gần nguồn ( ví dụ bụi chứa chì lắng xuống hai bên đường nơiNhiều ô tô qua lại ) sẽ làm thay đổi thành phần đất tại đó và nhiễm độcvới cây trồng và vật nuôi theo dây chuyền thực phẩm
Các chất thải lỏng ( nước thải công nghiệp ) chứa Nhiều các chất vô
cơ ( các kim loại nặng , các hợp chất nitơ , phôtpho, lưu huỳnh , cáccặn lắng vô cơ ) các chất hữu cơ ( lignin, chất hữu cơ tổng hợp, hợpchất thơm mạch vòng, dung môi hữu cơ , các chất dầu mỡ các chất tẩyrửa các chất hữu cơ có thể phân huỷ bằng vi sinh vật ) mà thànhphần chất ô nhiễm lại phụ thuộc đặc trưng ngành công nghiệp , nếukhông được xử lý trước khi thải chúng sẽ được lưu giữ trong đất dochảy qua bề mặt đất, di chuyển lắng đọng hoặc thấm vào đất làm ônhiễm đất bởi các chất trong nước thải dẫn tới thay đổi tính chất củađất tại khu vực đó
Các cơ sở công nghiệp do chưa có những chế tài xử lý thích đángđang ngày ngày thải bỏ các chất thải ra môi trường Xuất hiện một tìnhtrạng là “ Nhà nhà thải ra chất độc , ngành ngành thải chất độc” Đầutiờn là cỏc cơ sở cụng nghiệp Hoỏ chất, sản xuất thuốc trừ sõu, phõnbún và khai thỏc chế biến khoỏng sản thải ra cyanua vượt quỏ tiờuchuẩn cho phép (TCCP) hơn 80 lần, NH3 cũng khoảng 80 lần cũn H2Sgấp 4 lần Tiếp đến là các cơ sở dệt may, cơ sở cụng nghiệp giấy, vớinước thải có độ kiềm cao (độ PH 9-11), chứa nhiều kim loại nặng, chấthữu cơ đa vũng thơm chứa Clo độc hại rất khú phõn huỷ trong môitrường tự nhiờn Loại nước thải này cú chỉ số nhu cầu ụ xy sinh hoỏ(BOD) cú thể lờn tới 700mg/l và nhu cầu ụ xy hoỏ học (COD) cao tới2.500 mg/l, cú thể gấp 17 lần TCCP, thường không được xử lý trướckhi đổ vào sụng Phỏt triển kinh tế chưa dung hoà với bảo vệ môitrường Ông Phùng Văn Mui, Chánh thanh tra Cục môi trường “cụ thểhoỏ” rằng: “Cứ 4 đơn vị sản xuất thỡ cú 1 cơ sở vi phạm” Theo đúngluật thỡ nhiều nhà mỏy sẽ phải đóng cửa từ lõu, vớ dụ như Gang thépThái Nguyên Nước thải của nhà mỏy này chứa nhiều phenon, kim loạinặng, NH4 (30mg/l), cỏc hợp chất hữu cơ (120 mg/l), làm ô nhiễm
Trang 5sụng Cầu nghiờm trọng, nhất là vào lỳc khụng phải là mùa lũ trongnăm
Nước thải bẩn đổ vào sụng là tỡnh trạng phổ biến ở các đô thị,nghiờm trọng nhất là ở Hà Nội và TP.HCM Một số cơ sở chế biếnthực phẩm và giết mổ gia súc không đảm bảo tiờu chuẩn vệ sinh lại bịquỏ tải lõu nay ở Hà Nội, 62 cơ sở giết mổ gia súc (37 cơ sở giết mổlợn, cũn lại là giết mổ trõu, bũ) thỡ cú 6 cơ sở tư nhân, tất cả số này dù
đó cú đầu tư nâng cấp nhà xưởng, bể chứa & đường ống nước, nhưngvẫn không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, và đều giết mổ thủcụng Chỉ cú một cơ sở duy nhất tại Cụng ty Chế biến thực phẩmLương Yên là có hệ thống nhà xưởng mỏy múc giết mổ hoàn chỉnh.Chất thải từ qỳa trỡnh giết mổ ở các cơ sở tư nhân đều chảy thẳng racống thoát nước thành phố, bể phốt là thứ hiếm hoi ở cỏc lũ mổ này
Vỡ thế, dù được nhõn viờn thỳ y kiểm định, khụng thể đảm bảo thịtđưa ra thị trường đủ tiờu chuẩn ATVSTP Thực chất cỏc lũ mổ nàyhiện nay chỉ là điểm “thu gom” cỏc lũ mổ tự phỏt, nhỏ lẻ để cơ quanthú y dễ kiểm dịch hơn mà thôi Bỏ ra hơn 5 tỉ đồng để đầu tư cho mỗi
lũ mổ hiện đại được “cơ giới hoá” là điều mới nằm trong “kế hoạch”.Tỡnh trạng ở TP.HCM cũng tương tự
Lũ mổ “tự phỏt” tại nụng thụn thỡ sao? Làng nào cũng cú vài hộ giađỡnh làm nghề “hàng dỏt” Tất nhiờn, chất thải từ giết mổ thường chảyxuống ao, cũng như mọi loại chất thải sinh hoạt khỏc Ao vẫn là nơirửa bỏt, rửa rau, giặt chăn chiếu ở nhiều vựng nụng thụn Thuốc trừ sõu
bị sử dụng bừa bói, cỏc loại bao, túi đựng thuốc trừ sâu vương vói bờn
bờ ruộng, cạnh đường làng… nhiều nơi Và cá, tôm dưới ao nước bẩncũng sẽ bị nhiễm bẩn Cũn tại Hà Nội, nơi ao đó bị lấp hầu hết, cỏc hồđều là nơi “chứa tạm” nước cống và chống ngập lụt cho thành phố.Nhưng cá nuôi ở Hồ Tõy (hồ ớt ụ nhiễm nhất) bỏn vẫn rất chạy, xớnghiệp nuụi cỏ Hồ Tây ăn nên làm ra, đồng thời dõn quanh hồ không ítngười đang kiếm sống bằng cỏch cõu cỏ trộm Trai, ốc tại cỏc hồ ao ụnhiễm của Hà Nội cũng tiờu thụ tốt Dịch bệnh ở tụm nuụi tại các địaphương rộ lờn gần đây như Long An và nhiều tỉnh miền Trung cúnguyờn nhõn mấu chốt là môi trường nơi nuôi tôm đó bị ụ nhiễm
Trang 6Cỏc làng nghề thủ cụng vừa phát đạt lại đó ụ nhiễm, cú thể kể đếnlàng gốm sứ Bát Tràng, các làng sơn mài ở Hà Tây, đồ gỗ Đồng Kỵ,làng rốn Võn Chàng
Nhữngbiến đổi này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dântại địa phương Tại xó Giỏp Lai (Thanh Sơn) có Công ty Pyrít thuộcTổng Cụng ty húa chất Việt Nam, tổ chức khai thỏc quặng Pyrớt từnăm 1974 trên tổng diện tích khai trường khai thác hơn 96ha, trong đókhu vực 3 moong khai thác có hơn 6ha; hơn 5ha khu vực chứa quặng,trờn 5ha nhà mỏy tuyển quặng, gần 10ha hồ thải nước tuyển quặng, bóithải khu đồng dài có 16ha Năm 2001 Công ty Pyrít đó làm thủ tụcđóng cửa mỏ, đến thỏng 5-2003 Cụng ty bàn giao tài sản lại cho địaphương Trước khi làm thủ tục đóng cửa mỏ, Cụng ty khụng thực hiệncỏc biện pháp hoàn nguyên môi trường trờn tổng diện tích khai trườngkhai thác để lại cỏc moong khai thỏc chứa đầy nước, độ sõu nhất khảng70m và nụng nhất khoảng 20m và cỏc bói thải, nhà xưởng chế biến,kho chứa quặng Theo phản ỏnh của địa phương, trong quá trỡnh khaithỏc tại xó cú 30 người tàn tật bẩm sinh như thiểu năng trí tuệ, khèo taychân, câm điếc, bại nóo, gự cột sống, mự lũa Năm 2005, có 3.954lượt người được khỏm tại trạm y tế xó về hụ hấp 1.036 người, bệnhtuần hoàn 17 người, bệnh tiết liệu 4 người, bệnh về tiêu hóa 37 người,cỏc bệnh khác 1.113 người
Tại xó Thạch Khoán (Thanh Sơn), địa phương cho biết việc ụ nhiễmmôi trường trên địa bàn xó chỉ do một số các đơn vị khai thỏc khoỏngsản trong quỏ trỡnh hoạt động khai thác gây xô lũ đất làm ảnh hưởngđến diện tích đất canh tỏc nụng lõm nghiệp của người dân Song sau đóđược người dõn khắc phục, phủ lớp đất màu lờn bề mặt diện tích đất bị
xụ lũ nờn cõy cối vẫn sống bỡnh thường Đến nay UBND xó ThạchKhoỏn vẫn chưa nhận được phản ỏnh gỡ của người dõn về ụ nhiễmmôi trường làm ảnh hưởng nghiờm trọng đến sức khỏe con người dântheo như phản ỏnh của các phương tiện thông tin đại chúng đó nờu
Về khu vực xó Đông Cửu (Thanh Sơn), lónh đạo cơ sở và cỏc nhõnchứng ở khu Dấu Cỏ cho biết, từ năm1978-1979 có đơn vị địa chất đóđào rất nhiều hố sâu trên 10m để lấy mẫu quặng đem đi xét nghiệm
Trang 7song khụng thụng bỏo kết quả Ngày 15-9-2006 ông Quang, Trưởngphũng hỗ trợ thiết bị Cục Xạ hiếm - Bộ Khoa học và Cụng nghệ theođoàn nhà bỏo dựng mỏy múc thiết bị để xác định độ nhiễm xạ ở khu
Bư, xóm Dấu Một số nhà báo đó tiếp xỳc và lấy ý kiến phản ỏnh củanhân dân Đoàn công tác của huyện Thanh Sơn đó làm việc với đạidiện Đảng ủy HĐND, UBND cán bộ chuyờn trỏch về địa chớnh, y tế,dõn số, thỳ y, y tế thụn bản, trưởng khu hành chớnh Dấu Cỏ và một sốngười dân Sơ bộ xác định khu nghi nhiễm xạ chủ yếu ở 3 khu hànhchớnh là khu Dấu, Bư, Hạ Thành khoảng 8km2 và cỏc vựng lõn cận.Theo bỏo cỏo kết quả của đoàn công tác huyện Thanh Sơn thực trạngkhu này như sau: Có rất nhiều hố đào lấy mẫu đất, đá của cỏn bộ địachất ở khu vực xó Đông Cửu Nguồn nước trong khu vực suối Dấu vàsuối Bầu, cỏc giếng nước, ao nước, máng nước khụng thấy nhiềuvỏng, bề mặt khụng thấy cú mựi vị lạ Thảm thực vật tự nhiờn và dõntrồng như cây quế, keo, nhón, vải tuy xanh tươi nhưng có biểu hiện cằncỗi, ra hoa rất nhiều nhưng việc kết quả nhiều hay ít chưa xác định.Đàn gia súc, gia cầm qua nhiều lần điều tra, tiờm phũng bệnh cú nhữngdấu hiệu đẻ thưa, đẻ ra cú dấu hiệu chết non nhưng không nhiều Ông
Hà Văn Long, khu Bư, đào giếng năm 1998 cho biết, khi đào sâu tới7m không va vào đá cứng mà thấy lóe sáng, người mệt mỏi, mắt mờ phải đi bệnh viện tỉnh khỏm chữa bệnh về suy nhược cơ thể, suy nhượcthần kinh.Theo thống kờ toàn xó cú hơn 3.000 dân với 604 hộ; trong
đó 3 khu Hạ Thành, Bư, Dấu có 77 hộ dân với trên 400 hộ Trong 3năm gần đây cả xó mới cú 35 người tử vong, ung thư 1 người; chết lưuthai 2 người; 3 người thiểu năng thần kinh và bệnh tâm thần; ngoài ra
có nhiều trường hợp suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể và bướucổ
Các chất thải rắn công nghiệp như xỉ , phần thừa của quá trình gia công
cơ khí, chất thải của các nhà máy năng lượng đốt than nhà máy luyệnkim , nhà máy hóa chất sử dụng nguyên liệu là quặng khai thác từ cácam đã chiếm Nhiều diện tích mặt đất của các khu vực xung quanh nhàmáy Dưới điều kiện tự nhiên các quá trình phong hoá sẽ làm thay đổicác thành phần đất tại các khu vực này, một số chất độc trong xỉ côngnghiệp sẽ lan truyền trong đất làm ảnh hưởng đến chất lượng và năng
Trang 8suất cây trồng.Việc thải bỏ các chất thải rắn công nghiệp một cách tuỳtiện đã để lại những hậu quả lâu dài cho vùng đất ở các khu côngnghiệp, đồng thời còn ảnh hưởng tới chất lượng nước ngầm, đặc biệt làloại chất thải rắn độc hại khó phân huỷ vi sinh như các chất gây ănmòn, dễ cháy nổ , có tính độc cao…
II.Ô NHIỄM ĐẤT DO NÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI
Ô nhiễm đất xảy ra chủ yếu ở nông thôn Trước hết là do sự bànhtrướng của kỹ thuật canh tác hiện đại Nông nghiệp hiện nay phải sảnxuất một lượng lớn thức ăn trong khi đất trồng trọt tính theo đầu ngườingày càng giảm vỡ dõn số gia tăng và cũng vỡ sự phỏt triển thành phố,
kỹ nghệ và những sử dụng phi nụng nghiệp Người ta cần phải thâmcanh mạnh hơn, dẫn tới việc làm xỏo trộn dũng năng lượng và chutrỡnh vật chất trong hệ sinh thỏi nụng nghiệp
Phân bón hóa học chắc chắn đó gia tăng năng suất, nhưng việc sử dụnglặp lại, với liều rất cao gây ra sự ô nhiễm đất do các tạp chất lẫn vào.Hơn nữa Nitrat và Phosphat rải một cách dư thừa sẽ chảy theo nướcmặt và làm ô nhiễm các mực thủy cấp Cũng thế, nông dược vô cơ hayhữu cơ cũng có thể làm ô nhiễm đất và sinh khối Hàng triệu hecta đấtnông nghiệp và cả ngàn dũng kờnh đang mỗi ngày hứng chịu một khốilượng rất lớn chất độc hại thải ra từ phân hóa học, thuốc bảo vệ thựcvật (BVTV) sử dụng trong quá trỡnh canh tỏc của nhà nụng ở đồngbằng sông Cửu Long Cư dân đồng bằng đang phải chung sống vớitỡnh trạng ụ nhiễm do mỡnh gõy ra
Trong nhiều húa chất sử dụng trong nụng nghiệp, người ta có thể phânbiệt các chất khoáng (vô cơ) và các chất hữu cơ tổng hợp Chúng là cácchất gây ô nhiễm thượng nguồn của đất trồng Nhưng sự gián đoạn củachu trỡnh vật chất trong cỏc hệ sinh thỏi nụng nghiệp hiện đại cũn gõymột ụ nhiễm ở hạ nguồn nơi một số đất đai Thật vậy, các núi ráckhổng lồ có nguồn gốc nông nghiệp, sản phẩm do sự khai thác hay sựtiêu thụ sản lượng động vật và thực vật thỡ được thấy ở tất cả các nướccông nghiệp hóa Các chất này không quay trở lại ruộng đồng, khác vớilối canh tác cổ truyền Chúng không bị tái sinh nhưng chất đống ở bói
Trang 9rỏc với sự lờn men hiếm khớ tạo ra cỏc hợp chất S và N độc, làm cho ônhiễm đất gia tăng
Thõm canh khụng ngừng của nụng nghiệp, sử dụng ngày càng nhiềucỏc chất nhõn tạo (phõn húa học, nụng dược ) làm cho đất ô nhiễmtuy chậm nhưng chắc, không hoàn lại (irreversible), đất sẽ kém phỡnhiờu đi Ở cự lao Chợ Mới của tỉnh An Giang, nơi nổi tiếng với nghềtrồng rau màu, chuyện đất đai nhiễm độc cũng đang là vấn đề thời sựđối với nụng dõn Theo số liệu thống kờ của ngành nụng nghiệp, từnăm 1995 toàn huyện Chợ Mới đó xõy dựng được 76 tiểu vùng đê baokhép kín 23.000ha đất sản xuất nụng nghiệp, đưa diện tớch gieo trồnglên đến 75.000ha/năm với số vũng quay của đất trung bỡnh gần 4vụ/năm Hiện tại nụng gia trong huyện đang có xu thế giảm diện tớchtrồng lúa, tăng diện tớch rau màu, bởi lẽ trồng màu cú thể thu nhập 300triệu đồng/ha/năm, vũng quay khai thỏc đất lên đến 6-7 vụ/năm trongkhi cũng lưng trồng lỳa ba vụ chỉ thu được 42 triệu đồng/ha/năm
Nhưng cái giá phải trả cho việc bắt đất đai quay 6-7 vũng sản xuất/nămkhông nhỏ Ông Lê Thành Măng, chủ 1,4ha đất vừa trồng màu vừatrồng lỳa ở ấp Hũa Trung, xó Kiến An, núi với chúng tôi đất đai nhữngnăm qua bị con người khai thỏc quỏ mức nờn nhiễm độc trầm trọng bởihàm lượng phõn húa học, vật tư nông nghiệp thẩm thấu trong đất rấtcao Ông Măng buồn rầu: “Hồi trước tôi bón 40kg phân/công đất(1.000m2) thu được 30-40 giạ lúa, nay bón 60kg nhưng thu chỉ
20 giạ/cụng” Những người trồng rau màu khỏc, tỡnh cảnh cũng khụngkhỏ gỡ Trong khi đó ở vựng tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười
dù năng suất lỳa vẫn cú thể đạt 18 tấn/ha/năm nhưng tỡnh trạng đất đainhiễm độc do nụng dõn lạm dụng phõn húa học, thuốc BVTV cũngđang ở mức báo động đỏ Nhiều cỏn bộ ngành nụng nghiệp cỏc tỉnhnúi trong nhiều yếu tố dẫn đến bệnh vàng lựn, lựn xoắn lỏ hoành hànhtrờn hàng chục ngàn hecta ruộng lỳa ở ĐBSCL trong thời gian qua cúmột phần do đất đai bị nhiễm độc nặng, khụng cũn màu mỡ, trong lànhnờn sức đề khỏng của cõy lỳa cũng giảm
III Ô NHIỄM ĐẤT DO PHÂN BÓN
Trang 10a Do sử dụng phân bón hóa học
Phân hóa học được rói trong đất nhằm gia tăng năng suất cây trồng.Nguyên tắc là khi người ta lấy đi của đất các chất cần thiết cho cây thỡngười ta sẽ trả lại đất qua hỡnh thức bún phõn
Trong các phân hóa học sử dụng nhiều nhất, ta có thể kể phân đạm,phân lân và phân kali Trong một số đất phèn người ta cũn bún vụi,thạch cao
Do đó một số lượng lớn phân bón (chủ yếu là N, P, K) được rói lờn đấttrồng Sự tiêu thụ phân bón của thế giới gia tăng 16 lần từ năm 1964 -
1986
Vỡ lý do lợi nhuận, cỏc chất trờn khụng được tinh khiết Do đó chúngchứa nhiều tạp chất kim loại và á kim độc và ít di động trong đất (bảng1) Chúng có thể tích tụ ở các tầng mặt của đất nơi có rễ cây
Bảng 1 Cỏc tạp chất trong phõn superphosphate (Theo Barrows, 1996)
Arsenic 2,2 - 12 ppmCadmium 50 - 170 Chlomium 66 - 243 Cobalt 0 - 9
Nicken 7 - 32 Selenium 0 - 4,5 Vanadium 20 - 180
éi tỡm năng suất tối đa trong khai thác công nghiệp ở những diệntích rộng lớn là nhờ vào sự gia tăng tối đa lượng phân hóa học éú làmột nhõn tố ụ nhiễm mới cho đồng quê éịnh luật về năng xuất giảmdần (Loi de rendements décroissants), dường như là không được biết
Trang 11bởi các nhà khai thác nông nghiệp, nhưng chúng được không biết mộtcách tự giác bởi những người buôn bán phân bón là kẻ thường khuyênbảo nông dân Ở Việt Nam đã sử dụng nhiều loại phân bón hoá học từnhững năm đầu thập kỉ 60 khi nhà máy supe lân và phân lân nung chảybắt đầu hoạt động.Một số kết quả điều tra cho thấy lượng phân bón hoáhọc sử dụng ở Việt Nam trung bình là 62,7 kg/ha năm 1985, 73,5 kg/havào năm 1990.Trong thập kỉ 1990 – 2000 tổng lượng N.P2O5 K2O tiêuthụ ở Việt Nam đã tăng 310% từ 544,5 ngàn tấn lên đến 2.234 ngàntấn.Trong tạp chí thống kê phân bón hàng năm FAO đã xếp Việt Namvào hàng thứ 17 trong 20 nước bón nhiều phân trên đơn vị diện tíchtrên thế giới( sau Hàn Quốc , Anh , Trung Quốc ; trước cả Pháp vàĐức) và hàng thứ 14 trong 20 nước tiêu thụ nhiều phân bón nhất thếgiới.Lượng phân bón Việt Nam dùng trên đơn vị canh tác đã gấp đôilượng bình quân của thế giới ( 94 kg NK/ha)
Trong một số trường hợp việc lạm dụng phân bón còn bắt nguồn từtập tục canh tác của người dân:
Nông dân vùng rau Đà Lạt cú tập quỏn sử dụng phõn cỏ (cũn gọi
là phõn xỏc mắm) thay cho phõn hữu cơ do nguồn phõn hữu cơ tại chỗkhông đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất Theo số liệu điều tra được thỡ90% số hộ trồng rau dựng phõn cỏ, 48,2% số hộ dựng cả phõn cỏ vàphõn chuồng, số hộ chỉ dựng phõn chuồng là rất hón hữu
Liều lượng phân cá được bón cho rau tương đối cao: tớnh trungbỡnh cho bắp cải - 7,83 tấn/ha, cải bụng - 7,0 tấn/ha, cà rốt - 9,75tấn/ha, khoai tõy - 8,6 tấn/ha, đậu Hà Lan - 6,25 tấn/ha
Việc sử dụng phõn cỏ cũng mang lại cho người nụng dõn trồng raunhững hiệu quả đáng kể về mặt kinh tế (cho năng suất, sản lượng cao),nhưng bên cạnh đó cũng gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là làm chođất bị nhiễm mặn do nồng độ muối trong phõn cỏ cao, cation Na+ sẽđẩy hầu hết cỏc chất dinh dưỡng trong thành phần keo đất ra khỏi đất,phỏ vỡ cơ cấu húa lý của đất, làm cho đất chai cứng sau vài vụ canh
tỏc bún bằng phõn cỏ
Tương tự như vậy, phõn húa học, đặc biệt là phân đạm cũng đượcbún với liều lượng cao
Trang 12BẢNG 1: LIỀU LƯỢNG NPK TRUNG BèNH DÙNG CHO 1 HARAU
482,0516,0409,0479,0503,0
668,7635,0485,0635,0472,6
Từ cỏc số liệu thu thập được ở bảng 1 cho thấy lượng phân vô cơ
sử dụng trung bỡnh trờn 1 ha cao hơn gấp hai lần so với mức khuyếncỏo, khụng những không làm tăng năng suất sản phẩm, mà cũn gõy ranhững hậu quả về môi trường, trước hết là sự tích lũy hàm lượng NO3-trong sản phẩm, mà dư lượng nitrat trong rau là chỉ tiờu quan trọngphõn biệt giữa rau sạch và rau khụng sạch Ngoài ra, dư lượng nitrattrong đất cũn được vi khuẩn khử thành nitrit, nitrit húa hợp với aminthứ cấp tạo thành nitrozoamin là một hoạt chất gây đột biến
b.Ô nhiễm do dùng phân tươi
Các loại phân tươi thường có độ ẩm cao giàu dinh dưỡng nhưng lạimang trong mình nhiều mầm bệnh
Thống kê sơ bộ về số lượng vi trùng và trứng giun được thể hiện trongbảng sau :
Lượng vi trùng và trứng giun trong 1g phân tươi
Loại phân
Số lượng vi trùng Số lượng
trứng giun Coliform ColiformFeacal Tổng số
Phân bắc 58.762 19.216 77.980 1.142 Phân
chuồng 21.667 16.667
38.334 1.783
Trang 13Các loại vi trùng này có khả năng tồn tại trong đất trong một thời giandài và theo nhiều con đường có khả năng xâm nhập vào trong cơ thểngười và gây ra các bệnh như ỉa chảy đau bụng, hút chất dinh dưỡnggây suy dinh dưỡng ỏ trẻ, gây vàng da và một số bệnh lý nguy hiểmkhác.
IV Ô NHIỄM ĐẤT DO SỬ DỤNG NÔNG DƯỢC
Sự sử dụng cú hệ thống một lượng nông dược ngày càng tăng ở nụngthụn là một dẫn chứng cho một thảm họa sinh thỏi từ việc sử dụngthiếu suy nghĩ của một kỹ thuật mới Nông dược chiếm một vị trớ nổibật trong cỏc ụ nhiễm môi trường Khỏc với cỏc chất ụ nhiễm khác,nông dược được rải một cỏch tự nguyện vào môi trường tự nhiờn nhằmtiờu diệt cỏc ký sinh của động vật nuôi và con người hay vào nông thôn
để triệt hạ cỏc loài phỏ hại mựa màng
Cỏc diện tớch cú sử dụng thuốc (phun xịt) rất lớn 5% lónh thổ Hoa Kỳ
cú phun xịt Ở Phỏp, 18 triệu ha cú sử dụng nông dược một lần mộtnăm, chiếm 39% lónh thổ
4.1.Các loại nông dược
Các nông dược hiện đại đa số là chất hữu cơ tổng hợp Thuật ngữpesticides là do từ tiếng Anh pest là loài gõy hại, nờn pesticides cũngọi là chất diệt dịch hay diệt họa
Ta phõn biệt:
- Thuốc trừ sõu (insectides)
- Thuốc trừ nấm (fongicides)
- Thuốc trừ cỏ (herbicides)
- Thuốc trừ chuột (gặm nhấm = rodenticides)
- Thuốc trừ tuyến trựng (nộmatocides)
Trang 14Số lượng nông dược gia tăng mạnh trong vài thập kỷ nay Ở Pháp, cóhơn 300 hợp chất, Mỹ hơn 900 và được thương mói húa dưới 60.000tờn gọi khỏc nhau
a Thuốc trừ sõu (insecticides)
Thuốc trừ sâu được chia ra làm 3 nhúm chớnh: Chất vô cơ, chất cú gốcthực vật và chất hữu cơ tổng hợp Thuốc trừ sõu hữu cơ tổng hợp được
sử dụng nhiều nhất hiện nay Chúng được chia làm 4 nhúm lớn:
- Clor hữu cơ
- Lõn hữu cơ
- Carbamates
- Pyrethroides
ã Thuốc trừ sõu clor hữu cơ
éõy là một nhóm tương đối lớn của thuốc trừ sõu với sự đa dạng về cấutrỳc, tớnh chất và cụng dụng Ba loại chánh được kể ở đây éú là DDT
và cỏc hợp chất tương cận, thuốc trừ sõu clor vũng (aldrin và dieldrin)
và hexachlorohexane (HCHs) như lindane
Thuốc trừ sõu clor hữu cơ là chất rắn bền, ít tan trong nước và cú ỏi lựcmạnh với lipid (liphophilicity) Vài chất rất bền bỉ trong thể ban đầuhay như là chất biến dưỡng bền Tất cả đều là chất độc thần kinh
DDT thương mại chứa 70 - 80% đồng phõn sỏt trựng của ppDDT.Thuốc trừ sâu tương cận bao gồm rhotane (DDD) và methoxychlor.Tớnh chất sỏt trựng của DDT được khỏm phỏ bởi Paul Muller củacông ty Ciba-Geigy năm 1939 DDT đó được dựng với qui mụ nhỏ (trừcụn trựng mang mầm bịnh, vectors) trong thế chiến 2, nhưng sau đóđược dựng rất rộng rải để trừ dịch hại nụng nghiệp, sinh vật mang mầmbệnh (như muỗi gõy sốt rột), ngoại ký sinh của gia súc, và côn trùngtrong nhà và cơ sở kỹ nghệ Do ít tan trong nước (< 1 mg/l), DDT đượcpha chế dưới dạng nhũ tương, tức là dung dịch của thuốc trong dung
Trang 15mụi hữu cơ, dùng để phun xịt DDT cú LD50 là 113 - 450 mg/kg ởchuột và được cho là độc vừa phải.
Aldrin, dieldrin và heptachlor là cỏc thuốc trừ sõu cú vũng Chỳnggiống DDT ở chổ là chất rắn bền, ưa lipid, ít tan trong nước, nhưngkhác ở cách tác động Chỳng rất độc với hữu nhũ (LD50 là 40 - 60 mg/kg) Chúng được dựng từ những năm 1965 để chống lại các côn trùng,như là chất bảo vệ hạt giống và thuốc trừ sõu của đất
HCH được tiếp thị như là hỗn hợp thụ của đồng phõn BHC , nhưngrộng rải hơn ở dạng tinh chế cú chứa chủ yếu đồng phân gamma, như(HCH, (BHC hay lindane (HCH có cùng các đặc tớnh với cỏc thuốctrừ sõu clor hữu cơ khác, nhưng nó phân cực hơn và tan trong nướcnhiều hơn (7mg/l) Nhũ tương của HCH được dùng để trừ cỏc dịch hạinụng nghiệp và cỏc ký sinh trựng của gia súc Chúng cũng được dựngbảo vệ hạt giống HCH chỉ độc vừa phải đối với chuột (LD50 là 60 -250mg/kg) (Walker và CSV, 1996)
Trong thế chiến lần thứ hai, hợp chất lõn hữu cơ được dựng làm chấtđộc thần kinh (neurotoxin), vỡ chỳng cú khả năng ngăn trở enzimacetylcholinesteraz (AchE) Chúng được sản xuất vỡ hai cụng dụngchỏnh, là thuốc trừ sõu và vũ khớ húa học Chỳng là những ester hữu
cơ của acid phosphoric
Ngày nay một số lượng lớn hợp chất lõn hữu cơ được tiếp thị như làthuốc trừ sõu éa số thuốc trừ sõu lõn hữu cơ là chất lỏng ưa lipid, vàiloại bay hơi, một ớt là chất rắn Chỳng ớt bền vững hơn thuốc trừ sõuclor hữu cơ và bị phõn hủy dễ hơn bởi cỏc tỏc nhõn húa học hay sinhhúa học Do đó, chúng phõn hủy nhanh trong môi trường, nhưng độctớnh cấp thời là đáng kể Chỳng phõn cực và tan trong nước nhiều hơnthuốc trừ sõu clor hữu cơ Các hoạt húa của vài thứ thuốc trừ sõu lõnhữu cơ hũa tan trong nước đủ để đạt đến nồng độ cao trong mụ dẫnnhựa (phloem) của cây, gây độc cho côn trùng ăn phải (chất độc lưudẫn ?)
Trang 16Hỡnh 1 Cỏc nụng dược chớnh (I): thuốc trừ sõu; (H) thuốc diệt cơ; (F)thuốc trừ nấm
Dạng thức chế tạo của cỏc hợp chất lõn hữu cơ thỡ quan trọng trong ụnhiễm môi trường do chỳng gõy ra Nhiều thứ được chế biến dưới dạngnhũ tương để phun xịt Nhiều loại khỏc là chất bao bọc hạt giống haydạng viờn nhỏ Dạng viờn cần cho cỏc thuốc trừ sõu lõn hữu cơ độctớnh cao, vỡ dạng này an toàn hơn dạng nhũ tương khi thao tác Thuốc
bị cầm giữ trong viờn, và chỉ thoỏt từ từ ra môi trường
Trong nhiều quốc gia, thuốc trừ sõu lõn hữu cơ hiện vẫn cũn được sửdụng cho hoa màu dưới nhiều dạng thức khác nhau Chúng được dùng
Trang 17để kiểm soỏt ngoại ký sinh của gia sỳc và cả nội ký sinh, cào cào, dịchhại cỏc kho chứa, muỗi, ký sinh của cỏ
ã Thuốc trừ sõu carbamate
éõy là cỏc dẫn xuất của acid carbamic và phỏt triển gần đây hơn 2nhóm thuốc trừ sõu núi trờn Giống như thuốc trừ sõu lõn hữu cơ,chúng có tác động ngăn trở enzym acetylcholinesterase (AchE).Carbamate thường là thể rắn, vài thứ ở thể lỏng Sự hũa tan vào nướcthay đổi đáng kể Giống như thuốc trừ sõu lõn hữu cơ, chúng dễ bịphõn hủy bởi cỏc tỏc nhõn húa học hay sinh húa học và thường khụng
cú vấn đề lưu tồn lõu dài éộc tớnh cấp thời của chúng là điều đáng nói.Vài loại (aldicarb và carbofuran) tác động như thuốc lưu dẫn Một ớt(methiocarb) dựng diệt ốc sờn Cần phõn biệt carbamate trừ sõu vàcarbamate trừ cỏ (propham, chlopropham) ít độc với động vật
Thuốc trừ sâu carbamate được chế biến như cách của thuốc trừ sõu lõnhữu cơ, như các thứ cực độc (aldcarb và carbofuran) chỉ chế tạo ở dạngviên Chúng được dùng để kiểm soỏt cụn trựng trong nụng nghiệp vàhoa màu, trừ tuyến trựng (nematocides) và thõn mềm (molluscides)
ã Thuốc trừ sõu pyrethroid
Thuốc trừ sâu pyrethroid thiên nhiên được tỡm thấy trong hoa đầu cỏc
cõy cỳc Chrysanthemum, từ đó gợi ý cho người ta làm cỏc thuốc trừ sõu pyrethroid tổng hợp Pyrethroid tổng hợp thỡ bền hơn pyrethroid
thiên nhiên Pyrethroid là chất rắn, ít tan trong nước, và là chất độcthần kinh như DDT Chúng là các ester được tạo bởi một acid hữu cơ(thường là acid chrysanthemic) và một baz hữu cơ Mặc dự pyrethroidbền hơn pyrethrin, nhưng chúng dễ bị phõn hủy sinh học và khụng gõyvấn đề thời gian bỏn hủy sinh học Tuy nhiờn, chỳng cú thể kết chặtvới cỏc hạt mịn của đất và chất trầm tớch, và ở đó chúng sẽ lưu tồn lõudài Chỳng chủ yếu gây độc tớnh cấp thời, cú chọn lọc trong số cỏc cụntrựng, thỳ và chim Vấn đề môi trường của chúng là độc tính đối với cỏ
và cỏc éVKXS khụng là đối tượng phũng trừ
Trang 18Pyrethroids được chế tỏc chủ yếu thành nhũ tương để phun xịt Chúngđược dùng để kiểm soỏt một phổ rộng cỏc cụn trựng gõy họa trongnụng nghiệp và hoa màu, và được dựng phổ biến để trừ cụn trựng mầmbịnh (muỗi tsetse ở Chõu Phi)
b Thuốc trừ cỏ tổng hợp
Cỏc thuốc trừ cỏ phỏt triển mạnh vài chục năm nay Các dẫn xuất củaacid phenoxyacetic là những hợp chất đầu tiên được thương mại húa.Chỳng tỏc dụng giống như auxine thực vật và gõy sự rối loạn tăngtrưởng của song tử diệp Ngoài ra cũn cú nhúm Triazine, Simazine(ngăn chặn quang hợp bằng cỏch chặn đứng chu trỡnh Calvin, cõykhụng thể cố định CO2) Pichloram là chất độc và rất ổn định trongmụi trường
Cỏc dẫn xuất của acid phenoxyacetic là nhúm thuốc trừ cỏ quan trọngnhất Cỏc thớ dụ quen thuộc là 2,4-D, 2,4-DB, 2,4,5-T, MCPA vàCMPP Chúng tác động bằng cỏch rối loạn quỏ trỡnh tăng trưởng theocỏch của chất điều hũa tăng trưởng tự nhiờn Indole acetic acid (IAA).Chỳng là cỏc dẫn xuất của cỏc acid carboxylic phenoxyankal Khi chếtạo dưới dạng muối kiềm, chỳng rất hũa tan vào nước, nhưng khi chếtạo dưới dạng ester đơn thỡ chỳng lại ưa lipid và ít hũa tan vào nước
éa số thuốc trừ cỏ phenoxy dễ bị phõn hủy sinh học và không lưu tồntrong cơ thể sinh vật hay trong đất Chỳng tỏc dụng cú chọn lọc, nhưchọn lọc giữa đơn tử diệp và song tử diệp, chúng được sử dụng chủ yếu
để trừ hạt đơn tử diệp trong đất trồng song tử diệp (ngũ cốc và đồngcỏ) Vấn đề môi trường cú hai loại Thứ nhất là vấn đề độc tớnh thựcvật (phytotoxycity) do phun xịt hay phun sương Thứ hai là vài loại cúchứa hợp chất cực độc là dioxin (TCDD = tetrachlorodibenzodioxin),tỏc nhõn màu da cam của 2,4-D và 2,4,5-T dùng như thuốc làm rụng lỏcõy ở Việt Nam éõy là chất cực độc cho hữu nhũ (LD50 là 10 - 200 (g/
kg ở chuột)
c Thuốc chống đông máu trừ gậm nhấm
Trang 19Hợp chất Warfarin đó được dựng từ nhiều năm qua như thuốc trừ gậmnhấm Nú là phõn tử ưa lipid, ít tan trong nước và tác động như chấtđối khỏng của vitamin K Gần đây, khi các gậm nhấm hoang dó khỏngđược Warfarin, thỡ thế hệ thứ hai của thuốc này đó được tiếp thị, cũng
cú cụng thức tương cận qua Wafarin Chỳng bao gồm diphenacoum,bromadiolone, brodiphacoum và flocoumafen Chỳng giống vớiWafarin ở tớnh chất tổng quát nhưng độc hơn cho thú và chim nhưnglại lưu tồn lõu trong gan của éVCXS Do đó chúng có thể được chuyển
từ gậm nhấm sang các động vật ăn thịt và các loài ăn xác chết của cỏcgậm nhấm này Như chim cú ở Anh quốc chẳng hạn, cú chứa mộtlượng thuốc trừ gậm nhấm núi trờn Thuốc trừ gậm nhấm thường đượctrộn vào bó mồi, đặt trong nhà hay ngoài cửa, chỳng sẽ được cỏc gậmnhấm hoang dó ăn
4.2.Tính chất sinh thái học của nông dược
Dù nông dược cú nhiều lợi ích nhưng một số bất lợi xuất hiện dần vàtrở nờn trầm trọng Vỡ nụng dược tác động lờn cả hệ sinh thỏi chứkhụng chỉ loài gõy hại Thực vật, bất kỳ một nông dược nào cũng gõymột biến đổi sâu xa đến hệ sinh thỏi cú sử dụng nú, vỡ cú tớnh chấtsinh thỏi học sau đây:
- Cú phổ độc tớnh rộng cho động vật và thực vật
- éộc tính cho động vật mỏu núng và mỏu lạnh
- Người sử dụng nông dược chỉ để diệt khoảng 0,5% số loài, trong khinông dược sử dụng cú thể tác động lờn toàn thể sinh vật
- Người ta sử dụng nông dược để luụn luụn chống lại cỏc quần thể
- Tỏc dụng của chúng độc lập với mật độ nhưng người ta dựng khi mật
độ lên đến mức gõy hại (nờn dựng thuốc lại lệ thuộc mật độ)
- Lượng dùng thường cao hơn lượng cần thiết vỡ để cho chắc ăn
- Diện tớch phun xịt khỏ lớn Ở Chõu Âu là hàng chục triệu ha
Trang 20- Nhiều nông dược tồn lưu lâu dài trong môi trường
Sự ụ nhiễm do nông dược hiện là hiện tượng toàn cầu, nhất là thuốc lõnhữu cơ
4.3 Ảnh hưởng của việc dùng nông dược
và cỏc cõy mộc họ Caesalpiniaceae ở cỏc rừng vựng nỳi (Westing,1984) Cỏc dẫn xuất của acid phenoxyacetic cũng độc đối với các độngvật thủy sinh Ngoài ra chỳng cũng cú thể gây đột biến ở người Như ởViệt Nam, sự biến dạng thai nhi đó được thấy cao hơn mức bỡnhthường nơi các bà mẹ bị nhiễm nặng bởi việc phun xịt thuốc khaiquang trong thời gian chiến tranh chống Mỹ
Dựng thuốc trừ sõu gõy chết cỏc quần xó động vật ở trong hay quanhvựng xử lý Phun xịt thuốc trừ sõu trờn rừng gõy chết nhiều chim vàthỳ Cuối những năm 50, ở Hoa kỳ chiến dịch diệt Kiến lửa (Solenosissoevissina), trờn 110.000 km2 bằng mỏy bay, sử dụng cỏc hạtHeptachlore và dieldrine với liều 2,5 kg/ha ở năm đầu; 1,4 kg/ha vào 2năm tiếp theo Chiến dịch này cú lợi cho cỏc nhà kinh doanh nụngnghiệp, nhưng gây nhiều thảm họa cho động vật ở đây Sáo, Sơn ca vàcác chim bộ Sẻ khỏc bị ảnh hưởng mạnh Bũ sỏt, cụn trựng sống trongđất bị giảm số lượng mạnh
Thuốc trừ nấm mặc dù không quá độc đối với cây xanh và động vật,nhưng hậu quả sinh thỏi học của chỳng vẫn có Như chúng tỏ ra độcđối với trùn đất là sinh vật đóng vai trũ quan trọng trong sinh thỏi họcđất, nhất là việc giữ độ phi nhiêu cho đất Hạt giống trộn với thuốc diệt
Trang 21nấm gõy hại cho chim Một số chất cú thể được tớch lũy trong mụ củađộng vật
b Ảnh hưởng lờn cỏc quần xó
éa số cỏc hậu quả của sinh thỏi học của việc dùng nông dược là ảnhhưởng giỏn tiếp thể hiện sớm hay muộn Aính hưởng của sự nhiễm độcmón tớnh là do hấp thụ liờn tục các nông dược cựng với thức ăn Nógây chết cho các độ tuổi và làm giảm tiềm năng sinh học, nờn làmgiảm sự gia tăng của cỏc quần thể bị nhiễm, dẫn đến sự diệt chủng củaloài
Aính hưởng của nông dược do sự chuyển vận qua sinh khối, với sựtớch tụ nông dược trong mỗi nấc dinh dưỡng, làm cho nồng độ nôngdược trong cỏc vật ăn thịt luụn rất cao Trường hợp nặng gặp ở cácnông dược ớt hay khụng bị phõn hủy sinh học Cho nờn thực vật cú thểtớch tụ nông dược trong mụ éến phiờn chỳng làm thức ăn cho nhữngbậc dinh dưỡng cao hơn, sẽ làm nông dược chuyển đến cuối chuỗi thứcăn:
éiều này làm nhiễm độc món tớnh cỏc động vật, dễ thấy là rối loạnchức năng sinh sản (chậm trưởng thành sinh dục, số trứng ớt, trứng cú
vỏ mỏng) Cỏc chlor hữu cơ như DDT, dieldrine, heptachlor và PCB,cũng như các thuốc diệt cỏ đều ảnh hưởng đến sinh sản của chim
Cỏc ảnh hưởng trờn cũn cú thể dẫn đến cỏc hậu quả sau đây:
- Giảm lượng thức ăn Một trong những xỏo trộn do nông dược gõycho quần xó là làm giảm lượng thức ăn động vật và thực vật cần thiếtcho cỏc loài ở cỏc bậc dinh dưỡng khỏc nhau trong hệ sinh thỏi nụngnghiệp (Pimentel và Edwards, 1982) Sự biến mất dần cỏc thực vậthoang dại do sử dụng thuốc trừ cỏ trong các vùng đất canh tác làm thayđổi sõu xa nguồn thức ăn và nơi ở của nhiều loài chim định cư sốngtrong vùng hay xung quanh đó Tương tợ, việc sử dụng cỏc thuốc trừsõu phõn hủy nhanh (lõn hữu cơ, carbamate và pyrethroid) tuy không
Trang 22gây độc lâu dài như nhóm chlor hữu cơ, nhưng cũng gây hại cho cácloài chim ăn côn trùng vỡ chỳng và con chỳng sẽ khụng cú thức ăn
- Làm thay đổi cõn bằng trong tự nhiên Nông dược cú thể gõy ra sựphỏt triển quá đáng của một loài thực vật hay động vật nào đó Khi sửdụng thuốc diệt cỏ ở các nơi trồng ngũ cốc thỡ hạt song tử diệp bị loạitrừ, khi đó các cỏ họ hũa bản khó ưa sẽ phỏt triển mạnh vỡ vắng cỏcloài cạnh tranh Sử dụng nông dược cú thể loại trừ cỏc kẻ thự tự nhiờncủa những loài gõy hại Như ở Hoa kỳ chẳng hạn, việc sử dụng quáđáng azodrin, thuốc trừ sõu lõn hữu cơ, để trừ cụn trựng gõy hại cõybụng vải cho thấy một tỡnh huống tiếu lõm Thay vỡ làm giảm quần
thể sõu Heliothis zea, thuốc azodrin lại diệt các thiên địch và ký sinh của sõu này, làm cho vựng trồng bụng cú dựng thuốc bị thiệt hại nhiều
hơn vùng không dùng thuốc (Ramade, 1987)
- Ảnh hưởng lờn diễn thế Diễn thế của cỏc quần thể động vật lệ thuộcchặt chẻ vào diễn thế của cỏc quần thể thực vật, nờn thuốc diệt cỏ ảnhhưởng mạnh hơn thuốc trừ sõu trong diễn thế của quần xó Thuốc diệt
cỏ ớt chọn lọc tác động giống như lửa Nú làm hệ sinh thỏi trở lại giaiđoạn đầu của giai đoạn chiếm cứ bởi cỏc thực vật tiên phong Trongvài trường hợp, sự sử dụng cú hệ thống của thuốc trừ cỏ cú thể tạo ragiai đoạn cao đỉnh nghẹn (dysclimax) Cỏc khu rừng Việt Nam, nơi đó
bị tàn phỏ hoàn toàn bởi thuốc khai quang, thỡ đất trống được tre vàđồng cỏ bao phủ, rừng khụng thể phục hồi trở lại được Rừng tre vàđồng cỏ phỏt triển thành quần xó cao đỉnh nghẹn (tắc nghẹn,dysclimax)
Theo số liệu của tổng cục thống kê vế số lượng thuốc bảo vệ thực vậtcung cấp cho đồng ruộng năm 1998 đã tăng gấp đôi và chi phí về thuốc
đã tăng gấp 10 lần so với năm 1991.Về chủng loại thì ở Việt Nam loạithuốc trừ sâu chủ yếu vẫn là thuốc sâu ( gần 50%).Thuốc trừ cỏ mớichiếm một phần tử ( 25%) Khuynh hướng chung sẽ là việc dùng thuốctrừ cỏ tăng dần lên, việc dùng thuốc trừ sâu và bệnh sẽ giảm đi
Việc sử dụng thuốc bảo vệ là cần thiết nhưng việc sử dụng quá mức sẽ
là những nguồn ô nhiễm và tác động rất lớn đến môi trường và sức
Trang 23khoẻ cộng đồng.Tại các vùng chuyên canh vấn đề này càng cần đượcquan tâm.
Đà Lạt có lượng mưa hàng năm lớn, khớ hậu ẩm ướt, ít thông thoáng là điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sõu bệnh phỏt sinh và phỏt triển Mặt khỏc, vỡ là vựng rau chuyờn canh nờn hệ số sử dụng đất rất cao, thời vụ gieo trồng phõn bố đều trong năm, tạo nguồn thức ăn vừa phong phỳ vừa dồi dào cho cỏc loài cụn trựng gõy hại, tạo cho chỳng
di chuyển thuận lợi từ ruộng sắp thu hoạch sang ruộng mới gieo trồng
Vỡ thế, việc sử dụng húa chất thậm chớ ở nồng độ, liều lượng cao là điều dễ hiểu
BẢNG 2: NỒNG ĐỘ THUỐC TRỪ SÂU ĐƯỢC SỬ DỤNG
Nồng độ khuyến cỏo
1,0ml1,25-3,12-2,50-2,50-6,25g0,05-
BẢNG 3: NỒNG ĐỘ THUỐC CHỮA BỆNH ĐƯỢC SỬ DỤNG
Đơn vị tớnh: g hoặc ml/l
Chủng
loại thuốc
Nồng độ khuyến cỏo
Nồng độ sử dụng trung
bỡnh Ở
bắp cải
Ở khoai tõy
Ở đậu
Hà Lan
Trang 2416,139,373,122,501,56
15,6 3,590,62 Qua kết quả điều tra cho thấy nụng dõn sử dụng thuốc trừ sõu và thuốc chống bệnh cho rau với nồng độ cao so với quy định trung bỡnh
từ 8-10 lần, cỏ biệt cú trường hợp đến 13-14 lần (bảng 2, 3)
Theo quy định của TCVN 5941-1995 về dư lượng húa chất bảo vệthực vật và TCVN 5942-1995 về chất lượng nước bề mặt thỡ dư lượng Monitor (Methamidophos) phân tích được trong tầng đất canh tỏc ở ĐàLạt vượt tiờu chuẩn 5,6 lần (chuẩn 0,1 mg/m3), trong nước ở độ sâu 50cm vượt tiờu chuẩn 1,5 lần (chuẩn 0,15 mg/l)
BẢNG 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH METHAMIDOPHOS
Đơn vị tớnh: g hoặc ml/l
Tờn mẫu Dư lượn
g
Tờn mẫu Dư lượng Tờn mẫu Dư lượng
1,157
-
0,560,094
Nước sâu 50 cm
Nước sâu
100 cmNước sõu
150 cm
0,2950,3430,123
-
Bắp cảiĐậu Hà lan
2,80,334
-
Trang 25100 cmNước sõu
150 cm
Khoai tõy
Hàm lượng nitrat (NO3)
Kết quả phõn tớch cỏc mẫu bắp cải, khoai tây, đậu Hà Lan vào thỏng 7, thỏng 10, thỏng 12.1996 và thỏng 2.1997 cho thấy dư lượng NO3 tớch tụ trong bắp cải rất cao, trung bỡnh 1.255,5 mg/kg, vượt hơn 2,5 lần so với quy định của FAO/WHO, chỉ có khoai tây và đậu Hà Lan là có dư lượng nitrat dưới ngưỡng quy định (khoai tây 159,66 mg/
kg, đậu Hà Lan 58,47 mg/kg)
Dư lượng kim loại nặng
Qua kết quả phõn tớch một lượng mẫu lớn của đất, nước và sản phẩm trong 2 năm: 1996 và 1997 cho thấy hầu như hàm lượng cỏc kim loại nặng Pb, Cu, Zn, Mn, Cd, Cr trung bỡnh đều ở dưới ngưỡng quy định của FAO/WHO và TCVN 5942-1995 (bảng 5)
BẢNG 5: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH KIM LOẠI NẶNG
75
0,0120,0160,009
1
0,0130,00220,00
33
0,0080,0060,007
0,0020,0030,0021
0,00130,0050,0015
Nước khu Đa
Thiện
Nước hồ Xuân
Hương
0,00980,0104
0,00710,0079
0,02990,045-
0,00340,00510,00550,0039
0,00440,00290,00480,0036
Trang 26Nước khu Trại
Mát
Nước hồ Than
Thở
0,01130,09
05
0,00670,005
46
0,4391,5420,465
2,503,6103,04
1
1,1232,3050,894
0,0120,0170,0097
0,0340,0380,0434
V Ô NHIỄM DO RÁC THẢI
Chất thải rắn đô thị cũng là một nguyên nhân gây ô nhiễm môi trườngđất nếu không được quản lý thu gom và kiểm soát đúng quy trình kỹthuật
Tất cả sinh vật đều thải rác, nhưng không có sinh vật nào thải rác cóthành phần đa dạng như con người Rác thải do từ các hoạt động khácnhau Phần này đề cập đến rác thải rắn của đô thị, bao gồm rác từ vănphũng, bệnh viện, trường học, kho chứa, nhà dân
Ở Hoa Kỳ, mỗi năm có hơn 145 triệu tấn rác, tức khoảng 580kg/người Trung bỡnh mỗi người, đàn ông, đàn bà, trẻ con, tạo ra 1,6
kg rác mỗi ngày (Chiras, 1991) Thành phố 1 triệu dân mỗi năm thảimột lượng rác đủ để lấp đầy một sân đá banh Số lượng rác đô thị giatăng hàng năm từ 2-4% Khối lượng rác thải này gây ra vấn đề lớn chocác đô thị, nơi đất dùng đổ rác ngày càng hiếm
Mỗi người dân thành phố trung bỡnh ở Việt Nam, như ở thành phố Cầnthơ chẳng hạn, thải 0,6 kg rác mỗi ngày Số rác này được thu gom mộtphần, đem đổ ở bói rỏc Chõu thành (Cỏi răng), gây ô nhiễm một vùngngoại ô.Còn ở huyện Cỏi Bố (Tiền Giang) rỏc thải nylon đang trởthành mối lo lớn chưa có hướng giải quyết thỏa đáng tại các vùngchuyên canh cây ăn trái đặc sản Nguyờn nhõn phổ biến do bà con saukhi sử dụng bao nylon bảo vệ trỏi cõy, dựng tấm bạt nylon phủ cỏc mụ
Trang 27trồng rau màu đó vứt bừa bói xuống kờnh rạch khụng qua xử lý, gõy
ụ nhiễm trầm trọng môi trường sống
Được biết, bảo vệ trỏi cõy trờn cành bằng bao nhựa hoặc dựng màngphủ nụng nghiệp là giải pháp đang được khuyến khớch nhằm nõng chấtlượng nụng sản hàng húa, chủ động phũng chống dịch bệnh, xõy dựngnhững vựng sản xuất an toàn theo hướng “ba giảm, ba tăng” phù hợpvới tiờu chớ về vệ sinh an toàn thực phẩm Theo ước tớnh của mộtnông gia, 1 công đất trồng ổi (1.000 m2) mỗi năm cần dựng khoản1.500 kg bao nylon Với 200 ha đất trồng ổi của huyện Cỏi Bố mỗinăm cần đến 300 tấn bao nylon chuyên dùng, chưa kể cỏc cõy trồngkhỏc hoặc diện tớch rau màu trồng trờn chõn ruộng Nếu tính đúng,tính đủ con số này sẽ rất lớn Bao nylon hoặc màng phủ nụng nghiệpdùng xong đa phần bà con bỏ bừa bói hoặc thải ngay xuống kờnh rạch
Họ lấy lý do việc chụn khụng khả thi cũn đốt bỏ thỡ nhiều người e ngạiảnh hưởng đến sức khỏe
Cỏc xó cú diện tớch ổi tập trung lớn của huyện Cái Bè: Tân Hưng, TânThanh, Mỹ Lương đều cú tỡnh trạng ụ nhiễm rỏc thải trong sản xuấtnụng nghiệp, đũi hỏi ngành chức năng có hướng xử lý hoặc hướng dẫnngười dõn tự xử lý bằng những giải phỏp thỏa đáng nhằm cải thiện môitrường sống tốt hơn
Cỏc bói rỏc làm ụ nhiễm đất , nước và không khí, tiêu tốn năng lượng,chiếm một diện tích đất lớn Sự đốt rác tạo ra khí độc theo gió đi rất xa,tro cú thể cũn chứa chất độc lại dùng để lấp các nơi trũng hay trồngcây
Ngoài các vật liệu thông thường, rác cũn chứa cỏc chất khụng bị phõnhủy sinh học và cỏc chất phúng xạ Ngoài mục đích sử dụng cho quân
sự, các chất phóng xạ cũn được sử dụng khá phổ biến cho dân dụng và
y học Nhưng việc tích lũy các chất thải phóng xạ ngày càng nhiều đó
và đang gây nên một vấn nạn không chỉ riêng cho các quốc gia đang sửdụng chúng Ở Hoa kỳ, hàng năm có hơn 250 triệu tấn chất thải độchại, tức trung bỡnh mỗi người dân một tấn Các nước Châu âu cũngkhông kém Chỉ một phần của số rác trên được xử lý, cũn phần lớnđược tập trung ở bói rỏc hay thải ra sụng hồ, biển và đại dương Mộtvấn đề môi trường khác là việc các nước công nghiệp xuất khẩu rác