Chương II: Phân loại chi phí Chương III: Phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận và thông tin thích hợp với quyết định ngắn hạn ChươngIV: Dự toán sản xuất kinh doanh C
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập chương trình Cao đẳng nghề Kế
toán Doanh nghiệp, Thạc sỹ Kinh tế Nguyễn Sơn Ngọc Minh đã tiến hành biên
soạn giáo trình môn học Kế toán quản trị
Giáo trình được biên soạn trên cơ sở quyết định số 15/2008/QĐ- BLĐTBXH ngày 31 tháng 03 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội về việc ban hành chương trình khung đào tạo trình độ Cao đẳng nghề Kế toán Doanh nghiệp, tài liệu tham khảo là các giáo trình Kế toán quản trị của Học viện Tài chính, trường Đại học Thương mại Hà Nội và một số tài liệu khác có liên quan đến môn học
Nội dung giáo trình gồm 5 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về kế toán quản trị
Chương II: Phân loại chi phí
Chương III: Phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận
và thông tin thích hợp với quyết định ngắn hạn
ChươngIV: Dự toán sản xuất kinh doanh
Chương V: Xác định chi phí và định giá sản phẩm và dịch vụ
Trong quá trình biên soạn, soạn giả đã cố gắng thể hiện nội dung giáo trình để đảm bảo tính lý luận, tính khoa học và tính thực tiễn phù hợp với nhận thức chung của học sinh Cao đẳng nghề Kế toán doanh nghiệp Tuy nhiên trong quá trình biên soạn giáo trình không tránh khỏi những thiếu sót, soạn giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn
Trang 2CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1 KHÁI NIỆM, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1 Khái niệm về kế toán quản trị
Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng về hoạt động của đơn vị một cách cụ thể, giúp các nhà quản lý trong quá trình ra các quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị
1.2 Mục tiêu của kế toán quản trị
Mục tiêu của kế toán quản trị là loại kế toán dành riêng cho các nhà quản
lý, trợ giúp cho việc ra quyết định theo các tình huống rát cụ thể của các nhà quản lý Các quyết định của các nhà quản lý thường liên quan đến vấn đề chi phí (tiêu dùng nguồn lực) và (lợi ích) giá trị thu được do các chi phí tạo ra Vì vậy, mục tiêu của kế toán quản trị tập trung vào 2 mục tiêu chủ yếu sau:
- Mục tiêu liên kết giữa việc tiêu dùng các nguồn lực (chi phí ) và nhu cầu tài trợ với các nguyên nhân của việc tiêu dùng các nguồn lực đó (chi phí phát sinh) để thực hiện các mục đích cụ thể của đơn vị
Đối với kế toán quản trị, mô hình doanh nghiệp thể hiện dưới dạng gắn các mục đích mà doanh nghiệp theo đuổi với các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể huy động với việc tiêu dùng các nguồn lực này (thể hiện thông qua các chi phí)
Mục đích mà danh nghiệp theo đuổi có thể rất đa dạng, nó có thể là:
+ Bán được một khối lượng sản phẩm nào đó
+ Tôn trọng và thực hiện một thời hạn giao hàng cụ thể
+ Khả năng giải quyết vấn đề nào đó tại hiện trường trong một khoảng thời gian nhất định…
- Mục tiêu tìm cách tối ưu hoá mối quan hệ giữa chi phí với giá trị (lợi ích) mà chi phí đó tạo ra
Bất kể khi quyết định lựa chọn một phương án tối ưu của nhà quản trị, bao giờ cũng quan tâm đến hiệu quả kinh tế của phương án mang lại; vì vậy, kế toán quản trị phải tìm cách tối ưu hoá quan hệ giữa chi phí và lợi ích của phương
án lựa chọn Tuy nhiên, không có nghĩa mục tiêu duy nhất là luôn hạ thấp chi phí
Trang 31.3 Nhiệm vụ của kế toán quản trị
Ngoài những nhiệm vụ của kế toán nói chung là: thu nhận, xử lý, phân tích thông tin, số liệu; kiểm tra, giam sát tình hình tài chính, tài sản; cung cấp thông tin, tổ chức phân tích thông tin, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị; nhiệm vụ cụ thể của kế toán quản trị là:
- Tính toán và đưa ra mô hình nhu cầu vốn cho một hoạt động hay một quyết định cụ thể
- Đo lường, tính toán chi phí cho một hoạt động, sản phẩm hay một quyết định cụ thể
- Tìm ra những giải pháp tác động lên các chi phí để tối ưu hoá mối quan
hệ Chi phí-Khối lượng-Lợi nhuận
2 KẾ TOÁN QUẢN TRỊ, KẾ TOÁN TÀI CHÍNH VÀ KẾ TOÁN CHI PHÍ
2.1 Kế toán tài chính và kế toán quản trị
Kế toán tài chính và kế toán quản trị là hai bộ phận của kế toán doanh nghiệp, chúng có mối quan hệ chặt chẽ, đồng thời cũng có nhiều điểm khác biệt
2.1.1 Sự khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
Do có đối tượng sử dụng thông tin khác nhau, mục đích sử dụng thông tin cũng khác nhau nên giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính có nhiều điểm khác biệt cơ bản sau:
Đối tượng bên trong đơn vị (chủ DN, ban GĐ, quản lý viên, giám sát viên, các quản đốc…)
- Tính pháp lý Có tính pháp lệnh, tuân Tuỳ thuộc đơn vị, mang tính
Trang 4theo qui định thống nhất của Luật, chế độ kế toán
nội bộ và thuộc thẩm quyền của nhà quản lý
- Đặc điểm thông
tin
- Chủ yếu dưới hình thức giá trị, thông tin thực hiện
về những giao dịch, nghiệp
vụ đã phát sinh
- Thu thập từ chứng từ ban đầu, qua quá trình ghi sổ, tổng hợp báo cáo
-Cả hình thức giá trị, hiện vật, lao động; thông tin chủ yếu hướng tới tương lai (hướng tới những sự kiện chưa phát sinh-
sẽ phát sinh)
- Thông tin thường không có sẵn, nên cần phải thu thập từ nhiều nguồn khác nhau (dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán, kết hợp với nguồn
bắt buộc theo mẫu
Báo cáo theo từng bộ phận, từng tình huống ra quyết định; linh hoạt theo yêu cầu quản lý (không bắt buộc theo khuôn mẫu)
- Kỳ báo cáo Định kỳ ( quý, năm) Thường xuyên, kỳ ngắn, theo
yêu cầu của nhà quản trị (không qui định được kỳ báo cáo)
2.1.2 Sự giống nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
Kế toán tài chính và kế toán quản trị có nhiều điểm giống nhau và là hai
bộ phận không thể tách rời của kế toán doanh nghiệp, chúng có những điểm giống nhau cơ bản sau:
- Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều đề cập đến các sự kiện kinh tế trong doanh nghiệp và đều quan tâm đến tài sản, nguồn vốn, chi phí, doanh thu, kết quả hoạt động Một bên phản ánh tổng quát và một bên phản ánh chi tiết, tỉ
mỉ các vấn đề đó
- Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán Hệ thống ghi chép ban đầu là cơ sở để kế toán tài chính soạn thảo các báo cáo tài chính định kỳ, cung cấp cho các đối tượng bên ngoài Đối vói kế toán quản trị, hệ thống đó cũng là cơ sở để vận dụng, xử lý nhằm tạo ra các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định của các nhà quản trị Kế toán quản trị sử dụng rộng rãi các ghi chép hàng ngày của kế toán tài chính, mặc dù
có triển khai và tăng thêm số liệu cũng như nội dung của các thông tin đó
- Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều biểu hiện trách nhiệm của người quản lý Kế toán tài chính biểu hiện trách nhiệm của người quản lý cấp
Trang 5cao, còn kế toán quản trị biểu hiện trách nhiệm của các nhà quản lý các cấp bên trong doanh nghiệp Nói cách khác, kế toán tài chính hay kế toán quản trị đều tham gia vào quản lý doanh nghiệp
2.2 Kế toán chi phí với kế toán quản trị
Nội dung chủ yếu, phổ biến của kế toán quản trị trong doanh nghiệp bao gồm:
- Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm;
- Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh;
- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận;
- Lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết định;
- Lập dự toán ngân ách sản xuất, kinh doanh;
- Kế toán quản trị một số khoản mục khác;
- Kế toán quản trị tài sản cố định;
- Kế toán quản trị hàng tồn kho;
- Kế toán quản trị lao động và tiền lương;
- Kế toán quản trị các khoản nợ
Ngoài các nội dung chủ yếu trên, doanh nghiệp có thể thực hiện các nội dung kế toán quản trị khác theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Như vậy, kế toán quản trị nói chung là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra các quyết định kinh tế
Còn kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm là một bộ phận quan trọng trong kế toán quản trị nói chung, nhằm cung cấp các thông tin về tình hình chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định phục vụ cho việc ra các quyết định liên quan đến chi phí và giá thành sản phẩm
2.3 Kế toán quản trị với các môn khoa học khác
Thông tin kế toán quản trị là nhằm phục vụ chức năng ra quyết định của nhà quản trị và thường không có sẵn nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán, kế toán quản trị còn phải kết hợp với nhiều ngành khác như: Thống kê, Kinh tế học, Quản lý… để tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin thành dạng hữu ích
Trang 63 VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC CHỨC NĂNG QUẢN LÝ
3.1 Vai trò của kế toán quản trị trong việc thực hiện chức năng quản
lý ở doanh nghiệp
Trách nhiệm của các nhà quản trị các cấp trong doanh nghiệp là điều hành
và quản lý các mặt hoạt động của doanh nghiệp Các chức năng cơ bản của quản
lý doanh nghiệp, tất cả xoay quanh vấn đề “ ra quyết định” Để quản lý và ra quyết định đối với các tình huống thì cần phải có thông tin Chức năng cơ bản của quản lý được khái quát bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Chu kỳ thực hiện các chức năng quản lý
Qua sơ đồ này có thể thấy sự liên tục của hoạt động quản lý từ khâu lập kế hoạch đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay lại khâu lập kế hoạch cho kỳ sau, tất cả đều xoay quanh trục quyết định
Như vậy, để làm tốt các chức năng quản lý, nhà quản trị phải có thông tin cần thiết để có thể ra các quyết định đúng đắn Kế toán quản trị là nguồn chủ yếu cung cấp nhu cầu thông tin đó Vai trò của kế toán quản trị thể hiện trong các khâu của quá trình quản lý được thể hiện cụ thể như sau:
- Trong giai đoạn lập kế hoạch và dự toán
Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt được và vạch ra các bước thực hiện để đạt được những mục tiêu đó Các kế hoạch này có thể là kế hoạch dài hạn, ngắn hạn
Lập kế hoạch
Ra quyết định
Kiểm tra
Tổ chức, điều hành Đánh giá
Trang 7Dự toán cũng là một loại kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu và chỉ rõ cách huy động, sử dụng các nguồn lực để đạt các mục tiêu đề ra
Kế toán quản trị thu thập thông tin thực hiện (quá khứ) và những thông tin liên quan đến tương lai (thông tin dự đoán, dự tính) để phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự toán
- Trong giai đoạn tổ chức thực hiện
Trong khâu tổ chức thực hiện, các nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhất giữa các yếu tố, tổ chức, con người và các nguồn lực , sao cho kế hoạch được thực hiện ở mức cao nhất và hiệu quả nhất
Kế toán quản trị có vai trò thu thập và cung cấp các thông tin đã và đang thực hiện để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh của nhà quản trị và chỉ đạo thực hiện các quyết định (như các quyết định ngắn hạn: quyết định loại bỏ hoặc tiếp tục duy trì kinh doanh một bộ phận nào đó; quyết định tự sản xuất hay mua; quyết định bán ngay nửa thành phẩm hay tiếp tục chế biến… hoặc các quyết định dài hạn khác… ) Ngoài ra còn thu thập thông tin thực hiện để phục
vụ cho việc kiểm tra đánh giá sau này
- Trong giai đoạn kiểm tra và đánh giá:
Nhà quản trị sau khi đã lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện
kế hoạch, đòi hỏi phải kiểm tra, đánh giá hoạt động (kết quả công việc) và đánh giá việc thực hiiện kế hoạch Phương pháp thường dùng là so sánh số liệu thực hiện với số liệu của kế hoạch và dự toán, xác định những sai biệt giữa kết quả đạt được với các mục tiêu đề ra Do đó, kế toán quản trị có vai trò cung cấp thông tin thực hiện từng bộ phận; giúp nhà quản lý nhận diện và đánh giá kết quả thực hiện, những vấn đề còn tồn tại cần có tác động của quản lý; đồng thời phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự toán kỳ sau
-Trong khâu ra quyết định
Phần lớn thông tin do kế otán quản trị cung cấp nhằm giúp các nhà quản
lý ra quyết định Đó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu của quản trị doanh nghiệp, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, đến kiểm tra, đánh giá
Kế toán quản trị có vai trò cung cấp thông tin, soạn thảo các báo cáo phân tích số liệu, thông tin thích hợp giữa các phương án đưa ra để lựa chọn; tư vấn cho nhà quản trị lựa chọn phương án, quyết định phù hợp, tối ưu nhất
Trang 8Kế toán quản trị giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ bằng cách cung cấp thông tin thích hợp,mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân tích vào những tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa chọn,
ra quyết định thích hợp nhất
3.2 Phương pháp nghiệp vụ của kế toán quản trị
KTQT là một bộ phận của kế toán doanh nghiệp nên trước hết phải áp dụng các phương pháp chung của kế toán, đó là phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tính giá và phương pháp tổng hợp cân đối kế toán Tuy nhiên việc vận dụng các phương pháp này cũng có những đặc điểm khác so với KTTC
Song đặc điểm của thông tin KTQT chủ yếu phục vụ quá trình ra quyết định của các nhà quản trị Thông tin này thường không có sẵn, do đó KTQT phải vận dụng một số phương pháp nghiệp vụ để xử lý chúng thành dạng phù hợp với nhu cầu của các nhà quản trị.Các phương pháp thường được vận dụng là:
3.2.1 Thiết kế thông tin thành dạng so sánh được
Thông tin sẽ vô dụng nếu thiếu các tiêu chuẩn để so sánh với nó Do
đó để chuyển những thông tin đã thu thập được thành dạng hữu ích, KTQT sẽ phân tích và thiết kế chung thành dạng có thể so sánh được Quá trình ra quyết định của nhà quản trị phải dựa vào những so sánh này để đánh giá và ra quyết định
3.2.2 Phân loại chi phí
Kiểm soát chi phí là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và quan trọng của nhà quản trị nên việc phân loại chi phí sao cho hữu ích và thích hợp với nhu cầu quản trị cũng là một phương pháp cuả KTQT
KTQT thực hiện việc phân loại chi phí theo nhiều tiêu thức khác nhau để phục vụ cho các mục đích khác nhau của quản trị doanh nghiệp
3.2.3 Trình bày mối quan hệ giữa các thông tin kế toán theo dạng phương trình
Dạng phương trình rất tiện dụng cho việc phân tích và dự đoán một số quá trình chưa xảy ra căn cứ trên các dữ kiện đã có và mối quan hệ đã xác định.Do
đó trình bày mối quan hệ giữa các thông tin kế toán dưới dạng phương trình cũng là một phương pháp được KTQT sử dụng làm căn cứ cho việc tính toán lập
kế hoạch
3.2.4 Trình bày thông tin dưới dạng đồ thị:
Trang 9Đồ thị là cách thể hiện dễ thấy và rõ ràng nhất mối quan hệ và xu hướng biến thiên của thông tin Do đó phương pháp này cũng được KTQT sử dụng khá thông dụng
3.3 Tổ chức hệ thống bộ máy kế toán quản trị
3.3.1 Nội dung của tổ chức KTQT trong doanh nghiệp
Để phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị, tổ chức KTQT trong doanh nghiệp có thể được thực hiện theo chức năng hoặc theo khâu công việc của quá trình kế toán
3.3.1.1 Tổ chức KTQT trong doanh nghiệp theo chức năng
Theo chức năng của KTQT, KTQT trong doanh nghiệp được tổ chức theo các nội dung cụ thể sau:
- Tổ chức thu nhận thông tin
+ Thu nhận thông tin quá khứ: Bộ phận thông tin này được thu nhận thông qua kế toán chi tiết, chi tiết hoá các chỉ tiêu KTTC theo yêu cầu quản trị
+ Thu nhận thông tin tương lai: Bộ phận thông tin này được thu nhận thông qua các bộ phận chức năng của doanh nghiệp, nhằm có được những dự đoán tương lai liên quan đến hoạt động của DN, từ đó xây dựng hệ thống kế hoạch, dự toán giúp nhà quản trị điều hành hoạt động của DN có hiệu quả
- Tổ chức phân tích thông tin:
+ Tổ chức phân tích thông tin quá khứ: Trên cơ sở các thông tin quá khứ
đã thu nhận được, KTQT tiến hành so sánh, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán xác định các nhân tố ảnh hưởng, những tồn tại và nguyên nhân của nó để đưa ra những giải pháp khắc phục, khai thác khả năng tiềm tàng để sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao hơn
+ Tổ chức phân tích thông tin tương lai, cung cấp thông tin để tư vấn cho nhà quản trị ra quyết định: KTQT đặc biệt quan tâm tới việc phân tích mối quan
hệ chi phí- khối lượng- lợi nhuận, phân tích điểm hoà vốn trong kinh doanh phục vụ cho việc ra quyết định ngắn hạn Đồng thời KTQT cũng rất chú trọng đến việc phân tích thông tin bằng phương pháp nhất định như: phương pháp hiện giá thuần, phương pháp tỷ lệ sinh lợi nội bộ… giúp nhà quản trị ra các quyết định đầu tư dài hạn
3.3.1.2 Tổ chức KTQT trong doanh nghiệp theo các khâu công việc của quá trình kế toán
Trang 10Các khâu công việc của quá trình kế toán bao gồm: tổ chức hạch toán ban đầu, tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, tính giá và lập báo cáo kế toán Việc tổ chức KTQT trong doanh nghiệp theo các khâu công việc của quá trình kế toán được thực hiện như sau:
- Tổ chức hạch toán ban đầu:
+ Sử dụng hệ thống chứng từ kế toán bắt buộc để thu nhận thông tin kế toán theo qui định
+ Cụ thể hoá hệ thống chứng từ hướng dẫn, chọn lọc, bổ sung, sửa đổi các chỉ tiêu trên chứng từ cho phù hợp với nội dung KTQT
+ Thiết kế một số chứng từ kế toán cần thiết để phản ánh các nội dung thông tin thích hợp theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp trong việc thu nhận, xử
lý và cung cấp thông tin cho việc đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, định mức và dự toán cũng như phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch, định mức và dự toán mới
+ Tổ chức luân chuyển chứng từ hợp lý
- Tổ chức tài khoản kế toán:
Trên cơ sở hệ thống tài khoản kế toán thống nhất do nhà nước ban hành, trên cơ sở yêu cầu quản lý chi tiết đốivới từng đối tượng để mở các tài khoản chi tiết cấp 2, cấp 3, cấp 4,… nhằm chi tiết hoá các thông tin KTQT, từ đó xử lý, tổng hợp, phân tích thông tin một cách khoa học và có hệ thống
- Tổ chức hệ thống sổ kế toán:
Thiết kế hệ thống sổ kế toán chi tiết với số lượng sổ, kết cấu mẫu sổ và các chỉ tiêu cần phản ánh phù hợp với các yêu cầu quản trị khác nhau, đồng thời phù hợp với trình độ trang bị công nghệ xử lý thông tin tại doanh nghiệp
- Tính giá và lập báo cáo quản trị:
+ Sử dụng các phương pháp tính giá mang tính chất đặc thù của kế toán quản trị đến xác định giá trị tài sản phục vụ cho việc xây dựng định mức chi phí, lập dự toán chi phí, phân tích điểm hoà vốn trong kinh doanh, xác định giá ngắn hạn,…
+ Trên cơ sở các thông tin đã thu nhận, cần lập hệ thống báo cáo kế toán nội bộ gồm báo cáo nhanh, báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất, báo cáo chi tiết, báo cáo tổng hợp,… Từ đó kết hợp sử dụng các phương pháp kỹ thuật khác nhau để phân tích các chỉ tiêu thực hiện, giúp nhà quản trị ra quyết định đúng đắn và hiệu quả hơn
Trang 113.3.2 Mô hình tổ chức kế toán quản trị
Giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên giữa hai loại kế toán này cũng có tính độc lập tương đối Vì vậy, xuất phát từ điều kiện cụ thể và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp mà
tổ chức KTQT trong doanh nghiệp có thể được xây dựng theo một trong 2 mô hình sau:
3.3.2.1.Mô hình tổ chức kế toán quản trị kết hợp kế toán tài chính
Theo mô hình này, phòng kế toán của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận
kế toán đảm nhiệm các phần hành KTTC cụ thể Tương ứng với mỗi bộ phận của KTTC sẽ bao gồm các phần hành KTQT Nhân viên kế toán ở mỗi bộ phận
sẽ thực hiện đồng thời các công việc của KTTC và KTQT
- Các công việc của KTTC được thực hiện cho mỗi phần hành kế toán bao gồm:
+ Căn cứ vào các chứng từ kế toán, KTTC ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ
kế toán chi tiết có liên quan
+ Cuối kỳ, kiểm tra, đối chiếu, khoá sổ kế toán làm căn cứ để lập các báo cáo tài chính
- Các công việc của KTQT được thực hiện tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý đối với từng phần hành kế toán Chẳng hạn:
+ Bộ phận kế toán tiền mặt, KTQT thực hiện các công việc sau:
Ghi nhận nghiệp vụ thu chi tiền vào các sổ kế toán chi tiết được mở theo yêu cầu quản trị
Lập dự toán thu, chi theo từng mục đích, từng bộ phận sử dụng tiền + Bộ phận kế toán chi phí- giá thành, KTQT thực hiện các công việc sau: Phân loại chi phí, lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí, phương pháp phân bổ chi phí, tính giá thành sản phẩm theo mục tiêu quản trị
Trang 12- Việc tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình này có những ưu nhược điểm sau:
+ Ưu điểm cơ bản của mô hình này:
Kết hợp chặt chẽ giữa quản lý tổng hợp và quản lý chi tiết theo từng chỉ tiêu
Phân công, phân nhiệm trong phòng kế toán thuận lợi, đơn giản, dễ làm, tạo điều kiện quản lý chặt chẽ công việc của nhân viên kế toán
Thu nhận, xử lý thông tin nhanh
Thuận lợi cho việc cơ giới hoá công tác kế toán
+ Nhược điểm:
Không tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên môn hoá theo hai loại kế toán (KTTC và KTQT) từ đó hạn chế quá trình quản lý nội bộ
3.3.2 2 Mô hình tổ chức kế toán quản trị độc lập với kế toán tài chính
Theo mô hình này, phòng kế toán của doanh nghiệp có bộ phận KTQT riêng, thực hiện các công việc độc lập với KTTC Các công việc của KTQT được thực hiện ở bộ phận này bao gồm:
- Mở hệ thống sổ kế toán chi tiết theo yêu cầu quản lý
- Lập dự toán các chỉ tiêu và theo dõi tình hình thực hiện dự toán
- Phân loại chi phí, lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí, phương pháp phân bổ chi phí, tính giá thành sản phẩm theo mục tiêu quản trị
- Phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí
- Cung cấp số liệu, tài liệu cho việc lập dự toán mới và lập BCQT
Việc tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình này có những ưu nhược điểm sau:
- Ưu điểm cơ bản của mô hình này là tạo điều kiện thuận lợi cho chuyên môn hoá theo 2 loại kế toán (KTTC và KTQT)
Trang 13Câu hỏi ôn tập:
1.Khái niệm kế toán quản trị, nội dung cơ bản và mục tiêu, nhiệm vụ của
kế toán quản trị doanh nghiệp?
2 Phân biệt sự giống và khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính?
3 Phân tích vai trò của kế toán quản trị trong việc thực hiện các chức năng quản lý
4 Trình bày nội dung của kế toán quản trị
5 Phân tích ưu, nhược diểm của các mô hình tổ chức kế toán quản trị
Trang 14CHƯƠNG 2:
PHÂN LOẠI CHI PHÍ VÀ PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CHI PHÍ
1 KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA CHI PHÍ
1.1 Khái niệm
Kế toán quản trị có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp các thông tin về hoạt động của doanh nghiệp giúp các nhà quản lý thực hiện chức năng quản trị doanh nghiệp Đa số các thông tin mà các nhà quản lý cần thường có liên quan với các chi phí của doanh nghiệp Do đó để có thể cung cấp những thông tin về chi phí của doanh nghiệp một cách đầy đủ và hữu ích, cần phải hiểu biết về khái niệm, bản chất, nội dung của chi phí
Thuật ngữ chi phí có từ thời trung cổ (từ thế kỷ thứ V sau công nguyên) từ
đó cho đến nay người ta vẫn quan niệm chi phí như là những hao phí phải bỏ ra
để đổi lấy sự thu về
Hiện tại cũng có nhiều khái niệm khác nhau về chi phí
Xét dưới góc độ kế toán, theo chuẩn mực kế toán Việt nam – Chuẩn mực
số 01 “ Chuẩn mực chung”: Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra,các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu
Theo quan điểm của các trường đại học khối kinh tế: chi phí của doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho 1 thời kì nhất định
Các khái niệm trên tuy có khác nhau về cách diễn đạt, về mức độ khái quát nhưng đều thể hiện bản chất của chi phí là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy sự thu về, có thể thu về dưới dạng vật chất định lượng được như số lượng sản phẩm hoặc thu về dưới dạng tinh thần hay dịch vụ được phục vụ
1.2 Bản chất của chi phí
Bản chất kinh tế của chi phí được thể hiện ở các điểm sau:
- Nội dung của chi phí có thể biểu hiện bằng công thức:
C + V + M1
Trong đó:
Trang 15+ C là hao phí lao động vật hoá - giá trị của tư liệu sản xuất đã tiêu hao như khấu hao TSCĐ, chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ…
+ V là hao phí lao động sống như chi phí về tiền lương (tiền công) phải trả cho người lao động tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh
+ M1 là một phần giá trị mới sáng tạo ra như các khoản trích theo tiền lương: BHXH, BHYT, KPCĐ; các khoản thuế có tính chất chi phí như thuế tài nguyên, thuế môn bài, thuế nhà đất; chi phí lãi vay
- Các chi phí của doanh nghiệp phải được đo lường và tính toán bằng tiền trong một khoảng thời gian xác định (năm, quí, tháng)
- Xét ở góc độ doanh nghiệp, chi phí luôn có tính cá biệt, nó bao gồm tất
cả các khoản chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để tồn tại và hoạt động
- Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản:
+ Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong một thời gian nhất định
+ Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu hao và tiền công của một đơn vị lao động đã hao phí
Để hiểu rõ hơn về nội dung, bản chất của chi phí cũng cần phải phân biệt chi tiêu với chi phí của doanh nghiệp trong một thời kỳ
Chi tiêu của doanh nghiệp là sự chi ra, sự giảm đi đơn thuần của tài sản bằng tiền trong doanh nghiệp, không kể các khoản chi tiêu đó dùng vào việc gì? dùng như thế nào? Chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm : chi cho quá trình mua hàng (chi mua sắm vật tư, hàng hoá…), chi cho quá trình sản xuất kinh doanh (chi cho sản xuất chế tạo sản phẩm ), chi cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá (chi vận chuyển, bốc dỡ, quảng cáo…), chi cho hoạt động quản
lý và cho các hoạt động khác
Còn chi phí, chỉ bao gồm những hao phí về tài sản và lao động có liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập để hình thành lợi nhuận của kỳ hạch toán chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ
Chi tiêu và chi phí có mối liên hệ mật thiết với nhau, chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí Nhưng chi tiêu và chi phí là hai khái niệm khác nhau Giữa chi tiêu và chi phí của doanh nghiệp trong cùng một thời kỳ có sự khác nhau về lượng và về thời gian:
* Sự khác nhau về lượng: Chi phí của doanh nghiệp không bao gồm các khoản chi tiêu có đặc điểm sau:
Trang 16Các khoản chi tiêu làm giảm tài sản bằng tiền nhưng làm tăng tài sản khác trong doanh nghiệp ( ví dụ: dùng tiền mặt, TGNH mua hàng hoá, công cụ dụng cụ…)
Các khoản chi tiêu làm giảm tài sản nhưng đồng thời cũng làm giảm một khoản nợ phải trả của doanh nghiệp ( ví dụ: dùng tiền để nộp thuế, trả nợ người bán, trả lương cho nhân viên…)
Sự khác biệt này sẽ làm cho tổng chi tiêu và tổng chi phí của doanh nghiệp trong một kỳ không bằng nhau
* Sự khác nhau về thời gian: Do có sự không phù hợp về thời gian phát sinh các khoản chi tiêu và thời gian phát huy tác dụng của nó đối với thu nhập của doanh nghiệp:
Có những khoản chi tiêu ở kỳ này nhưng còn được chờ để phân bổ vào chi phí của kỳ sau (chi phí trả trước )
Có những khoản chưa chi tiêu ở kỳ này (sẽ chi ở kỳ sau) nhưng đã được tính trước vào chi phí của kỳ này (chi phí phải trả )
Sở dĩ có sự khác biệt giữa chi tiêu và chi phí của một kỳ trong doanh nghiệp là do đặc điểm, tính chất vận động và phương thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất kinh doanh cũng như yêu cầu của kỹ thuật hạch toán
Tại các doanh nghiệp, chi phí bao gồm nhiều loại có tính chất kinh tế, công dụng khác nhau và yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau Việc quản lý chi phí không chỉ căn cứ vào số liệu tổng chi phí mà phải theo dõi, kiểm soát dựa vào số liệu của từng loại chi phí Bởi vậy, muốn quản lý tốt chi phí tất yếu phải phân loại chi phí
2 PHÂN LOẠI CHI PHÍ
Các DN hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau (sản xuất, thương mại, dịch vụ) hoặc sản xuất kinh doanh những loại sản phẩm, dịch vụ khác nhau thì nội dung, tính chất của chi phí cũng sẽ khác nhau Tuy nhiên, hoạt động của doanh nghiệp sản xuất thường phức tạp hơn các loại hình DN khác, do chức năng của nó bao gồm cả sản xuất, lưu thông và quản lý Sự hiểu biết về cơ cấu chi phí của doanh nghiệp sản xuất sẽ cung cấp những kiến thức rộng, bao quát của việc xác định chi phí, nên sẽ rất ích lợi trong việc tìm hiểu cơ cấu chi phí của các loại hình DN khác Mặt khác, mặc dù trong thực tế ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh các DN còn có thể thực hiện các hoạt động khác, nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn là hoạt động cơ bản giúp DN đạt được mục
Trang 17tiêu đã xác định Do đó, phần này giáo trình sẽ tập trung vào phương pháp phân loại chi phí phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị trong DN thuộc loại hình hoạt động sản xuất
2.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Cách phân loại này căn cứ vào vai trò của chi phí với từng chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Phân loại chi phí theo chức năng là
cơ sở để tập hợp chi phí và xác định giá thành sản phẩm, đồng thời cung cấp thông tin có hệ thống cho việc lập các báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh theo chức năng hoạt động )
Theo tiêu thức này chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành các loại sau:
a) Chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất là những khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng (bộ phận ) sản xuất gắn liền với các hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của
DN
Chi phí sản xuất bao gồm 3 khoản mục chi phí cơ bản đó là:
* Chi phí nguyên vật liệu (NVL) trực tiếp: là toàn bộ các chi phí về nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu được sử dụng trực tiếp để sản xuất, chế tạo sản phẩm, cung cấp dịch vụ Chi phí về nguyên vật liệu chính thường dễ nhận diện cho từng đối tượng chịu chi phí (từng sản phẩm, loại sản phẩm, công trình, hạng mục….) nên khi hạch toán khoản chi phí này chỉ cần căn
cứ chứng từ gốc để hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí Còn chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu có thể liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí Truờng hợp này để hạch toán chi phí vào từng đối tượng chịu chi phí phải tiến hành phân bổ theo tiêu thức phù hợp (chi phí NVL chính, định mức chi phí…) Trong quản lý khoản mục chi phí NVL trực tiếp, nhà quản lý cần chú ý khi nhận diện chi phí vật liệu phụ, bởi lẽ ngoài việc dùng trực tiếp để sản xuất chế tạo sản phẩm, vật liệu phụ còn được dùng để phục vụ, quản lý sản xuất Mà giá trị vật liệu phụ dùng để phục vụ , quản lý sản xuất không được hạch toán vào khoản mục chi phí NVL trực tiếp, nó thuộc nội dung khoản mục chi phí sản xuất chung
* Chi phí nhân công trực tiếp: là các khoản chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp thực hiện quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện các dịch vụ, bao gồm lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền công và các khoản
Trang 18trích theo tiền lương(BHXH, BHYT, KPCĐ) được tính vào chi phí sản xuất trong kỳ của công nhân trực tiếp thực hiện quá trình sản xuất
Chi phí nhân công trực tiếp dễ nhận diện cho từng đối tượng chịu chi phí Thông thường nhân viên hạch toán chỉ cần căn cứ vào bảng chấm công, phiếu kê khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành và cấp bậc lương của công nhân để hạch toán khoản mục chi phí này.Trừ trường hợp trong cùng một qui trình công nghệ sản xuất lại chế tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau thì để hạch toán khoản mục chi phí này cho từng loại sản phẩm, kế toán cũng phải tiến hành phân
bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức phù hợp ( định mức chi phí nhân công, chi phí NVL…)
* Chi phí sản xuất chung: là tất cả các khoản chi phí sản xuất phát sinh tại phân xưởng sản xuất ngoài 2 khoản mục chi phí NVL trực tiếp và nhân công trực tiếp để phục vụ và quản lý sản xuất Chi phí sản xuất chung bao gồm:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng: đó là các chi phí về tiền công, tiền lương phải trả cho những nhân viên làm nhiệm vụ phục vụ, quản lý sản xuất ( công nhân sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị sản xuất, quản đốc phân xưởng…) và các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ ) được tính vào chi phí sản xuất của những nhân viên này
+ Chi phí vật liệu quản lý: là chi phí về vật liệu phụ dùng cho phục vụ, quản lý sản xuất
+ Chi phí công cụ, dụng cụ dùng trong sản xuất sản phẩm
+ Chi phí khấu hao máy móc, thiết bị và TSCĐ khác dùng trong sản xuất sản phẩm
+ Chi phí dịch vụ thuê ngoài dùng trong sản xuất (điện , nước…)
+ Chi phí sản xuất khác
Chi phí sản xuất chung là một khoản mục chi phí phức tạp bao gồm nhiều yếu tố chi phí có đặc điểm, tính chất biến đổi khác nhau Đây là khoản mục chi phí khó định lượng, khó xây dựng định mức, nên trong quản lý, khoản mục chi phí sản xuất chung cần phải được chú ý kiểm soát chặt chẽ
Trong thực tế chi phí sản xuất chung thường được tập hợp theo phạm vi địa điểm sản xuất (phân xưởng, công đoạn, ) Nếu phân xưởng (công đoạn) sản xuất chỉ thực hiện sản xuất một loại sản phẩm thì chi phí sản xuất chung là chi phí trực tiếp Trường hợp phân xưởng (công đoạn) sản xuất thực hiện sản xuất nhiều loại sản phẩm thì chi phí sản xuất chung là chi phí gián tiếp, do đó để hạch
Trang 19toán chi phí sản xuất chung cho từng đối tượng chịu chi phí kế toán cũng phải tiến hành phân bổ theo những tiêu thức phù hợp (số giờ lao động trực tiếp, định mức chi phí sản xuất chung, số giờ máy hoạt động… )
Chi phí NVL trực tiếp kết hợp với chi phí nhân công trực tiếp gọi là chi phí ban đầu Chi phí ban đầu phản ánh mức chi phí chủ yếu để sản xuất sản phẩm, chi phí này có thể nhận diện cho từng đơn vị sản phẩm và là cơ sở để lập
kế hoạch về lượng chi phí chủ yếu cần thiết để sản xuất loại sản phẩm đó
Chi phí nhân công trực tiếp kết hợp với chi phí sản xuất chung được gọi là chi phí chuyển đổi Chi phí chuyển đổi phản ánh mức chi phí cần thiết để chuyển đổi nguyên liệu từ dạng thô sang dạng thành phẩm và là cơ sở để lập kế hoạch về lượng chi phí cần thiết để chế biến 1 lượng nguyên liệu nhất định thành thành phẩm
Chi phí sản xuất chỉ phát sinh ở những DN thuộc loại hình sản xuất (sản xuất công nghiệp, sản xuất xây lắp…)
b) Chi phí ngoài sản xuất:
Chi phí ngoài sản xuất là những khoản chi phí doanh nghiệp phải chi để thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ và chi cho bộ máy quản lý doanh nghiệp Căn cứ vào chức năng hoạt động chi phí ngoài sản xuất được chia thành 2 loại:
* Chi phí bán hàng: là chi phí lưu thông và tiếp thị trong quá trình bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho khách hàng Loại chi phí này gồm chi phí giao hàng, quảng cáo, giao dịch, lương nhân viên bán hàng …
* Chi phí quản lý doanh nghiệp: là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức, quản lý hành chính và phục vụ sản xuất kinh doanh có tính chất chung toàn doanh nghiệp
Giống như chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng là những khoản mục chi phí có nội dung phức tạp bao gồm nhiều yếu tố chi phí có đặc điểm, tính chất khác nhau, liên quan đến nhiều bộ phận trong doanh nghiệp Vì vậy việc kiểm soát, quản lý và phân bổ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cho các đối tượng chịu chi phí rất khó khăn, đôi khi dẫn đến việc đánh giá sai kết quả hoạt động của từng bộ phận và hậu quả
là sẽ làm giảm tinh thần phấn khởi, năng động sáng tạo của các bộ phận trong doanh nghiệp
Tất cả các loại hình tổ chức doanh nghiệp đều phát sinh chi phí ngoài sản xuất
Trang 20Sơ đồ 2.1- Phân loại chi phí theo chức năng
2.2 Phân loại theo mối quan hệ với thời kỳ xác định lợi nhuận
Theo tiêu thức này chi phí của doanh nghiệp được chia thành 2 loại như sau:
* Chi phí sản phẩm: là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hay quá trình mua hàng hoá để bán Đối với doanh nghiệp sản xuất thì chi phí sản phẩm chính là chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung, còn đối với doanh nghiệp thương mại thì chi phí sản phẩm chính là giá mua hàng hoá và chi phí mua hàng hoá
Đặc điểm của chi phí sản phẩm là khi sản phẩm, hàng hoá chưa được bán
ra thì chi phí sản phẩm được phản ánh trong giá thành hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán Khi sản phẩm , hàng hoá được bán ra thì chi phí sản phẩm sẽ được chuyển vào chỉ tiêu giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Như vậy một vòng luân chuyển của chi phí sản phẩm có thể trải qua nhiều kỳ báo cáo, do đó nó có thể ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của nhiều kỳ Đây là dòng chi phí gắn liền với nhiều rủi ro tiềm tàng từ sự biến động của thị trường Để quản lý tốt loại chi phí này, nhằm hạn chế rủi ro thì các nhà quản lý doanh nghiệp phải có kế hoạch dự trữ sản phẩm, hàng hoá hợp lý
Trang 21vừa đảm bảo liên tục có sản phẩm, hàng hoá để bán ra đồng thời tránh để sản phẩm, hàng hoá tồn kho ứ đọng
* Chi phí thời kỳ: là những chi phí để hoạt động kinh doanh trong kỳ không tạo nên giá trị hàng tồn kho, mà trực tiếp làm giảm lợi nhuận của kỳ mà chúng phát sinh
Như đã phân tích ở phần trên, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đều được xem là chi phí thời kỳ Những khoản chi phí này không phải là một phần của giá trị sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua vào Chúng được thể hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh của kỳ mà chúng phát sinh và làm giảm lợi nhuận của kỳ đó
Để hiểu rõ hơn về chi phi sản phẩm và chi phí thời kỳ chúng ta hãy xem xét cách thể hiện chúng trên báo cáo kết quả kinh doanh qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.2 – Sự vận động của chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
(Doanh nghiệp sản xuất)
Chưa
tiêu thụ
=
Trang 22Bảng 2.1 - Báo cáo kết quả kinh doanh theo chức năng
(Doanh nghiệp sản xuất)
Chỉ tiêu Số tiền
1.Doanh thu
2 Giá vốn bán hàng (2 = 2c- 2d )
a.Giá trị thành phẩm tồn kho đầu kỳ
b.Giá trị thành phẩm hoàn thành trong kỳ
b Chi phí quản lý doanh nghiệp
5.Lợi nhuận trước thuế thu nhập DN (5 = 3-4)
Sơ đồ 2.3 – Sự vận động của chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
(Doanh nghiệp thương mại)
Chi phí mua hàng
Giá trị hàng mua vào
Trang 23Bảng 2.2: Báo cáo kết quả kinh doanh theo chức năng của chi phí
( Doanh nghiệp thương mại)
Chỉ tiêu Số tiền
1.Doanh thu bán hàng
2.Giá vốn bán hàng (2 = 2c- 2d )
a.Giá trị hàng hoá tồn kho đầu kỳ
b.Giá trị hàng hoá mua vào trong kỳ
c.Giá trị hàng hoá sẵn có chờ bán (c=a+b)
d.Giá trị hàng hoá tồn kho cuối kỳ
3.Lợi nhuận gộp (3 = 1-2 )
4.Chi phí kinh doanh ( 4 = 4a + 4b)
a.Chi phí bán hàng
b.Chi phí quản lý doanh nghiệp
5.Lợi nhuận trước thuế thu nhập DN (5 = 3- 4)
Báo cáo kết quả kinh doanh theo chức năng thường được lập chung cho toàn doanh nghiệp và được sử dụng chủ yếu để cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp Chúng ta cần chú ý để phân biệt nó với dạng báo cáo kết quả kinh doanh lập theo ứng xử của chi phí
2.3 Phân loại theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí
Theo cách phân loại này, chi phí SXKD được chia làm 2 loại: Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng
kế toán tập hợp chi phí (như từng loại sản phẩm, công việc, hoạt động, đơn đặt hàng,…); chúng có thể được qui nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí Trong quản trị doanh nghiệp nói chung và quản trị chi phí nói riêng, nếu loại chi phí này chiếm đa số trong tổng số chi phí thì sẽ thuận lợi cho việc kiểm soát chi phí và dễ dàng trong việc xác định nguyên nhân gây ra chi phí Chúng dễ nhận biết và hạch toán chính xác, ví dụ phần lớn chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp là chi phí trực tiếp
- Chi phí gián tiếp: là các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí khác nhau nên không thể qui nạp trực tiếp cho từng đối tượng
Trang 24tập hợp chi phí được mà phảI tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi chúng phát sinh, sau đó qui nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp
Khi thực hiện phân bổ chi phí cho từng đối tượng, doanh nghiệp cần phải lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ phù hợp Mức độ hợp lý của chi phí phân bổ cho từng đối tượng phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn Vì vậy, nếu muốn có những thông tin đúng đắn, chân thực về chi phí, kết quả, lợi nhuận của từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng loại hoạt động của doanh nghiệp thì các nhà quản trị doanh nghiệp cần quan tâm đến việc lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ chi phí
Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa về mặt kỹ thuật qui nạp chi phí vào đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Tuy nhiên, thông qua cách phân loại này, các nhân viên kế toán quản trị có thể tư vấn để các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra
và thực hiện một cơ cấu tổ chức sản xuất, kinh doanh hợp lý để đa số các khoản chi phí có thể được qui nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí Từ đó giúp cho việc kỉem soát chi phí được thuận lợi hơn
2.4 Phân loại theo cách ứng xử chi phí
Cách phân loại này dựa vào sự “ứng xử” của chi phí với sự thay đổi của mức độ hoạt động “ứng xử” của chi phí có nghĩa là các chi phí sẽ tăng giảm như thế nào đối với những thay đổi của mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động sẽ giúp nhà quản lý nhận biết được “ứng xử” của từng loại chi phí với thay đổi của mức độ hoạt động, phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí
Theo tiêu thức này, chi phí được phân thành 3 loại: biến phí (chi phí khả biến), định phí (chi phí cố định) và chi phí hỗn hợp
Tổng số biến phí thay đổi tỷ lệ với sự thay đổi của mức độ hoạt động nhưng biến phí tính trên 1 đơn vị mức độ hoạt động (1sản phẩm, 1giờ máy hoạt động ) thì không đổi Ví dụ: tại một xí nghiệp sản xuất xe đạp điện, mỗi xe cần
Trang 25một bình ắc qui trị giá 1.000.000đ Như vậy nếu chúng ta xem xét chi phí bình
ắc qui tính cho 1 xe thì nó luôn luôn giữ nguyên là 1 triệu, cho dù trong kỳ xí nghiệp sản xuất bao nhiêu xe Chi phí này chỉ thay đổi khi có tác động ở bên ngoài
Xem xét kĩ hơn về biến phí, có thể thấy không phải tất cả mọi khoản biến phí đều có ứng xử như nhau đối với thay đổi của mức độ hoạt động Có một số loại biến phí thay đổi tỷ lệ thuận (biến phí tỷ lệ), một số khác cũng thay đổi nhưng không tuyến tính (biến phí cấp bậc) đối với thay đổi của mức độ hoạt động
* Biến phí tỷ lệ: là những khoản biến phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ thuận với sự thay đổi của mức độ hoạt động
Thuộc loại biến phí tỷ lệ như chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp trả theo sản phẩm, hoa hồng bán hàng…
Về mặt toán học, biến phí tỷ lệ có thể được biểu diễn bằng phương trình:
Y= b.x Trong đó: - Y là tổng biến phí
Trang 26Thuộc loại chi phí này như chi phí lao động gián tiếp, chi phí điện năng…
Ví dụ một xí nghiệp dệt may công nghiệp định mức chi phí lao động bảo dưỡng máy dệt công nghiệp: 10 máy/1công nhân kỹ thuật/ ca (8 giờ máy hoạt động) với mức lương cố định 700.000đ/tháng Giả sử qui mô của phân xưởng dệt có 50 máy, ứng xử của chi phí bảo dưỡng máy tại phân xưởng dệt sẽ biến đổi trong phạm vi: mức độ hoạt động 10 máy – chi phí 700.000đ Cụ thể:
Nếu 20 máy hoạt động thì chi phí bảo dưỡng là: 2 x 700.000đ = 1.400.000đ
Nếu 30 máy hoạt động thì chi phí bảo dưỡng là: 3 x 700.000đ = 2.100.000đ
Nếu 35 máy hoạt động thì chi phí bảo dưỡng là: 4 x 700.000đ = 2.800.000đ
Nếu 40 máy hoạt động thì chi phí bảo dưỡng là: 4 x 700.000đ = 2.800.000đ
Như vậy, biến phí cấp bậc chỉ thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi vượt qua một phạm vi (cấp bậc) qui định Đối với người quản lý để tiết kiệm và kiểm soát tốt biến phí cấp bậc cần phải lựa chọn mức độ hoạt động thích hợp nhằm tận dụng tối đa năng lực sản xuất sẵn có, đồng thời xây dựng, hoàn thiện đinh mức biến phí ở từng cấp bậc tương ứng
Về toán học, tổng biến phí cấp bậc có thể biểu diễn bằng phương trình :
Trang 27thể thực hiện với năng lực hoạt động hiện có Ví dụ: 1 doanh nghiệp phải đi thuê nhà làm xưởng sản xuất, diện tích thuê 100m2 chi phí 30.000.000đ/1 năm Với diện tích này doanh nghiệp có thể đặt tối đa 10 máy sản xuất, công suất tối đa của 10 máy là 10.000sp/năm Trong năm doanh nghiệp có thể sản xuất 5.000sp, 6.000sp, 8.000sp, 10.000 sp thì chi phí thuê nhà cũng vẫn là 30.000.000đ Nhưng nếu doanh nghiệp muốn tăng mức độ hoạt động lên hơn 10.000sp (12.000sp, 15.000 sp….) thì doanh nghiệp phải thuê thêm nhà xưởng và khi đó chi phí thuê nhà phải tăng thêm Hay nói cách khác khi hoạt động của doanh nghiệp vượt khỏi phạm vi phù hợp (> 10.000 sp ) thì định phí thuê xưởng sẽ phải thay đổi
Xét về tổng chi phí, định phí không thay đổi nhưng nếu xem xét chúng trên một đơn vị mức độ hoạt động, định phí tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động Như vậy định phí sẽ luôn luôn tồn tại cho dù doanh nghiệp có hay không có hoạt động và khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp gia tăng thì định phí tính cho một đơn vị sản phẩm sẽ giảm đi Khi hoạt động của doanh nghiệp đạt công suất tối đa thì định phí cho một đơn vị mức độ hoạt động sẽ là thấp nhất Chúng ta hãy xem xét ví dụ ở trên nếu doanh nghiệp chỉ sản xuất 5000 sp/năm thì chi phí thuê nhà xưởng là 6.000đ/sp (30.000.000đ : 5000sp ) Nhưng nêú doanh nghiệp sản xuất 10.000 sp/năm thì chi phí thuê nhà xưởng chỉ còn 3.000đ/sp (30.000.000đ : 10.000sp)
Định phí được chia thành 2 loại:
* Định phí bắt buộc:
Định phí bắt buộc là định phí không đễ dàng thay đổi bằng hành động quản trị Định phí bắt buộc thường liên quan đến TSCĐ và cấu trúc tổ chức cơ bản của một doanh nghiệp
Thuộc loại định phí này có các chi phí như chi phí khấu hao nhà xưởng, bảo hiểm, lương của ban quản lý cấp cao và các phòng ban chức năng (phòng tổ chức hành chính, phòng kế toán….)
Trang 28các thông tin có liên quan đến khả năng và nhu cầu tương lai Một khi quyết định đầu tư một loại TSCĐ nào đó đã được ký duyệt và thực hiện thì doanh nghiệp sẽ bị ràng buộc bởi quyết định đó trong thời gian dài
Mặt khác định phí bắt buộc không thể tuỳ tiện cắt giảm được, dù chỉ cho một thời gian ngắn vì nó sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu sinh lợi lâu dài của doanh nghiệp Do đó ngay cả khi hoạt động của doanh nghiệp bị gián đoạn đột ngột hoặc giảm bớt, các định phí bắt buộc vẫn được giữ nguyên không đổi
Sau khi đã quyết định đầu tư vào TSCĐ thì chiến lược của người quản lý
là phải tổ chức sử dụng các tài sản đó thật hiệu quả trong quá trình thực hiện nhằm đạt các mục tiêu đã định
* Định phí tuỳ ý (không bắt buộc)
Định phí tuỳ ý là những định phí có thể thay đổi một cách nhanh chóng bằng hành động quản trị Định phí tuỳ ý có thể được thay đổi trong quyết định hàng năm của nhà quản trị Ví dụ như chi phí quảng cáo, nghiên cứu, đào tạo…
Định phí tuỳ ý có 2 đặc điểm:
- Định phí tuỳ ý liên quan đến kế hoạch ngắn hạn, thường là một năm
- Trong những trường hợp cần thiết có thể cắt bỏ định phí tuỳ ý
Ví dụ: 1 DN hàng năm chi 5.000.000đ cho kế hoạch đào tạo cán bộ quản
lý Khoản chi phí này có thể bị cắt giảm hoặc ngừng lại do hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn Ngược lại khoản chi phí khấu hao nhà xưởng, giả sử 20.000.000đ/năm thì luôn luôn tồn tại cho dù doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có thể bị thua lỗ Chỉ khi nào nhà xưởng hư hỏng phải thanh lý hoặc doanh nghiệp ngừng hoạt động nhượng bán nhà xưởng thì chi phí khấu hao mới không tồn tại
Ngoài việc phân biệt định phí tuỳ ý với định phí bắt buộc, cũng cần phải nhận thức rõ sự khác nhau giữa định phí tuỳ ý và biến phí cấp bậc Về hình thức
2 loại chi phí này có những biểu hiện giống nhau và chúng chỉ biến động trong một phạm vi nhất định Tuy nhiên giữa chúng có những điểm khác nhau, cần phân biệt, đó là:
Thứ nhất: biến phí cấp bậc có thể được điều chỉnh rất nhanh, có thể là
hàng tháng khi các điều kiện thay đổi Trong khi đó định phí tuỳ ý khi đã quyết định sẽ khó thay đổi hơn mặc dù bản chất cuả nó là có thể điều chỉnh bằng hành động quản trị Ví dụ lương của thợ bảo trì có thể được điều chỉnh lên hoặc xuống rất nhanh theo qui mô hoạt động bằng việc thuê vào hoặc thải bớt công
Trang 29nhân Ngược lại, một khi doanh nghiệp đã tự ràng buộc mình cho một chương trình riêng biệt nào đó, giả sử một hợp đồng quảng cáo trong một năm, thì doanh nghiệp sẽ bị ràng buộc bởi các định phí tuỳ ý kèm theo ít nhất cũng hết năm tài chính đó
Thứ hai: độ rộng của phạm vi thay đổi đối với biến phí cấp bậc hẹp hơn
rất nhiều so với phạm vi thay đổi của định phí tuỳ ý Về thực chất độ rộng phạm
vi thay đổi của các biến phí cấp bậc thường rất hẹp đến nỗi chúng được xem như
là có bản chất khả biến, ngược lại độ rộng phạm vi thay đổi của định phí tuỳ ý lại quá rộng đến nỗi chúng được xem như là có bản chất bất biển trong phạm vi phù hợp
Về toán học, định phí được biểu diễn bằng phương trình đường thẳng
Y = A ( A là hằng số )
Ví dụ: Doanh nghiệp “X” thuê 1 xe tải để vận chuyển hàng hoá Hợp
đồng thuê qui định 2 điều khoản về tiền thuê phải trả là 5.000.000đ/năm và 1000đ/km xe lăn bánh Giả sử trong năm DN “ X” dùng chiếc xe tải đó để chuyên chở hàng hoá với quãng đường xe chạy là 10.000km Chi phí thuê xe phải trả trong năm là: 5.000.000đ + 10.000km x1.000đ =15.000.000đ (gồm 5.000.000đ là định phí và 10.000.000đ là biến phí) Cho dù trong năm chiếc xe tải thuê không chạy km nào thì doanh nghiệp “X” vẫn phải trả một khoản thấp nhất là 5.000.000đ
Trang 30Với ví dụ trên, phương trình chi phí thuê xe tải của doanh nghiệp “X” là:
10.000 x
Phương trình biểu diễn chi phí hỗn hợp là :
Y= A + b.x Chi phí hỗn hợp rất phổ biến trong nhiều loại hình tổ chức doanh
nghiệp như chi phí điện, nước, điện thoại Phần định trong chi phí hỗn hợp phản
ánh mức chi phí tối thiểu cần thiết để duy trì một dịch vụ ở trạng thái sẵn sàng
sử dụng Phần biến phí phản ánh chi phí do sự tiêu thụ thực tế của dịch vụ
Nhằm mục đích lập kế hoạch và kiểm soát chi phí hỗn hợp thì cách
làm tốt nhất là tập hợp chúng khi chúng phát sinh và phân tích chúng thành yếu
tố định phí và biến phí Nếu việc phân tích được thực hiện trên cơ sở khoa học
và cẩn thận, thì sự gần đúng của các yếu tố định phí và biến phí có thể đạt được
3 HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHI PHÍ
3.1 Tập hợp và phân bổ chi phí
3.1.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể phát sinh ở nhiều
địa điểm khác nhau, liên quan đến việc sản xuất chế tạo các loại sản phẩm, lao
vụ khác nhau Các nhà quản trị doanh nghiệp cần biết được các chi phí đó phát
sinh ở đâu, dùng vào việc sản xuất sản phẩm nào? … Chính vì vậy, chi phí sản
Trang 31xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ phải được kế toán tập hợp theo phạm vi, giới hạn nhất định Đó chính là đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là xác định nơi phát sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ…) hoặc đối tượng chịu chi phí ( sản phẩm, đơn đặt hàng…)
Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất,trước hết phải căn cứ vào đặc điểm, công dụng của chi phí trong sản xuất; căn cứ vào cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh, qui trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất sản phẩm, khả năng , trình độ của các nhà quản trị doanh nghiệp, của cán bộ, nhân viên kế toán
và yêu cầu quản lý chi phí, yêu cầu tính giá thành của doanh nghiệp
Tuỳ thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể của doanh nghiệp mà đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp có thể là:
Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, từng loại, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng
Từng phân xưởng, đội , trại, bộ phận sản xuất, từng giai đoạn công nghệ sản xuất
Toàn bộ qui trình công nghệ sản xuất, toàn doanh nghiệp
Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất một cách khoa học, hợp lý là
cơ sở để tổ chức kế toán chi phí sản xuất ngay từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết chi phí sản xuất…
Các chi phí phát sinh sau khi được tập hợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất sẽ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ theo đối tượng tính giá thành đã xác định
3.1.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất được sử dụng trong kế toán chi phí sản xuất để tập hợp và phân bổ chi phí cho từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất đã xác định Tuỳ theo từng loại chi phí và điều kiện cụ thể, kế toán
có thể vận dụng phương pháp tập hợp chi phí sản xuất cho thích hợp
3.1.2.1 Phương pháp tập hợp trực tiếp
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên quan trực tiếp dến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất riêng biệt.Do đó, ngay từ khâu hạch toán ban đầu, chi phí sản xuất phát sinh được
Trang 32phản ánh riêng cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trên chứng từ ban đầu để căn cứ vào chứng từ thực hiện hạch toán trực tiếp chi phí sản xuất cho từng đối tượng riêng biệt Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh được tính trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí nên đảm bảo mức độ chính xác cao Vì vậy, cần sử dụng tối đa phương pháp tập hợp trực tiếp trong điều kiện có thể cho phép
3.1.2.2 Phương pháp phân bổ gián tiếp
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, không tổ chức ghi chép ban đầu chi phí sản xuất phát sinh riêng cho từng đối tượng được Trong trường hợp này, phải tập hợp chi phí sản xuất phát sinh chung cho nhiều đối tượng theo từng nơi phát sinh chi phí Sau đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng chịu chi phí Việc phân bổ được tiến hành theo trình tự:
Xác định hệ số phân bổ:
Hệ số = Tổng chi phí cần phân bổ phân bổ Tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ
Xác định mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng: Theo công thức sau:
Ci = Ti x H Trong đó:
+ Ci là chi phí phân bổ cho đối tượng i
+ Ti là đại lượng tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng i
+ H là hệ số phân bổ
Với phương pháp phân bổ gián tiếp, mức độ chính xác của chi phí sản xuất tính cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phụ thuộc vào tính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ đươc lựa chọn sử dụng
Nhiều khi có những chi phí trực tiếp sản xuất sản phẩm cũng phải phân bổ gián tiếp cho các đối tượng chịu chi phí nếu chúng có liên quan đến nhièu đối tượng chịu chi phí.Ngược lại, chi phí gián tiếp phục vụ sản xuất cũng có thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí, khi chi phí này được hạch toán riêng biệt cho từng đối tượng chịu chi phí ngay từ khâu hạch toán ban đầu
3.2 Kế toán chi phí cho việc lập báo cáo
Trang 33Chúng ta đã xác định các chi phí sản phẩm là những chi phí phát sinh
trong việc sản xuất, bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp và chi phí sản xuất chung Để thấy được mối quan hệ giữa chi phí sản
phẩm với các báo cáo tài chính- kế toán, chúng ta có thể xem xét sự di chuyển
của các khoản chi phí này qua những tài khoản khác nhau để sau đó được thể
hiện trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh bằng sơ đồ sau:
Từ sơ đồ trên, có thể thấy các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công
trực tiếp và chi phí sản xuất chung được hạch toán vào tài khoản đang chế tạo-
đó là những chi phí cần thiết cho việc hoàn thành sản xuất sản phẩm Khi sản
phẩm được hoàn thành thì giá trị của chúng được chuyển từ sản phẩm đang chế
tạo vào giá trị của thành phẩm Ở đây sản phẩm được chờ để bán cho khách
hàng Khi hàng đã được bán, giá trị của chúng lại chyển từ thành phẩm thành giá
trị hàng đã bán và được phản ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh, được xem là
các phí tổn trong việc xác định thu nhập thuần tuý hoặc lỗ trong kỳ
Nhưng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi
phí sản xuất chung nếu còn đang ở dây chuyền sản xuất nằm trong các sản phẩm
Báo cáo kết quả kinh
doanh
-Doanh số bán hàng -Lãi gộp trừ chi phí bán hàng và chi phí QLDN
- Lãi thuần của hoạt động kinh doanh
Trang 34đang chế tạo dở dang hoặc trong các thành phẩm chưa được bán cuối kỳ sẽ được thể hiện trên bảng cân đối kế toán như là các tài sản tồn kho của doanh nghiệp
Tuy nhiên, khi chúng ta xem xét mối quan hệ của chi phí sản phẩm với các báo cáo tài chính kế toán như trên, căn cứ trên các chức năng của chi phí và
do vậy, không thể phân tách được các chức năng ứng xử của chi phí trong từng chức năng Ví dụ trong phần chi phí bán hàng, chi phí quản lý, chi phí sản xuất chung bao gồm cả chi phí khả biến và bất biến lẫn lộn trong đó Mặc dù một báo cáo thu nhập lập theo chức năng chi phí rất cần thiết cho các mục đích báo cáo
ra ngoài, nó vẫn bị hạn chế khi các nhà quản lý sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp trong việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí- khối lượng- lợi nhuận, trong dự toán ngân sách và việc lựa chọn số liệu thích hợp cho mỗi loại quyết định đặc biệt như phân tích dây chuyền sản xuất, định giá sản phẩm, sử dụng các nguồn năng lực sản xuất khan hiếm,…
Bởi vây, để phục vụ cho mục đích sử dụng nội bộ của người quản lý trong doanh nghiệp, việc phân tích chi phí thành 2 loại bất biến, khả biến là thể hiện
nó trên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là cần thiết Từ đó, báo cáo kết quả kinh doanh lập theo cách ứng xử của chi phí phải thể hiện được các chỉ tiêu chính sau đây:
Báo cáo kết quả kinh doanh
1 Doanh thu bán hàng
(Trừ chi phí khả biến)
- Chi phí nguyên vật liệu khả biến
- Chi phí nhân công khả biến
- Chi phí sản xuất chung khả biến
- Chi phí lưu thông khả biến
- Chi phí quản lý doanh nghiệp khả biến
2 Số dư đảm phí
(Trừ chi phí bất biến)
- Chi phí sản xuất chung bất biến
- Chi phí lưu thông bất biến
Trang 35- Chi phí quản lý doanh nghiệp bất biến
3 Thu nhập thuần
Khái niệm số dư đảm phí có thể định nghĩa như là số tiền còn lại của doanh thu bán hàng sau khi đã trừ đi phần chi phí khả biến và được sử dụng để trang trải cho các chi phí bất biến và sau đó là lợi nhuận trong kỳ
3.3 Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh theo mô hình ứng xử chi phí
Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh lập theo mô hình ứng xử chi phí (hay phương pháp trực tiếp) chỉ sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp để phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp Nó được thể hiện qua mẫu sau:
BÁO CÁO KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH THEO MÔ HÌNH
5 Lợi nhuận thuần
Ví dụ: Có tài liệu tháng 7/N tại nhà máy số 1 thuộc doanh nghiệp sản
+ Nguyên vật liệu trực tiếp : 50
+ Nhân công trực tiếp: 10
Trang 364 PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CHI PHÍ
4.1 Khái niệm về phân tích biến động chi phí
Để đánh giá kết quả thực hiện chi phí định mức, phải so sánh giữa chi phí thực tế với định mức chi phí, nếu có chênh lệch phải làm rõ nguyên nhân gây chênh lệch và các biện pháp cụ thể để khắc phục các nguyên nhân làm tăng chi phí so với định mức
Việc đánh giá này được thực hiện theo từng khoản mục chi phí theo những nội dung và phương pháp sau:
4.2 Phân tích biến động chi phí
Trang 374.2.1 Phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Phân tích biến động của chi phí NVL TT là kết quả so sánh giữa thực hiện với định mức và xác định các nguyên nhân biến động trên hai mặt lượng và giá
đã tác động như thế nào đến biến động chung Các nguyên nhân biến động được xác định theo công thức sau:
Biến động về chi phí NVLTT = Biến động về giá + Biến động về lượng Biến động về giá = Lượng thực tế x ( Giá thực tế - Giá định mức)
Biến động về lượng = Giá định mức x ( Lượng thực tế - Lượng định mức)
Từ các công thức tính toán trên cho thấy để tính được biến động sử dụng nguyên vật liệu trực tiếp, chúng ta phải biệt ba loại thông tin sau:
- Có bao nhiêu lượng thực tế về nguyên liệu đã sử dụng trong các hoạt động sản xuất
- Tổng số lượng sản phẩm được sản xuất
- Mối quan hệ giữa nguyên liệu với sản phẩm
Kết quả so sánh biến động giữa thực tế và định mức được đánh giá như sau:
- Nếu thực tế lớn hơn định mức, đánh giá không tốt, lúc này chi phí sản xuất thực tế cao hơn định mức
- Nếu thực tế nhỏ hơn định mức, đánh giá tốt nếu chất lượng sản phẩm được bảo đảm
- Nếu thực tế bằng định mức, đảm bảo thực hiện đúng định mức
Sau khi so sánh biến động, cần phân tích các nguyên nhân gây ra biến động về giá và về lượng nguyên vật liệu sau:
- Giá thực tế mua nguyên vật liệu lớn hơn định mức do quan hệ cung cầu nguyên vật liệu, sự thay đổi về phương thức vận chuyển Ngược lại, cũng có thể
do cung cấp nguyên vật liệu hoặc là nguyên liệu mua có phẩm chất kém hơn nên
sẽ rẻ hơn
- Biến động về lượng nguyên liệu sử dụng có thể do chất lượng của nguyên liệu mua vào Nếu nguyên liệu có chất lượng kém hơn được dùng trong quá trình sản xuất thì số lượng phế liệu và sản phẩm có khuynh hướng tăng lên, kết quả là số lượng nguyên vật liệu được dùng sẽ nhiều lên
Trang 38Ngoài ra, biến động không tốt về sử dụng nguyên liệu trực tiếp cũng có thể xảy ra do trình độ của công nhân Khi công nhân không đủ trình độ phù hợp,
họ sẽ sử dụng lãng phí nguyên liệu trong sản xuất
4.2.2 Phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp:
Khi phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp cũng phải làm rõ biến động của hai nhân tố là: sự thay đổi về đơn giá lao động trực tiếp và sự thay đổi
về năng suất lao động trực tiếp
Biến động mức giá lao động trực tiếp có cùng nội dung ý nghĩa như biến động giá nguyên vật liệu trực tiếp Sự thay đổi mức giá lao động trực tiếp có thể
do nhiều nguyên nhân, ví dụ như khi điều động một công nhân có trình độ tay nghề cao đến làm một công việc có mức giá được tính thấp hơn thì lúc đó biến động mức giá lao động trực tiếp sẽ xảy ra
Biến động
về giá =
Số giờ làm việc thực tế x
Mức giá thực tê -
Mức giá tiêu chuẩn Nguyên tắc tính biến động của năng suất lao động trực tiếp cũng tương tự như nguyên tắc sự biến động số lượng nguyên vật liệu sử dụng Đó là một sự vượt trội hơn so với mức thời gian tiêu chuẩn, được coi là sử dụng lao động không hiệu quả có có biến động năng suất xấu
Ngược lại, khi thời gian làm việc thực tế ít hơn so với định mức và chất lượng sản phẩm được đảm bảo, thì xem như sử dụng có hiệu quả thời gian lao động và là biến động năng suất tốt Biến động không xảy ra khi công nhân thực hiện đúng thời gian tiêu chuẩn cho phép
Biến động về lượng
lao động trực tiếp =
Mức giá tiêu chuẩn
x Số giờ làm việc thực tế
- Số giờ theo định mức
4.2.3 Phân tích biến động chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung bao gồm nhiều khoản mục chi phí riêng biệt, thường có giá trị nhỏ và do nhiều bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp chịu trách nhiệm., nên không thể định mức cho từng yếu tố chi sản xuất chung Vì vậy, các nhà quản trị phải sử dụng kế hoạch linh hoạt để lập kế hoạch và kiểm soát chi phí SXC Chi phí SXC chịu sự tác động của biến phí và định phí SXC, hai loại chi phí SXC này được tính ra từ kế hoạch sản xuất kinh doanh rồi được phân tích thành các khoản mục chi phí cần thiết Biến động chi phí sản xuất chung (CP SXC) được xác định theo công thức sau: