Nguồn tài chính trong xã hội luôn luôn vận động một cách liên tục và trong mối quan hệ chằng chịt, đa dạng giữa các chủ thể trong xã hội dẫn tới việc làm thay đổi lợi ích kinh tế của các
Trang 1CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH
I TIỀN ĐỀ RA ĐỜI, TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÀI CHÍNH
Tài chính là một phạm trù kinh tế - lịch sử Sự ra đời, tồn tại và phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người Từ toàn bộ lịch sử phát sinh, phát triển của tài chính chúng ta thấy: Tài chính chỉ ra đời và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi mà ở đó có những hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan nhất định xuất hiện và tồn tại Có thể xem những hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan đó như những tiền đề khách quan quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính
1.Tiền đề sản xuất hàng hoá và tiền tệ
Đây là tiền đề mang tính chất khách quan, có ý nghĩa quyết định đối với
sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính Bản thân nền sản xuất hàng hoá cũng có lịch sử phát sinh và phát triển của nó; từ sản xuất tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hoá có quá trình chuyển biến lâu dài và đó thật sự là một sự thay đổi về chất trong hoạt động sản xuất của xã hội loài người Nhu cầu trao đổi hàng hoá làm xuất hiện tiền tệ với tư cách là vật ngang giá chung trong quá trình trao đổi Cùng với sự xuất hiện của tiền tệ, các hoạt động phân phối diễn ra trong đời sống kinh tế - xã hội chuyển sang hình thức phân phối bằng giá trị; đó
là hình thức phân phối của tài chính
Sự ra đời của nền sản xuất hàng hoá - tiền tệ làm xuất hiện các nguồn tài chính Nguồn tài chính được hiểu là của cải xã hội, được biểu hiện dưới hình thức giá trị Hoạt động phân phối của cải xã hội trước đây được thực hiện dưới hình thái hiện vật nay chuyển sang thực hiện dưới hình thái giá trị và đó là biểu hiện hoạt động phân phối của tài chính Khái niệm về nguồn tài chính gắn liền với nền sản xuất hàng hoá- tiền tệ và sự xuất hiện của nó làm nảy sinh phạm trù tài chính
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau trong quá trình phát triển của
xã hội loài người, nền sản xuất hàng hoá - tiền tệ không ngừng phát triển Các mối quan hệ trong đời sống kinh tế - xã hội cũng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn; chính điều đó đã làm cho các quan hệ tài chính càng trở nên đa dạng, phong phú hơn, hoạt động tài chính có bước phát triển cao hơn Cũng cần thấy rằng chính sự phát triển của tài chính đã góp phần tích cực vào sự thúc đẩy các hoạt động kinh tế - xã hội phát triển Đây là những mối quan hệ biện chứng, không ngừng tác động lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau trong suốt quá trình phát
sinh và phát triển của tài chính
2 Tiền đề Nhà nước
Khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã, chế độ chiếm hữu tư nhân về tư
Trang 2liệu sản xuất ra đời thì trong xã hội đã có sự phân chia giai cấp và có sự đấu
tranh giai cấp Chính sự xuất hiện của sản xuất, trao đổi hàng hóa và tiền tệ là
một trong những nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy mạnh mẽ sự phân chia giai cấp
và đối kháng giai cấp Trong điều kiện lịch sử đó, Nhà nước đã xuất hiện
Khi Nhà nước xuất hiện, với tư cách là người có quyền lực chính trị, Nhà
nước đã nắm lấy việc đúc tiền, in tiền, quy định mệnh giá của đồng tiền và lưu
thông đồng tiền trong toàn bộ nền kinh tế, tác động đến sự vận động độc lập của
đồng tiền và tạo môi trường pháp lý cho việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
Nhà nước cũng là người tham gia trực tiếp vào việc huy động, phân phối
và sử dụng một bộ phận của cải xã hội để đảm bảo cho việc thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của mình bằng nhiều hình thức khác nhau theo nguyên tắc bắt
buộc hay tự nguyện Như vậy, Nhà nước đã trở thành một chủ thể quan trọng
trong quá trình phân phối các nguồn tài chính trong xã hội
Trải qua các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau trong tiến trình phát triển
của xã hội loài người, với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của kinh tế hàng
hóa- tiền tệ, hình thức tiền tệ đã trở thành hình thức chủ yếu của thu nhập và chi
tiêu của Nhà nước cũng như của mọi chủ thể khác trong việc tạo lập và sử dụng
các quỹ tiền tệ Như vậy sự phát triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ đã tạo điều
kiện khách quan cho sự mở rộng các quan hệ tài chính Nói cách khác, phạm vi
của các quan hệ tài chính phụ thuộc vào sự phát triển của các quan hệ hàng hóa
– tiền tệ trong các mối quan hệ kinh tế của xã hội
Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, thông qua
chính sách và cơ chế quản lý kinh tế của mình, Nhà nước trong một đất nước
nhất định có lúc thúc đẩy sự phát triển hoặc kìm hãm sự phát triển của sản xuất
hàng hóa – tiền tệ dẫn đến thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của tài chính
Như vậy, trong hai tiền đề thì sản xuất hàng hóa và tiền tệ là nhân tố mang
tính chất khách quan, có ý nghĩa quyết định đối với sự ra đời, tồn tại và phát
triển của tài chính còn Nhà nước là nhân tố có ý nghĩa định hướng tạo ra hành
lang và điều tiết sự phát triển của tài chính
II BẢN CHẤT CỦA TÀI CHÍNH
Tài chính như mọi đối tượng nghiên cứu khác, có hình thức biểu hiện bên
ngoài (hiện tượng) và nội dung bên trong (bản chất)
1 Biểu hiện bên ngoài của tài chính
Biểu hiện bên ngoài của tài chính thể hiện ra dưới dạng các hiện tượng
thu vào bằng tiền và các hiện tượng chi ra bằng tiền ở các chủ thể kinh tế - xã
hội, chẳng hạn:
+ Doanh nghiệp, dân cư nộp thuế bằng tiền cho nhà nước
+ Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay vốn
Trang 3+ Các công ty bảo hiểm trả tiền cho dân cư bị họ bị mất sức lao động tạm thời hay vĩnh viễn hay khi họ bị tai nạn rủi ro
+ Nhà nước cấp phát tiền từ ngân sách nhà nước tài trợ cho việc xây dựng đường giao thông, trường học, bệnh viện công
* Nhận xét
- Từ các hiện tượng tài chính trên, có thể thấy hình thức biểu hiện bên ngoài của tài chính là sự vận động của vốn tiền tệ Ở đây, tiền tệ đại diện cho một lượng giá trị, một thế năng về sức mua nhất định và được gọi là nguồn tài chính
- Nguồn tài chính là khả năng tài chính mà các chủ thể trong xã hội có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình Sự vận động của các nguồn tài chính phản ánh sự vận động của những bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị (tiền tệ)
- Kết quả của quá trình phân phối các nguồn tài chính là sự hình thành và
sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định Các quỹ tiền tệ là một lượng nhất định các nguồn tài chính được dùng cho một mục đích nhất định Các quỹ tiền tệ có 3 đặc điểm sau:
+ Đặc điểm 1: Các quỹ tiền tệ luôn luôn biểu hiện các quan hệ sở hữu
Kết thúc một giai đoạn vận động nào đó của quỹ thì mỗi chủ thể của hình thức sở hữu này hay hình thức sở hữu khác sẽ nhận được cho mình một phần nguồn lực tài chính như là kết quả tất yếu của quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị
Việc sử dụng các quỹ tiền tệ cũng phụ thuộc quyền sở hữu, cũng như tuỳ thuộc vào quy ước, nguyên tắc sử dụng quỹ, ý chí chủ quan của người sở hữu trong quá trình phân phối
+ Đặc điểm 2: Các quỹ tiền tệ bao giờ cũng thể hiện tính mục đích của
nguồn tài chính
Phần lớn các quỹ tiền tề đều có mục đích cuối cùng: tích luỹ hoặc tiêu dùng Chẳng hạn:
- Ngân sách nhà nước: phục vụ việc thực hiện chức năng của nhà nước
- Vốn của danh nghiệp: phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Ngân sách gia đình: phục vụ mục đích tiêu dùng của gia đình
Ngoài ra, còn có cả những quỹ tiền tệ trung gian (như các quỹ kinh doanh của các tổ chức tín dụng, công ty tài chính) được hình thành và sử dụng có thời hạn cho việc hình thành các quỹ tiền tệ có mục đích sử dụng cuối cùng khác
+ Đặc điểm 3: Tất cả các quỹ tiền tệ đều vận động thường xuyên, tức là
Trang 4chúng luôn luôn được tạo lập và sử dụng
Quá trình vận động của các nguồn tài chính thông qua hoạt động phân phối của tài chính kéo theo sự dịch chuyển giá trị từ quỹ tiền tệ này sang quỹ tiền tệ khác, do đó luôn luôn có quỹ tiền tệ được tạo lập và quỹ tiền tệ được sử dụng
Những phân tích kể trên cho thấy quan niệm tài chính được xác định trước hết là những hiện tượng, những biểu hiện bên ngoài của nó: các hiện tượng thu, chi bằng tiền, là sự vận động của các nguồn tài chính, sự tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hội
2 Nội dung kinh tế xã hội của tài chính
Nguồn tài chính trong xã hội luôn luôn vận động một cách liên tục và trong mối quan hệ chằng chịt, đa dạng giữa các chủ thể trong xã hội dẫn tới việc làm thay đổi lợi ích kinh tế của các chủ thể đó, ví dụ:
- Các tổ chức, doanh nghiệp khi nhận được sự tài trợ nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước sẽ có điều kiện để duy trì và đẩy mạnh hoạt động của mình
- Khi tập trung thêm được các nguồn tài chính từ các chủ thể khác trong
xã hội vào ngân sách nhà nước, nhà nước có thêm điều kiện vật chất thực hiện các chức năng của mình
Như vậy, các biểu hiện bên ngoài của tài chính là sự thể hiện và phản ánh các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Các quan hệ kinh tế như thế được gọi là các quan hệ tài chính Các quan hệ tài chính biểu hiện mặt bản chất bên trong của tài chính ẩn dấu sau các biểu hiện bên ngoài của tài chính
Như vậy có thể hiểu:
Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền
tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội
*/ Chú ý: Giữa tài chính và các phạm trù giá trị khác nhau như tiền tệ, giá
cả, tiền lương có mối quan hệ với nhau rất gần gũi nhưng giữa chúng có sự khác nhau về bản chất
- Tiền tệ về bản chất là một hàng hoá đặc biệt đóng vai trò là vật ngang giá chung trong quan hệ mua bán, trao đổi của nền sản xuất hàng hoá với chức năng thước đo giá trị, trung gian trao đổi, chức năng dự trữ giá trị và chức năng thanh toán Còn tài chính là sự vận động của tiền tệ chỉ với hai chức năng thanh toán và phương tiện dự trữ giá trị và luôn gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định để thoả mãn các mục đích khác nhau
Trang 5- Giá cả là một phạm trù phân phối dưới hình thức giá trị nhưng khác rất
rõ với phạm trù tài chính Đặc trưng cơ bản của phân phối tài chính là luôn kéo theo sự dịch chuyển giá trị gắn với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế - xã hội khác nhau Còn ở phạm trù giá cả, việc dịch chuyển giá trị không xảy ra và giá cả xuất hiện trong quan hệ trao đổi, mua bán theo nguyên tắc ngang giá
- Tiền lương là một phạm trù phân phối dưới hình thức giá trị Tiền lương được trả cho người lao động với biểu hiện là một số tiền nhất định và cũng là một bộ phận của nguồn tài chính hình thành nên ngân sách gia đình, tài chính dân cư Tài chính là phương tiện để thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động của tiền lương trong lĩnh vực bù đắp sức lao động
III CHỨC NĂNG CỦA TÀI CHÍNH
Bản chất của tài chính được thể hiện cụ thể thông qua việc thực hiện các chức năng của nó Nghiên cứu chức năng tài chính có ý nghĩa to lớn trong việc
sử dụng phạm trù này để phục vụ các hoạt động kinh tế - xã hội của con người
có hiệu quả Từ biểu hiện trong hoạt động thực tiễn cho thấy tài chính có hai chức năng là: Chức năng phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị (gọi tắt
là chức năng phân phối) và chức năng giám đốc bằng đồng tiền đối với các quá trình phân phối ( gọi tắt là chức năng giám đốc)
1 Chức năng phân phối
Hoạt động của tài chính là hoạt động phân phối nên phân phối là chức năng vốn có của phạm trù tài chính, biểu hiện bản chất của tài chính trong đời sống kinh tế - xã hội Đây là khả năng khách quan của việc sử dụng tài chính để phân phối của cải dưới hình thức giá trị Nhờ chức năng phân phối của tài chính, các nguồn lực tài chính được đưa vào nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau, thoả mãn những lợi ích khác nhau trong đời sống kinh tế - xã hội
- Đối tượng phân phối: là toàn bộ của cải xã hội dưới hình thức giá trị, là
tổng thể các nguồn tài chính có trong xã hội
- Chủ thể phân phối của tài chính: Là những người có thể tham gia trực
tiếp vào quá trình phân phối các nguồn lực tài chính trong xã hội Có thể là Nhà nước (các tổ chức, cơ quan nhà nước), các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các
hộ gia đình hay cá nhân dân cư Chủ thể phân phối phải thoả mãn ít nhất một trong các tiêu chí sau:
+ Có quyền sở hữu các nguồn tài chính: chủ thể ở đây là người chủ đích
thực của vốn tiền tệ Họ có quyền phân phối và sử dụng chúng theo ý muốn chủ quan của mình
+ Có quyền sử dụng nguồn tài chính: chủ thể ở đây là những người không
có quyền sở hữu vốn tiền tệ, nhưng họ được trao quyền sử dụng vốn tiền tệ Nói
Trang 6cách khác họ là những người đi vay và họ có quyền phân phối và sử dụng số vốn vay đó theo các mục đích đã định, trong một thời gian nhất định
+ Có quyền lực chính trị: Đây là tiêu thức biểu hiện chủ thể phân phối là
Nhà nước Vì có quyền lực chính trị, Nhà nước có thể huy động, phân phối và sử dụng một bộ phận quan trọng các nguồn lực tài chính trong xã hội để đáp ứng yêu cầu thực hiện các chức năng, nhiệm cụ của Nhà nước Nhà nước huy động các nguồn tài chính thông qua các quy định của pháp luật (thuế, phí, lệ phí )
+ Có sự ràng buộc của các quan hệ xã hội: Chính sự ràng buộc của các
quan hệ xã hội làm nảy sinh nhu cầu huy động, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể phân phối Sự ràng buộc của các quan hệ xã hội là tiền đề cho sự vận động của các nguồn tài chính từ chủ thể này sang chủ thể khác trong quá trình phân phối của tài chính
- Kết quả của phân phối tài chính: Là sự hình thành (tạo lập) hoặc sử dụng
các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hội nhằm những mục đích đã định
Trong phân phối của cải xã hội, không những tài chính mà còn có những phạm trù kinh tế khác được sử dụng với tư cách một công cụ phân phối như: thương mại, giá cả, tiền lương… Mỗi công cụ đó được sử dụng theo các cách khác nhau và có những đặc điểm riêng
- Phân phối tài chính mang những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, không kèm theo
sự thay đổi hình thái giá trị
Thứ hai, sự phân phối luôn luôn gắn liền với sự hình thành và sử dụng các
quỹ tiền tệ nhất định
Phân phối của tài chính luôn làm chuyển dịch giá trị, biểu hiện bằng sự vận động của các nguồn tài chính từ quỹ tiền tệ này sang quỹ tiền tệ khác Điều này liên quan đến việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ khác nhau; trong đó có thể nhiều quỹ tiền tệ được tạo lập gắn liền với việc sử dụng một quỹ tiền tệ (chẳng hạn doanh nghiệp thực hiện việc chi trả lương cho người lao động) hay ngược lại việc tạo lập một quỹ tiền tệ liên quan đến việc sử dụng nhiều quỹ tiền tệ khác nhau (chẳng hạn nhiều doanh nghiệp cùng thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN)
Thứ ba, phân phối của tài chính là quá trình phân phối diễn ra một cách
thường xuyên, liên tục bao gồm cả phân phối lần đầu và phân phối lại Trong
đó phân phối lại là có phạm vi rộng lớn và mang tính chất chủ yếu
Phân phối lần đầu là sự phân phối được thực hiện trong lĩnh vực sản xuất cho những chủ thể tham gia vào quá trình sáng tạo ra của cải vật chất hoặc thực hiện các dịch vụ trong các đơn vị sản xuất và dịch vụ
Trang 7Trong phân phối lần đầu, giá trị sản phẩm xã hội ( GDP hoặc GNP) trong lĩnh vực sản xuất được chia thành các bộ phận và được đưa vào các quỹ tiền tệ như sau:
+ Một phần để bù đắp những chi phí vật chất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất hoặc tiến hành dịch vụ Phần này hình thành quỹ khấu hao tài sản cố định và quỹ bù đắp vốn lưu động đã ứng ra của các đơn vị
+ Một phần hình thành quỹ tiền lương của các đơn vị để trả lương cho người lao động
+ Một phần góp vào hình thành các quỹ bảo hiểm: Bảo hiểm kinh doanh, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế
+ Một phần là thu nhập dành cho các chủ sở hữu về vốn hay nguồn tài nguyên góp phần phục vụ cho việc tiến hành sản xuất hay dịch vụ của đơn vị
Qua phân phối lần đầu, giá trị sản phẩm xã hội mới chỉ được chia thành những phần thu nhập cơ bản, chưa thể đáp ứng nhu cầu của xã hội Do đó phải trải qua quá trình phân phối lại
Phân phối lại là tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản, những quỹ tiền tệ được hình thành trong phân phối lần đầu ra phạm vi toàn xã hội hoặc theo những mục đích cụ thể hơn của các quỹ tiền tệ
Sự cần thiết khách quan của phân phối lại:
- Trong xã hội có những khu vực phi sản xuất vật chất (quân đội, giáo dục, y tế) cần thiết phải tồn tại và phát triển, phân phối lần đầu không đề cập tới đối tượng này
- Tác động tích cực tới việc chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội trong lĩnh vực sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển với tốc độ cao và bền vững
- Góp phần thực hiện công bằng xã hội trong phân phối thông qua biện pháp điều tiết bớt người có thu nhập cao và nâng đỡ người có thu nhập thấp
2 Chức năng giám đốc
Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện đối với quá trình vận động của các nguồn tài chính để tạo lập các quỹ tiền tệ hay sử dụng chúng theo các mục đích đã định
Đối tượng của giám đốc tài chính là quá trình vận động của các nguồn tài
chính, quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
Chủ thể của giám đốc tài chinh cũng chính là các chủ thể phân phối Bởi
vì để cho các quá trình phân phối đạt tới tối đa tính mục đích, tính hợp lý, tính hiệu quả, bản thân các chủ thể phân phối phải tiến hành kiểm tra xem xét các quá trình phân phối đó
Trang 8Kết quả của giám đốc tài chính là phát hiện ra những mặt được và chưa
được của quá trình phân phối, từ đó tìm ra các biện pháp điều chỉnh các quá trình phân phối theo các mục tiêu đã định nhằm đạt hiệu quả cao trong việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
Giám đốc tài chính có các đặc điểm sau đây:
- Giám đốc tài chính là giám đốc bằng đồng tiền với việc sử dụng chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất giữ của tiền tệ để giám đốc các quá trình tạo lập và phân phối các nguồn tài chính
- Giám đốc tài chính là loại giám đốc rất toàn diện thường xuyên, liên tục
và rộng rãi
- Công tác giám đốc – kiểm tra tài chính được tiến hành rộng rãi trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của tài chính, thông qua tất cả các khâu của hệ thống tài chính
- Chức năng giám đốc có quan hệ rất mật thiết với chức năng phân phối của tài chính
IV HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM
1 Quan niệm hệ thống tài chính và khâu tài chính
Hệ thống của con người về sử dụng phạm trù tài chính tồn tại khách quan được gọi là hoạt động tài chính Trong đời sống thực tiễn, hoạt động tài chính luôn gắn liền với các hoạt động kinh tế- xã hội
Trong các lĩnh vực kinh tế- xã hội khác nhau, khi các chủ thể ở đó tiến hành các hoạt động đã làm nảy sinh các quan hệ tài chính khác nhau
Từ sự phân tích ở trên có thể cho rằng: Hệ thống tài chính là tổng thể các
hoạt động tài chính trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau về việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ
ở các chủ thể kinh tế – xã hội hoạt động trong các lĩnh vực đó
Căn cứ để xác định các khâu tài chính của hệ thống tài chính:
Thứ nhất, một khâu tài chính phải là một điểm hội tụ của các ngồn tài chính Thứ hai, việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ luôn gắn liền với một chủ
thể phân phối cụ thể, xác định
Thứ ba, được xếp vào cùng một khâu tài chính nếu các hoạt động tài
chính có cùng tính chất, đặc điểm, vai trò, có tính đồng nhất về hình thức các quan hệ tài chính và tính mục đích của các quỹ tiền tệ trong lĩnh vực hoạt động
Từ đó có thể có khái niệm về khâu tài chính như sau: Khâu tài chính là
nơi hội tụ của các nguồn tài chính, nơi diễn ra việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ gắn liền với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chủ thể trong lĩnh
Trang 9Hệ thống tài chính của một Quốc gia là một thể thống nhất do nhiều mắt khâu tài chính hợp thành Hệ thống tài chính của nước ta hiện nay bao gồm các khâu:
6 Tài chính hộ gia đình(dân cư)
Các khâu tài chính này hoạt động độc lập trong các lĩnh vực khác nhau nhưng lại có mối liên hệ hữu cơ ràng buộc với nhau trong quá trình vận động của các nguồn tài chính Trong điều kiện kinh tế thị trường, mối liên hệ giữa các khâu tài chính có thể là trực tiếp cũng có thể thông qua thị trường tài chính
Hệ thống tài chính của nước ta được thể hiện theo sơ đồ sau:
Chú thích: quan hệ trực tiếp
Quan hệ thông quan thị trường tài chính
2 Khái quát nhiệm vụ của các khâu tài chính
Trong hệ thống tài chính thống nhất, các khâu có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng mỗi khâu có những nhiệm vụ riêng
T I
CH NH
Trang 10Đây là một “tụ điểm” của các nguồn tài chính gắn với việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước- quỹ ngân sách Nhà nước với mục đích phục
vụ cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nước các cấp và thực hiện các chức năng của nhà nước trong quản lý kinh tế – xã hội
Ngân sách nhà nước có các nhiệm vụ sau đây:
Một là, động viên, tập trung các nguồn tài chính cho việc tạo lập quỹ tiền
tệ của Nhà nước – quỹ ngân sách trong đó thuế là nguồn thu chủ yếu
Hai là, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách cho việc thực hiện các nhiệm
vụ kinh tế – xã hội ( như duy trì bộ máy nhà nước, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển văn hoá xã hội….)
Ba là, giám đốc, kiểm tra đối với các khâu tài chính khác và với mọi hoạt
động kinh tế – xã hộ gắn liền với quá trình thu, chi ngân sách Ngân sách nhà nước có mối liên hệ rộng rãi với mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau của xã hội, với các khâu trong hệ thống tài chính
Với vị trí và quy mô như thế, ngân sách nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của hệ thống tài chính quốc gia và sự phát triển kinh
tế – xã hội của đất nước
2.2 Tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá hay dịch vụ Hoạt động tài chính doanh nghiệp luôn gắn liền với các chủ thể của
nó là các doanh nghiệp (pháp nhân hoặc thể nhân)
Tài chính doanh nghiệp có các nhiệm vụ sau đây:
Một là, bảo đảm vốn và phân phối vốn hợp lý cho các nhu cầu sản xuất
kinh doanh
Hai là, tổ chức cho vốn chu chuyển một cách liên tục và có hiệu quả
Ba là, phân phối thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp theo đúng các
quy định của Nhà nước
Bốn là, kiểm tra quá trình vận động của các nguồn tài chính trong doanh
nghiệp, đồng thời, kiểm tra mọi hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với các quá trình đó
Tài chính doanh nghiệp có quan hệ với các khâu khác của hệ thống tài chính như: quan hệ với tài chính hộ gia đình thông qua trả lương, thưởng, lợi tức
cổ phần, trái phiếu, quan hệ với ngân sách thông qua nộp thuế; quan hệ với các
tổ chức tín dụng thông qua việc thu hút nguồn tài chính để tạo vốn hoặc trả nợ gốc và lãi… Quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu tài chính khác có thể là trực tiếp với nhau, cũng có thể thông qua thị trường tài chính
2.3 Bảo hiểm
Trang 11Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, có nhiều hình thức và nhiều quỹ tiền tệ khác nhau, nhưng tính chất chung và đặc biệt của các quỹ bảo hiểm là được tạo lập và sử dụng để bồi thường tổn thất nhiều dạng cho những chủ thể tham gia bảo hiểm tuỳ theo mục đích của quỹ
Có hai hình thức bảo hiểm là: Bảo hiểm kinh doanh và bảo hiểm y tế
Bảo hiểm kinh doanh bao gồm bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và các nghiệp vụ bảo hiểm khác
Quỹ bảo hiểm kinh doanh được hình thành từ sự đóng góp của những người(pháp nhân hay thể nhân) tham gia bảo hiểm và chủ yếu được sử dụng để bồi thường tổn thất cho họ khi họ gặp rủi ro bất ngờ, bị thiệt hại vật chất theo các điều khoản đã ghi trong hợp đồng bảo hiểm
Các quỹ bảo hiểm kinh doanh được tạo lập và sử dụng có tính chất thương mại, vì mục đích kinh doanh lấy lợi nhuận
Bảo hiểm xã hội bao gồm bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
Bảo hiểm xã hội được hình thành từ nguồn đóng góp của đơn vị sử dụng lao động và người lao động tính theo một tỷ lệ (%) nhất định trên tiền lương thực tế của người lao động trong các đơn vị đó và được sử dụng để trợ cấp (bồi thường) cho người lao động khi họ bị mất sức lao động tạm thời hay vĩnh viễn, trợ cấp về khám chữa bệnh
Các quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành và sử dụng không vì mục đích kinh doanh lấy lãi mà mang tính chất xã hội
2.4 Tín dụng
Tín dụng là một dịch vụ tài chính đặc biệt gắn liền với việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ thông qua việc thu hút các nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi để cho vay, đáp ứng các nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế – xã hội theo nguyên tắc hoàn trả có thời hạn và có lợi tức Tín dụng là một khâu trung gian quan trọng trong hệ thống tài chính
Tín dụng có nhiệm vụ sau:
Một là, tạo lập quỹ tín dung thông qua động viên thu hút các nguồn tài
chính tạm thời nhàn rỗi trong xã hội theo nguyên tắc hoàn trả và có lợi tức
Hai là, sử dụng các quỹ tín dụng đã tạo lập đáp ứng nhu cầu về vốn tạm
thời cho các chủ thể trong xã hội theo nguyên tắc hoàn trả và có lợi tức
2.5 Tài chính các tổ chức xã hội
Các tổ chức xã hội là khái niệm chung để chỉ các tổ chức chính trị – xã hội, các đoàn thể xã hội, các hội nghề nghiệp… Các tổ chức này còn được gọi là các tổ chức phi chính phủ
Nhiệm vụ của tài chính các tổ chức xã hội:
Trang 12Một là, tạo lập quỹ tiền tệ thông qua sự đóng góp hội phí, quyên góp, ủng
hộ của các thành viên trong, ngoài nước và của các cá nhân, tổ chức xã hội khác
Hai là, các quỹ tiền tệ của các tổ chức xã hội chủ yếu được sử dụng cho
mục đích tiêu ding trong hoạt động của các tổ chức đó Khi các quỹ chưa được
sử dụng, số dư ổn định của chúng có thể tham gia thị trường tài chính thông qua các quỹ tín dụng hoặc các hình thức khác ( mua tín phiếu, trái phiếu…)
2.6 Tài chính hộ gia đình (dân cư)
Trong dân cư (các hộ gia đình) các quỹ tiền tệ được hình thành từ tiền lương, tiền công, thu nhập của các thành viên trong gia đình do lao động hay sản xuất kinh doanh; từ nguồn thừa kế tài sản; từ nguồn biếu tặng lẫn nhau trong quan hệ gia đình hay quan hệ xã hội ở trong và ngoài nước; từ các nguồn khác nhau như: lãi tiền gửi ngân hàng, lợi tức từ những khoản góp vốn, mua trái phiếu, cổ phiếu…
Quỹ tiền tệ của các hộ gia đình chủ yếu được sử dụng cho mục đích tiêu dùng của gia đình Nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi của các hộ gia đình cũng
có thể được sử dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong phạm vi kinh tế hộ gia đình hoặc tham gia vào thị trường tài chính qua việc góp cổ phần, mua cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu…
Như đã chỉ ra ở phần trên, trong điều kiện kinh tế thị trường, các khâu của
hệ thống tài chính vừa có quan hệ trực tiếp với nhau, vừa có quan hệ với nhau thông qua thị trường tài chính
Câu hỏi ôn tập chương I
1 Tài chính là gì? Trình bày các tiền đề quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính
2 Phân tích bản chất, chức năng của tài chính? Trình bày mối quan hệ giữa các chức năng đó
3 Phân biệt tài chính và các phạm trù giá trị khác như: tiền tệ, giá cả, thương mại, tiền lương
4 Hệ thống tài chính có những khâu nào? Các khâu của hệ thống tài chính quan hệ với nhau như thế nào? Cho ví dụ minh họa
5 Vai trò của hệ thống tài chính trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG II NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm ngân sách nhà nước
NSNN đã có quá trình ra đời và phát triển từ thế kỷ XII đến nay Thế nhưng hiện nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm NSNN, phổ biến là:
Thứ nhất, NSNN là bản dự toán thu - chi tài chính của Nhà nước trong
một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm
Thứ hai, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài
chính cơ bản của Nhà nước
Thứ ba, NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình huy
động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau
Ngoài ra, Điều 1 Luật NSNN đã được Quốc Hội nước CHXHCN Việt
Nam khoá IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20/03/1996 có ghi:
NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước trong dự toán đã được
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước
Từ các quan điểm trên, ta có thể xác định: NSNN phản ánh các quan hệ
kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính Quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định
2 Đặc điểm của ngân sách nhà nước
NSNN là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia NSNN bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính của quốc gia
NSNN có đặc điểm sau:
- Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn với quyền lực của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định
- NSNN luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng, lợi ích toàn thể được đặt lên hàng đầu và chi phối các lợi ích khác
- NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước là nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ, có tác dụng riêng và chỉ sau đó NSNN mới được chi dùng cho những mục đích nhất định đã được định trước
- Hoạt động thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn
Trang 14trả trực tiếp là chủ yếu
3 Vai trò của ngân sách nhà nước
NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế – xã hội,
an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Có thể xem xét vai trò của NSNN trên một số lĩnh vực điều tiết sau đây:
3.1 NSNN là công cụ định hướng phát triển sản xuất (về kinh tế)
Thông qua các khoản chi kinh tế và chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, phát triển những ngành, lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao, ưu tiên các ngành mũi nhọn…Chính phủ có thể tạo điều kiện và hướng nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào những lĩnh vực, những vùng cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế mới
Thông qua thu ngân sách mà chủ yếu là thuế cũng góp phần định hướng phát triển sản xuất Việc đặt ra các loại thuế với thuế suất ưu đãi, các quy định miễn, giảm thuế… có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp Một chính sách thuế có lợi sẽ thu hút được doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào nơi cần thiết, ngược lại, một chính sách thuế khắt khe sẽ giảm bớt luồng di chuyển vốn vào nơi cần hạn chế sản xuất kinh doanh
3.2 NSNN là công cụ để điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát.(về thị trường)
Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cung cầu chi phối thị trường rất mạnh mẽ Mọi sự biến động của gía cả đều do mất cân đối cung cầu Vì vậy, Chính phủ cần có sự tác động tích cực đến thị trường nhằm đảm bảo lợi ích cho
cả người sản xuất và người tiêu dùng, cũng như để giữ vững cơ cấu kinh tế đã được hoạch định
- Đối với thị trường hàng hoá, hoạt động điều tiết của Chính phủ được thực hiện thông qua việc sử dụng các quỹ dự trữ của Nhà nước (bằng tiền, bằng ngoại tệ, các loại hàng hoá, vật tư, chiến lược…) được hình thành từ nguồn thu của NSNN
- Đối với thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường sức lao động…hoạt động điều tiết của Chính phủ thông qua việc thực hiện một cách đồng bộ giữa các công cụ tài chính, tiền tệ, giá cả… trong đó công cụ ngân sách với các biện pháp như phát hành công trái, chi trả nợ, các biện pháp chi tiêu dùng của Chính phủ cho toàn xã hội, đào tạo…
Kiềm chế lạm phát luôn được coi là mục tiêu trọng yếu trong điều chỉnh
vĩ mô nền kinh tế – xã hội của quốc gia
NSNN được sử dụng như một công cụ có hiệu lực để kiềm chế và đẩy lùi lạm phát Khi xảy ra lạm phát, giá cả tăng lên do cung cầu mất cân đối (cung
Trang 15dùng, giảm thuế đối với đầu tư và thắt chặt chi tiêu của NSNN, nhất là các khoản thu cho tiêu dùng Ngoài ra để kiềm chế lạm phát, Nhà nước có thể tăng cường các khoản vay trong dân, góp phần làm giảm lượng tiền mặt trong nền kinh tế, triệt để không phát hành tiền tệ để bù đắp thiếu hụt ngân sách
3.3 Ngân sách là công cụ có hiệu lực của Nhà nước để điều chỉnh trong lĩnh vực thu nhập, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội
Chính sách ngân sách, cụ thể là chính sách thuế và chính sách chi ngân sách góp phần làm giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về thu nhập và tiền lương của các tầng lớp dân cư trong phạm vi cả nước
Thông qua thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm điều tiết những đối tượng có thu nhập cao để phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới đảm bảo công bằng xã hội về thu nhập
Đối với các loại thuế gián thu (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT…) Nhà nước áp dụng mức thuế suất thấp nhất đối với các loại hàng hoá tiêu dùng thiết yếu và mức thuế suất cao đối với các loại hàng hoá xa xỉ, các loại dịch vụ cao cấp nhằm phân phối lại một bộ phận thu nhập của người giầu trong xã hội
Để điều chỉnh thu nhập, bên cạnh công cụ thuế nói trên, Chính phủ còn rất quan tâm đến chính sách chi ngân sách NSNN như một trung tâm phân phối lại, nhằm chuyển bớt một phần thu nhập từ các tầng lớp giàu có sang tầng lớp những người nghèo và Nhà nước cũng là người thay mặt xã hội thực hiện nghĩa vụ đối với các đối tượng gia đình liệt sỹ, thương binh, trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa…Các khoản chi phí cho mục tiêu phúc lợi xã hội, trợ cấp người nghèo cần được bố trí với chiều hướng tăng lên
Ngoài ba vai trò trên, NSNN còn có vai trò củng cố, tăng cường sức mạnh của bộ máy Nhà nước, bảo vệ đất nước và giữ gìn an ninh; vai trò kiểm tra các hoạt động tài chính khác trong việc làm nghĩa vụ nộp thuế, các khoản phải nộp, trong việc sử dụng các tài sản quốc gia và thực hiện các pháp luật, chính sách về
ngân sách và các pháp luật, chính sách khác có liên quan
II NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Thu ngân sách nhà nước
1.1.Khái niệm, đặc điểm của thu NSNN
* Khái niệm:
Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thoả mãn các nhu cầu của Nhà nước
* Đặc điểm của thu NSNN
Trang 16- Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội
- Thu NSNN chứa đựng các quan hệ phân phối nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị để tập trung một bộ phận tổng sản phẩm quốc dân để hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước
- Thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị như: giá cả, lãi suất, thu nhập…
1.2 Nội dung kinh tế của thu NSNN
Thu NSNN bao gồm:
- Thuế, lệ phí, phí do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước như:
+ Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế
+ Tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế
+ Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi)
- Thu từ các hoạt động sự ngiệp
- Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
- Thu từ vay nợ và viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các
tổ chức, các nhân trong và ngoài nước
- Thu khác: thu từ tiền phạt, tịch thu, tịch biên tài sản
Căn cứ vào nội dung kinh tế và tính chất của các khoản thu NSNN có thể chia NSNN thành hai nhóm:
- Nhóm thu thường xuyên có tính chất bắt buộc gồm thuế, phí, lệ phí
- Nhóm thu không thường xuyên bao gồm các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và các khoản thu khác đã nêu ở trên
Phân loại theo yêu cầu động viên vốn vào NSNN có thể chia các khoản thu NSNN thành:
- Thu trong cân đối NSNN : bao gồm các khoản thu thường xuyên và không thường xuyên
- Thu bù đắp thiếu hụt NSNN : khi số thu không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu và Nhà nước phải đi vay, bao gồm vay trong và ngoài nước
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN
Một vấn đề hết sức quan trọng trong thu NSNN là xác định mức động viên
Trang 17và lĩnh vực động viên một cách đúng đắn, hợp lý Mức động viên và lĩnh vực động viên lại chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội Các nhân
tố ảnh hưởng đến thu NSNN là:
- Thu nhập GDP bình quân đầu người
Chỉ tiêu GDP bình quân đầu người phản ánh mức độ tăng trưởng và phát triển của một quốc gia, khả năng tiết kiệm và đầu tư của một nước Đây là nhân
tố quyết định khách quan đến mức động viên của NSNN Nừu bỏ qua chỉ tiêu này khi xác định mức động viên của NSNN sẽ có tác động tiêu cực đến vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của đông đảo các tầng lớp dân cư trong nền kinh tế
- Tỷ suất lợi nhuận trong kinh tế
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của chi đầu tư phát triển kinh tế Nếu chỉ tiêu này càng lớn thì nguồn tài chính tạo ra càng lớn và ngược lại Do đó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tỷ suất thu NSNN cũng như khả năng động viên vào NSNN
- Tiềm năng đất nước về tài nguyên thiên nhiên
Đối với các nước đang phát triển và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú thì nhân tố này có ảnh hưởng lớn đến số thu NSNN Kinh nghiệm của các nước cho thấy, nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu thì tỷ suất thu NSNN sẽ cao và có khả năng tăng nhanh Ở nước ta trong tương lai, việc xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu Đó là nhân tố quan trọng ảnh hưởng to lớn đến việc nâng cao tỷ suất thu NSNN
- Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước
Nhân tố này phụ thuộc vào:
+ Quy mô tổ chức của bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của nó + Những nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà nhà nước đảm nhận trong từng thời kỳ + Chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước
Trong điều kiện các nguồn tài trợ khác cho chi phí Nhà nước không có khả năng tăng lên thì việc tăng mức độ chi phí của Nhà nước sẽ dẫn đến tăng tỷ suất thu NSNN
- Tổ chức bộ máy thu nộp
Việc tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng trực tiếp đến thu NSNN Nừu
bộ máy thu nộp được tổ chức gọn nhẹ và có hiệu quả cao sẽ góp phần tích cực vào việc tăng thu NSNN và ngược lại
1.4 Nguyên tắc thiết lập hệ thống thu NSNN
Trong cơ cấu các nguồn thu của NSNN, thuế luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn
Trang 18nhất, đó là nguồn thu chủ yếu của NSNN Nội dung cơ bản của việc xây dựng
hệ thống thu NSNN trước hết và trực tiếp là xây dựng hệ thống thuế tiên tiến, tích cực; vừa đáp ứng yêu cầu động viên cho NSNN, vừa phát huy vai trò điều tiết các hoạt động kinh tế – xã hội theo định hướng chiến lược của Nhà nước Do
đó việc thiết lập hệ thống thuế phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc ổn định và lâu dài
Nguyên tắc này yêu cầu trong điều kiện kinh tế hoạt động bình thường phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế, không được gây xáo trộn lớn trong
hệ thống thuế
Ổn định và lâu dài, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hóa ngân sách, mặt khác tạo điều kiện để kích thích sản xuất yên tâm phát triển sản xuất
- Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng
Nguyên tắc này đòi hỏi việc thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với mọi đối tượng nộp, không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế Việc thiết lập hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế
Tôn trọng nguyên tắc công bằng có tác dụng phân phối lại thu nhập của các tầng lớp dân cư, hạn chế sự phân hóa ranh giới kẻ giàu, người nghèo trong xã hội
- Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn
Nguyên tắc này yêu cầu các chính sách thuế được quy định trong luật phải thể hiện đầy đủ các tiêu thức (đối tượng nộp, đối tượng tính, mức thu, thủ tục nộp ) một cách cụ thể, rành mạch
Tôn trọng nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn sẽ đảm bảo tính thống nhất của
hệ thống thu ngân sách trong việc áp dụng chung cho các nước; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tổ chức thu NSNN và hạn chế những thất thoát, tiêu cực có thể xảy ra
- Nguyên tắc đơn giản
Yêu cầu của nguyên tắc này là mỗi chính sách thuế cần hạn chế số lượng các mức thu, xác định rõ mục tiêu chính không nên đề ra quá nhiều mục tiêu trong một chính sách thu ngân sách
Đảm bảo yêu cầu trên cho phép xác định chính sách thuế đơn giản, dễ áp dụng nhưng giảm thiểu được tính chủ quan trong công tác tổ chức quản lý thu ngân sách
- Nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế
Trang 19Trong điều kiện hiện nay, với xu thế hội nhập và toàn cầu, việc thiết lập
hệ thống thuế còn phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế về đối tượng thu, phương thức thu nộp… Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội
1.5 Các giải pháp tăng thu ngân sách Nhà nước
Muốn tăng trưởng nền kinh tế phải có số vốn lớn và phải huy động tối đa các nguồn tài chính để dùng vào đầu tư phát triển kinh tế Bồi dưỡng nguồn thu nói chung, nguồn thu NSNN nói riêng, có tầm quan trọng quyết định
Những quan điểm định hướng:
- Phải chú trọng kết hợp tốt việc khai thác, huy động các nguồn tài chính vào NSNN với việc bồi dưỡng phát triển các nguồn tài chính
- Phải coi nâng cao năng suất lao động xã hội, của từng doanh nghiệp và tiết kiệm là con đường cơ bản để tạo vốn, để tăng thu NSNN
Trên cơ sở các quan điểm định hướng đó, cần có các giải pháp tích cực để bồi dưỡng nguồn thu NSNN
Một là: Nhà nước, trong khi khai thác, cho thuê, nhượng bán tài sản, tài
nguyên quốc gia tăng thu cho ngân sách, cần phải dành kinh phí thỏa đáng để nuôi dưỡng, tái tạo và phát triển các tài sản, tài nguyên ấy, không làm cạn kiệt
và phá hủy tài sản, tài nguyên vì mục đích trước mắt
Hai là: Chính sách thuế vừa phải huy động được cho Nhà nước, vừa
khuyến khích tích tụ vốn của doanh nghiệp và dân cư Vì vậy, cần phải ổn định mức huy động bằng thuế của Nhà nước và phải sửa đổi, bổ sung chính sách thuế cho phù hợp với thu nhập của các doanh nghiệp và của dân cư
Ba là: Chính sách vay dân để bù đắp thiếu hụt NSNN cần được đặt trên cơ
sở thu nhập và mức sống của dân Tiết kiệm trong dân cư phải có mức độ nhất định Nếu Nhà nước vay quá lớn, dân sẽ không cải thiện được mức sống, không còn khả năng tự đầu tư để phát triển, giải quyết các vấn đề mà Nhà nước chưa giải quyết được như: thu nhập, việc làm, đồng thời tạo ra nguồn tài chính mới
Bốn là: Nhà nước dùng vốn NSNN đầu tư trực tiếp vào một só doanh
nghiệp quan trọng trên những ngành, lĩnh vực then chốt để thực hiện định hướng phát triển kinh tế – xã hội và tạo ra nguồn tài chính mới Đồng thời, Nhà nước phải chú trọng đầu tư vào con người, đào tạo nghề, nâng cao dân trí, phát triển khoa học, chăm lo sức khỏe để có một đội ngũ lao động có tay nghề cao và năng suất lao động cao
Năm là: Cần phải ban hành chính sách tiêt kiệm, khuyến khích mọi người
tiết kiệm tiêu dùng, dành vốn cho đầu tư phát triển Nhà nước phải giảm chi tiêu cho tiêu dùng, tinh giản bộ máy Nhà nước, cải cách bộ máy hành chính để tích lũy vốn chi đầu tư
Trang 202.Chi ngân sách nhà nước
2.1 Khái niệm, đặc điểm của chi ngân sách nhà nước
2.1.2 Đặc điểm của chi NSNN
Chi NSNN có những đặc điểm cơ bản sau:
- Chi NSNN gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ
Trong từng thời kỳ nhất định, khi bộ máy nhà nước được mở rộng và đảm đương nhiều nhiệm vụ hơn thì mức độ và phạm vi chi NSNN ngày càng lớn hơn
- Cơ cấu, nội dung và mức độ các khoản chi NSNN do cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội quyết định Do đó, chi NSNN mang tính pháp lý cao, làm cho NSNN trở thành công cụ có hiệu lực trong quá trình điều hành và quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước
- Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được xem xét trên tầm vĩ mô, thông qua việc phân tích toàn diện các mục tiêu kinh tế - xã hội của các khoản chi ngân sách
- Chi NSNN mang tính chất không hoàn lại trực tiếp; đó là hình thức cấp phát trực tiếp của Nhà nước vào các lĩnh vực của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, xuất phát từ yêu cầu thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước
- Các khoản chi NSNN được gắn chặt với sự vận động của phạm trù giá trị
khác như tiền lương, giá cả, lãi suấ, tỷ giá hối đoái Mối quan hệ giữa chi NSNN với các chính sách tiền tệ, chính sách tài chính có ý nghĩa cực kỳ to lớn
Trang 21trong việc thực hiện các mục tiêu của kin tế vĩ mô như tăng trưởng, công ăn việc làm, giá cả
2.2 Nội dung kinh tế của chi NSNN
Do tính đa dạng và phức tạp nên chi NSNN có rất nhiều khoản mục khác nhau:
- Chi đầu tư phát triển: bao gồm các khoản chi cho đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng; chi cho các chương trình mục tiêu tiêu quốc gia, dự án nhà nước; chi hỗ trợ các doanh nghiệp Nhà nước, góp vồn liên doanh, liên kết; chi bổ sung dự trữ nhà nước
- Chi sự nghiệp kinh tế
- Chi cho y tế
- Chi cho giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học
- Chi cho văn hoá, thể dục thể thao
- Chi về xã hội
- Chi quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể
- Chi cho an ninh quốc phòng
- Chi khác: như chi viện trợ, cho vay, trả nợ gốc và lãi
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN
Nội dung, cơ cấu các khoản chi NSNN là sự phản ánh những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử và luôn biến động theo tình hình kinh tế, xã hội, chính trị Vì thế, cần đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN
- Chế độ xã hội
Chế độ xã hội quyết định bản chất và nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước, do đó có ảnh hưởng quyết định đến nội dung cơ cấu chi NSNN
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất
Nhân tố này vừa tạo ra khả năng và điều kiện cho việc hình thành nội dung, cơ cấu chi một cách hợp lý, vừa đặt ra yêu cầu thay đổi nội dung, cơ cấu chi trong từng thời kỳ nhất định
- Khả năng tích luỹ của nền kinh tế
Nhân tố này càng lớn thì khả năng chi đầu tư phát triển kinh tế càn lớn Tuy nhiên, việc chi NSNN cho đầu tư phát triển còn tuỳ thuộc ở khả năng tập trung nguồn tích luỹ vào NSNN và chính sách chi của NSNN trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
- Mô hình tổ chức bộ máy của Nhà nước, và những nhiệm vụ kinh tế, xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng thời kỳ
Trang 22Ngoài những nhân tố kể trên, nội dung, cơ cấu chi NSNN của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như: biến động kinh tế, chính trị, xã hội, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái
2.4 Những nguyên tắc tổ chức chi NSNN
Chi NSNN có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Việc bố trí các khoản chi NSNN một cách tuỳ tiện, thiếu sự phân tích hoàn cảnh cụ thể sẽ có ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước Do vậy, việc tổ chức các khoản chi NSNN phải dựa trên những nguyên tắc nhất định
Thứ nhất: gắn chặt khoản thu để bố trí các khoản chi
Chi NSNN phải dựa trên cơ sở có nguồn thu thực tế từ nền kinh tế Nếu vi phạm nguyên tắc này sẽ dẫn đến tình trạng bội chi NSNN, một nguyên nhân dẫn đến khả năng bùng nổ lạm phát, gây mất ổn định cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Thứ hai: đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí các
khoản chi tiêu của NSNN
Để đảm bảo nguyên tắc này, NSNN cần phải sắp xếp, bố trí các khoản chi NSNN với một cơ cấu hợp lý, phải dựa trên các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu có căn cứ khoa học và thực tiễn, tổ chức các khoản chi theo các chương trình có mục tiêu
Thứ ba: tập trung có trọng điểm
Nguyên tắc này đòi hỏi việc phân bổ nguồn vốn NSNN phải căn cứ vào các chương trình có trọng điểm của Nhà nước nhằm đảm bảo tính mục đích và khả năng tiết kiệm các khoản chi NSNN
Thứ tư: Phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của các cấp theo
luật pháp để bố trí các khoản chi cho hợp lý
Nguyên tắc này nhằm tránh việc bố trí các khoản chi chồng chéo, khó kiẻm tra, giám sát; nâng cao trách nhiệm và tính chủ động của các cấp
Thứ năm: Kết hợp chặt chẽ các khoản chi NSNN với khối lượng tiền tệ,
lãi suất, tỷ giá hối đoái
Nguyên tắc này đòi hỏi khi bố trí một khoản chi của NSNN phải phân tích diễn biến của khối lượng tiền tệ, lãi suất, tỷ giá hối đoái trong các chu kỳ kinh doanh làm sao tạo nên một tổng lực để giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ
mô
2.5.Bội chi NSNN và các biện pháp xử lý
2.5.1 Bội chi NSNN
Trang 23Cân đối ngân sách là một nguyên lý xuyên suốt trong quá trình quản lý và điều hành ngân sách nhà nước Cân đối ngân sách yêu cầu các khoản chi ngân sách phải có nguồn thu đảm bảo
Theo quan niệm hiện nay, NSNN được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và đảm bảo số tích luỹ ngày càng cao để chi đầu tư phát triển
Tuy nhiên, số thu NSNN có hạn, trong khi đó, nhu cầu chi tiêu của nhà nước lại không ngừng tăng lên, dẫn đến sự mất cân bằng giữa thu và chi, bội chi NSNN xảy ra
Bội chi NSNN là số chênh lệch giữa chi lớn hơn thu Bội chi ngân sách có thể xảy ra do thay đổi chính sách thu- chi của Nhà nước, người ta gọi là bội chi
cơ cấu; hoặc có thể do sự biến động của chu kỳ kinh tế, người ta gọi là bội chi chu kỳ Ngày nay, bội chi NSNN trở thành phổ biến đối với hầu hết các quốc gia, tuy nhiên ở những mức độ khác nhau
Bội chi trên quy mô lớn, tốc độ cao được coi là một nguyên nhân trực tiếp
và quyết định gây lạm phát, tác hại đến sự phát triển kinh tế, đến đời sống của dân cư Do đó cần phải có biện pháp đúng đắn để giải quyết bội chi NSNN
2.5.2 Các biện pháp xử lý bội chi NSNN
Để thiết lập lại thế cân đối NSNN cần có biện pháp tăng thu, giảm chi ngân sách Tăng thu, giảm chi là biện pháp mang tính truyền thống để khắc phục bội chi ngân sách Tuy nhiên, trong bối cảnh mức tăng GDP chưa lớn, nếu phần tập trung vào ngân sách quá lớn sẽ hạn chế đầu tư và tiêu dùng tư nhân, làm giảm động lực phát triển kinh tế; nếu giảm chi vượt quá mức giới hạn sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước
Từ những hạn chế trên, giải pháp tình thế thường được sử dụng để xử lý bội chi là vay trong và ngoài nước
- Để tiến hành được tốt biện pháp vay trong nước cần phải nghiên cứu một cách đầy đủ vấn đề lãi suất tiền vay, thời hạn thanh toán, hình thức vay
- Để thực hiện tốt viêc vay vốn nước ngoài, điều quan trọng là phải tính đến hiệu quả sử dụng tiền vay, sự biến động lãi suất, lựa chọn hình thức vay, cũng như việc cải thiện môi trường kinh tế, chính trị của đất nước, tạo sự ổn định thu hút vốn từ nước ngoài
Ngoài ra còn có biện pháp phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhưng biện pháp này chỉ có tác dụng nhất thời, về lâu dài sẽ làm giảm giá trị đồng tiền và sinh ra lạm phát gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
Đối với nước ta hiện nay, phát hành tiền không được xem là biện pháp để khắc phục bội chi ngân sách
Trang 24III - TỔ CHỨC HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ PHÂN CẤP QUẢN
LÝ NSNN Ở VIỆT NAM
1 Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp Ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu - chi của mỗi cấp Ngân sách và được tổ chức theo một cơ cấu nhất định
Tổ chức hệ thống NSNN phải tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản sau:
Một là: đảm bảo tính tập trung, thống nhất
Nguyên tắc này thể hiện quyền quyết định của Quốc hội và sự điều hành thống nhất của Chính phủ đối với NSNN Một mặt, đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong việc thực hiện những nhiệm vụ chiến lược quan trọng của quốc gia, những chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô, hỗ trợ vùng khó khăn phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo Mặt khác, tăng cường phân cấp quản lý, tạo thế chủ động gắn với tăng cường trách nhiệm cho chính quyền địa phương để giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Hai là: Đảm bảo tính tự chủ, chịu trách nhiệm của mỗi cấp ngân sách
Nguyên tắc này xuất phát từ yêu cầu nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc thực hiện các nhiệm vụ chung của toàn quốc gia
Đối với nước ta hiện nay, để phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước ở các cấp; hệ thống NSNN được chia thành: ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương Ngân sách các cấp chính quyền địa phương bao gồm:
- Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh);bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị
Trang 25Hệ thống ngân sách nhà nước được khái quát theo sơ đồ sau:
2 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
2.1 Khái niệm phân cấp quản lý NSNN
Thực chất của việc phân cấp quản lý NSNN là giải quyết các mối quan hệ giữa chính quyền Nhà nước trung ương với các cấp chính quyền địa phương trong việc sử lý các vấn đề của hoạt động ngân sách Nhà nước
Phân cấp được thực hiện theo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo tính thống nhất của NSNN: phân cấp quản lý để phát huy quyền dân chủ, tính chủ động, sáng tạo của các cấp chính quyền trong khai thác, bồi dưỡng, huy động nguồn thu; tính toán chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả các khoản chi NSNN Các cấp chính quyền đều phải chấp hành thống nhất theo luật NSNN
- Phân cấp ngân sách nhà nước phải phù hợp với phân cấp các lĩnh vực khác của Nhà nước, tạo ra một sự đồng bộ trong thực hiện và quản lý các ngành, các lĩnh vực của Nhà nước
- Nội dung phân cấp quản lý phải phù hợp với Hiến pháp và luật pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp chính quyền,
Ngân sách nhà nước
Ngân sách Trung Ương Ngân sách địa phương
NS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
NS quận, huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh
Ngân sách xã phường,
thị trấn
Trang 26bảo đảm mỗi cấp ngân sách có các nguồn thu các khoản chi, quyền và trách nhiệm về ngân sách tương xứng nhau
2.2 Nội dung phân cấp quản lý NSNN
Trong quá trình quản lý, sử dụng NSNN giữa các cấp chính quyền thường nảy sinh các mối quan hệ quyền lực, quan hệ vật chất Giải quyết các mối quan
hệ đó được coi là nội dung của phân cấp quản lý ngân sách Cụ thể, phân cấp quản lý ngân sách bao gồm những nội dung sau:
- Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong việc
ban hành các chính sách, chế độ thu chi, chế độ quản lý NSNN
Đây là một trong những nội dung tất yếu của phân cấp quản lý NSNN Qua phân cấp phải xác định rõ quyền hạn ban hành các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức, phạm vi, mức độ, quyền hạn của mỗi cấp trong việc ban hành chính sách, chế độ NSNN Có như vậy, việc điều hành và quản lý NSNN mới bảo đảm tính ổn định, tính pháp lý, tránh tư tưởng cục bộ địa phương
- Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụ chi,
nguồn thu và cân đối NSNN
Để giải quyết mối quan hệ này cần xác định rõ nhiệm vụ kinh tế, chính trị của mỗi cấp chính quyền; khả năng tạo nguồn thu trên địa bàn mà cấp chính quyền đó quản lý, đồng thời nghiên cứu sử dụng các biện pháp điều hoà thích hợp
- Giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong quá trình thực
hiện chu trình ngân sách
Chu trình ngân sách được hiểu là quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Phân cấp quản lý cần xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các cấp chính quyền trong việc lập, chấp hành và quyết toán ngân sách sao cho vừa nâng cao trách nhiệm của chính quyền trung ương, vừa phát huy tính năng động, sáng tạo của chính quyền cơ sở
2.3 Nguyên tắc phân cấp quản lý Nhà nước
Nhằm giải quyết các mối quan hệ nói trên, trong phân cấp quản lý NSNN cần phải thực hiện một số nguyên tắc sau:
- Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của Nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn
- Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được phân định nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể:
+ Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm
vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia như: các dự án đầu tư phát triển kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội có tác động đến cả nước hoặc nhiều địa phương; các
Trang 27chương trình, dự án quốc gia, các chính sách xã hội quan trọng, điều phối hoạt động kinh tế vĩ mô của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh đối ngoại và hỗ trợ các địa phương chưa cân đối được thu- chi ngân sách
+ Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trật tự
an toàn xã hội trong phạm vi quản lý
- Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương do hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, thời gian thực hiện phân cấp này phải phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách ở địa phương; cấp xã được tăng cường nguồn thu, phương tiện và cán bộ quản lý tài chính - ngân sách
để quản lý tốt, có hiệu quả các nguồn lực tài chính trên địa bàn được phân cấp
- Kết thúc mỗi chu kỳ ổn định, căn cứ vào khả năng thu và yêu cầu chi; Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp và mức bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới
IV CHU TRÌNH QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.Căn cứ lập NSNN
Việc lập dự toán NSNN hàng năm phải dựa vào những căn cứ sau đây: + Phải dựa vào phương hướng, chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của Đảng và Nhà nước để lập
+ Những nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và địa phương;
+ Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức độ bổ sung của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới đã được quy định
+ Chính sách, chế độ thu ngân sách; định mức phân bổ ngân sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách
+ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm sau
+ Số kiểm tra về dự toán ngân sách do cơ quan có thẩm quyền thông báo + Tình hình thực hiện dự toán ngân sách các năm trước
Trang 281.2 Yêu cầu đối với việc lập NSNN hàng năm là:
+ Dự toán NSNN và dự toán ngân sách các cấp chính quyền phải tổng hợp theo từng lĩnh vực thu - chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên , chi đầu
tư phát triển, chi trả nợ
+ Dự toán ngân sách của đơn vị dự toán các cấp phải lập theo đúng nội dung, biểu mẫu, thời hạn và phải thể hiện đầy đủ các khoản thu, chi theo mục lục NSNN và hướng dẫn của Bộ tài chính
+ Dự toán ngân sách phải kèm theo báo cáo thuyết minh rõ cơ sở , căn cứ tính toán
- Phương pháp và trình tự lập dự toán NSNN được chia thành các bước sau:
Bước 1: Lập dự toán ngân sách xã
Bước 2: Lập dự toán ngân sách huyện
Bước 3: Lập dự toán ngân sách tỉnh
Bước 4: Lập dự toán ngân sách Nhà nước và ngân sách trung ương
Sau khi dự toán NSNN đã được quốc hội quyết định, các cơ quan có thẩm quyền phân bổ và giao dự toán NSNN cho các cấp, các ngành, các đơn vị sử dụng NSNN
2 Chấp hành ngân sách nhà nước
Sau khi dự toán NSNN được giao cho các cấp ngân sách và các đơn vị sử dụng ngân sách thì năm ngân sách sẽ được bắt đầu và các cấp ngân sách tiến hành tổ chức thu NSNN và bố trí cấp kinh phí của NSNN cho các nhu cầu đã được phê chuẩn Do đó, chấp hành ngân sách còn được gọi là thực hiện ngân sách
2.1 Tổ chức chấp hành dự toán thu
Với mục tiêu là không ngừng bồi dưỡng, phát triển nguồn thu, tìm mọi biện pháp động viên, khai thác, bảo đảm mức động viên chung mà Quốc hội đã phê chuẩn, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đã được hoạch định Để đạt được mục tiêu đó, việc tổ chức chấp hành dự toán thu phải thực hiện đồng bộ các biện pháp sau đây:
- Xác lập, hoàn thiện hệ thống chính sách chế độ động viên thích hợp vừa đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo mức động viên của nhà nước
- Tăng cường công tác tuyên truyền chính sách, chế độ thu; làm cho mọi thành viên thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN
- Kiện toàn tổ chức và bộ máy thu theo nguyên tắc thống nhất, nâng cao hiệu lực của bộ máy, đảm bảo bộ máy gọn nhẹ, hiệu quả cao
Trang 29- Đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý thu từ khâu lập kế hoạch, giao
kế hoạch thu, đến khâu tổ chức công tác đôn đốc thu nộp, công tác thống kê kế toán thu
- Tăng cường công tác bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ của cán bộ quản lý thu; xử lý mối quan hệ giữa các cơ quan chức năng liên quan đến công tác thu nộp của NSNN
2.2 Tổ chức chấp hành dự toán chi
Mục đích là đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí của ngân sách cho hoạt động của bộ máy nhà nước và thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội
đã được hoạch định trong năm kế hoạch sao cho tiết kiệm và hiệu quả Yêu cầu
và nội dung của việc chấp hành dự toán chi là:
- Thực hiện cấp phát kinh phí trên cơ sở hệ thống các định mức, tiêu chuẩn
- Đảm bảo việc cấp phát kinh phí theo kế hoạch được duyệt
- Đảm bảo thực hiện nguyên tắc trực tiếp, nghĩa là mọi khoản kinh phí chi trả từ ngân sách phải do kho bạc trực tiếp thanh toán
- Đổi mới phương thức cấp phát của NSNN theo hướng nhanh, gọn, dễ kiểm tra, giảm các kênh cấp phát, đặc biệt đối với cấp phát vốn xây dựng cơ bản
2.3 Xây dựng dự toán thu - chi quý, tháng
Dự toán thu chi quý, tháng thực chất là kế hoạch tiến độ thực hiện nhiệm
vụ của dự toán thu-chi năm Thông qua việc lập dự toán thu - chi quý, tháng có thể đánh giá được khả năng hoàn thành dự toán NSNN, tìm ra những mặt yếu kém, tồn tại để tìm biện pháp khắc phục
Yêu cầu xây dựng dự toán thu - chi quý, tháng là trên cơ sở phân tích các hoạt động kinh tế, dự kiến khả năng hình thành các nguồn thu mới, đồng thời xác định được tiến độ, phạm vi, mức độ cần tiến hành cấp phát vốn trong điều kiện khả năng thu còn bị hạn chế
3 Quyết toán ngân sách nhà nước
Quyết toán ngân sách Nhà nước là khâu cuối cùng trong quy trình quản lý NSNN Thông qua quyết toán ngân sách sẽ cho thấy được kết quả toàn diện về hoạt động kinh tế - xã hội của Nhà nước, hoạt động của nhà nước với tư cách là công cụ vĩ mô của Nhà nước trong thời gian qua, từ đó rút ra kinh nghiệm cần thiết trong điều hành NSNN Do đó yêu cầu của quyết toán ngân sách là đảm bảo tính chính xác, trung thực và kịp thời
Để đáp ứng được các yêu cầu đó cần tập trung cải tiến, hoàn thiện các công việc sau:
- Soát xét lại toàn bộ chế độ hiện hành về kế toán và quyết toán ngân sách, đảm bảo quyết toán nhanh, gọn, chính xác, kịp thời
Trang 30- Đổi mới quá trình lập, báo cáo, phê chuẩn quyết toán và tổng quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng tăng cường trách nhiệm của các đơn vị, cơ quan, địa phương, nâng cao vai trò của cơ quan tài chính
- Nâng cao vai trò của quốc hội trong việc xem xét, phê chuẩn quyết toán
và tổng quyết toán ngân sách nhà nước
Để có một chu tình ngân sách hợp lý, phản ánh đầy đủ quá trình hoạt động
của ngân sách nhà nước cần phải coi trọng và không ngừng cải tiến các khâu trong chu trình đó, nhằm làm cho hoạt động của NSNN ngày càng lành mạnh
Câu hỏi ôn tập chương II
1 Trình bày vai trò của ngân sách Nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội của các quốc gia Liên hệ ở Việt Nam?
2 Trình bày các nguồn thu chủ yếu của NSNN? Nguồn thu NSNN chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố nào?
3 Trình bày nội dung các khoản chi chủ yếu của NSNN? Và các nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN?
4 Chi NSNN là gì? Nêu các nguyên tắc tổ chức chi NSNN?
5 Bội chi NSNN là gì ? Các biện pháp xử lý bội chi NSNN?
7 Mô tả chu trình quản lý NSNN? Trong thực tế việc lập chu trình quản lý NSNN gặp những khó khăn gì ?
8 Hãy liên hệ với cá nhân và doanh nghiệp đến thu chi NSNN ? Nêu ưu, nhược điểm của nó
Trang 31CHƯƠNG III TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
I- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp có thể được hiểu là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh
Đối với các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải có các yếu tố cần thiết là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động, từ đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định Muốn vậy, doanh nghiệp phải hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình thành, phân phối
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác thể hiện trong việc góp vốn, vay vốn, cho vay vốn… trong việc thanh toán đối với các hoạt động mua hoặc bán tài sản, hàng hoá, dịch vụ…
- Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp, như quan hệ trả lương, trợ cấp, thưởng, phạt vật chất…đối với người lao động, quan hệ thanh toán giữa các
bộ phận trong doanh nghiệp, phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, hình thành và sử dụng quỹ cho doanh nghiệp
Từ đó có thể khẳng định: Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ
kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu nhất định
2 Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp
Là một khâu của hệ thống tài chính, tài chính doanh nghiệp thể hiện những điểm khác biệt với các khâu tài chính khác, thể hiện ở những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở của hệ thống tài chính,
gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong quá trình hoạt động, sự
vận động của quỹ tiền tệ đặc biệt (vốn kinh doanh) luôn gắn liền với các yếu tố
Trang 32vật tư và lao động Cùng với quỹ tiền tệ này, các quỹ tiền tệ khác có trong doanh nghiệp luôn được tạo lập, bổ sung do kết quả sản xuất kinh doanh mang lại và phục vụ cho chính quá trình sản xuất kinh doanh đó
Thứ hai: Mọi sự vận động của các nguồn tài chính trong doanh nghiệp
đều nhằm đạt tới mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
Cũng giống như các khâu tài chính khác, tài chính doanh nghiệp có chức năng phân phối và chức năng giám đốc Nhờ chức năng phân phối mà doanh nghiệp có khả năng động viên khai thác và thu hút các nguồn tài chính trong nền kinh tế để hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra chức năng này còn đồng nghĩa với việc đầu tư vốn: đầu tư bên trong hay đầu tư bên ngoài
Mục tiêu cuối cùng của mọi quá trình kinh doanh của doanh nghiệp là thu lợi nhuận, vì thế tài chính doanh nghiệp còn có khả năng giám sát Chức năng giám đốc của tài chính doanh nghiệp có khả năng phát hiện những khuyết tật trong khâu phân phối để từ đó điều chỉnh quá trình phân phối nhằm thực hiện phương hướng, mục tiêu, chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
3 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp có vai trò to lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, biểu hiện trên các mặt sau:
Một là, tài chính doanh nghiệp là công cụ huy động đầy đủ và kịp thời
vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Để thực hiện mọi quá trình kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp phải
có vốn kinh doanh Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết được thể hiện ở việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ Tiếp đó, phải lựa chọn các phương pháp và hình thức huy động vốn thích hợp, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn để hoạt động của các doanh nghiệp được thực hiện một cách nhịp nhàng liên tục với chi phí huy động vốn thấp nhất
Hai là, Tài chính doanh nghiệp có vai trò trong việc tổ chức sử dụng vốn
tiết kiệm và hiệu quả
Việc tổ chức, sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả là điều kiện
để đảm bảo yêu cầu hạch toán kinh tế Đây được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư, chọn ra phương án đầu tư tối ưu; huy động nguồn vốn có lợi nhất cho hoạt động kinh doanh; phân bổ hợp lý các nguồn vốn, sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh
Ba là, tài chính doanh nghiệp có vai trò là đòn bẩy kích thích và điều tiết
sản xuất kinh doanh