1. Tính cấp thiết của đề tài: Ngày nay, tất cả các quốc gia, một khi đã chấp nhận nền kinh tế thị trường thì vấn đề tạo lập một hệ thống thị trường đồng bộ là vấn đề có tính tất yếu khách quan. Quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta cũng đòi hỏi phải xây dựng và vận hành đồng bộ các loại thị trường, trong đó có thị trường sức lao động – một thị trường được xem như là đầu tầu, rộng lớn và quan trọng nhất. Đó là nhiệm vụ rất cần thiết và cấp bách. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ trong thời gian tới, cần phải: “ Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: Thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học – công nghệ ”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định: “ Phát triển đồng bộ các loại thị trường và tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ”. Nằm trong bối cảnh chung của cả nước, trước giai đoạn đổi mới, thị trường sức lao động và quan hệ cung cầu sức lao động ở tỉnh Đồng Nai chưa được thừa nhận. Do đó không phát huy được tối đa tiềm năng nguồn nhân lực. Là một tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tiềm lực mạnh về công nghiệp; Với thế mạnh của một địa bàn có sự giao lưu Nam – Bắc thuận tiện, là cửa ngõ vào Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Nam bộ, có vị trí quan trọng trong sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gắn kết vùng Đông Nam bộ với Tây Nguyên. Đồng Nai có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế – xã hội. Tỉnh Đồng Nai có hệ thống giao thông thủy, bộ, đường sắt nối liền các địa phương khác trong cả nước, có sân bay quân sự Biên Hòa, là địa bàn trọng yếu về kinh tế – chính trị, về quốc phòng và an ninh. Đồng Nai hiện có dân số trên 2 triệu người, dân số tương đối trẻ và tỷ lệ lao động cao. Với thế mạnh của một tỉnh có tiềm năng lớn về công nghiệp, lại nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, Đồng Nai có ưu thế trong việc đón nhận nguồn nhân lực, trí tuệ của mọi miền đất nước hội tụ về cùng với nhân dân địa phương xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội. Cùng với quá trình đổi mới, thị trường sức lao động ở Đồng Nai từng bước được hình thành, đi vào hoạt động, góp phần giải quyết việc làm, bước đầu mang lại những hiệu quả tích cực. Song thị trường sức lao động ở Đồng Nai vẫn còn ở tình trạng sơ khai, mang tính tự phát, chưa có sự kiểm tra, hướng dẫn và quản lý của Nhà nước một cách chặt chẽ và hiệu quả. Nó đang phải đối mặt với nhiều vấn đề như: giữa cung – cầu lao động còn mất cân đối, phân bố lực lượng lao động cho các ngành, vùng còn bất cập; giá cả sức lao động chưa phản ánh đúng mức độ đóng góp và thành tích của người lao động; hệ thống công cụ của thị trường sức lao động hiệu quả hoạt động chưa cao; nhiều khu công nghiệp đang thiếu lao động một cách trầm trọng ….. Hiện nay, trước yêu cầu của giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường sức lao động càng cần được hoàn thiện và phát triển. Do đó việc tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, phân tích đánh giá thực trạng của vấn đề thị trường sức lao động và đề ra những giải pháp phù hợp nhằm phát triển loại hình thị trường đặc biệt này ở tỉnh Đồng Nai là một vấn đề cấp thiết. Vì vậy “Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ” được chọn làm đề tài luận văn này. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài: Vấn đề thị trường sức lao động ở nước ta nói chung và ở các tỉnh nói riêng đã được quan tâm nghiên cứu, phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau và đã trở thành chủ trương của Đảng trong đường lối, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong công cuộc đổi mới. Đến nay, đã có nhiều công trình được công bố trên sách, tạp chí, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ ….. Trong đó có: Đỗ Thị Xuân Phương: “ Phát triển thị trường lao động, giải quyết việc làm ” (qua thực tế ở Hà Nội), Luận án Tiến sĩ kinh tế, Hà Nội 2000. PGS. TS Phạm Quý Thọ: “ Thị trường lao động Việt Nam, thực trạng và các giải pháp phát triển ”, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội 2003. Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Kim Dung, Trần Hữu Huân: “ Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam ”, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 2003. Tiến sĩ Nguyễn Thị Thơm và nhiều tác giả khác: “ Thị trường lao động Việt Nam, thực trạng và giải pháp “, Tổng quan khoa học đề tài nghiên cứu cấp Bộ, 2003 – 2004. Thạc sĩ Nguyễn Thị Lan Hương (chủ biên): “ Thị trường lao động Việt Nam, định hướng và phát triển “ Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà nội. 2000. Một số bài viết của các tác giả: GS, TS Đỗ Thế Tùng; TS Vũ Hoàng Ngân; TS Phạm Đức chính ….. Nhìn chung các công trình nói trên đã tập trung phân tích các vấn đề: Lý luận về thị trường sức lao động Sự hình thành và phát triển của thị trường sức lao động Việt Nam Các quan điểm, phương hướng và giải pháp phát triển thị trường sức lao động ở Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay chưa có đề tài nào đi sâu tìm hiểu thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai dưới góc độ kinh tế chính trị. 3. Mục đích nghiên cứu của luận văn Luận văn vận dụng lý luận về thị trường sức lao động vào việc phân tích, đánh giá thực trạng của thị trường sức lao động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai – Trên cơ sở đó, tìm ra phương hướng giải pháp có hiệu quả để đẩy mạnh phát triển thị trường sức lao động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai. Khẳng định tính tất yếu phải phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phân tích, đánh giá thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai. Đề ra phương hướng giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu. Phát triển thị trường sức lao động ở Đồng Nai. Thời gian: Từ sau đổi mới đến nay. 5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn: Luận văn được thực hiện trên cơ sở các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, những chủ trương chính sách của Nhà nước về thị trường sức lao động. Ngoài ra, luận văn kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến đề tài. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị như: Phương pháp phân tích và tổng hợp; Phương pháp trừu tượng hóa khoa học; Phương pháp kết hợp logic với lịch sử; Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn, thống kê, so sánh ….. để rút ra kết luận đúng đắn. 6. Đóng góp của luận văn: Làm rõ những vấn đề lý luận chung và thực tiễn về phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai. Đánh giá thực trạng thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai, trên cơ sở tìm ra phương hướng giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành trong tỉnh tham khảo, hoạch định chính sách nhằm phát triển thị trường sức lao động phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh nhà. 7. Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và những danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai. Chương 2: Thực trạng thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ngày nay, tất cả các quốc gia, một khi đã chấp nhận nền kinh tế thị trườngthì vấn đề tạo lập một hệ thống thị trường đồng bộ là vấn đề có tính tất yếukhách quan Quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta cũng đòi hỏi phải xây dựng và vậnhành đồng bộ các loại thị trường, trong đó có thị trường sức lao động – một thịtrường được xem như là đầu tầu, rộng lớn và quan trọng nhất Đó là nhiệm vụ rấtcần thiết và cấp bách Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ trong thờigian tới, cần phải: “ Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiệncác loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt quan tâm các thịtrường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: Thị trường lao động,thị trường bất động sản, thị trường khoa học – công nghệ ” Đại hội Đảng toànquốc lần thứ X tiếp tục khẳng định: “ Phát triển đồng bộ các loại thị trường vàtiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ”.Nằm trong bối cảnh chung của cả nước, trước giai đoạn đổi mới, thị trườngsức lao động và quan hệ cung - cầu sức lao động ở tỉnh Đồng Nai chưa được thừanhận Do đó không phát huy được tối đa tiềm năng nguồn nhân lực Là một tỉnhthuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cótiềm lực mạnh về công nghiệp; Với thế mạnh của một địa bàn có sự giao lưuNam – Bắc thuận tiện, là cửa ngõ vào Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miềnTây Nam bộ, có vị trí quan trọng trong sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểmphía Nam gắn kết vùng Đông Nam bộ với Tây Nguyên Đồng Nai có nhiều tiềmnăng phát triển kinh tế – xã hội Tỉnh Đồng Nai có hệ thống giao thông thủy, bộ,
Trang 2đường sắt nối liền các địa phương khác trong cả nước, có sân bay quân sự BiênHòa, là địa bàn trọng yếu về kinh tế – chính trị, về quốc phòng và an ninh ĐồngNai hiện có dân số trên 2 triệu người, dân số tương đối trẻ và tỷ lệ lao động cao.Với thế mạnh của một tỉnh có tiềm năng lớn về công nghiệp, lại nằm trongvùng kinh tế trọng điểm, Đồng Nai có ưu thế trong việc đón nhận nguồn nhânlực, trí tuệ của mọi miền đất nước hội tụ về cùng với nhân dân địa phương xâydựng và phát triển kinh tế – xã hội.
Cùng với quá trình đổi mới, thị trường sức lao động ở Đồng Nai từng bướcđược hình thành, đi vào hoạt động, góp phần giải quyết việc làm, bước đầumang lại những hiệu quả tích cực Song thị trường sức lao động ở Đồng Nai vẫncòn ở tình trạng sơ khai, mang tính tự phát, chưa có sự kiểm tra, hướng dẫn vàquản lý của Nhà nước một cách chặt chẽ và hiệu quả Nó đang phải đối mặt vớinhiều vấn đề như: giữa cung – cầu lao động còn mất cân đối, phân bố lực lượnglao động cho các ngành, vùng còn bất cập; giá cả sức lao động chưa phản ánhđúng mức độ đóng góp và thành tích của người lao động; hệ thống công cụ củathị trường sức lao động hiệu quả hoạt động chưa cao; nhiều khu công nghiệpđang thiếu lao động một cách trầm trọng …
Hiện nay, trước yêu cầu của giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàchủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường sức lao động càng cần được hoànthiện và phát triển Do đó việc tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, phântích đánh giá thực trạng của vấn đề thị trường sức lao động và đề ra những giảipháp phù hợp nhằm phát triển loại hình thị trường đặc biệt này ở tỉnh Đồng Nai
là một vấn đề cấp thiết Vì vậy “Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ” được chọn làm đề tài luận
Trang 3văn này.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Vấn đề thị trường sức lao động ở nước ta nói chung và ở các tỉnh nói riêngđã được quan tâm nghiên cứu, phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau và đã trởthành chủ trương của Đảng trong đường lối, chiến lược phát triển kinh tế – xãhội trong công cuộc đổi mới
Đến nay, đã có nhiều công trình được công bố trên sách, tạp chí, luận vănthạc sĩ, luận án tiến sĩ, kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ … Trong đócó:
- Đỗ Thị Xuân Phương: “ Phát triển thị trường lao động, giải quyết việc làm
” (qua thực tế ở Hà Nội), Luận án Tiến sĩ kinh tế, Hà Nội 2000
- PGS TS Phạm Quý Thọ: “ Thị trường lao động Việt Nam, thực trạng vàcác giải pháp phát triển ”, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội 2003
- Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Kim Dung, Trần Hữu Huân: “ Một số vấn đề vềphát triển thị trường lao động ở Việt Nam ”, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹthuật, Hà Nội 2003
- Tiến sĩ Nguyễn Thị Thơm và nhiều tác giả khác: “ Thị trường lao độngViệt Nam, thực trạng và giải pháp “, Tổng quan khoa học đề tài nghiên cứu cấpBộ, 2003 – 2004
- Thạc sĩ Nguyễn Thị Lan Hương (chủ biên): “ Thị trường lao động Việt Nam,định hướng và phát triển “ Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà nội 2000
- Một số bài viết của các tác giả: GS, TS Đỗ Thế Tùng; TS Vũ HoàngNgân; TS Phạm Đức chính …
Nhìn chung các công trình nói trên đã tập trung phân tích các vấn đề:
- Lý luận về thị trường sức lao động
- Sự hình thành và phát triển của thị trường sức lao động Việt Nam
Trang 4- Các quan điểm, phương hướng và giải pháp phát triển thị trường sức laođộng ở Việt Nam.
Tuy nhiên cho đến nay chưa có đề tài nào đi sâu tìm hiểu thị trường sức laođộng ở tỉnh Đồng Nai dưới góc độ kinh tế chính trị
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Luận văn vận dụng lý luận về thị trường sức lao động vào việc phân tích, đánh giáthực trạng của thị trường sức lao động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai – Trên cơ sở đó, tìm raphương hướng giải pháp có hiệu quả để đẩy mạnh phát triển thị trường sức lao độngtrên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển thị trường sức laođộng ở tỉnh Đồng Nai Khẳng định tính tất yếu phải phát triển thị trường sức laođộng ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Phân tích, đánh giá thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai
- Đề ra phương hướng giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển thị trường sứclao động ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
- Phát triển thị trường sức lao động ở Đồng Nai
- Thời gian: Từ sau đổi mới đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn:
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở các nguyên lý của chủ nghĩa Mác –Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam, những chủ trương chính sách của Nhà nước về thị trường sức lao động.Ngoài ra, luận văn kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trìnhkhoa học liên quan đến đề tài
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị như:Phương pháp phân tích và tổng hợp; Phương pháp trừu tượng hóa khoa học;
Trang 5Phương pháp kết hợp logic với lịch sử; Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn,thống kê, so sánh … để rút ra kết luận đúng đắn.
6 Đóng góp của luận văn:
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung và thực tiễn về phát triển thị trườngsức lao động ở tỉnh Đồng Nai
- Đánh giá thực trạng thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai, trên cơ sởtìm ra phương hướng giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển thị trường sức lao động
ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, banngành trong tỉnh tham khảo, hoạch định chính sách nhằm phát triển thị trườngsức lao động phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh nhà
7 Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và những danh mục
tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1 : Những vấn đề cơ bản về phát triển thị trường sức lao động ở
tỉnh Đồng Nai
Chương 2: Thực trạng thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển thị
trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 6CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG Ở TỈNH ĐỒNG NAI TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1 Một số vấn đề cơ bản về thị trường sức lao động và tính tất yếu khách quan phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai
1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về thị trường sức lao động
1.1.1.1 Khái niệm thị trường sức lao động:
Trong tiến trình phát triển kinh tế thị trường, cho đến nay, có nhiều quan niệm
về thị trường sức lao động:
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), thì: “ Thị trường lao động là thị trườngtrong đó các dịch vụ lao động được thông qua quá trình mua và bán để xác địnhmức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công ” [ 24, tr 35 ] Quanniệm này nhấn mạnh đến các dịch vụ lao động được xác định thông qua việc làmđược trả công Cách tiếp cận này phù hợp với nhiệm vụ của ILO và ảnh hưởng lớnđến hoạt động của nó, đặc biệt trong việc khảo sát thực trạng vận động của thịtrường sức lao động các nước đang phát triển nhằm cung cấp dữ liệu cho việc hoạchđịnh chính sách phát triển kinh tế - xã hội
Các nhà kinh tế Mỹ cho rằng: “ Thị trường sức lao động, đó là một cơ chế màvới sự trợ giúp của nó, hệ số giữa người lao động và số lượng chỗ việc làm đượcđiều tiết ” [ 24, tr 35 ]; Hay theo K.I.Mikylskovo, nhà kinh tế học người Nga thì: “Thị trường sức lao động được hiểu như là một hệ thống quan hệ xã hội, những địnhmức và thể chế xã hội (trong đó có cả pháp luật), đảm bảo cho việc tái sản xuất, traođổi và sử dụng lao động ” [ 24, tr 35 ] Các quan điểm này, nhấn mạnh đến mốiquan hệ xã hội của việc trao đổi và sử dụng lao động
Ở nước ta, quan niệm về thị trường sức lao động cũng rất đa dạng và phongphú Ví dụ: “ Thị trường sức lao động biểu hiện mối quan hệ giữa một bên là người
có sức lao động và bên kia là người sử dụng sức lao động nhằm xác định số lượng
và chất lượng lao động sẽ đem ra trao đổi và mức thù lao tương ứng ” [ 25, tr 7 ]
Trang 7Hay theo đề tài cấp nhà nước KX 04-04 thì: “ Thị trường sức lao động là toàn bộcác quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động (bao gồm cácquan hệ lao động cơ bản nhất như: tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội, tranhchấp lao động ….), ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên là người laođộng tự do và một bên là người sử dụng lao động ” [ 32, tr2 ] Các quan niệm này,không chỉ nhấn mạnh đến không gian, địa điểm, nơi diễn ra hoạt động trao đổi, muabán sức lao động, mà còn nhấn mạnh đến mối quan hệ xã hội giữa người lao động
và người sử dụng lao động, đến những mối quan hệ kinh tế được hình thành tronglĩnh vực thuê mướn lao động
Mặc dù, có nhiều quan điểm khác nhau về thị trường sức lao động, do cáchtiếp cận từ các khía cạnh khác nhau song các quan niệm trên đều thống nhất vớinhau về các nội dung cơ bản, để tạo nên thị trường sức lao động, đó là: không gian,địa điểm, người bán sức lao động, người mua sức lao động, giá cả sức lao động vànhững ràng buộc giữa các bên tham gia thị trường này
Sự phong phú và đa dạng trong quan niệm về thị trường sức lao động cũng làđiều dễ hiểu, bởi lẽ, trong quá trình phát triển của kinh tế thị trường thì nhận thức vềthị trường sức lao động cũng dần thay đổi và hoàn thiện
Thực tế cho thấy, các quốc gia phát triển nền kinh tế theo mô hình kinh tế thịtrường có những xuất phát điểm khác nhau, có những đặc điểm về kinh tế, chính trị, xãhội khác nhau, do đó, khác nhau về trình độ phát triển thị trường sức lao động
Ngoài ra, mỗi nhà kinh tế có thể nghiên cứu thị trường sức lao động dưới nhữnggóc độ riêng, nên nhận thức về thị trường sức lao động là không thể đồng nhất, bấtbiến Do đó, việc tồn tại những quan niệm khác nhau trong quá trình khám phá các quyluật vận động của thị trường sức lao động là điều dĩ nhiên
Nhưng, để hiểu thị trường sức lao động dưới giác độ phổ quát nhất, cần phải xuấtphát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác Theo C Mác: “ … Tư bản chỉ phát sinh ở nơinào mà người chủ tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt tìm thấy được người lao động tự
do với tư cách là người bán sức lao động của mình trên thị trường ” [18, tr 255]
“ Anh ta và những chủ tiền gặp nhau trên thị trường và quan hệ với nhau với
tư cách là những người chủ hàng hóa bình đẳng với nhau, chỉ khác nhau ở chỗ một
Trang 8người thì mua, còn người kia thì bán và vì thế cả hai đều là những người bình đẳng
về pháp lý ” [ 18, tr 251 ]; “ Lĩnh vực lưu thông hàng hóa hay trao đổi hàng hoá,trong đó việc mua và bán sức lao động được thực hiện, là các địa đàng thực sự củanhững quyền tự nhiên của con người Ngự trị ở đây chỉ có quyền tự do bình đẳng,quyền sở hữu … ” [ 18, tr 263 ]
Như vậy, từ sự chỉ dẫn của C Mác có thể rút ra một số luận điểm quan trọng
về thị trường sức lao động như sau:
Một là: Thị trường sức lao động là thị trường đặc biệt của thị trường hàng hóa
vì hàng hoá đem ra trao đổi không phải là hàng hóa thông thường mà là hàng hóasức lao động
Hai là: Quan hệ trao đổi không phải là quan hệ “ mua bán đứt đoạn ” mà được thựchiện thông qua ký kết một bản hợp đồng “ Hợp đồng chính là các sản phẩm cuối cùngtrong đó ý chí của họ tìm được biểu hiện pháp lý chung của nó ” [ 18, tr 263 ]
Ba là: Nguyên tắc trao đổi và những quy luật chi phối trên thị trường sức laođộng không khác gì thị trường hàng hóa thông thường, đó là, tự do, bình đẳng vàngang giá Tự do vì cả người mua và người bán chỉ phục tùng ý chí của mình; bìnhđẳng là họ quan hệ với nhau như “ những chủ sở hữu hàng hóa và trao đổi vậtngang giá lấy vật ngang giá ” [ 18, tr 263 ]
Từ đó, có thể rút ra: Thị trường sức lao động là một thị trường hàng hóa, là nơidiễn ra việc trao đổi mua bán hàng hóa sức lao động, người sử dụng và người sởhữu sức lao động trao đổi với nhau thông qua một bản hợp đồng, trong đó xác địnhquyền tự do, bình đẳng của các chủ thể sở hữu và theo nguyên tắc trao đổi nganggiá Ở đây, giá cả của hàng hóa sức lao động được biểu hiện dưới hình thái tiềncông và tiền công chịu sự điều tiết của các quy luật thị trường, trong đó quan hệcung và cầu lao động là cơ chế tác động trực tiếp tới sự thay đổi của tiền công.Như vậy, trên thị trường sẽ hình thành những quan hệ về việc làm, nó xác địnhnội dung đích thực của thị trường sức lao động như thị trường việc làm
Thị trường sức lao động không hoàn toàn đồng nghĩa với quan hệ lao động.Quan hệ lao động chỉ tồn tại trong quá trình thuê mướn lao động, còn thị trường sứclao động tồn tại từ khi những đối tượng thuê và đi làm thuê có những cố gắng thamgia vào quá trình thuê mướn
Trang 9Vì vậy, thị trường sức lao động bao hàm những mối quan hệ trước, trong vàsau quá trình thuê mướn lao động bắt đầu.
Nói tóm lại, có thể quan niệm một cách chung nhất về thị trường sức lao động nhưsau: “ Thị trường sức lao động là một bộ phận của hệ thống thị trường, trong đódiễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự do (người bán sức laođộng) và một bên là người có nhu cầu sử dụng sức lao động (người mua sức laođộng) Sự trao đổi này được thỏa thuận trên cơ sở các mối quan hệ lao động như:tiền công, tiền lương, điều kiện làm việc, bảo hiểm xã hội … Thông qua một hợpđồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng ” [ 43, tr 40 ]
1.1.1.2 Tính quy luật hình thành thị trường sức lao động
Thị trường sức lao động ra đời là một tất yếu của nền kinh tế thị trường khi
mà sản xuất hàng hóa đạt đến trình độ phát triển cao Hàng hóa cần mua và bán trên thịtrường này là sức lao động, là cái sản sinh ra công năng để sản xuất kinh doanh Do đó,không thể có thị trường sức lao động nếu không có hàng hóa sức lao động
Theo C Mác: “ Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thểchất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người sống và được người đóđem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó ” [ 18, tr 251 ]
Sức lao động luôn có sắn trong bất kỳ xã hội nào, nó không phụ thuộc vàohình thái xã hội, nó luôn là điều kiện cơ bản của sản xuất Tuy nhiên, sức lao độngkhông phải bao giờ cũng là hàng hóa, nó chỉ trở thành hàng hóa trong những điềukiện lịch sử nhất định Tức là chỉ trong một trình độ phát triển nhất định thì sức laođộng mới trở thành hàng hóa Về lịch sử, thị trường sức lao động ra đời muộn hơn
so với thị trường hàng tiêu dùng cà một số thị trường các yếu tố sản xuất khác Thịtrường sức lao động mới xuất hiện cùng với sự xuất hiện cùa phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa - khoảng thế kỷ XVII
Theo C Mác, yếu tố quan trọng nhất làm ra đời thị trường sức lao động đó làphải có hàng hóa sức lao động, phải có người bán, người mua sức lao động trên thịtrường Hàng hóa chỉ xuất hiện khi có hai điều kiện cơ bản
Một là: Người lao động phải được tự do về thân thể Điều kiện này cho họquyền quyết định đối với sức lao động của bản thân mình, nghĩa là sức lao động chỉ
Trang 10xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hóa, nếu nó do bản thân người có sức laođộng đưa ra bán C Mác viết: “ Muốn cho người chủ sức lao động ấy có thể bán được
nó với tư cách là hàng hóa, thì người đó phải có khả năng chi phối được sức lao động
ấy, do đó, người ấy phải là kẻ tự do sở hữu năng lực của mình, thân thế của mình ”[ 18, tr 251 ] Vì vậy, người lao động phải được tự do về thân thể, có quyền sở hữu sứclao động của mình, thì mới đem ra bán sức lao động được
Hai là: Người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất Tức là người laođộng không có vốn liếng hay tư liệu sản xuất, tài sản duy nhất đảm bảo sự sống của
họ chỉ là sức lao động C Mác cũng chỉ rõ: “ … người chủ sức lao động phảikhông có những khả năng bán những hàng hóa trong đó lao động của anh ta đượcvật hóa, mà trái lại, anh ta phải đem bán, với tư cách là hàng hóa, chính ngay cái sứclao động chỉ tồn tại ở trong cơ thể sống của anh ta thôi ” [ 18, tr 252 – 253 ]
Như vậy, sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi có đủ hai điều kiện trên.Nếu chỉ có điều kiện thứ nhất (người lao động được tự do về thân thể) thì chưa đủ
để biến sức lao động thành hàng hóa, vì nếu người lao động được tự do về thân thể
mà lại có tư liệu sản xuất thì họ sẽ sản xuất ra hàng hóa và đem bán hàng hóa domình sản xuất ra chứ không bán sức lao động Do đó, muốn biến sức lao động thànhhàng hóa phải có thêm điều kiện thứ hai (người lao động phải là người không có tưliệu sản xuất), chỉ trong điều kiện ấy, người lao động mới bán sức lao động củamình, vì họ không còn cách nào khác để sinh sống
Tuy nhiên, đó mới chỉ là điều kiện để biến sức lao động thành hàng hóa - mộtloại hàng hóa đặc biệt trên thị trường sức lao động
Hai điều kiện này chỉ xuất hiện khi nền kinh tế hàng hóa đã đạt được trình độphát triển tương đối cao, khi cạnh tranh trên thị trường đã làm phân hóa người sảnxuất, xuất hiện các doanh nghiệp quy mô lớn, vượt quá giới hạn sử dụng lao độngcủa bản thân và gia đình chủ doanh nghiệp Họ cần phải thuê lao động để duy trì vàphát triển doanh nghiệp Trong khi đó, có những người bị thua lỗ phá sản, họ phải
đi làm thuê (bán sức lao động của mình cho chủ sử dụng lao động) để duy trì cuộcsống của bản thân và gia đình Nghĩa là, trong nền kinh tế xuất hiện mâu thuẫn giữacung và cầu sức lao động Sự ra đời của thị trường sức lao động chính là kết quả tất
Trang 11yếu để giải quyết mâu thuẫn này Đây là hiện tượng có tính quy luật của quá trìnhphát triển kinh tế hàng hóa.
Vận dụng quan điểm trên của C Mác, trong điều kiện hiện nay thì thị trườngsức lao động chỉ có thể hình thành khi có đủ các yếu tố sau:
Một là, có nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường
Hai là, người lao động không có đủ tư liệu cần thiết, họ phải bán sức lao độngcủa mình để đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình
Ba là, có định chế pháp luật cho phép mua và bán sức lao động
Bốn là, có hệ thống tổ chức và công cụ để giải quyết các nhu cầu và các quan
hệ phát sinh trong quá trình thuê mướn lao động như: hệ thống tổ chức thị trườngsức lao động, hệ thống dịch vụ việc làm, hệ thống thông tin thống kê thị trường sứclao động, hệ thống dạy nghề, hệ thống bảo hiểm xã hội …
Năm là, thị trường sức lao động chỉ hình thành và phát triển trong mối quan
hệ hữu cơ với các loại thị trường khác và chịu sự tác động chi phối của hệ thống cácquy luật của kinh tế thị trường và quản lý của nhà nước
1.1.1.3 Các yếu tố cấu thành và sự hoạt động của thị trường sức lao động
Nói đến thị trường sức lao động là nói đến mối quan hệ giữa người có sứclao động có thể tìm được việc làm để có thu nhập và người sử dụng sức lao động cóthể thuê được nhân công bằng cách trả công để tiến hành sản xuất – kinh doanh.Trên thị trường sức lao động mức cung, cầu về sức lao động ảnh hưởng tới tiềncông lao động và sự thay đổi mức tiền công cũng ảnh hưởng tới cung, cầu về sứclao động Đối tượng tham gia thị trường sức lao động bao gồm: những người chủ sởhữu tư liệu sản xuất, có nhu cầu sử dụng sức lao động và những người có nhu cầubán sức lao động thể có việc làm và thu nhập
Từ đó cho thấy: Thị trường sức lao động được cấu thành bởi 3 yếu tố cơ bản:cung, cầu và giá cả sức lao động Ba yếu tố này có mối quan hệ ảnh hưởng lẫnnhau Nói tới sự vận động, phát triển của thị trường sức lao động cũng tức là nói tới
sự vận động, phát triển của các yếu tố cung, cầu, giá cả sức lao động và quan hệgiữa chúng cả về quy mô, trình độ, cơ cấu và tính chất họat động …
Trang 12* Cung về sức lao động:
Sức lao động chỉ tồn tại thực sự trong cơ thể sống của người lao động Như vậy,cung về sức lao động cũng chính là lực lượng lao động xã hội, là toàn bộ nhữngngười có khả năng lao động và có nhu cầu về việc làm, bao gồm cả những ngườitrong và ngoài độ tuổi lao động
Khi nói đến cung sức lao động, cần phải xem xét cả về mặt số lượng, chất lượng và
cơ cấu
- Về số lượng: Cung sức lao động thường được phân biệt thành 2 phạm trù:
+ Cung thực tế về sức lao động: Gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lênđang làm việc và những người thất nghiệp Cung thực tế về sức lao động chính làlực lượng lao động xã hội hay dân số hoạt động kinh tế [ 5, tr 40 ]
+ Cung tiềm năng về sức lao động: Bao gồm tất cả những người đủ từ 15 tuổi trởlên đang làm việc và những người đang thất nghiệp, những người trong độ tuổi laođộng, có khả năng lao động nhưng đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong giađình mình hoặc không có nhu cầu lao động và tình trạng khác [ 5, tr 40 ]
- Về chất lượng: Cung sức lao động được thể hiện ở tình trạng sức khỏe, trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, ý thức kỷ luật, phẩm chất đạo đức củangười cung sức lao động trên thị trường
- Về cơ cấu: Cung sức lao động thể hiện ở cơ cấu của người cung sức lao
động trên thị trường sức lao động xét theo độ tuổi, giới tính, trình độ nghề nghiệp,khu vực ngành, nghề, thành phần kinh tế
- Những nhân tố ảnh hưởng đến cung sức lao động bao gồm:
+ Một là, quy mô và tốc độ tăng dân số: Quy mô dân số là lượng tuyệt đối vềdân số trong phạm vi một quốc gia hay một vùng lãnh thổ Khi quy mô dân số lớn,tốc độ tăng dân số cao thì cung sức lao động sẽ tăng và ngược lại Nghĩa là yếu tốnày tỉ lệ thuận với cung sức lao động
+ Hai là, tỷ lệ dân số tham gia thị trường sức lao động, tức tỷ lệ dân số đủ từ
15 tuổi trở lên tham gia thị trường sức lao động Khi tỷ lệ này tăng thì cung sức laođộng sẽ tăng và ngược lại
Trang 13+ Ba là, sự di cư lao động, đây là yếu tố có tác động tức thì đến cung sức laođộng Nó có thể làm tăng hoặc giảm đột ngột đối với cung sức lao động ở vùngnhập cư và vùng xuất cư.
* Cầu về sức lao động:
Cầu về sức lao động là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một địaphương, một ngành hay một doanh nghiệp với những mức tiền công khác nhautrong một khoảng thời gian nhất định Nhu cầu này thể hiện qua khả năng thuêmướn lao động trên thị trường sức lao động
Cầu về sức lao động được chia làm hai loại:
+ Cầu thực tế về sức lao động: Là nhu cầu thực tế cần sử dụng lao động tại một thờiđiểm nhất định [5, tr 41]
+ Cầu tiềm năng về sức lao động: Là nhu cầu lao động cho tổng số chỗ làmviệc có thể có sau khi đã tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo việc làmtrong tương lai như vốn, đất đai, tư liệu sản xuất, công nghệ và một số điều kiệnkhác như chính trị xã hội… [ 32, tr 13 ]
Cầu tiềm năng về sức lao động = Cầu thực tế về sức lao động + Số chỗ làmviệc sẽ được tạo ra trong tương lai
Giống như cung về sức lao động, cầu về sức lao động cũng được xem xét cả
về số lượng, chất lượng và cơ cấu:
- Về số lượng: Cầu về sức lao động xã hội tỷ lệ thuận với quy mô và tốc độ
phát triển sản xuất, nếu năng suất lao động xã hội không đổi và nó tỷ lệ nghịch vớinăng suất lao động xã hội, nếu quy mô sản xuất không đổi
- Về chất lượng: Cầu về chất lượng lao động ngày một nâng cao trước sự đòi
hỏi của việc nâng cao năng suất lao động, mở rộng quy mô sản xuất, tăng khả năngcạnh tranh …
- Về cơ cấu: Cầu lao động cũng được xem xét theo các tiêu chí: lứa tuổi, giới
tính, ngành nghề, thành phần kinh tế…
- Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu sức lao động:
+ Một là, phương thức tăng trưởng kinh tế được lựa chọn: Nếu chính phủ lựachọn phương thức tăng trưởng kinh tế nhanh, nhờ vào vốn là chủ yếu thì cầu lao
Trang 14động sẽ giảm và vốn khi được ưu tiên đầu tư vào ngành nào, vùng nào thì ngành đó,vùng đó sẽ thu hút nhiều lao động hơn Nếu Chính phủ lựa chọn phương thức tăngtrưởng kinh tế dựa vào lao động là chủ yếu thì cầu lao động sẽ tăng lên.
+ Hai là, mục tiêu tạo việc làm của Chính phủ: Việc làm là một vấn đề luônđược Chính phủ ở hầu hết các nước quan tâm (dù là nước phát triển hay kém pháttriển) vì nó liên quan trực tiếp đến vấn đề an sinh xã hội, việc làm luôn là một trongnhững mục tiêu kinh tế vĩ mô của các Chính phủ Chính vì vậy, việc làm là vấn đềkinh tế xã hội có tính bức xúc, thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành, các tổchức chính trị - xã hội và mọi người lao động
+ Ba là, kiểu và mức độ công nghiệp hoá được lựa chọn: Công nghiệp hoá,hiện đại hoá là tất yếu khách quan đối với mỗi quốc gia Dưới góc độ việc làmkiểu và mức độ công nghiệp hoá được lựa chọn có ảnh hưởng không nhỏ NếuChính phủ lựa chọn kiểu công nghiệp hoá dựa trên công nghệ nhiều tầng (thấp,trung bình, cao) thì cầu lao động sẽ tăng Ngược lại, nếu Chính phủ lựa chọnkiểu công nghiệp hoá nhanh, chỉ dựa trên công nghệ cao với dung lượng vốn lớnthì cầu lao động sẽ giảm
+ Bốn là, mục tiêu chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang côngnghiệp và dịch vụ: Ở các nước đang phát triển, thị trường sức lao động có đặcđiểm là lao động trong khu vực nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn và tình trạngngười nông dân thiếu việc làm là phổ biến do thất nghiệp … Do đó, để tăngcầu lao động ở khu vực nông thôn, Chính phủ cần đẩy mạnh chuyển dịch c ơcấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch lao động từ nông nghiệpsang công nghiệp và dịch vụ
+ Năm là, cầu về hàng hoá, dịch vụ trên thị trường và khuynh hướng tiêu dùngcủa dân cư: Khi cầu về hàng hoá và dịch vụ tăng thì cầu về sức lao động để sản xuất
ra hàng hoá, dịch vụ đó cũng tăng lên và ngược lại Nói rộng hơn là khi quy mô sảnxuất kinh doanh được mở rộng thì cầu về sức lao động cũng tăng lên
Đồng thời nếu khuynh hướng tiêu dùng của dân cư là sử dụng sản phẩm làm
từ công nghệ nhiều lao động thì cầu về sức lao động sẽ tăng và ngược lại
Trang 15Ngoài ra, cầu về sức lao động còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khácnhư: tình hình kinh tế, chính trị, xã hội (ảnh hưởng đến việc mở rộng hay thu hẹpsản xuất, khuyến khích hay hạn chế đầu tư…); yếu tố tiền công lao động (khitiền công lao động tăng lên, cầu về sức lao động có xu hướng giảm và ngượclại); và các yếu tố tạo ra việc làm như: đất đai, vốn, trình độ tổ chức quản lý, tôngiáo, phong tục tập quán …
Giữa các quốc gia, các vùng lãnh thổ, các ngành, các khu vực kinh tế, cácyếu tố trên có sự khác nhau, do đó cầu về sức lao động giữa chúng cũngkhông giống nhau
* Giá cả sức lao động:
Tiền công là giá cả sức lao động, là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức laođộng, cũng như các loại hàng hóa khác, giá cả hàng hóa sức lao động không chỉ bịquy định bởi giá trị của nó, mà còn chịu ảnh hưởng của quan hệ cung cầu sức laođộng Khi cung sức lao động vượt quá cầu sức lao động thì giá cả sức lao động sẽthấp hơn giá trị sức lao động và “ ngược lại ” Mối quan hệ cung - cầu trên thị trườngsức lao động sẽ dẫn đến việc xác định giá cả sức lao động
* Mối quan hệ giữa giá cả và cung - cầu trên thị trường sức lao động.
- Sự hoạt động của thị trường sức lao động được thể hiện thông qua mối quan
hệ giữa giá cả và cung, cầu trên thị trường sức lao động.
Cung , cầu và giá cả sức lao động có mối quan hệ qua lại với nhau trên thị trườngsức lao động Nếu cung sức lao động phù hợp với cầu sức lao động (trong điều kiện mứccầu có khả năng thu hút tất cả những ngưòi có khả năng lao động và mong muốn làmviệc) và cung - cầu điều chỉnh linh hoạt theo tiền công thì thị trường sức lao động vậnhành có hiệu quả, thất nghiệp không xảy ra Nhưng điều đó chỉ thể hiện trong điềukiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo Bởi vì không phải lúc nào thị trường sức laođộng cũng vận hành suôn sẻ Nếu mức cung cao hơn cầu thì lao động sẽ thừa, tiềncông giảm xuống và ngược lại Mặt khác, quan hệ cung cầu về sức lao động cũngđược điều tiết phù hợp với quy luật giá trị Việc hạ giá hay tăng giá hàng hoá sứclao động cũng tác động đến cung và cầu Giá cả của sức lao động cũng như “ cáivan ” điều chỉnh quan hệ cung, cầu sức lao động
Trang 16Trên thực tế, không thể có thị trường sức lao động hoàn hảo, trong đó các yếu
tố của nó hoạt động cân bằng tuyệt dối, không có tình trạng thất nghiệp, không cóbất bình đẳng về tiền công và thu nhập, nhưng đó lại là mục đích hướng tới khi pháttriển, hoàn thiện thị trường sức lao động Đối với các nước đang phát triển, tiềncông trên thị trường sức lao động chưa hoàn toàn phản ánh giá cả của sức lao độngnên cung, cầu về sức lao động diễn ra phức tạp Thường ở khu vực mà tiền công trảcao hơn mức trung bình thì thất nghiệp ở đó diễn ra phổ biến hơn (đặc biệt là ở cácthành phố lớn) Do đó, Nhà nước luôn nỗ lực tìm cách kiểm soát cung cầu sức laođộng và tiền công để giữ chúng ở vị trí cân bằng, nhưng cạnh tranh với mục đíchtạo ra động lực lại phá vỡ sự cân bằng đó
Cơ sở khách quan của những biến động trong mối quan hệ giữa cung cầu vàgiá cả sức lao động là trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội và giá trị hàng hoásức lao động Ngoài ra, chúng còn chịu sự tác động của Nhà nước thông qua cácchính sách kinh tế vĩ mô, như luật Lao động, luật Thuế thu nhập,
các chính sách bảo hiểm, bảo trợ xã hội, mức lương tối thiểu …
- Sự hoạt động của thị trường sức lao động tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường này: Đó là sự cạnh tranh giữa người mua (người thuê mướn sức lao
động) và người bán (người cung ứng sức lao động) ; giữa người mua với người mua
…từ đó tác động đến việc hình thành giá cả sức lao động Bỡi vì :
Trên thị trường sức lao động cũng như các loại thị trường khác , cạnh tranhthường diễn ra khi có nhiều người mua người bán trên thị trường đối với một loạihàng hoá dịch vụ Thông qua tín hiệu giá cả , cả người mua và người bán đều theođuổi tối đa hoá lợi ích kinh tế của mình , từ đó tác động đến giá cả , làm cho giá cảchuyển động về vị trí cân bằng
Cạnh tranh giữa người mua và người bán sức lao động diễn ra theo biến độngcũa cung cầu sức lao động treên thị trường Khi cung lớn hơn cầu thì người mua trảtiền công thấp hơn cho người lao động và họ dễ dàng thuê mướn được nhân công Ngược lại , khi cung nhỏ hơn cầu thì người bán được đòi hỏi được trả mức tiềncông cao hơn và điều kiện làm việc tốt hơn
Trang 17Còn cạnh tranh giữa người mua với người mua thường diễn ra khi cung sứclao động nhỏ hơn cầu sức lao động hoặc chất lượng cung sức lao động nhỏ hơn chấtlượng cầu sức lao động Những người mua thường trả tiền công cao hơn cho ngườilao động để thu hút , lôi kéo lao động với phía mình, nên dễ gây ra sự biến độngmạnh về di chuyển nhân công trên thị trường sức lao động Đây cũng là một vấn đềgay gắt đã và đang xãy ra ở thị trường sức lao động ở Đồng Nai
Từ đó cho thấy ; Tính cạnh tranh không hoàn hảo của thị trường sức lao động
có nguồn gốc từ sự độc quyền ở phiá người bán lẫn người mua Phía người bán , sự độcquyền xảy ra khi sức lao động khan hiếm Còn sự độc quyền của người mua thể hiệnrất rõ khi cng sức lao động dư thừa Tính cạnh tranh không hoàn hảo ở thị trường sứclao động còn thể hiện ít nhiều ở tính cá biệt là nó không đem ra mua bán theo phươngthức đấu giá tại các sở giao dịch như các hàng hoá thông thường khác
Mặc khác, việc thuê mướn lao động thường là dài hạn với các hợp đồng đã kýkết, nên tiền công tương đối ổn định và ít có khả năng phản ứng linh hoạt trước sựbiến động của cung ,cầu trên thị trường sức lao động Do đó đòi hỏi nhà nước phải
có sự quản lý đặc biệt đối với loại thị trường này, bỡi vì nó không đơn thuần là vấn
đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị, xã hội, con người Có như vậy mới đảm bảođúng định hướng XHCN, đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia thịtrường và phát huy vai trò của người lao động, nâng cao chất lượng cung, cầu sứclao động trên thị trường
1.1.1.4 Vai trò của thị trường sức lao động đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Ở nước ta, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình khách quan, lànhiệm vụ trung tâm, xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta xácđịnh: “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình chuyển đổi căn bản, toàndiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sửdụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùngvới công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triểncủa công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao độngcao ” [20, tr 65]
Trang 18Để thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đạt mục tiêu tổng quát
mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra là: “ Sớmđưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, … Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thànhmột nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 ” [23, tr 87], thì thịtrường sức lao động có vai trò đặc biệt quan trọng Cụ thể là:
- Thị trường sức lao động là nơi đảm bảo cung - cầu về sức lao động cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Thực tế cho thấy, mục tiêu hàng đầu của phát triển thị trường sức lao động lànhằm phân bổ có hiệu quả nguồn lực lao động - một yếu tố sản xuất hết sức quantrọng hiện nay
Cũng như các loại thị trường khác, thị trường sức lao động cũng chỉ có haichủ thể tham gia chính là người cung và người cầu
Người cung (người lao động): Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, đang có nhiều cơhội tìm kiếm việc làm; do phân công lao động được mở rộng, khoa học – công nghệphát triển mạnh mẽ, nhiều ngành nghề mới ra đời, xu thế toàn cầu hóa và hội nhậpkinh tế quốc tế phát triển mạnh …
Vì vậy, để bán được sức lao động đúng với giá trị của nó, hay nói cách khác làmuốn tìm được một việc làm tốt, giá cả phù hợp … để có thu nhập cao, đảm bảo đờisống của bản thân và gia đình thì người lao động phải không ngừng nâng cao chấtlượng lao động (sức khỏe, kiến thức, trình độ chuyên môn, tay nghề …)
Còn người sử dụng lao động (Nhà nước, Doanh nghiệp, hợp tác xã, các công
ty …) muốn tìm được nguồn lao động có chất lượng cao phải có nhiều điều kiệnđảm bảo như tiền công, tiền lương; điều kiện về làm việc, cơ chế, chính sách, cácdịch vụ hỗ trợ lao động …
Có thể nói, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa , nguồn laođộng - lực lượng sản xuất hàng đầu, không những phải được nâng cao về trình
độ văn hóa và khoa học công nghệ mà còn phải được trang bị cả cơ sở vật chất
- kỹ thuật tiên tiến Họ vừa là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, vừa
là người tạo ra sự phát triển đó
Trang 19Vì vậy, chỉ có trên thị trường sức lao động, thông qua các hình thức môigiới, giao dịch việc làm, thông tin thị trường sức lao động … cung - cầu về sức laođộng (số lượng, chất lượng, quy mô, cơ cấu …) cho quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa mới đáp ứng được Bởi vì: Trong nền kinh tế thị trường, sự trao đổi củangười có sức lao động và người sử dụng lao động ở tất cả các thành phần kinh tếđược thực hiện thông qua thị trường Nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện quản lýthị trường sức lao động, đảm bảo quyền của người có sức lao động theo pháp luật.
Do đó phát triển thị trường sức lao động ở nước ta hiện nay là nhằm tạo thêm việclàm nâng cao thu nhập của người lao động và quản lý mối quan hệ giữa người cósức lao động và người sử dụng lao động
- Nguồn lực lao động trên thị trường sức lao động vừa là động lực, vừa là mục tiêu cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Nói đến thị trường sức lao
động là nói đến nguồn lực lao động nói đến lực lượng lao động xã hội, nói đến conngười mà nguồn lực lao động là lực lượng sản xuất hàng đầu của quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, quyết định năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế
và của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xét đến cùng, công nghiệp hóa,hiện đại hóa là nhằm mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống nhândân, nâng cao đời sống cho người lao động, giúp cho người lao động có điều kiệnsinh sống, tái tạo sức lao động và làm việc, học tập … tốt nhất Vì vậy, ở nước ta,công nghiệp hóa, hiện đại hóa luôn được coi là sự nghiệp của toàn dân, của mọithành phần kinh tế và của mọi người; công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải lấy việcphát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bềnvững Chính vì vậy, nguồn lực lao động (yếu tố cơ bản của thị trường sức lao động;yếu tố “ đầu vào ” không thể thiếu của hoạt động kinh tế; một bộ phận của dân sốthục hiện quá trình tiêu dùng xã hội) trở thành mục tiêu và động lực của hoạt độngkinh tế và của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
- Thị trường sức lao động, đặc biệt là thị trường sức lao động có trình độ cao
có vai trò quan trọng đảm bảo thực hiện thắng lợi chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong thời đại ngày nay:
Trang 20Tại Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đảng ta dã quyết định phải đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa để đến năm 2020 đưa nước ta về cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp Đảng ta cũng xác định, trong thời gian này, nền kinh tế thế giới
sẽ có nhiều biến động to lớn sang nền kinh tế tri thức và hội nhập toàn cầu với tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao, khoảng cách giữa các nước giàu và nước nghèo sẽ tiếptục gia tăng Đó là thách thức lớn đối với các nước đang phát triển nói chung vànước ta nói riêng Nếu chúng ta không biết tận dụng cơ hội, nâng cao năng lực nộisinh, đổi mới cách nghĩ cách làm, bắt kịp tri thức mới sẽ tụt hậu xa hơn Như vậy,kinh tế tri thức và hội nhập toàn cầu là cơ hội để nước ta đẩy nhanh công nghiệphóa, hiện đại hóa
Điều đó có nghĩa là, trong thời đại ngày nay, việc thực hiện chiến lược côngnghiệp hóa, hiện đại hóa không thể tách rời việc phát triển các yếu tố của kinh tế trithức Vì vậy, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X xác định: “ Đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với việc phát triển kinh tế tri thức; coi kinh tế trithức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá ”
Như vậy, chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là chiến lược dựa vàotri thức, nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vận dụng các yếu tố của kinh tế trithức Chính vì vậy, việc thực hiện chiến lược và nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải có lực lượng lao động có tri thức, có trình độ cao đảmnhận Đó phải là những người có đức, có tài, ham học hỏi, thông minh, sáng tạo, hamlàm việc … họ phải đươc chuẩn bị tốt về mặt kiến thức văn hoá, được đào tạo thành thạo
về kỹ năng nghề nghiệp, về năng lực sản xuất – kinh doanh, quản trị kinh doanh … và đóphải là những người lao động có sức khoẻ và thể lực tốt
Nói cách khác, đó phải là một nguồn nhân lực có chất lượng cao chỉ có trênthị trường sức lao động có trình độ cao mới có được
1.1.2 Tính tất yếu khách quan phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Phát triển thị trường sức lao động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là vấn đề cầnthiết, có tính tất yếu khách quan, do những nguyên nhân sau đây:
Trang 21- Do yêu cầu tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng, việc phát triển một hệ thống thịtrường đầy đủ, đồng bộ có vai trò đặc biệt quan trọng và là một yêu cầu khách quan.Thực tế cho thấy, hệ thống thị trường với tư cách là tổng hòa những quan hệ kinh tếkhách quan, trong một chừng mực nhất định, đang tự nó phát triển dần dần hoànthiện, tuân thủ những quy luật, nguyên tắc, chuẩn mực thị trường Mặt khác, hiểutheo nghĩa đầy đủ của từ “ thị truờng ” thì không thể tự nó thực hiện mà phải thôngqua những thể chế mang tính chủ quan do Nhà nước tạo lập và triển khai Với góc
độ này, thị trường đang trở thành cơ chế quan trọng để huy động và sử dụng hiệuquả nguồn lực cho phát triển, đồng thời tạo cơ sở cho nhà nước điều tiết vĩ mô nềnkinh tế Vì vậy, việc phát triển một hệ thống thị trường đồng bộ trong quá trình pháttriển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa luôn được Đảng và Nhà nước
ta quan tâm Những năm qua, cùng với công cuộc đổi mới đất nước và quá trìnhphát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống thị trường ởnước ta nói chung và Đồng Nai nói riêng dần dần hình thành và phát triển, nhưngnhìn chung vẫn mang tính manh mún, sơ khai, kém hiệu quả Do đó, việc phát triển
hệ thống thị trường một cách đồng bộ có liên quan chặt chẽ với nhau tạo nên môitrường kinh doanh mạnh mẽ, lành mạnh để phát triển kinh tế là một việc làm hếtsức quan trọng
Đường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đại hội IX Đảng cộngsản Việt Nam đã nêu rõ: “ Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, đổi mới vànâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước ”, trong đó nhấn mạnh: “ Thúc đẩy
sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, đặc biệt quan tâm đến các thị trường quan trọng nhưng chưa có hoặccòn sơ khai như thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản,thị trường khoa học và công nghệ ” [ 22, tr 100 ]
Trang 22Ngoài việc hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường, việc tạo lậpđồng bộ các yếu tố của thị trường còn đòi hỏi phải có sự đồng bộ từ các yếu tốcủa từng loại thị trường Các loại thị trường đều có một số yếu tố cấu thành tạonên thị trường, đó là: hàng hóa, cung – cầu, giá cả, thể chế, các tác nhân xúc tácnhư người môi giới, thời gian, địa điểm … Tức là nó có các yếu tố khách quan và cácyếu tố chủ quan Bên cạnh các yếu tố khách quan của thị trường (là cung – cầu, giá cả,tính cạnh tranh, mức sinh lời, hàng hóa, chủ thể tham gia thị trường ….), việc tạo lậpđồng bộ các yếu tố thị trường cần thiết có những nỗ lực chủ quan của chủ thể có sứcmạnh can thiệp và điều tiết thị trường Vai trò tạo lập sự đồng bộ thị trường nằm trongtay nhà nước mà chỉ có chủ thể có sức mạnh như nhà nước mới có khả năng can thiệp,tạo lập, định hướng và hỗ trợ sự đồng bộ này.
Ở Đồng Nai, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh đã nhận thức rõ tầm quantrọng của việc “ tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường trong quá trình phát triểnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ”, nên luôn quan tâm chỉ đạo thựchiện việc hình thành, phát triển đồng bộ hệ thống thị trường trên địa bàn tỉnh, đặcbiệt quan tâm phát triển các thị trường mới còn manh nha, yếu kém như: thị trườngsức lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học – công nghệ, thị trườngchứng khoán … Tỉnh luôn định hướng, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi đểcác loại thị trường phát triển, từng bước hoàn thiện trong mối quan hệ tương tác,tương hỗ nhau và thúc đẩy nhau phát triển
- Do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh nằm trong vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam.
Theo Quyết định số 146 / 2004/QĐ-TTg, ngày 13 tháng 08 năm 2004, vùngkinh tế trọng điểm phía Nam bao gồm 7 tỉnh, thành phố (Đồng Nai, Bình Dương,
Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tây Ninh và BìnhPhước) Đây là vùng kinh tế năng động, được coi là vùng có tốc độ tăng trưởngcao nhất cả nước; Với tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hoá nhanh; mức độchuyển dịch cơ cấu lao động diễn biến nhanh và theo hướng tích cực; tốc độ tăngvốn đầu tư và khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn … là tiền đề quan trọng
để tăng cầu lao động
Trang 23Nằm ở trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Đồng Nai là một tỉnh
có tiềm năng lớn về phát triển công nghiệp, được đánh giá là một trong những tỉnh điđầu cả nước trong việc phát triển các khu công nghiệp cũng như thu hút đầu tư nướcngoài, nên Đồng Nai là một tỉnh có vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc pháttriển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu laođộng trong vùng kinh tế trong điểm phía Nam Trong những năm qua, sự phát triểncủa tỉnh gắn liền với sự phát triển chung của miền Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọngđiểm phía Nam, đã tận dụng được những lợi thế so sánh, đưa kinh tế phát triển vớitốc độ tăng trưởng khá cao so với vùng và cả nước, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ngoài lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, vănhoá xã hội được quan tâm đầu tư nhiều mặt, tạo ra sự phát triển nhanh và đạt đượcnhiều tiến bộ, chất lượng hoạt động được nâng lên rõ rệt Các hoạt động xóa đóigiảm nghèo, giải quyết việc làm, chăm lo phụng dưỡng các đối tượng chính sách …luôn được quan tâm thực hiện tốt An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội luônđược giữ vững, hệ thống chính trị ngày càng được tăng cường, củng cố, đời sốngnhân dân được nâng lên
Bên cạnh các thành tựu đó Đồng Nai vẫn còn những mặt hạn chế: Kinh tếtăng trưởng cao nhưng chưa thật bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng vàlợi thế của tỉnh Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, sức cạnh tranh của nhiềusản phẩm chưa cao, trình độ công nghệ của doanh nghiệp nhà nước nhìn chungcòn thấp …
Do đó, để Đồng Nai cùng với các địa phương khác trong vùng kinh tế trọngđiểm phía Nam giữ vững vai trò là vùng kinh tế động lực của cả nước, trong Quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai (thời kỳ 2001 – 2010) Ủyban nhân dân tỉnh đã xác định mục tiêu tổng quát là: “ Khai thác có hiệu quảnhững tiềm năng và lợi thế so sánh của tỉnh phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội thời kỳ 2001 - 2010, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, khai
Trang 24thác những cơ hội và tiềm lực bên ngoài, hạn chế những thách thức và hậu quả về
xã hội và môi trường, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh với tốc độ cao vàbền vững … ” [ 42, tr 45 ]
Các mục tiêu cụ thể là: Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 11 – 12
%/ năm cho cả 10 năm 2001 – 2010 Tạo sự chuyển dịch mạnh mẽ và toàn diện cơ cấukinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh tỷ trọng cácngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tương ứng tỷ trọng ngành nông nghiệp Đến 2010,
tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng đạt từ 55 – 57 %, ngành nông, lâm, ngưnghiệp từ 11 – 13 % và các ngành dịch vụ từ 31 – 33 % (nếu có điều kiện lên 49 % vàgiảm tương ứng tỷ trọng công nghiệp còn 50 % và nông nghiệp 10 %) ; Tỷ lệ tăngdân số ở mức 1,3 – 1,4 %; quy mô dân số khoảng 2,4 triệu người, trong đó lựclượng lao động chiếm 60 – 64 % Đến năm 2010, về cơ bản không còn hộ nghèo,GDP bình quân đầu người sẽ tăng lên gấp 2,5 lần so với năm 2000 và năm 2020 đạtđược 3000 USD / người … ” [ 42, tr 46 ]
Với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nói trên đặt ra nhu cầu rất lớn về lựclượng lao động (cả về số lượng, chất lượng, quy mô, cơ cấu …) Do đó, để có đủlực lượng lao động cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong kỳ quy hoạch vàđáp ứng nhu cầu tăng trưởng theo mục tiêu đã đề ra, đặc biệt là nhằm đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Namđòi hỏi tỉnh Đồng Nai phải phát triển thị trường sức lao động, chăm lo phát triểnnguồn nhân lực, chú ý lực lượng lao động trình độ cao, vì nguồn nhân lực được pháttriển tốt sẽ là nhân tố quan trọng nhất, quyết định khả năng phát triển của nền sản xuất– xã hội, khai thác các cơ hội phát triển từ bên ngoài là yếu tố quyết định thắng lợimục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
- Do yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước: Ở
nước ta, công nghiệp hóa là con đường duy nhất, là con đường tất yếu để thoát khỏitình trạng nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu
Xuất phát từ một nước có nền kinh tế kém phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa “ Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ” của Đảng ta (NXB Sự thật, HN, 1991, tr 98)chỉ rõ: “ Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng
Trang 25hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trungtâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của công nghiệp hóa, khôngngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân ”.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cùng với sự hình thành và phát triển nền kinh tế trithức trên thế giới, công nghiệp hóa ở nước ta được Đại hội X của đảng xác định: “ Tranhthủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của nước ta để rútngắn quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủnghĩa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng củanền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa ” [ 23, tr 87 ]
Thực hiện đường lối công nghiệp hóa của Đảng, ở cấp độ địa phương, quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Đồng Nai cũng chú trọng thực hiện tất cảnhững nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, dựa trênđặc thù của tỉnh có tiềm năng, lợi thế về phát triển công nghiệp và nằm trong vùngkinh tế trọng điểm phía Nam Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh đangchú trọng vào các nhóm nội dung chủ yếu sau: Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng tiến bộ (bao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu cácthành phần kinh tế); Hai là, phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp,xem đây là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu của tiến trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa; Ba là, hiện đại hóa ngành dịch vụ tạo điều kiện, tiền đềquan trọng cho phát triển công nghiệp; Bốn là, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp, nông thôn và năm là, phát triển khoa học và công nghệ
Để đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vàtỉnh nhà, Đồng Nai luôn chú trọng đến các nhân tố tác động đến công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, kể cả các nhân tố bên trong (như vốn, khoa học – công nghệ, nguồn nhân lực,
cơ chế chính sách, kết cấu hạ tầng kinh tế) và các nhân tố bên ngoài (như: vốn, côngnghệ tiên tiến, thị trường quốc tế ….) Trong tất cả các nhân tố đó, tỉnh luôn khẳngđịnh: nguồn nhân lực có chất lượng cao là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến kết quả vàtính bền vững của công nghiệp hóa Nguồn lực này bao gồm: Lực lượng lao động đượcđào tạo và có tay nghề; đội ngũ cán bộ công chức có trình độ, năng lực và phẩm chất;đội ngũ cán bộ kinh doanh có trình độ, phẩm chất và sự năng động sáng tạo …
Trang 26Qua thực tế ở các nước có nhiều thành công trong công nghiệp hóa như HànQuốc, Nhật Bản … Cho thấy,do các nước này chú trọng đào tạo nguồn nhân lựcnên họ đã tạo được những bước đột phá lớn, rút ngắn được quá trình công nghiệphóa, đảm bảo tính vững chắc của công nghiệp hóa.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai , đang đặt ra nhu cầurất lớn về lực lượng lao động và chất lượng của nguồn nhân lực Theo mục tiêuphát triển đã xác định , riêng nhu cầu lao động công nghiệp Đồng Nai năm 2005
là 300 ngàn lao động đến năm 2010 là 600 ngàn lao động Như vậy trong 5năm , 2001 -2005 về số lao động công nghiệp tăng thêm 150 ngàn lao động vàđến năm 2010 tăng 450 ngàn lao động Về chất lượng đòi hỏi một lưc lượng laođộng có trình độ chuyên môn kỹ thuật (lao động qua đào tạo nghề) là : 34% năm
2006 ; 36% năm 2007 và đến năm 2010 là 40% Đặc biệt, một vấn đề đáng chú
ý là công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai cũng như cả nước đang diễn ratrong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường sức lao động
ở Đồng Nai đang đứng trước thách thức lớn về chất lượng nguồn nhân lực Mộtkhi đã gia nhập WTO , yếu tố cạnh tranh sức lao động là rất lớn , số lao độngnước ngoài (lao động chuyên gia) vào làm việc trên địa bàn tỉnh chắc chắn sẽ giatăng mạnh hơn trong thời gian tới , do đó đòi hỏi không chỉ bản thân người laođộng phải nỗ lực mà doanh nghiệp cũng phải tạo điều kiện để người lao độngđược học tập , qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Thực tế ở tỉnh cho thấy: Nguồn nhân lực (cả về số lượng và chất lượng) hiệntại chưa đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do đó:
Để đáp ứng nhu cầu lao động cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đếnnăm 2010, đòi hỏi tỉnh phải quan tâm đến chiến lươc phát triển nguồn nhân lực (cả
về số lượng và chất lượng, cả về đào tạo và bố trí, sử dụng lao động …) và trong tínhđồng bộ của phát triển hệ thống thị trường phải đặc biệt chú trọng phát triển thịtrường sức lao động, coi đây là thị trường đầu tàu để lôi kéo các thị trường khác,nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 271.2 Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai
1.2.1 Đặc điểm phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai
- Thị trường sức lao động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai được hình thành và phát triển cùng với quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cũng như các địa phương khác trong cả nước, trước giai đoạn đổi mới(1986), trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, thị trường sức lao động và quan hệ cung - cầusức lao động cũng chưa được thừa nhận, do đó không phát huy được tối đa tiềmnăng của nguồn nhân lực trong hoạt động kinh tế
Cùng với quá trình đổi mới đất nước, bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI của Đảng (năm 1986) đến nay, mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa dần dần được định hình và phát triển Trong việc tạo lập đồng bộ các yếu
tố thị trường để thúc đẩy mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaphát triển, hoàn thiện, thị trường sức lao động cả nước nói chung và thị trường sứclao động ở Đồng Nai nói riêng cũng dần dần được hình thành và phát triển, thựchiện phân bổ nguồn lực lao động cho các ngành, vùng và các thành phần kinh tếtrên địa bàn, góp phần giải quyết việc làm và đã đạt được những kết quả nhất định.Tuy nhiên, nằm trong tình trạng chung của cả nước, thị trường sức lao động ở ĐồngNai cũng ra đời muộn hơn các thị trường khác (do nhận thức và đi đến chấp nhận thịtrường sức lao động phải trải qua một quá trình), nên nó vẫn còn ở tình trạng sơ khai,kém hiệu quả … đang rất cần được hoàn thiện và phát triển
- Thị trường sức lao động ở Đồng Nai được hình thành và phát triển trong điều kiện của một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tiềm lực về công nghiệp và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nên có sức hút khá mạnh về lao động.
Với thế mạnh của một tỉnh công nghiệp và tỉnh đứng hàng thứ 3 trongphạm vi cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, lại nằm trong vùng kinh tế trọngđiểm , nên Đồng Nai có ưu thế trong việc đón nhận nguồn nhân lực, trí tuệ của mọimiền đất nước hội tụ về cùng nhân dân địa phương xây dựng và phát triển kinh tế -
xã hội
Trang 28Đến nay tỉnh đã quy hoạch 32 khu công nghiệp tập trung, trong đó có 21 khucông nghiệp đã được Thủ tướng cho phép thành lập, với diện tích 5.377 ha, thu hút
770 doanh nghiệp đến từ 32 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đăng ký trên 9
tỷ USD Đây là điều kiện tạo ra rất nhiều việc làm, khả năng thu hút lao động vàolàm việc trong các khu công nghiệp là rất lớn
Thực tế cho thấy: Với sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp trong giaiđoạn 1991 – 2005 đã thu hút lực lượng lao động khá lớn vào làm việc, nổi bật làkhu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Năm 1992 là năm đầu tiên có 8 dự
án ngành công nghiệp đi vào sản xuất (trung bình mỗi năm có khoảng 30 dự án đivào sản xuất), ngoài ra hàng năm có khá nhiều doanh nghiệp mở rộng quy mô sảnxuất, do đó, đã thu hút số lượng lớn lao động trong và ngoài tỉnh vào làm việc.Riêng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, đến cuối năm 2005, toàn tỉnh có 648 dự
án (đầu tư nước ngoài) còn hiệu lực với số vốn đầu tư gần 8 tỷ USD, trong đó, trên95% số dự án và vốn đầu tư vào ngành công nghiệp; năm 2005 thu hút 240,7 ngànlao động (chiếm 71,5 % lao động toàn ngành) Tính chung toàn ngành công nghiệptrên địa bàn, đến cuối năm 2005 thu hút 336,7 ngàn lao động vào làm việc Trungbình mỗi năm ngành công nghiệp thu hút khoảng 15 – 20 ngàn lao động – Đây làyếu tố quan trọng hàng đầu để giải quyết việc làm cho người lao động, hạn chế tỷ lệthất nghiệp không những cho Đồng Nai mà còn cho các địa phương khác “ Từ sựtăng nhanh của lao động công nghiệp đã thúc đẩy cơ cấu lao động ngành côngnghiệp trong tổng số lao động xã hội tăng nhanh; đến cuối năm 2005 cơ cấu laođộng công nghiệp chiếm 30,8 % trong khi năm 1990 chiếm 17% ” [ 37, tr 27 ]Như vậy, cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp và thu hút lớn vốn đầu
tư nước ngoài, thị trường sức lao động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai được hình thành
và đi vào hoạt động, với khả năng thu hút và phân bổ nguồn lực lao động khá lớn.Tuy nhiên, nó cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn, đó là nguồn lao độngnhập cư rất lớn, đa số lao động chưa qua đào tạo, thu nhập thấp,các điều kiện về nhà
ở, y tế, đi lại, an ninh trật tự … chưa đảm bảo Đòi hỏi tỉnh phải quan tâm giảiquyết để tạo điều kiện cho người lao động “ an cư lạc nghiệp ”
Trang 29- Phát triển thị trường sức lao động ở Đồng Nai nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, khai thác tiềm năng của tỉnh, hình thành thị trường có tổ chức, để đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và hội nhập kinh tế quốc tế.
Đồng Nai là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị tríđịa lý, điều kiện tự nhiên, đất đai, khoáng sản, dân số và nguồn nhân lực khá dồidào để phát triển kinh tế - xã hội Từ sau đổi mới (1986), tốc độ tăng trưởng kinh tếcủa tỉnh ở mức cao và ổn định (bình quân 10 – 12% / năm), đời sống nhân dâ đượccải thiện và nâng lên, tạo điều kiện thuận lợi trong việc huy động nguồn lực thựchiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên,hiện nay, tốc độ tăng dân số và lực lượng lao động ở Đồng Nai vẫn cao, nhất là tăng
cơ học, bình quân hàng năm tăng từ 12.000 đến 15.000 người Chất lượng nguồnnhân lực chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa trong giai đoạn mới và hội nhậpkinh tế quốc tế Do phần lớn lao động vẫn nằm trong khu vực sản xuất nông nghiệp,
đa số lao động phổ thông, lao động chưa qua đào tạo (khoảng 70%), nên thu nhậpthấp, đời sống người lao động gặp nhiều khá khăn, lao động thất nghiệp ở thành thị
và lao động thiếu việc làm ở nông thôn còn cao
Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và xã hội tỉnh, những năm gầnđây (từ 2004 – 2006), hàng năm nguồn lao động tại chỗ của tỉnh tăng khoảng45.000 người, trong đó, số người tới tuổi lao động tham gia vào lực lượng lao độngkhoảng 23.000 người Mỗi năm có khoảng 1.000 bộ đội xuất ngũ, 8.000 người tốtnghiệp các trường lớp (đại học, trung học chuyên nghiệp, các trường đào tạo nghề
…), 13.000 người tốt nghiệp văn hóa phổ thông trung học không có đủ điều kiệnhọc đại học, cao đẳng, trung học … Ngoài ra có khoảng 90.000 lao động ở nôngthôn đang thiếu việc làm, 40.000 lao động đang có việc làm nhưng thu nhập thấp,cần việc làm mới để cải thiện đời sống
Việc thu hút lao động nông thôn về các khu công nghiệp tập trung đang cónhu cầu sử dụng nhiều lao động lại gặp rất nhiều khó khăn do phần lớn lao động cótrình độ thấp, chưa qua đào tạo nghề; do chưa giải quyết tốt điều kiện ăn ở, đi lại,văn hóa, y tế, xây dựng gia đình … cho công nhân Hơn nữa vấn đề lao động tìm
Trang 30việc làm, và nhà doanh nghiệp tìm lao động trên địa bàn tỉnh vẫn còn mang tính tựphát, tự lực Việc hình thành thị trường có tổ chức để giúp cho cung - cầu lao độnggặp nhau còn hạn chế Do các trung tâm dịch vụ việc làm và thông tin thị trườngsức lao động còn ít và hoạt động còn nghèo nàn, kém hiệu quả
Trong tình hình đó, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế trên địa bàn tỉnh đang phát triển sâu rộng và đang tạo ra những nhu cầukhá lớn về lao động (cả số lượng và chất lượng) đặc biệt là nguồn lao động chấtlượng cao Chính vì vậy phát triển thị trường sức lao động nhằm giải quyết việclàm, tăng thu nhập cho người lao động, khai thác tiềm năng của tỉnh hình thành thịtrường có tổ chức để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhậpkinh tế quốc tế luôn được Đảng, chính quyền và nhân dân quan tâm
1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai
1.2.2.1 Nhân tố về cơ chế, chính sách
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển của thịtrường sức lao động (một bộ phận của hệ thống thị trường) chịu sự tác động của cácthể chế, chính sách cũng như các công cụ vĩ mô khác của nhà nước can thiệp vàonhằm hạn chế mặt trái của thị trường này và thúc đẩy nó phát triển theo những mụctiêu đã định Thị trường sức lao động không thể phát triển mạnh nếu không có sự ổnđịnh của môi trường chính trị, tách rời sự quản lý của nhà nước
Theo các nhà kinh tế học cổ điển, J.M Keynes, P.A Samuelson và các nhà kinh tế họchiện đại, sự can thiệp của nhà nước vào thị trường sức lao động thể hiện dưới 2 giác độ:
- Nhà nước tạo lập môi trường, kích thích đầu tư và tiêu dùng của nhân dânnhằm kích thích cầu sản phẩm, ngăn chặn khủng hoảng, thất nghiệp tạo việc làmđầy đủ cho lao động xã hội
- Nhà nước đảm bảo các điều kiện để thị trường sức lao động vận hành thắnglợi, bảo đảm công bằng xã hội, khắc phục sự phân hóa giàu nghèo quá mức, bảo vệnhóm lao động yếu thế, giảm thiểu rủi ro cho thị trường sức lao động
Cụ thể, các chủ thể tham gia thị trường sức lao động được pháp luật thừa nhận vàquan hệ thuê mướn lao động được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật Pháp luật cho
Trang 31phép tự do lựa chọn việc làm, tự do di chuyển, tự do cư trú … trong khuôn khổ phápluật Nó đảm bảo cho người lao động thực sự cảm thấy mình là một chủ thể tự do, cóquyền làm việc cho mình và có quyền hưởng thụ thành quả lao động đó.
Đối với các chủ thể doanh nghiệp, pháp luật đảm bảo quyền tự do kinh doanh,quyền tự do thuê mướn lao động một cách hợp pháp; đảm bảo quyền bình đẳngtrong quan hệ thuê mướn giữa chủ và thợ
Như vậy, quyền lợi của người lao động và người thuê lao động đều được phápluật bảo vệ, thông qua việc nhà nước ban hành và hoàn thiện bộ Luật Lao động và cácluật khác có liên quan đến việc xác định tiền lương tối thiểu, thuê mướn lao động, qyđịnh về chế độ hợp đồng hay thỏa ước lao động tập thể …
Trên thực tế, năm 1994, bộ Luật Lao động ở nước ta ra đời, với 198 điềukhoản, từ năm 1995 đến nay cùng với điều đó hàng loạt các văn bản pháp lý quantrọng như các Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư liên bộ … liên quan đến lao động vàviệc làm cũng được ban hành Những văn bản pháp lý này đặt ra những khuôn khổthể chế cho thị trường sức lao động, quy định quyền và nghĩa vụ của người laođộng, các tiêu chuẩn lao động, nguyên tắc sử dụng lao động, chế độ đối với các bêntham gia quá trình lao động …
Bộ Luật Lao động và các văn bản pháp lý này là cơ sở vô cùng quan trọng tácđộng tới sự hình thành và phát triển thị trường sức lao động ở nước ta nói chung vàtỉnh Đồng Nai nói riêng
Bên cạnh đó, thông qua hệ thống chính sách, công cụ, nhà nước còn tác độngtrực tiếp lên các yếu tố dân số, các yếu tố phát triển và các yếu tố của mô hình đầu
tư … Qua đó, tác động đến việc làm và tiền công, tác động đến sự phát triển và xuhướng vận động của nền kinh tế
Ngoài ra sự vận động và phát triển của thị trường sức lao động còn chịu sự chiphối của cơ chế thị trường theo quy luật khách quan của thị trường như quy luậtcung - cầu; quy luật hình thành giá cả thị trường, quy luật cạnh tranh …
1.2.2.2 Nhân tố kinh tế
Như đã phân tích, không phải ngay từ buổi đầu trong lịch sử phát triển sản xuấtcủa nhân loại thị trường sức lao động đã ra đời Nó chỉ hình thành và phát triển
Trang 32cùng với sự hình thành và phát triển thị trường xã hội, khi nền sản xuất xã hội đạtđến một trình độ xã hội hóa nhất định thể hiện ở sự phân công lao động xã hội.Trình độ xã hội hóa càng cao thì sự phân công lao động xã hội càng phong phú, đadạng; Chuyên môn hóa càng sâu sắc đòi hỏi sự hợp tác ngày càng chặt chẽ Chínhtrong quá trình đó, mối quan hệ thuê mướn lao động giữa các doanh nghiệp vàngười lao động cần có việc làm trở nên tất yếu Mục đích thuê lao động của cácdoanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, còn mục đích của người lao động là tối đa hóa lợiích, là thu nhập cao.
Khi trình độ kinh tế ngày càng nâng cao thì ảnh hưởng của nó đến thị trườngsức lao động càng thể hiện rõ Đó là, nhu cầu thuê mướn lao động sẽ tăng lên khi cónhiều doanh nghiệp, nhiều cơ sở sản xuất – kinh doanh làm ăn có hiệu quả Đặcbiệt, khi kinh tế đối ngoại được mở rộng và phát triển sẽ tạo ra nhiều cơ hội việclàm ở nước ngoài cho lao động trong nước Đồng thời, vốn đầu tư thu hút được sẽgóp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm cho người lao độngtrong nước Và khi kết cấu hạ tầng sản xuất xã hội như: giao thông, bưu điện, thôngtin liên lạc, dịch vụ sản xuất, dịch vụ sinh hoạt … ngày càng được hoàn thiện thìcác mối quan hệ thuê mướn lao động sẽ thuận lợi hơn và ngày càng được mở rộng.Điều này đã và đang được chứng minh thực tế qua đặc điểm phát triển thị trườngsức lao động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai - một tỉnh có tiềm năng công nghiệp vàphát triển kinh tế đối ngoại
Như vậy, quan hệ giữa thị trường sức lao động và trình độ phát triển kinh tế làquan hệ nhân quả Một thị trường sức lao động vận hành linh hoạt, lành mạnh, cóhiệu quả sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển Và nền kinh tế phát triển lại là cơ sở đểhoàn thiện chất lượng, nâng cao số lượng cung - cầu và giá cả trên thị trường sứclao động cũng như điều tiết mối quan hệ giữa chúng
1.2.2.3 Nhân tố tâm lý – xã hội
Hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (từ năm 1986 đến nay), nềnkinh tế Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng vẫn đang trong tình trạngmột nền kinh tế chuyển đổi, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nên nhiều vấn đề, khái niệm về kinh tế thị
Trang 33trường vẫn chưa được thống nhất, trong đó có thị trường sức lao động và một số vấn
đề liên quan đến thị trường sức lao động Mặc dù thị trường sức lao động đã đượccông nhận về mặt luật pháp nhưng trong tâm lý – xã hội, không phải mọi vấn đề về
nó đều đã thông suốt Ví dụ, quan niệm về hàng hóa trên thị trường sức lao động –
là sức lao động hay lao động Hay tâm lý của người thuê sức lao động ngại bị quykết là kẻ bóc lột; tâm lý của người lao động thích làm việc trong khu vực nhà nước,vào biên chế Và ít nhiều vẫn có sự cách biệt, phân biệt đối xử với người lao động ởnông thôn, lao động nhập cư, khu vực phi chính quy và khu vực tư nhân Sự phân biệtđối xử này thể hiện trong hành vi ứng xử hàng ngày của các công dân, các cơ quan, tổchức công quyền (chẳng hạn: ở Đồng Nai củng như các tỉnh, thành phố trong vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp và chính quyền địa phươngchưa thực sự quan tâm đến đời sống an sinh của người lao động di cư Họ mới chỉ quantâm đến người lao động nhập cư như một nguồn lao động phục vụ cho công việc sảnxuất – kinh doanh của mình Kết quả là người dân di cư phải chịu sống trong những cănnhà trọ tồi tàn, thiếu hầu hết các tiện nghi sinh hoạt hàng ngày chưa nói tới việc hưởngthụ văn hóa, chữa bệnh, học hành ….) Điều này cho đến nay vẫn còn có ảnh hưởngmạnh, ngăn cản sự vận hành lành mạnh của thị trường sức lao động
Mặt khác, người dân Việt Nam vốn có tư tưởng an phận thủ thường, cótruyền thống gắn bó với quê hương, tình làng nghĩa xóm, gắn kết ngành nghề, côngviệc quen thuộc, không thích xáo trộn Điều đó ngăn cản sự di chuyển lao động giữacác ngành, các vùng với nhau (ví dụ: ở Đồng Nai “ lao động ở nông thôn có một bộphận đủ tiêu chuẩn để tuyển dụng vào làm việc ở các khu công nghiệp, nhưngkhông có chỗ ở, không có phương tiện đi lại, nên việc tuyển dụng đưa vào cácdoanh nghiệp rất khó khăn ” [ 39, tr 10 ]
Ngoài ra, tư tưởng trọng nam – khinh nữ, thích làm thầy hơn làm thợ,thích học chữ hơn học nghề … Cũng đã gây ra một sự lãnh phí không nhỏ vềnguồn nhân lực
Có thể nói, tất cả những tư tưởng trên đều có thể tác động làm cho thị trường sứclao động phát triển chậm hơn, đơn điệu và kém linh hoạt nếu không được khắc phục.Chúng cần được sớm loại bỏ để thị trường sức lao động được khai thông
Trang 34Tóm lại: Thị trường sức lao động là một thị trường đặc biệt với các hình thức
biểu hiện riêng vì nó liên quan đến con người với tư cách, một mặt, là một thực thểkinh tế trong vai trò vừa là người sản xuất vừa là người tiêu dùng những hàng hóa,dịch vụ do mình sản xuất ra, mặt khác, là một thực thể xã hội trong vai trò một côngdân có quyền và nghĩa vụ trước xã hội và cộng đồng Do đó, trong hệ thống các yếu
tố thị trường, thị trường sức lao động có vai trò như là đầu tàu lôi kéo và thúc đẩycác thị trường khác
Vì vậy, hình thành, phát triển và hoàn thiện thị trường sức lao động trên địabàn tỉnh Đồng Nai là một tất yếu và cần thiết phù hợp với quy luật, phù hợp vớihoàn cảnh thực tiễn của tỉnh Quá trình phát triển và hoàn thiện thị trường sức laođộng chính là quá trình tạo lập đồng bộ và phát triển các yếu tố cung, cầu và giá cảsức lao động cũng như hoàn thiện mối quan hệ giữa chúng Trong quá trình ấy, thịtrường sức lao động chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố: cơ chế, chính sách, kinh
tế, tâm lý – xã hội Vì vậy, tỉnh cần có sự học tập kinh nghiệm và phân tích, đánhgiá đúng thực trạng thị trường sức lao động trên địa bàn, đề ra được phương hướngthích hợp và các giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển và hoàn thiện loại thịtrường đặc biệt này
1.3 Kinh nghiệm về phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương
1.3.1 Tổng quan kinh nghiệm về phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương
1.3.1.1 Kinh nghiệm về phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất nước, nằm trong khukinh tế trọng điểm phía nam của Tổ quốc Là địa phương đi vào kinh tế hàng hóa,kinh tế thị trường và phát triển thị trường sức lao động khá sớm và rất sôi động.Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tốc độ côngnghiệp hóa, đô thị hóa nhanh nên có sức hút khá mạnh về lao động Đến cuối năm
2006, lao động của thành phố Hồ Chí Minh khoảng 3.000.000 người Trong đó cóphần đóng góp rất lớn của lao động di cư từ các tỉnh khác đến
Trang 35Bình quân những năm gần đây, thành phố đã giải quyết được từ 170.000 đến190.000 chỗ việc làm mới cho người lao động Tuy nhiên do cung sức lao động lớn,nên cầu sức lao động vẫn không đáp ứng kịp Ngoài phần gia tăng của lực lượngdân số bước vào tuổi lao động còn có phần đóng góp rất lớn của lực lương lao động
di cư (khoảng trên 40 %), nên đã gây ra sức ép lớn về việc làm và nhiều vấn đề xãhội khác (cơ sở hạ tầng, quản lý …) Ngoài ra số lao động thất nghiệp nhữngnăm trước tồn đọng lại cộng với số lao động dôi dư hàng năm, số bộ đội xuấtngũ không được đáp ứng việc làm … dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng laođộng ở khu vực thành thị của thành phố Hồ Chí Minh khá cao (khoảng 7% / năm) Tuy nguồn cung sức lao động của thành phố tương đối lớn nhưng chủ yếuvẫn là lao động phổ thông (chiếm trên 60%), thiếu lao động kỹ thuật ở một số ngànhchủ đạo và lao động có trình độ kỹ thuật cao (lao động có trình độ trung cấp và laođộng có trình độ công nhân kỹ thuật từ bậc 1 đến bậc 7)
Trên thị trường sức lao động thành phố đang có sự chênh lệch giữa các ngànhnghề được đào tạo với nhu cầu tuyển dụng lao động của các cơ sở sản xuất Một sốngành cần tuyển nhiều lao động được đào tạo như: ngành dệt, may, giày da, xâydựng, thợ cơ khí lắp ráp máy móc, thợ sửa chữa thiết bị điện, điện tử, thợ lắp đặt vàvận hành máy móc … Nhưng lại chưa đào tạo nhiều hoặc tại các cơ sở đào tạonghề, người theo học các nghề này lại chưa đông Trong khi đó, một số ngành lạiđào tạo quá nhiều, gây dư thừa so với nhu cầu tuyển dụng như: tin học, ngoại ngữ
… Làm cho cơ cấu ngành nghề của cung lao động chưa thật sự phù hợp với cơ cấungành nghề của cầu lao động
Những năm gần đây, sự phân hóa lớn về mức tiền lương, thu nhập giữa các khuvực, các ngành kinh tế đã tạo nên sự di chuyển của các luồng nhân công trên thị trườngsức lao động thành phố Đặc biệt là đang có sự dịch chuyển lao động từ khu vực kinh
tế nhà nước sang khu vực kinh tế ngoài nhà nước nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài với lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao
Những kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh trong giải quyết thị trườngsức lao động thời gian qua là:
Trang 36- Từ khi có đường lối đổi mới của Đảng (năm 1986), thành phố đã nhanhchóng hình thành, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đã tích cựcđẩy mạnh việc phát triển đồng bộ các loại thị trường trong đó có thị trường sứclao động Đặc biệt từ khi có Bộ luật Lao động (được Chính phủ ban hành năm1994), thành phố đã kịp thời xây dựng và bổ sung nhiều chính sách nhằm tạo môitrường thuận lợi cho việc hình thành và hoạt động của thị trường sức lao độngnhư: chính sách giải quyết việc làm, chính sách thu hút lao động, chính sách xuấtkhẩu lao động, chính sách đào tạo nghề cho người lao động, chính sách tiềnlương, chính sách an sinh xã hội cho người lao động nhập cư (như: bảo hiểm,nhập khẩu, y tế, giáo dục …) …
- Tăng cường đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, điều chỉnh cơ cấu kinh tế,phát triển mạnh ngành dịch vụ … để tăng cầu về sức lao động Bên cạnh đó, thựchiện phát triển mạnh mẽ những ngành, lĩnh vực có khả năng giải quyết được nhiềuviệc làm hơn cho người lao động, đồng thời có tác dụng định hướng giáo dục,hướng nghiệp cho sinh viên như: những ngành ứng dụng nhiều tiến bộ khoa họccông nghệ (tin học, vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin viễnthông …) và những ngành nghề sử dụng nhiều lao động (da giày, may mặc, lắp rápcác linh kiện điện tử …)
- Tập trung phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao
để thu hút đầu tư trong và ngoài nước, mở rộng sản xuất, giải quyết việc làm
Đặc biệt là từ năm 2002 đến nay, thành phố đẩy mạnh việc phát triển khucông nghệ cao và xem đây là giải pháp quan trọng để thu hút lao động có trình độcao, giảm áp lực lao động phổ thông (mà đa phần là lao động ở nông thôn về thànhthị và lao động ở các tỉnh nhập cư vào thành phố)
- Khuyến khích các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp trên địa bàn pháttriển sản xuất để tạo mở việc làm (đặc biệt là khuyến khích khu vực kinh tế ngoàiquốc doanh như: kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vì đây là khuvực tạo được nhiều chổ làm việc mới) Để tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động một cách có hiệu quả, từ khi
Trang 37có Luật Doanh nghiệp (được Nhà nước ban hành tháng 01 / 1999 và áp dụng từ nămnăm 2000), thành phố đã chú ý cải cách thủ tục đăng ký doanh nghiệp mới theohướng đơn giản, thuận lợi hơn, hỗ trợ doanh nghiệp về những vấn đề khó khăn như:vay vốn, giải quyết thủ tục hành chính, hỗ trợ thông tin, hỗ trợ đào tạo nguồn nhânlực … Đồng thời đẩy manh việc xúc tiến đầu tư nước ngoài, cải tiến thủ tục thuêđất, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để mời gọi đầu tư nước ngoài vào ….
- Cải tiến công tác quản lý nhà nước đối với thị trường sức lao động, đồngthời chú trọng phát triển và nâng cao chất lượng chất lượng hoạt động của hệ thốngmôi giới thị trường sức lao động như: dịch vụ việc làm, dịch vụ xuất khẩu lao động,các cơ sở dạy nghề, tổ chức hội chợ việc làm; phối hợp với Đồng Nai, Bình Dương
và các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam để thực hiện có hiệu quả việctuyển dụng, đào tạo và sử dụng nguồn lao động … nhằm thúc đẩy cung - cầu laođộng gặp nhau; Quan tâm giải quyết các vấn đề bức xúc (như: tranh chấp lao động,
“ cò lao động ”, đình công …); Đẩy mạnh hoạt động thông tin, thống kê thị trườngsức lao động để nắm bắt được các động thái của thị trường sức lao động, làm cơ sởcho việc quản lý vĩ mô và điều chỉnh các hoạt động của thị trường sức lao động
- Ngoài ra thành phố còn chú ý phát triển các khu đô thị gắn với tạo mở nhiềuviệc làm dịch vụ như: dịch vụ nhà ở cho công nhân, dịch vụ bảo vệ trị an, chăm sóccảnh quan, vệ sinh môi trường
1.3.1.2 Kinh nghiệm phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương
Nói đến thị trường sức lao động ở Bình Dương là nói đến thị trường sức laođộng trong các khu công nghiệp ở Bình Dương Đến nay, tỉnh có 23 khu công nghiệpđang hoạt động với 94 % lực lượng lao động là lao động nhập cư Chỉ riêng con số đóthôi cũng cho thấy đây là một thị trường sức lao động khá đặc biệt
Đại đa số lao động nhập cư vào trong các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương
là lao động phổ thông (chiếm 85,8 % - trong đó đa phần là lao động nữ : 76 %) vàlao động trẻ từ 15 – 35 tuổi (chiếm 97,2 % ), số lao động có chuyên môn kỹthuật chỉ chiếm 14,2 % Trong đó 1,6 % (đại học, cao đẳng); 4,5 % (trung cấp)
và 8,1 % là công nhân kỹ thuật
Trang 38Ngoài ra, trên thị trường sức lao động các khu công nghiệp tỉnh Bình Dươngcòn một bộ phận khá đông là người nước ngoài
Phần đông lao động làm việc trong các khu công nghiệp ở Bình Dương lànhững người nghèo, có thu nhập thấp (thu nhập bình quân hiện nay của người laođộng khoảng 750.000 – 800.000 đồng đối với lao động phổ thông; 1.400.000 đến2.500.00 đồng đối với lao động có chuyên môn kỹ thuật)
Hàng năm, tỉnh Bình Dương có khoảng 15.000 – 18.000 người vào độ tuổilao động nhưng tham gia vào thị trường sức lao động ở khu công nghiệp tỉnh rấtthấp bởi nhiều lý do: Thứ nhất, người lao động Bình Dương chủ yếu xuất thân từnông nghiệp, chưa quen và chưa sẵn sàng tham gia lao động công nghiệp, hơn nữasản xuất nông nghiệp ở Bình Dương còn có nhiều điều kiện thuận Thứ hai, do giá
cả sức lao động hiện có trên thị trường sức lao động ở các khu công nghiệp tỉnhchưa có sức hấp dẫn người lao động nội tỉnh, vì họ có rất nhiều cơ hội để có thểkiếm được thu nhập cao hơn, như làm các dịch vụ phục vụ ăn, ở, đi lại … củangười lao động làm việc trong các khu công nghiệp Thứ ba, tỉnh Bình Dương nằmtrong vùng Đông Nam bộ, một số lao động người Bình Dương có trình độ chuyênmôn kỹ thuật, tay nghề … nhưng họ chỉ tham gia thị trường sức lao động ngoài tỉnhnhư Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh vì ở đó họ gặp người cần lao động mua vớigiá cao hơn, hấp dẫn hơn
Do vậy, việc đáp ứng cầu lao động trên thị trường sức lao động ở các khucông nghiệp tỉnh Bình Dương chỉ chủ yếu dựa vào nguồn lao động nhập cư Điều
đó dẫn đến hiện tượng thiếu lao động cục bộ thường diễn ra vào dịp sau tết nguyênđán (do một số lao động nhập cư về quê ăn tết và không quay trở lại)
Bên cạnh đó, việc tuyển dụng lao động trên thị trường sức lao động tình BìnhDương chủ yếu thông qua các trung tâm tư vấn và giới thiệu việc làm Sự ra đời vàphát triển của các trung tâm giới thiệu việc làm đã định hướng cho nguồn cung laođộng tham gia thị trường được dễ dàng và thuận lợi Nhưng trong thực tế mới chỉ có 02trung tâm giới thiệu việc làm của tỉnh hoạt động, cung cấp trên 1500 lao động, còn lại
đa số là doanh nghiệp tự tuyển dụng qua các hình thức: thi và thi tuyển, hợp đồng laođộng (chủ yếu là hợp đồng ngắn hạn) Hay do người lao động tự tìm việc (thông quangười thân) … Do đó, chưa tạo được tâm lý thật sự an tâm cho người lao động
Trang 39Thời gian quan, tỉnh Bình Dương đã có những kinh nghiệm giải quyết vấn đềthị trường sức lao động như sau:
- Ngay từ những ngày đầu tái lập tỉnh (01/01/1997), Bình Dương đã nhanhchóng xác định đúng lợi thế của mình trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam,trong hoàn cảnh đổi mới của đất nước và trong xu thế hội nhập, Bình Dương đã chủtrương phát triển các khu công nghiệp làm khâu then chốt, đột phá nhằm tạo đà tăngtrưởng kinh tế, phát triển công nghiệp, dịch vụ, tăng nguồn hàng xuất khẩu, tạo ranhiều việc làm mới … cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương.Chính sự phát triển của các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thúc đẩy thị trườngsức lao động ở tỉnh phát triển sôi động, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhậpcho người lao động trong và ngoài tỉnh
- Đầu tư phát triển kinh tế xã hội, xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi để thuhút đầu tư trong và ngoài nước đầu tư phát triển sản xuất, tạo mở việc làm, giảiquyết vấn đề lao động dôi dư Tạo môi trường và điều kiện thông thoáng để mờigọi đầu tư và thu hút lao động trong và ngoài tỉnh vào làm việc tại các khu côngnghiệp tỉnh
- Luôn quan tâm giải quyết các vấn đề bức xúc trên thị trường sức lao độngtrong các khu công nghiệp của tỉnh như vấn đề tranh chấp lao động, vấn đề nhà ở
và các điều kiện sinh hoạt khác cho công nhân; vấn đề cải cách tiền lương, thunhập, vấn đề đào tạo nghề cho người lao động … chú ý nâng cao chất lượng hoạtđộng của hệ thống dịch vụ thị trường sức lao động như dịch vụ giới thiệu việclàm (kể cả nhà nước và tư nhân), thông tin thị trường sức lao động, các cơ sởđào tạo nghề, hội chợ việc làm … nhằm hạn chế những tiêu cực trong tuyểndụng và sử dụng lao động; Nâng cao vai trò của các tổ chức đại diện cho ng ườilao động (công đoàn, các tổ chức chính trị xã hội) để bảo vệ lợi ích cho ng ườilao động
- Ngoài ra những năm gần đây, tỉnh đã chú ý xây dựng và bổ sung nhữngchính sách cho người lao động nhập cư như: nhập khẩu, đất đai, nhà ở, giáo dục, y
tế, hôn nhân …
Trang 401.3.2 Những bài học rút ra sau khi nghiên cứu kinh nghiệm về phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương
Qua nghiên cứu kinh nghiệm về phát triển thị trường sức lao động ở thành phố
Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho sựhình thành và phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Đồng Nai như sau:
Một là, không ngừng phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên cơ sở nhu cầu lao động của xã hội.
Điều này sẽ giúp cho người sử dụng lao động (các doanh nghiệp) có được mộtđội ngũ lao động phù hợp với yêu cầu công việc, đồng thời giúp cho người lao động
có nhiều cơ hội tìm việc làm phù hợp với mức thu nhập tương xứng Trước yêu cầuđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với kinh tế tri thức và trước yêucầu hội nhập kinh tế quốc tế, Đồng Nai cần phải phát triển những lĩnh vực ứng dụngnhững thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ như công nghệ thông tin, côngnghệ viễn thông, công nghệ sinh học, tự động hóa các phương thức quản lý hiện đại
Do đó phải ưu tiên phát triển một đội ngũ lao động có trình độ cao - một đội ngũ laođộng có đầy đủ năng lực trên các lĩnh vực này là điều kiện tiên quyết Để làm đượcđiều đó, hoạt động giáo dục đào tạo trên địa bàn tỉnh cần được đổi mới, trước tiên là
ưu tiên đào tạo cho những ngành mà xã hội đang cần Thứ hai là, nội dung chươngtrình giảng dạy cần thay đổi cho phù hợp với những điều kiện mới Các khóa học thựchành, các chương trình ứng dụng nghiên cứu lý thuyết phải được thực hiện thường xuyênhơn, nội dung bài giảng nên phát huy tinh thần chủ động sáng tạo của sinh viên Hơn nữađội ngũ giáo viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứngyêu cầu đào tạo mới Thứ ba là, đào tạo nghề cần căn cứ vào các định hướng phát triểnkinh tế và quy hoạch phát triển các ngành, coi trọng công tác dự báo nhu cầu lao độngtheo chuyên môn kỹ thuật, tránh tình trạng dạy nghề tràn lan theo phong trào dẫn đến dưthừa lao động ngành này nhưng lại thiếu lao động ở ngành khác
Ngoài ra, phải phát triển các chương trình đào tạo mở, đào tạo theo yêu cầucủa người lao động và sử dụng lao động đảm bảo cân đối tỷ lệ lao động qua đào tạovới nhu cầu của thị trường sức lao động