1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam

107 315 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Sự cần thiết nghiên cứu Đề tài Sắt thép là mặt hàng thiết yếu đối với bất kỳ quốc gia nào trong việc phát triển xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong sản xuất và xây dựng các công trình công nghiệp cũng như dân dụng. Đặc biệt, Việt Nam là nước đang phát triển, có tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao thì nhu cầu sắt thép phục vụ cho nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và nhu cầu tiêu dùng cho xây dựng và sản xuất công nghiệp cũng như dân dụng là rất cần thiết. Trong giai đoạn 2001 - 2005, tổng nhu cầu tiêu thụ thép của Việt Nam tăng từ 3,2 triệu tấn năm 2000 lên khoảng 6,3 triệu tấn năm 2005, đạt tốc độ tăng bình quân 14,35%/năm. Theo ước tính của Hiệp hội Thép Việt Nam, nhu cầu thép xây dựng hiện nay vào khoảng 60% nhu cầu sử dụng thép của nền kinh tế. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng nhu cầu tiêu thụ thép trong xây dựng cơ bản đạt bình quân 18,40%/năm, trong khi nhu cầu tiêu thụ thép trong sản xuất công nghiệp chỉ tăng bình quân 9,47%/năm. Thép phục vụ cho các ngành công nghiệp cơ khí, chế tạo hiện tăng chậm hơn so với nhu cầu thép xây dựng. Cũng trong giai đoạn này, sản lượng phôi thép tăng bình quân 13,27%/năm; sản lượng thép cán các loại tăng bình quân 19,9%/năm; sản lượng thép ống tăng 14,1%/năm; sản lượng tôn mạ các loại tăng 11,50%/năm. Sản xuất thép trong nước hiện không đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu thụ nên hàng năm chúng ta vẫn phải nhập khẩu thép. Hiện Việt Nam hiện có quan hệ nhập khẩu thép với khoảng 30 thị trường trên thế giới. Trong đó, 8 thị trường hàng đầu là Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia, Thái Lan và Ucraina thường chiếm trên 80% tổng khối lượng nhập khẩu thép vào Việt Nam. Trong khối lượng thép nhập khẩu vào Việt Nam, tỷ lệ thép thành phẩm thường chiếm khoảng gần 60% và phôi thép chiếm trên 40%. Trong giai đoạn 2001 - 2005, tốc độ tăng nhập khẩu thép thành phẩm đạt bình quân 14,70%/năm, còn đối với phôi thép là 13,03%/năm. Trong cơ cấu thép thành phẩm nhập khẩu vào Việt Nam, thép lá chiếm tỷ trọng cao nhất, khoảng 60%, tiếp đến là thép tấm chiếm khoảng trên 20%, các loại thép hình, thép ống chiếm khoảng trên 10%, thép xây dựng và các loại thép còn lại chỉ chiếm dưới 10% tổng lượng nhập khẩu. Toàn bộ lượng thép sản xuất và nhập khẩu ở nước ta được phân phối trên thị trường nội địa bởi nhiều chủ thể khác nhau như: (1) Các doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty Thép (VSC) (2) Các công ty cổ phần, công ty TNHH và các liên doanh ngoài VSC có sản xuất và kinh doanh thép; (3) Các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sản xuất và kinh doanh thép; (4) Các doanh nghiệp chuyên kinh doanh thép; (5) Các hộ gia đình tại các làng nghề và các cửa hàng bán lẻ độc lập Theo số liệu điều tra thống kê năm 2005 của Tổng Cục thống kê, cả nước có tới 1.010 doanh nghiệp và 1.985 hộ kinh doanh trong ngành hàng sắt thép, tạo thành hệ thống mạng lưới phân phối sắt thép khá phức hợp trên thị trường. Hệ thống phân phối sắt thép trong nước trong thời gian qua đã đạt được những thành công đáng kể như: - Đã hình thành các kênh phân phối sắt thép và vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Số lượng kênh phân phối thép ngày càng tăng lên và sự vận hành của các kênh đã thông suốt hơn. - Các kênh phân phối sản phẩm thép trên thị trường nước ta cũng đã phát triển nhanh và hết sức đa dạng về chủ sở hữu, về tập khách hàng (theo qui mô nhu cầu tiêu thụ, theo khu vực thị trường...), về điều kiện và khả năng tiếp cận khách hàng của nhà sản xuất. - Đã hình thành và phát triển được một số kênh dọc lớn, có tầm bao phủ rộng và có thương hiệu trên thị trường, được khách hàng tin tưởng, như kênh phân phối của Tổng công ty thép Việt Nam, kênh phân phối thép của Tập đoàn Hoà Phát... - Sự phát triển nhanh về số lượng các cơ sở, cửa hàng kinh doanh bán lẻ độc lập đã tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng và các nhà sản xuất tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Bên cạnh những thành tựu mà hệ thống phân phối thép trên thị trường nội địa đã đạt được thì hệ thống phân phối thép ở nước ta vẫn còn tồn tại những hạn hạn chế như: - Số lượng kênh nhiều nhưng phần lớn là các kênh nhỏ và cắt khúc theo từng đoạn kênh. - Có rất ít các nhà sản xuất, cung ứng thép phát triển được các kênh phân phối sản phẩm của mình. Hơn nữa, kênh phân phối thuộc hệ thống tổ chức của các nhà sản xuất này cũng mới chỉ đảm nhận tiêu thụ được khoảng 1/3 sản lượng sản xuất, còn lại nhà sản xuất phải phụ thuộc vào các kênh phân phối bên ngoài hệ thống tổ chức của mình. - Phần lớn các kênh phân phối được hình thành một cách tự phát, thiếu định hướng chiến lược về thị trường và khách hàng, vai trò lãnh đạo kênh không được phân định rõ ràng, các thành viên kênh thiếu tính liên kết để tạo sức mạnh. - Cấu trúc của các kênh phân phối khá phức tạp, có nhiều cấp trung gian do chính các trung gian trong kênh phân phối tạo ra. - Các nhà phân phối lớn, nhất là các tổng đại lý mới là người kiểm soát trực tiếp và có quyền lực thực sự trong các kênh phân phối. Trong khi đó, các nhà sản xuất, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước với vai trò điều tiết, ổn định giá cả thị trường lại không phải là người thực sự có quyền kiểm soát các kênh phân phối. Vì vậy, để thực hiện tốt Quyết định số 145/2007/QĐ-TTg ngày 4/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025”. Theo đó, nhu cầu thép thành phẩm đến năm 2010 là 11-12 triệu tấn; năm 2015 là 15-16 triệu tấn; năm 2025 khoảng 24-25 triệu tấn; sản xuất phôi thép năm 2010 đạt 3,5 - 4,5 triệu tấn, năm 2015 đạt 6-8 triệu tấn và đến năm 2025 đạt từ 12 - 15 triệu tấn; sản xuất thép thành phẩm đạt 6,3-6,5 triệu tấn vào năm 2010; 11 - 12 triệu tấn vào năm 2015; 19-22 triệu tấn vào năm 2025 (trong đó có 11-13 triệu tấn thép dẹt và 0,2 triệu tấn thép đặc biệt). Việc nghiên cứu đề tài “Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam” có ý cả về mặt lý luận và thực tiễn. 2. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá những nhân tố trong và ngoài nước tác động đến việc quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng sắt thép ở Việt Nam - Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu mặt hàng sắt thép, cũng như thực trạng công tác quản lý và tổ chức hệ thống phân phối sắt thép của Việt Nam trong thời gian qua; - Đưa ra mục tiêu và phương hướng tổ chức và quản lý hệ thống phân phối mặt hàng sắt thép của Việt Nam trong thời gian tới; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý và tổ chức phân phối mặt hàng sắt thép của Việt Nam trong thời gian tới năm 2015 và định hướng đến năm 2020. 3. Nội dung nghiên cứu của đề tài Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài bao gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan về thị trường thép Việt Nam Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam Chương 3: Phương hướng hoàn thiện công tác quản lý, tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng và các giải pháp thực hiện

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THÉP VIỆT NAM 5

1.1 SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ THÉP CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 - 2006 5

1.1.1 Thực trạng sản xuất thép trong nước 5

1.1.2 Tình hình tiêu thụ thép trong nước 15

1.2 XUẤT NHẬP KHẨU MẶT HÀNG SẮT THÉP CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2001 - 2006 17

1.3 CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NGÀNH THÉPVIỆT NAM THỜI GIAN QUA 25

1.4 NHẬN XÉT VỀ NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM 29

1.4.1 Những thành tựu đạt được 29

1.4.2 Những hạn chế cần khắc phục 30

1.4.3 Nguyên nhân và vấn đề đặt ra cần giải quyết 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG THÉP XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM 41

2.1 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG THÉP XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM 41

2.1.1.Tình hình phân phối thép của Tổng Công Ty thép Việt Nam (VSC) .43

2.1.2 Phân phối thép của các doanh nghiệp sản xuất thuộc TCT Thép Việt Nam 48

Trang 2

2.1.3 Phân phối thép của khối các doanh nghiệp ngoài VSC và các tổ

chức tư nhân nhỏ lẻ 492.1.4 Cơ cấu phân phối thép theo vùng lãnh thổ 52

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG THÉP Ở VIỆT NAM 55

2.2.1 Cách tổ chức hệ thống phân phối thép trên thị trường Việt Nam 552.2.2 Quản lý hệ thống phân phối thép tại thị trường Việt Nam 58

2.3 CÁC YẾU TỐ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ

PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG PHÂN PHỐI SẮT THÉP XÂY

DỰNG VIỆT NAM 62

2.3.1.Các thành phần kinh tế được bình đẳng khi tham gia hệ thống phân phối 622.3.2 Môi trường kinh doanh của hệ thống phân phối hàng hoá sẽ được

minh bạch hơn 632.3.3 Ngày càng có sự tham gia mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia

và đa quốc gia vào kênh phân phối hàng hoá ở thị trường nội địa 632.3.4 Kênh phân phối ngày càng lớn mạnh và thông suốt 632.3.5 Kênh phân phối trực tiếp ngày càng phát triển 642.3.6 Sự liên kết giữa các kênh phân phối trong nước với nước ngoài

ngày càng phát triển 642.3.7 Tổ chức và quản lý kênh phân phối hàng hoá sẽ phát triển theo

hướng văn minh, hiện đại 652.3.8 Các kênh phân phối nhỏ truyền thống sẽ bị thu hẹp và có những

thay đổi từng bước 652.3.9 Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 66

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG THÉP XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN VỪA QUA 68

Trang 3

2.4.1.Những kết quả đạt được 68

2.4.2 Những hạn chế 69

2.4.3.Vấn đề đặt ra cần giải quyết 70

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ, TỔ CHỨC HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG THÉP XÂY DỰNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 72

3.1 MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 72

3.1.1 Về sản xuất 72

3.1.2 Về tiêu thụ 73

3.1.3 Về nhập khẩu 74

3.2 PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI VÀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC HỆ THỐNG PHÂN PHỐI MẶT HÀNG THÉP XÂY DỰNG CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 77

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP 82

3.3.1 Các giải pháp từ phía Nhà nước 82

3.3.2 Các giải pháp từ phía doanh nghiệp 87

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 1.1: Sản lượng sản xuất của ngành thép trong nước 12

Bảng 1.2: Sản xuất thép cán và sản phẩm kéo dây giai đoạn 2000 - 2007 14

Bảng 1.3: Tình hình tiêu thụ thép xây dựng năm 2006 của Tổng công ty Thép Việt Nam 16

Bảng 1.4: Nhập khẩu sắt thép các loại 18

Bảng 1.5: Kim ngạch nhập khẩu sắt thép từ một số thị trường chính của Việt Nam 2006 - 2007 20

Bảng 1.6: Nhập khẩu thép cuộn của Việt Nam từ một số thị trường chính 2006 - 2007 21

Bảng 1.7: Một số doanh nghiệp nhập khẩu thép cuộn năm 2007 23

Bảng 1.8: Giá thép nhập khẩu theo nước năm 2007 24

Bảng 2.1: Tỷ lệ tiêu thụ qua kênh phân phối 43

Bảng 2.2: Tiêu thụ theo kênh phân phối 45

Bảng 2.3: Tình hình sản xuất và tiêu thụ thép của các liên doanh VSC 49

Bảng 2.4: Tình hình tiêu thụ của khối ngoài VSC 50

Bảng 3.1: Cơ cấu tiêu thụ theo chủng loại sản phẩm giai đoạn 2005 - 2020 74

Bảng 3.2: Dự báo cung - cầu trên thị trường thép (2005 - 2015) 75

Biểu đồ 1.1: Cơ cấu sản lượng thép cán và sản phẩm kéo dây theo thành phần kinh tế 15

Biểu đồ 1.2: Xu hướng nhập khẩu thép của Việt Nam 2006 - 2007 19

Biểu đồ 1.3: Giá nhập khẩu một số lô hàng thép Việt Nam từ 25

Biểu đồ 2.1 :Cơ cấu phân phối thép theo vùng 52

Sơ đồ 2.1: Hệ thống phân phối cấp I 42

Sơ đồ 2.2: Mô hình hệ thống tổ chức lưu thông thép xây dựng của VSC 44

Sơ đồ 2.3: Luồng vận động của các sản phẩm thép trên thị trường Việt Nam 56

Sơ đồ 3.1: Cấu trúc các thành viên kênh trong hệ thống phân phối sắt thép 78

Sơ đồ 3.2: Mô hình tổ chức hệ thống kênh phân phối của các 79

Sơ đồ 3.3: Mô hình tổ chức hệ thống kênh phân phối của các nhà sản xuất vừa và nhỏ 81

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu Đề tài

Sắt thép là mặt hàng thiết yếu đối với bất kỳ quốc gia nào trong việc pháttriển xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong sản xuất và xây dựng cáccông trình công nghiệp cũng như dân dụng Đặc biệt, Việt Nam là nước đangphát triển, có tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao thì nhu cầu sắt thép phục vụcho nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và nhu cầu tiêu dùngcho xây dựng và sản xuất công nghiệp cũng như dân dụng là rất cần thiết Trong giai đoạn 2001 - 2005, tổng nhu cầu tiêu thụ thép của Việt Namtăng từ 3,2 triệu tấn năm 2000 lên khoảng 6,3 triệu tấn năm 2005, đạt tốc độtăng bình quân 14,35%/năm Theo ước tính của Hiệp hội Thép Việt Nam, nhucầu thép xây dựng hiện nay vào khoảng 60% nhu cầu sử dụng thép của nềnkinh tế Trong giai đoạn này, tốc độ tăng nhu cầu tiêu thụ thép trong xây dựng

cơ bản đạt bình quân 18,40%/năm, trong khi nhu cầu tiêu thụ thép trong sảnxuất công nghiệp chỉ tăng bình quân 9,47%/năm Thép phục vụ cho các ngànhcông nghiệp cơ khí, chế tạo hiện tăng chậm hơn so với nhu cầu thép xâydựng Cũng trong giai đoạn này, sản lượng phôi thép tăng bình quân 13,27%/năm; sản lượng thép cán các loại tăng bình quân 19,9%/năm; sản lượng thépống tăng 14,1%/năm; sản lượng tôn mạ các loại tăng 11,50%/năm

Sản xuất thép trong nước hiện không đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu thụnên hàng năm chúng ta vẫn phải nhập khẩu thép Hiện Việt Nam hiện có quan

hệ nhập khẩu thép với khoảng 30 thị trường trên thế giới Trong đó, 8 thịtrường hàng đầu là Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan,Malaixia, Thái Lan và Ucraina thường chiếm trên 80% tổng khối lượng nhậpkhẩu thép vào Việt Nam Trong khối lượng thép nhập khẩu vào Việt Nam, tỷ

lệ thép thành phẩm thường chiếm khoảng gần 60% và phôi thép chiếm trên40% Trong giai đoạn 2001 - 2005, tốc độ tăng nhập khẩu thép thành phẩmđạt bình quân 14,70%/năm, còn đối với phôi thép là 13,03%/năm Trong cơcấu thép thành phẩm nhập khẩu vào Việt Nam, thép lá chiếm tỷ trọng caonhất, khoảng 60%, tiếp đến là thép tấm chiếm khoảng trên 20%, các loại théphình, thép ống chiếm khoảng trên 10%, thép xây dựng và các loại thép còn lạichỉ chiếm dưới 10% tổng lượng nhập khẩu

Trang 7

Toàn bộ lượng thép sản xuất và nhập khẩu ở nước ta được phân phối trênthị trường nội địa bởi nhiều chủ thể khác nhau như:

(1) Các doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty Thép (VSC)

(2) Các công ty cổ phần, công ty TNHH và các liên doanh ngoài VSC cósản xuất và kinh doanh thép;

(3) Các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sản xuất và kinh doanh thép;(4) Các doanh nghiệp chuyên kinh doanh thép;

(5) Các hộ gia đình tại các làng nghề và các cửa hàng bán lẻ độc lậpTheo số liệu điều tra thống kê năm 2005 của Tổng Cục thống kê, cả nước

có tới 1.010 doanh nghiệp và 1.985 hộ kinh doanh trong ngành hàng sắt thép,tạo thành hệ thống mạng lưới phân phối sắt thép khá phức hợp trên thị trường

Hệ thống phân phối sắt thép trong nước trong thời gian qua đã đạt đượcnhững thành công đáng kể như:

- Đã hình thành các kênh phân phối sắt thép và vận hành theo cơ chế thịtrường có sự điều tiết của Nhà nước Số lượng kênh phân phối thép ngày càngtăng lên và sự vận hành của các kênh đã thông suốt hơn

- Các kênh phân phối sản phẩm thép trên thị trường nước ta cũng đãphát triển nhanh và hết sức đa dạng về chủ sở hữu, về tập khách hàng (theoqui mô nhu cầu tiêu thụ, theo khu vực thị trường ), về điều kiện và khả năngtiếp cận khách hàng của nhà sản xuất

- Đã hình thành và phát triển được một số kênh dọc lớn, có tầm bao phủrộng và có thương hiệu trên thị trường, được khách hàng tin tưởng, như kênhphân phối của Tổng công ty thép Việt Nam, kênh phân phối thép của Tậpđoàn Hoà Phát

- Sự phát triển nhanh về số lượng các cơ sở, cửa hàng kinh doanh bán lẻđộc lập đã tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng và các nhà sản xuất tiêu thụsản phẩm trên thị trường

Bên cạnh những thành tựu mà hệ thống phân phối thép trên thị trườngnội địa đã đạt được thì hệ thống phân phối thép ở nước ta vẫn còn tồn tạinhững hạn hạn chế như:

Trang 8

- Số lượng kênh nhiều nhưng phần lớn là các kênh nhỏ và cắt khúc theotừng đoạn kênh.

- Có rất ít các nhà sản xuất, cung ứng thép phát triển được các kênh phânphối sản phẩm của mình Hơn nữa, kênh phân phối thuộc hệ thống tổ chứccủa các nhà sản xuất này cũng mới chỉ đảm nhận tiêu thụ được khoảng 1/3sản lượng sản xuất, còn lại nhà sản xuất phải phụ thuộc vào các kênh phânphối bên ngoài hệ thống tổ chức của mình

- Phần lớn các kênh phân phối được hình thành một cách tự phát, thiếuđịnh hướng chiến lược về thị trường và khách hàng, vai trò lãnh đạo kênhkhông được phân định rõ ràng, các thành viên kênh thiếu tính liên kết để tạosức mạnh

- Cấu trúc của các kênh phân phối khá phức tạp, có nhiều cấp trung gian

do chính các trung gian trong kênh phân phối tạo ra

- Các nhà phân phối lớn, nhất là các tổng đại lý mới là người kiểm soáttrực tiếp và có quyền lực thực sự trong các kênh phân phối Trong khi đó, cácnhà sản xuất, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước với vai trò điều tiết, ổn địnhgiá cả thị trường lại không phải là người thực sự có quyền kiểm soát các kênhphân phối

Vì vậy, để thực hiện tốt Quyết định số 145/2007/QĐ-TTg ngày 4/9/2007

của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025” Theo đó, nhu cầu thép

thành phẩm đến năm 2010 là 11-12 triệu tấn; năm 2015 là 15-16 triệu tấn;năm 2025 khoảng 24-25 triệu tấn; sản xuất phôi thép năm 2010 đạt 3,5 - 4,5triệu tấn, năm 2015 đạt 6-8 triệu tấn và đến năm 2025 đạt từ 12 - 15 triệu tấn;sản xuất thép thành phẩm đạt 6,3-6,5 triệu tấn vào năm 2010; 11 - 12 triệu tấnvào năm 2015; 19-22 triệu tấn vào năm 2025 (trong đó có 11-13 triệu tấn thép

dẹt và 0,2 triệu tấn thép đặc biệt) Việc nghiên cứu đề tài “Quản lý và tổ chức

hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam” có ý cả về mặt lý

luận và thực tiễn

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá những nhân tố trong và ngoài nước tác động đến việc quản lý

và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng sắt thép ở Việt Nam

Trang 9

- Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu mặt hàng sắtthép, cũng như thực trạng công tác quản lý và tổ chức hệ thống phân phối sắtthép của Việt Nam trong thời gian qua;

- Đưa ra mục tiêu và phương hướng tổ chức và quản lý hệ thống phânphối mặt hàng sắt thép của Việt Nam trong thời gian tới; đồng thời đề xuấtcác giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý và tổ chức phânphối mặt hàng sắt thép của Việt Nam trong thời gian tới năm 2015 và địnhhướng đến năm 2020

3 Nội dung nghiên cứu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài bao gồm 3 chương:

Chương 1:Tổng quan về thị trường thép Việt Nam

Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý và tổ chức hệ thống

phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam

Chương 3: Phương hướng hoàn thiện công tác quản lý, tổ chức hệ

thống phân phối mặt hàng thép xây dựng và các giải pháp thực hiện

Trang 10

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THÉP VIỆT NAM

1.1 SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ THÉP CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 - 2006 1.1.1 Thực trạng sản xuất thép trong nước

Ngành thép Việt Nam hiện nay còn khá non trẻ, được xây dựng từ nhữngnăm 60, nhưng mới chỉ thực sự phát triển trong một thập kỷ qua, với tốc độtăng trưởng trung bình khoảng 13-15%/năm

Trong giai đoạn từ năm 1963 đến năm 1989, ngành thép hầu như khôngphát triển được Nguồn thép tiêu thụ trơng nước chủ yếu được nhập khẩu từNga (Liên Xô cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa khác

a Chủng loại thép sản xuất trong nước

* Các chủng loại thép đã sản xuất ổn định trong nước

(+) Theo tiêu chuẩn Nhật Bản (JIS): Các SD 295, SD 345, SD 390, SD

190 bằng thép luyện trong nước và nhập khẩu

(+) Ngoài ra theo đặt hàng có thể sản xuất thép thanh vằn theo tiêu chuẩncủa các nước khác như Anh, Mỹ, Austrailia

+ Các sản phẩm thép sau cán dùng cho xây dựng như đinh gỗ, dây buộc,lưới rào

- Thép kết cấu:

Các loại thép U, I, V (góc) thép dẹt từ mác thép CT3 luyện trong nướchoặc nhập khẩu

Trang 11

- Thép cho ngành cơ khí chế tạo:

+ Thép tròn trơn CT3 có đường kính lớn nhất đến 130 mm

+ Thép dây kéo cuộn CT3

- Thép đúc hợp kim và hợp kim Ferô:

+ Các nhà máy cơ khí có lò trung tần để có thể nấu được các loại gang,thép hợp kim thông dụng để đúc phôi chi tiết

+ Sản phẩm: Ferô

(+) Ferô crôm cacbon cao

(+) Ferô mangan cacbon cao

* Các chủng loại sản phẩm đã sản xuất được trong nước nhưng chưa

Trang 12

Tính ổn định của việc sản xuất các loại sản phẩm trên không cao vì các

lý do sau:

(+) Do khối lượng đặt hàng quá nhỏ

(+) Do giá thành sản xuất trong nước còn quá cao

(+) Chất lượng sản phẩm chưa cao, thiếu tính ổn định

* Các chủng loại sản phẩm thép trong nước chưa sản xuất được

- Thép hình chữ U, I, V (góc) có kích thước lớn hơn các kích thước đãnêu trên có các chủng loại thép hình thức phức tạp khác

- Thép tấm, lá các loại (cho tất cả các mác thép)

- Thép cán, phôi rèn từ các mác thép đặc biệt khác ngoài thép cacbon,thép hợp kim thấp thông thường, trong đó bao gồm:

+ Thép hợp kim, thép cacbon chất lượng ở dạng phôi thép cán

+ Thép cacbon chất lượng, thép hợp kim ở dạng phôi rèn có đường kínhlớn hơn dùng cho chế tạo máy

+ Các loại phôi từ các mác không gỉ các loại, thép làm khuôn đột dậpnóng và lạnh, thép lò xo, thép vòng bi có trọng lượng lớn hơn 30 kg

Trang 13

Công nghiệp sản xuất thép của Việt Nam hiện mới ở giai đoạn đầu của

sự phát triển, chỉ tập trung phát triển các nhà máy cỡ nhỏ, cỡ trung về sảnxuất thép cán thanh, thép cuộn, thép hình cỡ nhỏ và gia công sau cán Sảnxuất thép dẹt (tấm, lá) hầu như chưa có, tới tháng 5/2005 mới có nhà máy cánthép cuộn cán nóng đầu tiên (nhập thép cuộn cán nóng làm nguyên liệu) ởPhú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, công suất 400.000 tấn/năm Còn lại théptấm, lò cán nóng, thép chế tạo, thép hợp kim… đều phải nhập khẩu Về côngnghiệp luyện thép, năm 2006 mới chỉ ở mức 1,4 triệu tấn phối

Hiệp hội Thép cho biết, hiện nay công suất luyện thép lò điện của cácdoanh nghiệp vào khoảng gần 3,3 triệu tấn (miền Bắc 2,1 triệu tấn/năm; miềnNam 1,1 triệu tấn/năm; miền Trung 0,1 triệu tấn/năm)

Về thiết bị các lò luyện thép, trước đây, ngoài Công ty Gang thép TháiNguyên và Công ty Thép miền Nam có những lò luyện thép dung tích cỡtrung bình, còn một số lò luyện thép được xây dựng ở Cao Bằng, TháiNguyên dung tích rất nhỏ chỉ khoảng 28 - 30 m3 Tuy nhỏ vậy, vẫn không đủnguyên liệu (quặng sắt) nên hoạt động cầm chừng, thậm chí lò cao xây dựng

ở Bắc Cạn từ khi xây dựng xong vẫn không thể hoạt động, hiện phải đập đi đểxây mới

Những năm gần đây xu hướng trên thế giới là đầu tư vào thiết bị côngnghiệp thép có quy mô lớn, lò cao dung tích khoảng 2.000 - 3.000 m3, lò thổiôxy luyện thép tròn 100 tấn/mẻ Tại Trung Quốc, theo “Chính sách pháttriển của ngành công nghiệp thép” ban hành ngày 20/7/2005, nghiêm cấm vậnhành các thiết bị có công suất nhỏ (lò cao dưới 300 m3, lò thổi oxy và lò điệndưới 20 tấn/mẻ) do các lò luyện thép nhỏ tiêu hao năng lượng lớn, chi phícao, chất lượng kém, khả năng cạnh tranh thấp và ô nhiễm môi trường Còn ởViệt Nam, do bị hạn chế về vốn đầu tư, nên hiện nay hầu hết các doanhnghiệp Việt Nam chọn mua thiết bị công nghệ có công suất nhỏ, hoặc trungbình do các nước phát triển thải loại (ví dụ như Nhà máy luyện kim công suất300.000 tấn/năm Cửu Long - Vinashin khởi công xây dựng tại Yên Bái trongquý I/2007; Nhà máy lò cao, lò điện ở Hải Phòng của Công ty Thép Vạn Lợicông suất dự kiến 500.000 tấn/năm; Nhà máy liên doanh giữa Công ty ThépVạn Lợi với Công ty Thương mại và Khoáng sản Hà Tĩnh xây dựng 2 lò caodung tích 220m3, lò thổi ôxy 40 tấn/mẻ, cũng đã chính thức khởi công tháng6/2007; Nhà máy Thép Vạn Lợi ở Bắc Cạn vừa khởi công xây dựng tháng

Trang 14

6/2007 với dây chuyền công nghệ 2 lò cao 220 m3, lò thổi ôxy 40 tấn/mẻ.Công ty Cổ phần Thép Đình Vũ - Hải Phòng dự định xây dựng 1 lò cao 230

m3 để cung cấp gang lỏng cho lò điện 30 tấn/mẻ hiện đang sản xuất)

c Nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất

- Quặng sắt

Đến nay ngành địa chất đã phát hiện trên 200 điểm quặng lớn nhỏ trong

cả nước Trong đó có 91 mỏ và điểm mỏ quặng sắt đã được thăm dò ở cácmức độ khác nhau với trữ lượng địa chất khoảng 1,2 tỷ tấn Trữ lượng đãthăm dò đạt gần 1 tỷ tấn, tập trung ở các mỏ: Thạch Khê (Hà Tĩnh), Quý Xa(Lào Cai), Trại Cau, Tiến Bộ (Thái Nguyên), Cao Bằng và Hà Giang, với trữlượng khoảng 850 triệu tấn Trong các mỏ chỉ có mỏ sắt Trại Cau đã đượckhai thác ở quy mô công nghiệp để cấp quặng cho các lò cao của Công tyGang thép Thái Nguyên, từ năm 1963 đến nay đã khai thác được 7,5 triệu tấnquặng nguyên khai Hiện nay mỏ Trại Cau sắp hết quặng, chỉ còn lại khoảng3,6 triệu tấn quặng nằm phân tán rải rác, khó khai thác

Đáng kể nhất là các mỏ Thạch Khê (Hà Tĩnh) và mỏ Quý Xa (Lào Cai).Trữ lượng có thể chắc chắn khai thác được là 400 triệu tấn Tuy nhiên, điềukiện khai thác và vận chuyển lại không thuận lợi Trữ lượng quặng sắt nàykhông đủ để đảm bảo phát triển một ngành sản xuất thép khép kín với quy môcông suất 15 - 20 triệu tấn/năm để đáp ứng nhu cầu thép vào những năm 2015

- 2020 của nước ta Tuy vậy, nguồn quặng sắt trong nước là thế mạnh củaViệt Nam so với các nước trong khu vực, có thể đóng vai trò hỗ trợ tích cựccho ngành sản xuất thép phát triển

- Thép phế liệu

Sau năm 1975, chấm dứt thời kỳ chiến tranh kéo dài, nguồn sắt thép phếliệu do chiến tranh để lại ở nước ta có hàng chục triệu tấn Thời gian đó,ngành luyện kim trong nước chưa phát triển, mỗi năm chỉ sản xuất được50.000 tấn đến 60.000 tấn thép, sử dụng từ 60.000 đến 70.000 tấn sắt thép phếliệu, nên hầu hết các địa phương thu mua thép phế liệu để xuất khẩu lấy ngoại

tệ Tới những năm 1985 - 1986, Chính phủ mới hạn chế và sau đó cấm hẳnxuất thép phế liệu để giữ lại làm nguyên liệu cho ngành luyện kim trongnước Ở thời kỳ kinh tế bao cấp, giá thu mua sắt thép phế liệu do Nhà nướcqui định quá thấp, không khuyến khích dân thu gom, nên các công ty thép

Trang 15

không thể mua được thép phế liệu cho các lò điện nấu luyện, Công ty Thépmiền Nam vào những năm 1979 - 1980, sản lượng chỉ đạt 25.000 - 30.000tấn/năm.

Tới những năm 90 thế kỷ XX, nhờ đổi mới chính sách kinh tế của đấtnước, ngành luyện kim trong nước, với 22 lò luyện thép, sản lượng phôi thép

đã tăng dần Cũng từ năm 1990, các công ty sản xuất thép gặp nhiều khó khăntrong việc thu mua thép phế, do các nguyên nhân:

- Nguồn phế thải chiến tranh thu gom để xuất khẩu ồ ạt trong những năm

80 thế kỷ trước đó làm cho nguồn phế thải trong nước cạn kiệt dần

- Các công ty thép đầu tư thêm lò điện cỡ lớn, với công suất 30 tấn/mẻ ởThái Nguyên và 20 tấn/mẻ ở miền Nam nên công suất sản xuất phôi tăng cao,đòi hỏi nguyên liệu thép phế nhiều hơn trước

- Các lò điện thủ công ở các làng nghề cũng phát triển ồ ạt, tranh giànhnguồn thép phế liệu với các công ty thép Nhà nước

- Giá thép phế được đẩy lên cao liên tục do khan hiếm và do cung thấphơn cầu

Trước năm 1995, Việt Nam là nước xuất khẩu thép phế (từ 2-3 triệu tấn/năm) Từ năm 1998, Việt Nam đã phải nhập khẩu thép phế cho nhu cầu luyệnthép của các lò điện do phế liệu trong chiến tranh đã cạn, nhu cầu tiêu dùngthép chưa cao (bình quân thép tiêu dùng trên đầu người 78 kg, lượng thép phếít)

Từ năm 2000, để có đủ nguyên liệu sản xuất, các công ty sản xuất thép

đã phải tìm nguồn thép phế nhập khẩu từ nước ngoài (chủ yếu từ Nga,Nhật…) với giá cao (110 - 120 USD/tấn) để bổ sung hoà trộn với thép phế thumua trong nước có giá rẻ hơn, nhằm bảo đảm giá thành phôi thép ngang vớigiá phôi thép nhập khẩu Do đó xuất hiện một số công ty phá dỡ tàu cũ, nhậptầu của nước ngoài hoặc thu mua tàu cũ trong nước tháo dỡ, thu hồi các tấmthép và phụ tùng của tàu còn sử dụng để bán cho các nhà máy luyện thép làmnguyên liệu lò điện Tuy nhiên, việc tháo dỡ tàu cũ cũng còn nhiều khó khăntrở ngại, nên chưa phát triển, do nguồn tàu cũ không nhiều, vốn mua tàu cũđòi hỏi lớn, vấn đề vị trí tháo dỡ và bảo vệ môi trường nơi tháo dỡ cũng phải

Trang 16

đầu tư mới có thể tiến hành.

Sau 20 năm đổi mới, sản xuất thép ở Việt Nam đã có bước phát triểnnhanh chóng, đến nay các nhà máy thép đã có công suất luyện thép lò điện là1.200.000 tấn/năm, công suất cán là 5,8 triệu tấn/năm và gia công sau cán là

900 ngàn tấn/năm Hiện tại cả nước có trên 70 doanh nghiệp sản xuất thép vàhàng ngàn hộ sản xuất cá thể Cơ cấu các cơ sở sản xuất thép như sau:

+ Tổng công ty thép Việt Nam (VSC) với 13 đơn vị thành viên và 14 đơn

vị liên doanh chiếm 32% thị phần

+ Các doanh nghiệp liên doanh và 100% vốn nước ngoài chiếm 30% thị phần.+ Các DNNN ngoài Tổng công ty thép Việt Nam chiếm 15% thị phần.+ Các công ty cổ phần, TNHH, hợp tác xã (HTX) và xí nghiệp tư nhân

và các hộ gia đình chiếm 23% thị phần

Cơ cấu sản lượng thép sản xuất năm 2007 cho thấy, sản lượng của Công

ty thép Thái Nguyên chiếm 12,7%, Công ty thép Miền Nam 17,38%, Công tythép Pomina 14,79%, Công ty thép Vinakyoei 8,65%, Công ty thép Hoà Phát5,61% và Công ty thép Việt Hàn chiếm 4,24%,

Trang 17

Giai đoạn 2001 - 2005, số lượng các doanh nghiệp mới gia nhập ngành théptiếp tục tăng nhanh, đồng thời các doanh nghiệp hiện có cũng gia tăng đầu tư tăngcông suất và mở rộng sản phẩm Tổng đầu tư của ngành thép trong 5 năm qua,theo ước tính của Hiệp hội Thép (VSA) đạt 990 triệu USD, trong đó VSC đã đầu

tư 550 triệu USD chiếm 61,11% tổng đầu tư của ngành thép Trong giai đoạn này,cùng với sự gia tăng đầu tư của các doanh nghiệp ngành thép, sản lượng các sảnphẩm thép cũng tăng lên với tốc độ cao: Sản lượng phôi thép tăng bình quân13,53%/năm; sản lượng thép cán các loại tăng bình quân 20,07%/năm; sản lượngthép ống tăng 14,29%/năm; sản lượng tôn mạ các loại tăng 11,67%/năm

Bảng 1.1: Sản lượng sản xuất của ngành thép trong nước

Nguồn: Số liệu của Tổng Công ty Thép năm 2007

Sản phẩm thép rất đa dạng, chủ yếu được chia thành hai nhóm chính làthép dài (hay còn gọi là thép xây dựng như thép hình, thép thanh và thép cây)

và thép dẹt (gồm các loại thép tấm, thép lá, thép cán nóng và cán nguội) Hiện

Trang 18

nay ở Việt Nam nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng chiếm trên 60% tổng tiêu thụ

c

ủa toàn ngành thép, còn lại thuộc vè thép dẹt

Theo thống kê của Hiệp hội thép Việt Nam, trong năm 2007 sản lượngsản xuất phôi trong nước đạt 2.022.000 tấn, tăng 44% so với năm 2006 Thépxây dựng đạt 3.828.137 tấn, tăng 14% so với năm 2006 Trong 6 tháng đầunăm 2008, sản lượng théo xây dựng toàn ngành đạt 1.966.416 tấn, tăng 6,7%

so với cùng kỳ năm 2007 (số liệu không bao gồm sản lượng sản xuất của cácHiệp hội), sản xuất phôi thép đạt 930.000 tấn

Trang 19

Trong giai đoạn 2000 - 2006, sản lượng thép cán và sản phẩm kéo dâytăng bình quân 16,16%/năm, trong đó năm 2002 đạt tốc độ tăng mạnh nhất,đạt 30,75% và năm 2005 tốc độ tăng trưởng thấp nhất, chỉ đạt 3,77% Cùngvới tốc độ tăng trưởng của thép cán và sản phẩm kéo dây, tốc độ tăng bìnhquân hàng năm của thép thỏi rất cao, bình quân giai đoạn 2000 - 2005 đạt137,11%/năm Trong đó, kỷ lục năm 2001 đạt 541,67%, tuy nhiên lại có xuhướng giảm trong những năm tiếp theo, năm 2005 chỉ đạt 8,8%.

Bảng 1.2: Sản xuất thép cán và sản phẩm kéo dây giai đoạn 2000 - 2007

Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2007

Theo số liệu thống kế cho thấy, trong cơ cấu sản lượng thép cán và cácsản phẩm kéo dây phân theo thành phần kinh tế có sự thay đổi khá rõ ràng Tỷtrọng của thành phần kinh tế ngoài Nhà nước tăng lên rất nhanh Thể hiện, nếunăm 2000 tỷ trọng của thành phần kinh tế này chỉ chiếm 11,05% thì đến năm

2004 con số này là 36,2% và năm 2006 là 40,48% Trong khi đó, trái ngược vớithành phần kinh tế ngoài Nhà nước, thành phần kinh tế có vồn đầu tư nước ngoài

Trang 20

lại có xu hướng giảm tỷ trọng khá nhanh Thể hiện năm 2000, tỷ trọng sản lượngsản xuất của thành phần kinh tế này là 53,13% thì đến năm 2004 giảm xuốngcòn 25,62% và năm 2007 là 28,57% Trong khi đó, tỷ trọng của thành phần kinh

tế Nhà nước lại có mức biến động rất nhỏ trong giai đoạn 2000 - 2007

Biểu đồ 1.1: Cơ cấu sản lượng thép cán và sản phẩm kéo dây theo

Nguồn: Số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê năm 2007

1.1.2 Tình hình tiêu thụ thép trong nước

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội trong thời gian qua,tiêu thụ thép trong nước cũng đạt tốc độ tăng trưởng rất cao Nguồn thép lưuthông tại thị trường trong nước được chia thành 3 nhóm chính:

- Nhóm vừa được nhập khẩu lại vừa được sản xuất trong nước như thépxây dựng, thép ống mạ kẽm (chiếm gần 60% tổng lương sắt thép);

- Nhóm hoàn toàn nhập khẩu, bao gồm các loại thép đặc chủng như thépđịnh hình loại lớn, thép lò xo, thép dây, thép tấm cán nóng hoặc cán nguội, thép

kỹ thuật khác Nhóm thép này chiếm 38% khối lượng sắt thép tiêu thụ trong nước;

- Nhóm thứ ba chỉ được sản xuất trong nước, phục vụ cho nhu cầu cá biệt

và có yêu cầu kỹ thuật không cao như thép để làm hoa văn cửa, tường rào.Nhóm này chỉ chiếm 2 - 3% khối lượng thép lưu thông trên thị trường

Theo số liệu thống kê cho thấy, trong suốt giai đoạn từ 1998 - 2000 việc sảnxuất và nhập khẩu thép tăng rất nhanh, tuy nhiên chỉ đáp ứng được khoảng 51% nhu

Trang 21

cầu tiêu dùng trong nước Trong giai đoạn 2001 - 2007, tiêu thụ thép tiếp tục duy trìtốc độ tăng trưởng mạnh, bình quân đạt 19,36%/năm Thể hiện, tổng nhu cầu tiêu thụthép của Việt Nam tăng từ 3,22 triệu tấn năm 2000 lên 6,3 triệu tấn năm 2005, đếnnăm 2006 đạt gần 7,2 triệu tấn (trong đó sản xuất trong nước là 4,7 triệu tấn, nhậpkhẩu thép thành phẩm là 3,8 triệu tấn) và năm 2007 đạt 10,4 triệu tấn (tăng trên44,4% so với năm 2006) và là mức tăng cao nhất của khu vực Đông Nam Á Tiêuthụ thép 6 tháng đầu năm 2008 đạt 1.850.395 tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2007.Theo ước tính của Hiệp hội Thép Việt Nam, nhu cầu thép xây dựng hiệnnay vào khoảng 60% nhu cầu sử dụng thép của nền kinh tế Trong giai đoạnnày, tốc độ tăng nhu cầu tiêu thụ thép trong xây dựng cơ bản đạt bình quân18,40%/năm, trong khi nhu cầu tiêu thụ thép trong sản xuất công nghiệp chỉtăng bình quân 9,47%/năm Thép phục vụ cho các ngành công nghiệp cơ khí,chế tạo hiện tăng chậm hơn so với nhu cầu thép xây dựng.

Bảng 1.3: Tình hình tiêu thụ thép xây dựng năm 2006

của Tổng công ty Thép Việt Nam

Khu vực Mặt hàng Tổng tiêu

thụ Thị phần Bắc Nam Trung Cuộn Thanh Hình

VSC 328,890 511,192 120,151 317,730 617,195 85,877 1,020,802 40,00

DNS - 1,836 19,196 21,032 - - 21,032 0.,82 Cevimetal 203 - 14,144 6,647 7,700 - 14,347 0,56

LD với VSC 285,569 286,872 61,382 209,015 467,605 - 676,620 26,51

Vinakyoei 3,911 217,014 6,553 59,994 199,605 - 259,548 10,17 VPS 101,078 14,475 16,648 67,667 64,534 - 132,201 5,18 Viausteel 98,504 18,853 38,181 - 155,538 - 155,538 6,09 Nasteelvina 82,076 - - 50,035 32,041 - 82,076 3,22 Taydo - 36,530 - 31,319 15,938 - 47,257 1,85

Ngoài VSC 424,255 264,502 119,484 287,161 557,387 9,998 854,546 33,49

NamDo 43,239 - 85 8,527 34,797 - 43,324 1,70 HPS 64,800 - 11,800 - 76,600 - 76,600 3,00 Hoà phát 95,798 - 15,627 78,309 33,116 - 111,425 4,37 Sunsteel - 22,345 - - 23,564 - 23,564 0,92 Pomina - 218,320 70,592 137,644 186,356 9,998 333,998 13,09

Trang 22

Việt ý 100,046 - 4,962 9,806 95,202 - 105,008 4,11

CP Thép TN 18,524 - 1,347 19,871 - - 19,871 0,78 Vinafco 9,670 - - - 9,670 - 9,670 0,38 Vinakansai 46,178 13,000 1,057 - 60,235 - 60,235 2,36

Tổng cộng 1,038,714 1,062,566 301,775 813,906 1,642,187 95,875 2,551,968 100,00

Nguồn: Số liệu của Tổng công ty Thép năm 2007

Theo số liệu thống kê của Tổng công ty Thép Việt Nam, tiêu thụ thépcủa Tổng công ty năm 2006 đạt 2,55 triệu tấn Trong đó, tiêu thụ của Tổngcông ty đạt 1,02 triệu tấn, liên doanh với Tổng công ty đạt 676,6 ngàn tấn,ngoài Tổng công ty đạt 854,5 ngàn tấn Xét cơ cấu tiêu thụ thép của Tổngcông ty Thép cho thấy, tiêu thụ thép của khu vực miền Bắc và miền Namchiếm tỷ trọng chủ yếu, miền Bắc đạt 1,04 triệu tấn, chiếm 40,78%, miềnNam đạt 1,06 triệu tấn, chiếm 41,57%, còn lại là miền Trung 301,78 ngàn tấn,chiếm 17,65% Xét cơ cấu tiêu thụ thép của Tổng công ty Thép Việt Namtheo chủng loại sản phẩm cho thấy, tiêu thụ thép cuộn đạt 813,91 ngàn tấn,chiếm 31,9%, thép thanh đạt 1,64 triệu tấn, chiếm 64,3%, thép hình đạt 95, 88ngàn tấn, chiếm 3,8%

Xem xét tiêu dùng thép theo vùng lãnh thổ cho thấy, nhu cầu tiêu thụ tập

trung chủ yếu ở hai vùng Đông Nam bộ và đồng bằng sông Hồng Riêng 2vùng này chiếm khoảng 70% khối lượng thép tiêu thụ cả nước, trong khi 6vùng còn lại chỉ chiếm khoảng 30% Cụ thể, tỷ lệ tiêu thụ thép theo các vùngnhư sau: Đông Bắc 10%; Tây Bắc 1,2%; Đồng bằng sông Hồng 31,2%; Bắc

Trang 23

Trung bộ 7,8%; Nam Trung bộ 5,1%; Tây Nguyên 1,1%; Đông Nam bộ

38,2%; Đồng bằng sông Cửu Long 5,4%

1.2 XUẤT NHẬP KHẨU MẶT HÀNG SẮT THÉP CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2001 - 2006

1.2.1 Hoạt động nhập khẩu các sản phẩm sắt thép

Trước năm 1990, việc nhập khẩu các sản phẩm thép được nhà nước giaocho một số đơn vị đầu mối thuộc Bộ Thương mại như Tổng công ty xuất nhậpkhẩu khoáng sản, Tổng công ty kim khí Việt Nam trên cơ sở tiếp nhận hàngtheo Nghị định thư từ Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa khác Saunăm 1990, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ dẫn đến nguồn cung ứnggang, thép như trước không còn nữa, nhà nước đó kịp thời có chính sách mởcửa cho phép mọi thành phần kinh tế được tham gia hoạt động xuất nhập khẩucác sản phẩm thép Vì vậy, mặc dù Nhà nước gặp nhiều khó khăn về ngoại tệ,lượng gang đúc và thép nhập khẩu vẫn tăng rất nhanh trong thời kỳ này, đápứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước Từ thời điểm đó trở đi, thị trường thépViệt Nam đã dần dần hoà nhập thị trường thế giới và chịu mọi tác động về cácbiến động chung đối với các sản phẩm thép

Sắt thép là một trong những mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam.Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này luôn đứng thứ ba, chỉ sau máy móc, thiết

bị và xăng dầu

Theo thống kê, nhập khẩu sắt thép trong 5 năm trở lại đây đạt mức tăngtrưởng trung bình gần 20%/năm Kết thúc năm 2007, tổng kim ngạch nhậpkhẩu sắt thép của Việt Nam đạt 5,1 tỷ USD tương đương 7,8 triệu tấn, tăng66% về trị giá và 37% về lượng so với năm 2006, nếu so với năm 2005 thìtăng 73% về trị giá và tăng 42% về lượng Dự báo, năm 2008, nhập khẩu sắtthép của Việt Nam tăng từ 15 - 20% về lượng, ước đạt 9,36 triệu tấn

5.186, 1

5.524, 0

5.624, 0 7.705,0

Tăng 32,53 30,20 -6,59 12,19 6,52 1,81 37,00

- Thép thành phẩm 1.661 2.175 2.731,9 2.767,8 2.913,1 3.297,1 3.636,0 5.647,0

Trang 24

Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu thép bình quân trong giai đoạn 2000

-2007 đạt 16,24%/năm Trong đó, tốc độ tăng nhập khẩu thép thành phẩm đạt20,27%/năm trong cùng giai đoạn và tốc độ tăng bình quân của nhập khẩuphôi thép là 9,72%/năm

Biểu đồ 1.2: Xu hướng nhập khẩu thép của Việt Nam 2006 - 2007

- Về thị trường nhập khẩu:

Việt Nam hiện có quan hệ nhập khẩu thép với khoảng 30 thị trường trênthế giới Trong đó, 8 thị trường hàng đầu là Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, HànQuốc, Đài Loan, Malaixia, Thái Lan và Ucraina thường chiếm trên 80% tổngkhối lượng nhập khẩu thép vào Việt Nam Trung Quốc đã từ vị trí nhà cungcấp thép thứ 4 cho Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp hàng đầu trong năm

2004 và năm 2005 chiếm 27,82% tổng lượng thép nhập khẩu vào Việt Nam.Ngược lại, các thị trường khác như Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc tuy vẫn lànhững thị trường cung cấp thép quan trọng cho Việt Nam, nhưng tỷ trọngnhập khẩu từ các thị trường này đều có xu hướng giảm rõ rệt Thị trường cácnước ASEAN cũng chiếm khoảng trên 10% lượng thép nhập khẩu thép củaViệt Nam

Đạt được tiến độ nhập khẩu sắt thép trong năm 2007 là có nhiều sự cố

Trang 25

gắng của các doanh nghiệp, cộng với những hỗ trợ không nhỏ từ các cơ quanquản lý trong việc điều hành cơ chế một cách linh hoạt và hợp lý Chínhnhững việc này đã giúp các doanh nghiệp hoàn thành tốt công tác nhập khẩucủa mình Năm 2007, Việt Nam đã nhập khẩu sắt thép từ gần 70 thị trườngtrên thế giới Trong đó, nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc đạt 2,3 tỷ USD,tăng 59% so với năm 2006, chiếm 45% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thépcủa Việt Nam Tuy nhiên, năm 2008, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từTrung Quốc có thể sẽ giảm do nguồn cung từ Trung Quốc không còn dồi dàonhư trước, cộng với giá thành sản phẩm chiếm ưu thế không nhiều so với cácthị trường khác.

Năm 2007, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Nhật Bản cũng tăngđáng kể, đạt kim ngạch hơn 676 triệu USD, tăng 37,79% so với năm 2006.Đáng chú ý, nhập khẩu sắt thép từ Đài Loan và Malaysia tăng rất mạnh, đạtkim ngạch lần lượt là 567,9 triệu USD và 383,9 triệu USD Như vậy, với việcnhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc không còn thuận lợi như trước, rất có thểtrong năm 2008 các doanh nghiệp Việt Nam sẽ chuyển sang nhập khẩu sắtthép từ các thị trường khác như Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc, Nga,… vìkhoảng cách địa lý và đường vận chuyển từ các thị trường này cũng có nhiềuthuận lợi

Bảng 1.5: Kim ngạch nhập khẩu sắt thép từ một số thị trường chính của

Trang 26

Nguồn: Số liệu của Tổng công ty Thép năm 2007

Ngoài bốn thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Malayxiachiếm 77% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam, đạt gần 4 tỷUSD, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ hầu hết các thị trường còn lại đềutăng mạnh so với năm 2006, cụ thể:

+ Nhập khẩu từ Hàn Quốc tăng 36,9%, đạt 284,9 triệu USD;

+ Nhập khẩu từ Thái Lan tăng 116%, đạt 207 triệu USD;

+ Nhập khẩu từ Nga tăng 28,7%, đạt 179 triệu USD;

+ Nhập khẩu từ Inđônêxia tăng 22,9%, đạt 74 triệu USD;

Bảng 1.6: Nhập khẩu thép cuộn của Việt Nam từ một số thị trường

chính 2006 - 2007 Lượng (1.000 tấn, %) Trị giá (Triệu USD, %)

Trung

Quốc 1.423,5 1.080,6 31,73 827,8 466,1 77,58Nhật Bản 558,8 426,8 30,93 346,0 240,0 44,16 Đài Loan 457,7 206,2 121,91 327,2 133,6 145,00 Hàn Quốc 185,6 100,9 84,02 150,5 77,6 93,82 Malaysia 132,5 19,9 568,57 97,5 11,9 720,39

Trang 27

Trong cơ cấu thép thành phẩm nhập khẩu vào Việt Nam, thép lá chiếm tỷtrọng cao nhất, khoảng 60%, tiếp đến là thép tấm chiếm khoảng trên 20%, cácloại thép hình, thép ống chiếm khoảng trên 10%, thép xây dựng và các loạithép còn lại chỉ chiếm dưới 10% tổng lượng nhập khẩu.

Trong cơ cấu nhập khẩu thép giai đoạn 2000 - 2007, tỷ trọng thép thànhphẩm nhập khẩu ngày càng cao, năm 2000 tỷ trọng của sản phẩm này là57,91%, đến năm 2005 con số này là 59,69% và năm 2007 là 73,29% Tươngứng, tỷ trọng phôi thép nhập khẩu trong tổng khối lượng nhập khẩu thép củaViệt Nam có xu hướng giảm trong giai đoạn này

Năm 2007, nhập khẩu các mặt hàng sắt thép chính như thép cuộn, thép tấm,phôi thép, thép hình… đều tăng mạnh Theo số liệu, mặt hàng thép cuộn nhậpkhẩu mạnh nhất, đạt trên 2 tỷ USD tương đương 3,3 triệu tấn, chiếm 40% tổngkim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam Trong đó, nhập khẩu từ TrungQuốc đạt 827 triệu USD tương đương 1,4 triệu tấn, tăng 77% về trị giá và 31%

về lượng so với năm 2006, nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 345,9 triệu USD tươngđương 558 ngàn tấn, tăng 44% về trị giá và 30% về lượng so với năm 2006 Nhưvậy, nhập khẩu thép cuộn của Việt Nam từ hai thị trường đã chiếm tới hơn 1/2tổng kim ngạch nhập khẩu thép cuộn của Việt Nam

Chủng loại sắt thép được nhập khẩu nhiều thứ hai trong năm 2007 là théptấm, đạt hơn 994 triệu USD tương đương 1,4 triệu tấn, tăng 62% về trị giá và30% về lượng Trong đó nhập khẩu từ Trung Quốc đạt hơn 900 triệu USDtương đương 1,3 triệu tấn và nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 479,3 triệu USDtương đương 742 ngàn tấn Như vậy, nhập khẩu thép tấm của Việt Nam trongnăm 2007 chủ yếu được nhập từ Trung Quốc và Nhật Bản

Theo số liệu thống kê mới nhất, lượng thép cuộn nhập khẩu của Việt Namtrong tháng 12/2007 đạt khoảng 36 ngàn tấn, nâng tổng lượng nhập khẩu của cả

Trang 28

năm 2007 lên mức 459 ngàn tấn, tăng gấp ba lần so với năm 2006.

Ngoài hai chủng loại trên, nhập khẩu các chủng loại còn lại như théphình, thép lá, thép không gỉ… của Việt Nam trong năm 2007 cũng tăng đáng

kể so với năm 2006

- Nhập khẩu thép phân theo doanh nghiệp:

Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam trong năm 2007 có sự tham gia củakhoảng 1.870 doanh nghiệp trong nước, tăng 200 đơn vị so với năm 2006 Kếtquả nhập khẩu và số lượng doanh nghiệp tham gia nhập khẩu trên cả nướccho thấy hoạt động sản xuất, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam trong năm

2007 rất sôi động Số lượng các doanh nghiệp có kim ngạch nhập khẩu đạt từ 1triệu USD trở lên tăng mạnh, đạt khoảng 420 đơn vị Doanh nghiệp đạt kimngạch nhập khẩu sắt thép cao trong năm 2007 ngày càng tăng lên nhanh chóng.Đứng vị trí số 1 về thành tích nhập khẩu là Cty TNHH Thép Pomina đạt trên 205triệu USD Đơn vị này tiếp tục khẳng định là một trong những doanh nghiệp cókết quả kinh doanh hiệu quả trong năm 2007, đạt một lượng thép nhập khẩu caonhất trong ngành sắt thép Việt Nam Doanh nghiệp giữ vị trí số 2 là Cty ThépVinakyoei đạt 154 triệu USD Đây là đơn vị duy trí được vị trí số 2 trong nhiềunăm trở lại đây Tiếp đến là doanh nghiệp Cty Thép Tấm lá Phú Mỹ và TổngCty Thép Việt Nam đạt lần lượt là 148 triệu USD và 124 triệu USD

Bảng 1.7: Một số doanh nghiệp nhập khẩu thép cuộn năm 2007

Đơn vị: Tấn, triệu USD

Trang 29

Nguồn: Số liệu của Tổng công ty Thép năm 2007

- Về giá cả nhập khẩu:

Với tốc độ tăng giá phôi thép trong thời gian qua, nếu có giảm thuế nhậpkhẩu phôi thép xuống 0% thì giá thành xuất xưởng của thép xây dựng vẫnchạm mức 11 triệu đồng/tấn (chưa có VAT)

Có thể thấy, giá thép nhập khẩu đã tăng lên rất nhanh trong thời gianqua Năm 2007, giá nhập khẩu thép bình quân 1.169,26 USD/tấn Trong đó,giá thép nhập khẩu bình quân cao nhất là thị trường Phần Lan (3.858,4USD/tấn), tiếp đến là Tây Ban Nha (2.392,0 USD/tấn)

Bảng 1.8: Giá thép nhập khẩu theo nước năm 2007

Trang 30

Nguồn: Số liệu của Tổng công ty Thép năm 2007

Giá nhập khẩu thép cuộn từ Trung Quốc thấp hơn khá nhiều so với cácthị trường khác Theo số liệu, giá nhập khẩu thép cuộn trung bình cả năm

2007 từ Trung Quốc tăng hơn 150 USD/tấn so với năm 2006, đạt 581,5USD/tấn, trong đó tháng 12/07 đạt mức cao kỷ lục, đạt 676,8 USD/tấn, tăng8% so với tháng trước và 18% so với cùng kỳ năm 2006 Tuy nhiên, giá nhậpkhẩu thép cuộn trung bình năm 2007 từ Nhật Bản - thị trường có giá sát vớiTrung Quốc nhất, cũng cao hơn 30 USD/tấn so với Trung Quốc, đạt 619USD/tấn trong đó tháng 12/07 đạt 620,57 USD/tấn, tăng 1% so với thángtrước và 6,4% so với cùng kỳ năm 2006 Các thị trường còn lại đều đạt mứctrung bình trên 650 USD/tấn

Biểu đồ 1.3: Giá nhập khẩu một số lô hàng thép Việt Nam từ

Trung Quốc 2006 - 2007

Nguồn: Số liệu của Tổng công ty Thép năm 2007

1.3.CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NGÀNH THÉPVIỆT NAM THỜI GIAN QUA

(1) Thông tư liên tịch số 2880/TTLT - Bộ Thương mại và Bộ Khoa học,Công nghệ và Môi trường, ngày 19 tháng 12 năm 1996, quy định tạm thời

Trang 31

danh mục các loại phế liệu cấm nhập khẩu Tuy nhiên trong quá trình thực thi,Thông tư này còn có nhiều bất cập, gây cản trở cho các doanh nghiệp hoạtđộng trong lĩnh vực này, đồng thời cũng chưa thực sự đem lại hiệu quả trongvấn đề bảo vệ môi trường đất nước Vì vậy ngày 13/4/2000, Thông tư này đã

Cụ thể hoá Quyết định 46/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày11/5/2001 Bộ trưởng Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường đã ban hànhQuyết định số 10/2001/QĐ-BKHCNMT (gọi tắt là Qyết định 10/2001) vềviệc ban hành tạm thời Danh mục các loại phế liệu đã được xử lý thànhnguyên liệu được phép nhập khẩu

Với mục tiêu bảo vệ môi trường đất nước, tránh những tác động xấu từhoạt động nhập khẩu phế liệu nói chung và phế liệu sắt thép nói riêng, Điều 2Quyết định 10/2001 nêu rõ:

- Phế liệu quy định trong Danh mục ban hành kèm theo Quyết định nàychỉ được phép nhập khẩu khi đã làm sạch hoàn toàn hoá chất độc, chất phóng

xạ, các chất dễ cháy, dễ nổ, các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc động thực vật,

có nguy cơ gây dịch bệnh, chất thải y tế;

- Phế liệu quy định trong Danh mục ban hành kèm theo Quyết định nàycũng phải được xử lý loại bỏ các tạp chất như: dầu, mỡ, cao su, chất dẻo,nhựa đường và các tạp chất khác

Trong Điều 3 của Quyết định 10/2001 quy định về điều kiện đối với

Trang 32

phế liệu nhập khẩu “phải là những phế liệu đã được xử lý thành nguyênliệu” đồng thời việc sử dụng phải đúng mục đích đó là “sử dụng chúngvào mục đích sản xuất”, số lượng nhập khẩu phải phù hợp với nhu cầu cụthể của doanh nghiệp, phế liệu nhập khẩu phải có nguồn gốc xuất xứ rõràng Việc sử dụng phế liệu nhập khẩu sai mục đích bị nghiêm cấm Banhành kèm theo Quyết định 10/2001/QĐ-BKHCNTM là danh mục bao gồm

10 loại phế liệu đã được xử lý thành nguyên liệu được phép nhập khẩuvào Việt Nam

(3) Ngay sau khi ra đời, qua thực tế áp dụng ngắn ngủi, Quyết định10/2001/QĐ-BKHCNMT đã vấp phải sự phản ứng dữ dội của các nhà sảnxuất sắt thép Nhằm giải quyết những bất cập, tồn tại của Quyết định 10/2001/QĐ-BKHCNMT, ngày 11/12/2001, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trườngban hành Quyết định số 65/2001/QĐ-BKHCNMT (sau này gọi là Quyết định65/2001) về việc ban hành Danh mục các loại phế liệu đã được xử lý đảm bảoyêu cầu về môi trường được phép nhập khẩu để làm nguyên liệu sản xuất(thay thế Quyết định 10/2001/QĐ-BKHCNMT) Những điều khoản trongQuyết định 65/2001 tập trung quy định các loại phế liệu và trách nhiệm của

tổ chức, cá nhân và cơ quan môi trường trong việc nhập khẩu các loại phế liệu

đã qua xử lý

Tuy vậy, trong quá trình thực hiện Quyết định này đã phát sinh một sốvấn đề gây phiền toái cho các doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu sắt thép làmnguyên liệu sản xuất Điển hình là vụ việc lô hàng hơn 5.000 tấn thép phếnhập từ Nhật của Công ty Gang thép Thái Nguyên Ngày 4/4/2003, lô hàngtrên cập cảng Hải Phòng nhưng phải đến ngày 23/7/2003, tức hơn ba tháng kể

từ ngày cập cảng, thủ tục thông quan mới được hoàn tất

Nguyên nhân xuất phát từ sự bất cập của Quyết định BKHCNMT ngày 11/12/2001 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường(trước đây) về việc ban hành danh mục các loại phế liệu đã được xử lý bảođảm yêu cầu về môi trường được phép nhập khẩu để làm nguyên liệu sản

65/2001/QĐ-xuất Cụ thể là Điều 2 Quyết định 65 nêu: “Phế liệu nhập khẩu đã được loại

bỏ tạp chất, tuy nhiên có thể còn bám dính một lượng không đáng kể mà khó

có thể loại bỏ được trong quá trình xử lý, phân loại nhưng không gây ô nhiễm môi trường”

Theo Hiệp hội Thép cũng như Tổng Công ty Thép Việt Nam, việc sửa

Trang 33

đổi Quyết định 65/2001/QĐ-BKHCNMT là việc làm cấp thiết nhằm đảm bảolợi ích của các doanh nghiệp Ngày 18/6/2003, Bộ Tài nguyên và Môi trường

đã có công văn số 1.404 thừa nhận phải nhanh chóng sửa đổi Quyết định65/2001/QĐ-BKHCNMT cho phù hợp tình hình thực tế hiện nay

(4) Để tháo gỡ cho ngành thép và một số ngành khác như nhựa, giấy,thuỷ tinh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định03/2004/QĐ-BTNMT ngày 02/04/2004 Kèm theo Quyết định 03/2004/QĐ-BTNMT là Quy định về bảo vệ môi trường đối với phế liệu nhập khẩu làmnguyên liệu sản xuất Quy định gồm ba chương, 11 điều:

Về phạm vi điều chỉnh, Quyết định 03/2004 nêu rõ, chỉ điều chỉnh việcnhập khẩu, vận chuyển, lưu giữ và sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất.Việc chuyển khẩu, quá cảnh phế liệu không thuộc phạm vi điều chỉnh củaQuyết định này Đối tượng áp dụng được nêu cụ thể tại Điều 2, bao gồm: các

cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường; tổ chức, cá nhân nhập khẩu, vậnchuyển, lưu giữ và sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất

Như vậy, đối với doanh nghiệp nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sảnxuất, ngoài việc phải tuân thủ các quy định tại Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 04/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý xuất khẩu, nhậpkhẩu hàng hoá thời kỳ 2001 - 2005, còn phải thực hiện các quy định về bảo vệmôi trường được ban hành kèm theo Quyết định số 03/2004/QĐ-BTNMTngày 02/04/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Nhằm cụ thể hoá Quyết định 03/2004/QĐ-BTNMT vào cuộc sống, ngày

08 tháng 6 năm 2004 Bộ Tài nguyên và Môi trường có văn bản số1.833/BTNMT-BVMT gửi Tổng cục Hải quan, giải thích một số điểm tạiQuyết định số 03/2004/QĐ-BTNMT ngày 2/4/2004 của Bộ trưởng Bộ Tàinguyên và Môi trường về Quy định bảo vệ môi trường đối với phế liệu nhậpkhẩu làm nguyên liệu sản xuất Tổng cục Hải quan đã có hướng dẫn đối vớiHải quan các địa phương như sau:

- Các loại phế liệu không được liệt kê trong Điều 5 và không đáp ứng cácđiều kiện nêu ở Điều 6 của Bản quy định thì không được phép nhập khẩu

- Quyết định số 03/2004/QĐ-BTNMT ngày 2/4/2004 chỉ quy định bảo vệmôi trường đối với phế liệu nhập khẩu từ nước ngoài làm nguyên liệu sảnxuất trong nước Phế liệu quá cảnh, chuyển khẩu (bao gồm cả loại hình tạmnhập tái xuất, gửi kho ngoại quan) không chịu điều chỉnh bởi Quyết định này,

Trang 34

doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về vấn đề môi trường.

- Khi làm thủ tục hải quan, cơ quan hải quan kiểm tra phế liệu nhập khẩutheo quy định hiện hành như đối với hàng hoá khác Trong trường hợp cầnthiết thì đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tại địa phương kiểm tra, nếu SởTài nguyên và Môi trường kết luận là hàng hoá không đúng như quy định tạiQuyết định số 03/2004/QĐ-BTNMT thì buộc phải tái xuất

(5) Trước tình hình giá thép xây dựng tiếp tục tăng cao (nguyên nhânchính do giá phôi nhập và giá nhiều loại nguyên vật liệu luyện kim nhưthép phế, quặng sắt, giá dầu, cước vận chuyển,… tăng cao), ngày14/3/2008 Thủ tướng Chính phủ đã có công văn chỉ thị các bộ ngành, đơn

vị liên quan về việc kiềm chế tăng giá và tham gia bình ổn thị trường thép.Thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty Thép Việt Nam(VNSTEEL) đã ráo riết chỉ đạo và quán triệt đến từng đơn vị sản xuất, kinhdoanh tăng cường thực hiện các biện pháp nhằm tham gia kiềm chế tănggiá và bình ổn thị trường thép trong nước Trước đó, ngày 05/02/2008VNSTEEL đã ban hành Kế hoạch tham gia bình ổn thị trường thép xâydựng số 262/KH-VNS, (6) Nhằm quản lý hoạt động kinh doanh thép trongthời gian gần đây, hạn chế tình trạng đầu cơ, ngăm chặn giới kinh doanhthép có cơ hội thao túng giá Chính phủ đã có Công văn 1609/VPCP-KTTHngày 14/3/2008, chính thức có ý kiến yêu cầu các ngành chức năng phảităng cường giám sát “xử lý nghiêm những vi phạm về liên kết độc quyềngiá, nâng giá thép thành phẩm bất hợp lý”

1.4 NHẬN XÉT VỀ NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH THÉP VIỆT NAM

1.4.1 Những thành tựu đạt được

Về cơ bản, ngành thép đã phát triển đúng kế hoạch, đạt được những chỉtiêu trên đúng thời gian xác định, trừ một số chỉ tiêu… then chốt Chẳng hạn,đến năm 2007, sản lượng phôi thép sản xuất trong nước mới đạt trên 782.000tấn, thép cán cả năm 2007 đạt 2,2 triệu tấn, thấp hơn so với mức phải đạtđược theo kế hoạch vào năm 2005 Cần phải nói rõ là sản lượng phôi thép vàthép cán trong nước của cả năm 2007 đã tăng hơn 10% - 14% so với năm

Trang 35

2006 Trong khi đó, lượng thép tiêu thụ của cả năm 2007 đã đạt 10,3 triệu tấn,tăng tới 42% so với năm 2006 Mức tăng này đã phá vỡ mọi dự báo về tăngtrưởng, đưa Việt Nam trở thành thị trường có mức tiêu thụ thép cao nhất khuvực Đông Nam Á.

Cùng với sự phát triển của ngành thép, hàng loạt dự án, với số vốn đầu tưlên tới hàng tỉ USD công bố sẽ đầu tư sản xuất phôi, các loại thép thành phẩmtại Việt Nam Mà tín hiệu đầu tiên chính là việc công bố sản xuất thành côngthép tấm cán nóng tại cụm công nghiệp thép Cửu Long Vinashin (Hải Phòng).Đây là cụm công nghiệp thép được xây dựng từ năm 2004 với số vốn đầu tưlên tới 1.400 tỷ đồng Sản lượng của cụm công nghiệp này đủ đáp ứng tới 20%nhu cầu thép tấm mỗi năm của Việt Nam - loại sản phẩm từ trước đến naydoanh nghiệp trong nước hoàn toàn phải nhập khẩu Ngoài ra mô hình tổ chứccụm công nghiệp thép này thành 6 nhà máy hoàn chỉnh, khép kín từ khâu luyệnphôi thép đến cán thép thành phẩm và chế tạo thiết bị, khí công nghiệp… sẽkhông những đảm bảo sự chủ động trong quản lý sản xuất mà còn khai thác tối

đa các giá trị gia tăng từ các loại sản phẩm thép Điều đó cũng có nghĩa là nhàsản xuất sẽ nắm được quyền chủ động kinh doanh trên thị trường thép

1.4.2 Những hạn chế cần khắc phục

- Tốc độ tăng sản lượng thép sản xuất trong nước đã không đáp ứng kịpnhu cầu tăng trưởng, đồng thời dự báo tốc độ tăng trưởng không chính xác đãkhiến thị trường thép Việt Nam phụ thuộc vào nguồn thép nhập khẩu Điềunày đồng nghĩa với tính chủ động trong chiến lược phát triển ngành và hoạchđịnh thị trường đã bị suy giảm, hạn chế Với tư cách là công nghiệp cơ bản,đóng vai trò thúc đẩy các ngành công nghiệp khác của nền kinh tế thì thựctrạng này gây ảnh hưởng bất lợi cho ngành thép Việt Nam Nói một cách hìnhtượng, nếu mục tiêu của Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thép đến năm

2010 của Việt Nam là một đường thẳng thì thực tế phát triển để đi đến mụctiêu ấy lại mang dáng vẻ gấp khúc hình chữ z

- Năm 2007 cũng ghi nhận bình quân tiêu thụ thép của Việt Nam đã gầntiệm “ngưỡng” 100kg thép/người/năm, mức được nhiều chuyên gia khẳngđịnh là điểm đầu trong giai đoạn cất cánh của công nghiệp quốc gia Tuynhiên điều này lại không có nhiều ý nghĩa với thực tế ngành thép tại Việt

Trang 36

Nam Vì với 8,1 triệu tấn thép tiêu thụ trong năm 2007 được cung ứng chủyếu từ các nguồn không phải sản xuất trong nước, đã làm sai lệch hẳn theohướng… nhập phôi thép và phần lớn sản lượng là thép xây dựng, thì rõ ràngthị trường thép Việt Nam đang phát triển một cách tự phát.

- Thực tế là hơn 10 năm nay, trong khi thị trường thép Việt Nam pháttriển rất mạnh, thì công nghiệp thép lại chưa phát triển tương ứng Và đó làđiều bất bình thường của ngành thép Việt Nam

- Bất chấp sự tăng trưởng của sản lượng sản xuất trong nước và sảnlượng tiêu thụ, giá thép trên thị trường Việt Nam vẫn tăng với tốc độ phi mã.Trong 5 năm (2003 - 2008), giá thép tăng gấp đôi Từ cuối năm 2007 tớinhững tháng giữa năm 2008, giá thép liên tục gia tăng, có lúc lên tới 18-19triệu đồng/tấn (giá thép cuộn hồi tháng 7/2008), cao gấp đôi so với giá cùng

kỳ năm 2007 Giá thép tăng cao không những làm các nhà thầu xây dựng,người tiêu dùng khốn đốn mà đã ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế vì nhànước buộc phải bù giá vài nghìn tỷ đồng cho các nhà thầu, đồng thời yêu cầukhẩn trương ban hành quy chế mới xác định giá vật liệu xây dựng đảm bảo sátvới diễn biến của thị trường

- Với những quy định không nhất quán, thiếu thực tế nêu trên đã và sẽgây nhiều ách tắc cho các doanh nghiệp sản xuất thép và cản trở chương trình

tự túc phôi thép của Việt Nam; gây lãng phí lớn cho các công ty đầu tư xâydựng lò điện sản xuất phôi thép vì thiếu nguyên liệu sẽ buộc phải sản xuấtcầm chừng và đứng trước nguy cơ phá sản hàng loạt

- Tương tự với những khó khăn ách tắc nêu trên, những quy định ngặtnghèo, xa thực tế trong việc cấm nhập tàu cũ để phá dỡ thu hồi nguyên liệu vàcung cấp thép phế cho lò luyện thép cũng cần phải sửa đổi để các cơ sở tháo

dỡ tầu cũ khi có đủ điều kiện về bảo vệ môi trường vẫn được tiến hành côngviệc, tạo công ăn việc làm cho công nhân, tiết kiệm nguyên liệu, tạo nguồnnguyên liệu thép phế cho các công ty sản xuất thép

Ngành tháo dỡ tầu ở các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển rấtđược chú trọng, vì đây là nguồn nguyên liệu lớn cho luyện thép Ở Việt Nam,việc tháo dỡ tầu trong nước và nhập tàu cũ (chở khách, chở container, chởhàng hoá…) từ các nước về tháo dỡ, thu hồi thép đã có từ lâu Việc cấm nhậptầu về tháo dỡ hoặc quy định những điều kiện khắt khe, như phải loại bỏ mọi

Trang 37

thứ không phải là thép ở nơi bán tàu mới cho phép nhập là không khả thi.

- Trong bối cảnh giá phôi thép nhập khẩu ngày càng tăng cao, nếu cácdoanh nghiệp không đẩy mạnh sản xuất, chủ động về nguồn phôi trong nướcrất khó cạnh tranh được với thép nhập khẩu Nếu không có những Thông tưhướng dẫn cụ thể, luật không được sửa các doanh nghiệp thép còn gặp nhiềukhó khăn và thị trường thép trong nước luôn phải phụ thuộc vào phôi thépnhập khẩu

- Hàng loạt lò sản xuất thép đang đua nhau tung ra các loại thép kém chấtlượng Tình trạng cân thiếu, trộn thép nhà máy với thép gia công, thép TrungQuốc nhập khẩu giá rẻ đang rất phổ biến

Do giá sắt thép xây dựng tăng rất cao trong mấy tháng qua, nên không ít

cơ sở sản xuất đang tìm cách gian lận, bằng cách cân thiếu, trộn thép nhà máyvới thép gia công, thép Trung Quốc nhập khẩu giá rẻ và tình trạng sản xuấtthép không đúng kích cỡ, không bảo đảm chất lượng

Gần đây, thép Trung Quốc nhập về nhiều (mỗi tháng 60.000-100.000tấn, chủ yếu tiêu thụ ở TPHCM), rẻ hơn trong nước 300.000-400.000 đ/tấn

Do chênh lệch lớn nên nhiều người trộn thép Trung Quốc với hàng trongnước để kiếm lợi

Tình trạng thép gầy, thép nhỏ đang bùng phát trở lại Đối với các loạithép cuộn (F6, F8 ), cách gian lận là sản xuất thiếu khoảng 1 mm đườngkính Đối với thép cây, sản xuất thân thép nhỏ hơn tiêu chuẩn, trong khi phầngân nổi trên thân thép được nhô cao hơn để bù đắp Hoặc cây thép không phảihình tròn mà hình oval, nhìn thấy lớn nhưng thực chất đường kính bị thu hẹpkhá nhiều so với cây thép chuẩn Dạng thép này khả năng chịu lực rất kém,gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng công trình

- Những bất cập, tồn tại trong việc nhập khẩu phế liệu sắt thép và nguyên nhân

Hoạt động nhập khẩu phế liệu sắt thép trong thời gian qua đã đạt đượcnhững kết quả đáng kể như đáp ứng tương đối yêu cầu về nguyên liệu cho sảnxuất phôi thép trong nước, các doanh nghiệp nhập khẩu từng bước đáp ứngđược các yêu cầu về mặt môi trường Tuy nhiên trong hoạt động này vẫn tồntại một số bất cập, tồn đọng:

Trang 38

Thứ nhất, việc nhập khẩu vẫn còn bừa bãi, vô trách nhiệm các loại phế

thải, rác thải trong cuộc chạy đua theo lợi nhuận Trong khi đó các cơ quanchức năng tỏ ra lúng túng và kém hiệu quả trong việc xử lý vấn đề này Trongthời gian vừa qua, một số cơ quan thẩm quyền Công ước Basel của các nướcnhư Nhật Bản, Hồng Kông, Sri Lanca, Brunei đã cảnh báo về việc một sốdoanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu hoặc trung chuyển các phế thải như dầuthải, ắc quy chì đã qua sử dụng, màn hình máy tính (không nằm trong quyếtđịnh cho phép của Quyết định số 03/2004/QĐ-BTNMT và thậm chí còn thuộcloại chất thải nguy hại theo quy chế quản lý chất thải nguy hại, ban hành kèmtheo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chínhphủ và theo Công ước Basel)

Hiện tượng lợi dụng nhập khẩu phế liệu nói chung và phế liệu sắt thépnói riêng để nhập khẩu rác thải đang xảy ra khá phổ biến, nhất là ở các tỉnhphía Nam Một điều đáng lo ngại là tình trạng nhập khẩu rác thải hiện đangrất phổ biến nhưng số vụ bị phát hiện và bị buộc quay lại nơi xuất thì rất ít Các cơ quan chức năng còn lúng túng trong việc xử lý đối với các lô hàngphế thải, rác thải đã “lỡ” nhập khẩu vào Việt Nam, gây hậu quả nghiêm trọng đốivới môi trường Trong trường hợp, tiêu huỷ những lô hàng mà các cơ quan chứcnăng xác định là rác thải cũng không thể thực hiện được vì hiện nay, theo CụcBảo vệ môi trường, Việt Nam chưa đủ trình độ, năng lực và kinh phí để tiêu huỷcác loại rác thải, các tạp chất gây ô nhiễm môi trường nhất là các rác thải độc hại

Thứ hai, việc đánh giá phế liệu hiện nay của các cơ quan chức năng vẫn

theo cảm tính Do chúng ta chưa có những quy định cụ thể, rõ ràng đối vớiphế liệu nhập khẩu Thực tế là vụ việc nhập khẩu hơn 5000 tấn phế liệu sắtthép đầu năm 2001 của Công ty Vật tư vận tải và xếp dỡ (chi nhánh Hà Nội)phải nằm "bất động" nhiều ngày tại cảng Hải Phòng để đợi các nhà quản lýnghiên cứu xác định xem hàng trên tàu là loại gì? Kết luận cuối cùng đã có,nhưng dư luận chung cũng đã được chứng kiến một "màn trình diễn" của cácnhà chính sách và cả những nhà khoa học mang đậm tính "thủ công” Thực tế

lô hàng này đã được một doanh nghiệp Hàn Quốc mua lại Tiếp theo là vụviệc lô hàng 5.000 tấn thép phế nhập từ Nhật của công ty Gang thép TháiNguyên Sau khi Quyết định 03/2004/QĐ-BTNMT có hiệu lực, việc phântích, giám định hàm lượng tạp chất vẫn rất khó khăn khăn và gây nhiều tranhcãi do đặc điểm không đồng nhất của lô hàng phế liệu

Thứ ba, năng lực bốc dỡ tại các cảng biển của Việt Nam chưa tốt, vì vậy

Trang 39

gây nên tình trạng tàu chứa phế liệu lưu lại cảng khá lâu gây khó khăn chocông tác quản lý ô nhiễm cũng như ảnh hưởng xấu đến việc sản xuất củadoanh nghiệp Bên cạnh đó, năng lực đánh giá và giám sát của các cơ quanmôi trường Việt Nam còn hạn chế Điều này cũng gây khó khăn cho việcquản lý ô nhiễm môi trường do phế liệu sắt thép nhập khẩu gây nên.

Thứ tư, hiện tượng nhập lậu phế liệu nói chung và phế liệu sắt thép nói

riêng vẫn diễn ra theo con đường tiểu ngạch qua biên giới vào nước ta từ cácnước láng giềng Mỗi ngày, hàng trăm tấn phế liệu trong đó có phế liệu sắtthép được chuyển vào nước ta bằng đường bộ và đường sông từ Lào,Cămpuchia, Thái Lan qua các tỉnh như Nghệ An, Hà Tĩnh, An Giang… Đây

là một trong những lý do gây ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường tạicác địa phương này

Thứ năm, hệ thống kho bãi tập kết và quy trình làm sạch phế liệu sắt

thép nhìn chung vẫn chưa đạt yêu cầu về môi trường Hiện nay, ngoài một sốnhà máy luyện thép của các công ty lớn như Công ty Gang thép Thái Nguyên,Công ty Thép Miền nam… là có các kho bãi chứa phế liệu sắt thép đạt yêucầu về môi trường Các công ty này đã tiến hành đầu tư lắp đặt hệ thống xử lýchất thải đạt tiêu chuẩn về môi trường Còn lại, hầu hết những cơ sở sản xuấthoặc kinh doanh phế liệu sắt thép nhập khẩu đều chưa đảm bảo yêu cầu đốivới môi trường Kho chưa phế liệu còn tạm bợ, nhất là các bãi tập kết phế liệunhập khẩu ngoài trời ở các huyện giáp biên giới như ở Hương Sơn (Hà Tĩnh),cửa khẩu Tịnh Biên (An Giang) không được che chắn cẩn thận Thậm chí cáckho chứa phế liệu tạm còn được xây dựng ngay bên cạnh bờ sông nhằm thuậnlợi hơn cho việc vận chuyển, nhưng chất thải độc hại cũng dễ lẫn xuống sông

và phát tán chất thải gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng

Ngoài ra, vấn đề đáng quan tâm là việc tái chế phế liệu sắt thép nhậpkhẩu theo hình thức thủ công hiện đang gây ô nhiễm đối với không khí,nước, đất và sức khoẻ cộng đồng rất nghiêm trọng Ví dụ: ở làng tái chế sắt

Đa hội hàng ngày thải ra môi trường từ 350m3 - 400m3 nước thải có chứakim loại nặng, a xít, kiềm không qua xử lý đưa thẳng vào sông Ngũ, huyệnChâu Khê có hàm lượng BOD lớn gấp 7 lần và COD lớn gấp 8 lần tiêuchuẩn cho phép…

1.4.3 Nguyên nhân và vấn đề đặt ra cần giải quyết

- Nguyên nhân

Trang 40

+ Ngoài các biến động về giá cả các sản phẩm thép do các tác động củayếu tố cung cầu nói chung thì thị trường nhập khẩu thép Việt Nam còn chịuảnh hưởng của các nhân tố chủ quan bên trong như: chính sách đầu tư xâydựng cơ bản của nhà nước; tình hình tài chính và sự biến đổi của tỷ giá hốiđoái đối với ngoại tệ mạnh; chính sách xuất nhập khẩu; tốc độ tăng trưởngkinh tế,… và bên ngoài như mức độ tăng trưởng kinh tế, các chính sách bảo

hộ ngành sản xuất thép và chính sách xuất nhập khẩu của các nước trong khuvực và thế giới

Những yếu tố nêu trên trong đó làm biến đổi cơ bản thị trường nhập khẩuthép Việt Nam, biểu hiện ở các mặt như sau:

(+) Số lượng các doanh nghiệp tham gia nhập khẩu các sản phẩm théptăng nhanh Do nhu cầu các sản phẩm thép sử dụng trong nước tăng nhanh cả

về số lượng, chủng loại và chất lượng mà trong nước chưa thể sản xuất đápứng được, nhất là các chủng loại thép đặc biệt dùng cho ngành cơ khí chế tạo,đòi hỏi các hộ tiêu dùng phải tìm đến nguồn cung ứng từ nước ngoài Những

lô hàng sản phẩm thép có số lượng nhỏ nhưng lại đa dạng về chủng loại mácthép, kích cỡ đó được các hộ sử dụng nhập trực tiếp hoặc thông qua các công

ty thương mại xuất nhập khẩu có nguồn ngoại tệ mạnh nhập giúp Những đơn

vị nhập khẩu dạng sản phẩm này có quy mô về vốn không lớn và thường nhập

về theo các đơn đặt hàng cụ thể Các công ty xuất nhập khẩu có ngoại tệ mạnh

do có hàng xuất khẩu hoặc các công ty chuyên kinh doanh thép có khách hàngthường nhập những lô hàng lớn thép tấm, thép lá cuộn cán nóng, cán nguội,thép hình lớn… Ngoài ra các công ty sản xuất thép các công ty cơ khí lớncũng tham gia nhập khẩu thép bán thành phẩm, thép chính phẩm và các loạinguyên liệu phục vụ cho nhu cầu của mình Quá trình này đó hình thành nêncác doanh nghiệp nhập khẩu thường kỳ hoặc không thường kỳ các sản phẩmthép Nhiều doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu các sản phẩmthép đó làm cho cuộc cạnh tranh để tìm đến khách hàng tiêu thụ càng trở nênquyết liệt hơn Hiện nay có khoảng 12 doanh nghiệp Trung ương, địa phương

và các công ty TNHH tham gia nhập khẩu thép

(+) Tỷ lệ các chủng loại sản phẩm thép trong cơ cấu mặt hàng nhập khẩu

có sự thay đổi lớn Nguyên nhân chủ yếu làm thay đổi tỷ lệ này là do trongnhững năm qua một loạt các nhà máy sản xuất thép xây dựng (chủ yếu làdoanh nghiệp liên doanh và các doanh nghiệp tư nhân cán thép) được đầu tư

Ngày đăng: 19/04/2016, 11:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(4) Vụ Chính sách thị trường trong nước, Bộ Thương mại, Dự án “Điều tra thực tế cấu trúc các kênh phân phối hàng hoá trên thị trường nội địa”, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thựctế cấu trúc các kênh phân phối hàng hoá trên thị trường nội địa
(8) Quyết định số 145/2007/QĐ-TTg ngày 4/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam giai đoạn2007-2015, có xét đến năm 2025
(1) CFVG, Điều tra HVNCLC 2006, Hội thảo về kênh phân phối tại Hà Nội, 2006 Khác
(2) Ths Nguyễn Minh Ngọc, Hoàn thiện hệ thống phân phối thép ở Việt Nam, Dự án điều tra của NEU - JICA, 2003 Khác
(3) Phạm Chí Cường, Quản lý Nhà nước về lưu thông thép trên thị trường nội địa, Hiệp hội Thép Việt Nam, 2004 Khác
(5) Tổng cục Thống kê, Kinh tế Việt Nam - thế giới 2005 - 2006 (6) Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê các năm Khác
(7) Tổng cục Thống kê, Số liệu điều tra doanh nghiệp 2002 - 2006, NXB Thống kê, 2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Sản lượng sản xuất của ngành thép trong nước - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Bảng 1.1 Sản lượng sản xuất của ngành thép trong nước (Trang 14)
Bảng 1.2: Sản xuất thép cán và sản phẩm kéo dây giai đoạn 2000 - 2007 - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Bảng 1.2 Sản xuất thép cán và sản phẩm kéo dây giai đoạn 2000 - 2007 (Trang 16)
Bảng 1.3: Tình hình tiêu thụ thép xây dựng năm 2006 - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Bảng 1.3 Tình hình tiêu thụ thép xây dựng năm 2006 (Trang 18)
Bảng 1.4: Nhập khẩu sắt thép các loại - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Bảng 1.4 Nhập khẩu sắt thép các loại (Trang 20)
Bảng 1.5: Kim ngạch nhập khẩu sắt thép từ một số thị trường chính của - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Bảng 1.5 Kim ngạch nhập khẩu sắt thép từ một số thị trường chính của (Trang 22)
Bảng 1.6: Nhập khẩu thép cuộn của Việt Nam từ một số thị trường - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Bảng 1.6 Nhập khẩu thép cuộn của Việt Nam từ một số thị trường (Trang 23)
Sơ đồ 2.1: Hệ thống phân phối cấp I - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Sơ đồ 2.1 Hệ thống phân phối cấp I (Trang 44)
Bảng 2.1: Tỷ lệ tiêu thụ qua kênh phân phối - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Bảng 2.1 Tỷ lệ tiêu thụ qua kênh phân phối (Trang 45)
Sơ đồ 2.2: Mô hình hệ thống tổ chức lưu thông thép xây dựng của VSC - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Sơ đồ 2.2 Mô hình hệ thống tổ chức lưu thông thép xây dựng của VSC (Trang 46)
Bảng 2.2: Tiêu thụ theo kênh phân phối - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Bảng 2.2 Tiêu thụ theo kênh phân phối (Trang 47)
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất và tiêu thụ thép của các liên doanh VSC - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thép của các liên doanh VSC (Trang 51)
Bảng 2.4: Tình hình tiêu thụ của khối ngoài VSC - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Bảng 2.4 Tình hình tiêu thụ của khối ngoài VSC (Trang 53)
Sơ đồ 2.3: Luồng vận động của các sản phẩm thép trên - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Sơ đồ 2.3 Luồng vận động của các sản phẩm thép trên (Trang 59)
Bảng 3.1: Cơ cấu tiêu thụ theo chủng loại sản phẩm - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Bảng 3.1 Cơ cấu tiêu thụ theo chủng loại sản phẩm (Trang 77)
Bảng 3.2: Dự báo cung - cầu trên thị trường thép (2005 - 2015) - Luận văn thạc sỹ - Quản lý và tổ chức hệ thống phân phối mặt hàng thép xây dựng ở Việt Nam
Bảng 3.2 Dự báo cung - cầu trên thị trường thép (2005 - 2015) (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w