Để học sinh viết được đẹp thì điều trước tiên giáo viên phải điều tra chữ viếtcủa học sinh trong lớp mình để căn cứ phân loại chữ viết của học sinh, để tìmhiểu được những em viết chữ chư
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU……… ………….2
1 Lí do chọn đề tài……… 2
2 Mục đích nghiên cứu……… 3
3 Đối tượng nghiên cứu……… 6
4 Đối tượng khảo, sát thực nghiệm ……….……….6
5 Các phương pháp nghiên cứu……… 6
6 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu……… …6
PHẦN NỘI DUNG ……… 7
1 Những nội dung lí luận của đề tài nghiên cứu .……… 7
2 Điều tra thực trạng ……… ………… 8
3.Tổ chức thực nghiệm các giải pháp………….……… 10
Thực nghiệm giáo dục……… 10
Kết quả đạt được……… 21
Bài học kinh nghiệm……… 24
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ………… ……… 25
1 Kết luận……… …… …25
2 Khuyến nghị……… … ………25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lớ do chọn đề tài
Tiểu học là bậc học nền tảng của nền giỏo dục quốc dõn, lớp một là nềnmúng của bậc tiểu học Dạy Tiếng Việt lớp 1 cú nhiệm vụ rất lớn lao là trao chocỏc em cỏi chỡa khúa mở cỏnh cửa tri thức để cỏc em biết đọc, biết viết, biết vậndụng chữ viết khi học tập Chữ viết là cụng cụ cho cỏc em sử dụng suốt đời Đọcthụng, viết thạo gắn bú mật thiết với nhau, khụng thể tỏch rời Song như cố vấn
Phạm Văn Đồng đó núi “Nột chữ - Nết người”, nhận xột này phần nào núi lờn
tầm quan trọng của việc rốn chữ viết bờn cạnh việc rốn đọc cho học sinh Tiểuhọc Dạy cho cỏc em viết đỳng, viết cẩn thận, viết đẹp là giỳp cỏc em cú đượcđức tớnh cần cự, nhõn đạo, cẩn thận và lũng tự trọng đối với bản thõn cũng nhưđối với thầy cụ giỏo và bạn đọc bài vở của mỡnh
+ Cơ sở lớ luận
Chữ viết và dạy viết được cả xó hội quan tõm Nhiều thế hệ thầy cụgiỏo đó trăn trở, gúp cụng, gúp sức để cải tiến kiểu chữ, nội dung cũng nhưphương phỏp dạy học chữ viết Tuy vậy, nhiều học sinh vẫn viết sai, viếtxấu, viết chậm Điều đú ảnh hưởng khụng nhỏ tới cỏc mụn học khỏc
- Căn cứ vào nhiệm vụ năm học
- Căn cứ vào yêu cầu cơ bản về kiến thức , kĩ năng môn Tiếng Việt ở bậc Tiểuhọc
- Căn cứ vào việc rèn luyện kĩ năng viết đúng, viết đẹp cho học sinh là vấn đềbức thiết Việc làm ấy không những có tác dụng cụ thể , thiết thực đối với họcsinh khi còn ngồi trên ghế nhà trờng mà nó còn có tác dụng quan trọng trongviệc rèn đức tính kiên trì, cẩn thận cho học sinh” Nét chữ - Nết ngời “; một trongnhững đức tính cần thiết của con ngời sau này khi trởng thành, lập thân, lậpnghiệp Việc rèn chữ viết cho học sinh tiểu học là một việc làm cực kì khó khăn
Đòi hỏi ngời giáo viên phải có lòng kiên trì, yêu nghề, mến trẻ, tâm huyết vớicông việc mình làm Việc làm phải thờng xuyên, liên tục và đồng bộ ở các khối,lớp , các cấp học Rèn cho học sinh giữ đợc vở sạch- Viết chữ đúng và đẹp còngóp phần quan trọng vào việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Đõy là vấn
đề thiết thực giỳp cho mỗi giỏo viờn rốn chữ viết cho học sinh đạt hiệu quả caohơn Đú cũng là yờu cầu của ngành nhằm đổi mới phương phỏp giảng dạy, phỏthuy tớnh tớch cực chủ động sỏng tạo của học sinh
+ Cơ sở thực tiễn:
Trong suốt quỏ trỡnh giảng dạy nhiều năm ở Tiểu học, tụi khụng ngừng
nghiờn cứu và ỏp dụng đề tài RẩN CHỮ VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1 ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG “VỞ SẠCH CHỮ ĐẸP” , tôi nhận thấy học sinh trong trờng và học sinhlớp tôi phụ trách, giảng dạy chữ viết còn xấu, còn sai nhiều lỗi chính tả, kĩ năngviết còn chậm, cha đúng kĩ thuật, việc giữ vở còn bẩn, nhàu nát Nhìn chung các
em thờng mắc một số lỗi cơ bản sau:
- Viết hoa tuỳ tiện, danh từ riêng không viết hoa
- Viết thừa nét, viết thiếu nét, đặt nhầm vị trí các dấu thanh
- Viết sai phụ âm đầu và vần, chữ viết không rõ ràng
- Viết không đúng qui định, khoảng cách các con chữ, không đúng qui trình, kĩthuật
- T thế ngồi, việc cầm bút, khoảng cách giữa mắt và vở cha đảm bảo …
Đó là những nguyên nhân chủ quan; ngoài ra còn có những nguyên nhânkhách quan nh bàn ghế không đúng qui chuẩn, ánh sáng cha đảm bảo…
Trang 3Vì vậy để các em viết đúng, chuẩn xác ngời giáo viên cần tìm hiểu rõ nguyênnhân để có kế hoạch, biện pháp cụ thể, phù hợp với từng đối tợng học sinh.
Đầu năm học tụi đựơc Ban giỏm hiệu nhà trường phõn cụng trực tiếp giảngdạy lớp 1B Qua quỏ trỡnh kiểm tra chữ viết đầu năm của học sinh lớp tụi, tụithấy chữ viết của cỏc em cũn xấu, đa số thiếu nột , thiếu dấu thanh, tốc độ viếtcũn chậm, cỏc chữ khụng cú khoảng cỏch đều đặn , chữ viết cũn chữ to, chữnhỏ Chất lượng chữ viết để đạt được loại A là rất thấp Muốn học sinh củamỡnh viết chữ đẹp và đỳng mẫu chữ là một điều vụ cựng khú khăn đối với cỏnhõn tụi Bằng những kinh nghiệm rốn chữ của mỡnh, với kinh nghiệm nhiềunăm tụi đó tham gia rốn chữ viết cho học sinh,bản thõn tụi đó mang hết khả năngcủa mỡnh giỳp cỏc em cú được kết quả chữ viết như mong đợi.Từ những suynghĩ ấy ,với kinh nghiệm và với kết quả đã đạt đợc nhiều năm , tôi quyết định
đầu t vào đề tài :
“ Rốn chữ viết cho học sinh lớp 1 để nõng cao chất lượng Vở sạch – chữ đẹp ” để nghiờn cứu.
+ Tớnh cấp thiết
Tiểu học là bậc học nền tảng, dạy Tiếng Việt và tập viết Tiếng Việt là chỳng
ta đó trao cho cỏc em chỡa khúa để mở ra những cỏnh cửa bước vào tương lai, làcụng cụ để cỏc em vận dụng suốt đời Tụi thấy cần thực hiện tốt phong trào
“Rốn chữ - giữ vở ”để tạo hứng thỳ học tập cho cỏc em ,cỏc em sẽ thật sự thoảimỏi khi đến trường và tự thấy “ Mỗi ngày đến trường là một ngày vui ” Chữviết cú tầm quan trọng rất to lớn khụng những trong tri thức mà trong cả việc rốnluyện tớnh nết cho học sinh Tiểu học
+ Năng lực nghiờn cứu
Bản thõn tụi là một giỏo viờn được đào tạo đỳng chuyờn ngành, trỡnh độ
chuyờn mụn cao, cú thõm niờn lõu năm trong ngành giỏo dục, nhiều năm đạtgiỏo viờn giỏi, chữ viết đẹp, đỳng mẫu, cú nhiều cống hiến cho sự nghiệp
“Trồng người” Đặc biệt qua quỏ trỡnh giảng dạy, nhờ kiờn trỡ bền bỉ ỏp dụngnhững biện phỏp rốn luyện, sự ham học hỏi, tõm huyết với nghề luụn luụntồn tại trong lũng tụi – đú cũng là những yếu tố khụng nhỏ gúp phần thành cụngtrong những thành tựu nghiờn cứu của tụi
2 Mục đớch nghiờn cứu:
Thực tế hiện nay, chữ viết của cỏc em học sinh tiểu học chưa được đẹp,
chưa đỳng mẫu, sự liờn kết giữa cỏc nột chữ hoặc liờn kết giữa cỏc chữ cỏi chưachuẩn, tốc độ viết cũn chậm, học sinh sử dụng nhiều loại bỳt - nhiều màu mực
để viết bài nờn cũn hạn chế trong việc giữ gỡn “vở sạch - viết chữ đẹp” Đõy làmột mảng quan trọng cú ảnh hưởng lớn đến chất lượng học sinh và được cỏctrường quan tõm Nõng cao chất lượng giờ dạy để học sinh viết đỳng, viếtnhanh, viết đẹp thỡ phong trào “vở sạch - chữ đẹp” mới cú chất lượng
Mặc dự xỏc định được tầm quan trọng như vậy nhưng thực tế cho thấy phõn
mụn tập viết trong trường tiểu học cũn chưa được coi trọng Sỏch giỏo viờn, tàiliệu tham khảo chưa cụ thể, rừ ràng như những mụn học khỏc nờn việc dạy phõnmụn tập viết cũn hạn chế Qua thăm lớp, dự giờ ta thấy cú giỏo viờn cũn chưa
nắm vững tờn gọi cỏc nột cơ bản để hướng dẫn học sinh Để đạt được đỳng chỉ
Trang 4tiêu việc rèn chữ , giữ vở của từng lớp cũng như của toàn khối 1 có được kết quảcao Theo tôi trước tiên người giáo viên phải nắm vững chương trình của Bộgiáo dục và đào tạo nói chung và của phân môn Tập viết – Luyện chữ đẹp nóiriêng Vì nó là một phân môn có tầm quan trọng đặc biệt ở lớp đầu cấp bậc tiểuhọc.
Cũng như dạy tập viết, học vần, tập đọc không thể tách rời nhau Viết đúngmẫu, rõ ràng học sinh sẽ có điều kiện ghi chép bài học của tất cả các môn họctốt hơn Vì thế người giáo viên cần nâng cao về chất lượng dạy chữ viết , nhằmphát huy vai trò của việc dạy Tập viết Qua đây giúp giáo viên có những biệnpháp hữu hiệu trong quá trình rèn cho học sinh viết chữ đẹp
Muốn cho học sinh viết chữ đẹp, có hiệu quả giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉnội dung và yêu cầu về kĩ năng viết từng bài viết (Chữ mẫu, khoảng cách, dấuthanh, vị trí đặt bút….) giúp các em viết đủ, viết đúng các dòng trong bài viết.Việc đảm bảo tốt các công việc trên không thể thiếu khâu học sinh luyện viếttrên bảng lớp, bảng con Có như vậy sẽ giúp học sinh viết tốt hơn phân môn Tậpviết- Luyện chữ đẹp cũng như các môn học khác
Cần tận dụng viết các bài học, bài làm ở các môn học khác để học sinh luyệnviết Đối với chữ viết ở bậc tiểu học nói chung và đối với lớp 1 nói riêng, sựnghiêm khắc của giáo viên về chất lượng chữ viết ở tất cả các môn học khác làrất cần thiết Có như thế việc luyện viết chữ đẹp mới được củng cố đồng bộthường xuyên Việc làm này đòi hỏi người giáo viên ngoài những hiểu biết vềchuyên môn còn cần có sự kiên trì, cẩn thận và lòng yêu nghề, mến trẻ
Nền giáo dục của chúng ta đã lần lượt trải qua nhiều thời kỳ cải cách Và saumỗi lần cải cách như vậy, mẫu chữ viết cho học sinh Tiểu học lại thay đổi Đikèm với sự thay đổi đó là các quy trình dạy, tài liệu dạy và học thay đổi Đóchính là điều băn khoăn của các giáo viên tiểu học trong thời gian gần đây khigiảng dạy môn tập viết trong nhà trường Sự thay đổi đó cũng ảnh hưởng phầnnào đến chất lượng chữ viết của học sinh, có những lớp học sinh viết rất xấu,mất nét, nghiêng ngả dẫn đến thiếu ý thức học tập trong các môn học khác Vìvậy tôi thấy rằng cần phải có những biện pháp để “ Nâng cao chất lượng rèn chữviết cho học sinh lớp 1” nhằm cải thiện thiện tình trạng đã nêu trên
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tập viết ở Tiểu học truyền thụ cho học sinh những kiến thức cơ bản về chữ viết
và kĩ thuật viết chữ trong các tiết tập viết Học sinh nắm được các tri thức cơ bản
về cấu tạo bộ chữ cái ghi âm Tiếng việt, sự thể hiện bộ chữ cái này trên bảng,trên vở… Đồng thời được hướng dẫn các yêu cầu, kĩ thuật viết nét chữ, chữ cái,viết từ và câu…
Tập viết thuộc giai đoạn đầu của kĩ năng viết Trọng tâm của việc dạy viếtchữ cái và liên kết chữ cái để ghi tiếng Ở giai đoạn cuối lớp 1 và những lớp trênsong song với việc rèn viết chữ hoa học sinh cũng được rèn viết văn bản ( viếtvăn bản ở đây thực chất là viết chính tả) ở các thể loại tập chép, nghe viết Từviệc giới hạn nhiệm vụ của việc dạy tập viết chữ đẹp ở lớp 1 quy định nhiệm vụ
cụ thể là:
- Về tri thức:
Trang 5Dạy học sinh những khái niệm cơ bản về đường kẻ, dòng kẻ, tốc độ viết chữ,tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, vị trí dấu thanh, dấu phụ, các khái niệm liênkết nét chữ hoặc liên kết chữ cái….
Từ đó hình thành ở các em những biểu tượng về hình dáng, độ cao, sự cân đối,tính thẩm mĩ của chữ viết
- Về kĩ năng:
Dạy học sinh các thao tác viết chữ từ đơn giản đến phức tạp, bao gồm kĩnăng viết nét, liên kết nét tạo chữ cái và liên kết chữ cái tạo chữ ghi tiếng Đồngthời giúp các em xác định khoảng cách, vị trí cỡ chữ trên vở kẻ ô li để hìnhthành kĩ năng viết đúng mẫu rõ ràng và cao hơn là viết nhanh viết đẹp Ngoài ra
tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở, cách trình bày bài viết cũng là một kĩ năngđặc thù của việc dạy tập viết mà giáo viên cần thường xuyên quan tâm
Để học sinh viết được đẹp thì điều trước tiên giáo viên phải điều tra chữ viếtcủa học sinh trong lớp mình để căn cứ phân loại chữ viết của học sinh, để tìmhiểu được những em viết chữ chưa đạt Vì sao dẫn tới chưa đạt? Qua đó giáoviên có phương pháp rèn luyện thường xuyên cho các em học sinh Thông qua
đó làm tăng hiệu quả của việc rèn luyện vở sách chữ đẹp
Để cải tiến rèn cho học sinh viết chữ đẹp thì trước tiên người giáo viên phảigiúp học sinh hiểu rõ tầm quan trọng của chữ viết đẹp Giáo viên phải là ngườiviết đẹp ( đúng mẫu chữ qui định, viết rõ ràng, liền mạch và viết nhanh.) Có thểhọc sinh mới lấy chữ viết của giáo viên làm chuẩn và noi theo Đối với nhữngchữ khó giáo viên cần phối hợp giảng giải về cách viết hoặc phân tích và viếtmẫu, trích những chữ khó đó ra bảng phụ
Bên cạnh những điều đã nêu thì muốn viết đẹp, đúng mẫu, rõ ràng thì sửdụng bút viết để rèn chữ đẹp là rất cần thiết ( giáo viên tuyệt đối không nên chohọc sinh dùng bút bi để viết) mà học sinh nên dùng loại bút có quản, sử dụngngòi bút nhọn đầu ( bút máy trên thị trường có bán) viết được nét thanh, nétđậm Loại bút có đầu quá cứng thì không nên dùng Từ khi loại bút bi ra đời,được sử dụng phổ biến và thay thế cho loại bút “chấm mực” này thì phần nhiềucác trường tiểu học đã và đang sử dụng bút mực cải tiến đó là: Bút máy nétthanh, nét đậm… để viết bài Dùng loại bút này học sinh viết nắn nót hơn, nétchữ gọn hơn, rõ, hình dáng chữ đẹp
Để viết chữ đẹp thì không cứ có bút đúng qui định thì sẽ viết được đẹp màphải biết kết hợp cả tư thế ngồi viết, cách để vở Tư thế ngồi viết có liên quanđến cột sống, đến phổi, đến lưng Cách cầm bút có quan hệ đến cả ngón tay, bàntay và cánh tay Nếu các em cầm bút sai kĩ thuật bằng 4 đến 5 ngón tay , khi viếtvận động cổ tay ,cánh tay thì các em sẽ mau mệt mỏi , sức chú ý kém ,kết quảchữ viết không đúng và nhanh được
Hình dáng, kích thước chữ trong vở viết có quan hệ đến mắt các em… Nếucác em ngồi viết không đúng tư thế sẽ dẫn đến viết xấu, mắt cận thị (do ngồi viết
ở nơi thiếu ánh sáng hoặc cúi đầu sát vở) cột sống bị vẹo, lưng gù, phổi bị ảnhhưởng ( do ngồi không đúng tư thế) vì vậy khi hướng dẫn học sinh viết giáoviên cần coi việc phối hợp đồng bộ các bộ phận cơ thể là một nguyên tắc đặcthù Khi một học sinh lớp 1 viết, các bộ phận trong cơ thể đều căng thẳng, đặc
Trang 6biệt là các cơ bàn tay và ngón tay Điều này cần đến việc cần phải thực hiện cácbài tập thể dục, đặc biệt trong giờ học
Chu trình viết chữ của trẻ là quá trình vận động của việc viết bằng toànthân Cụ thể: Khi viết ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầuhơi cúi, mắt cách vở từ 25 đến 30 cm Cánh tay trái đặt trên mặt bàn bên trái vở,bàn tay trái phải tì vào mép vở để giữ vở không bị xê dịch khi viết Tay phảicầm bút ( bằng ba ngón tay: ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa) khi viết di chuyểnbút nhẹ nhàng từ trái sang phải ; cổ tay ,khuỷu tay và cánh tay cử động mềm mại, thoải mái Không nên cầm bút tay trái
Với những hình thức cải tiến chữ viết như trên nội dung bài viết sẽ được họcsinh khắc sâu và nhớ cách viết từng chữ cái, từng từ, từng câu, từng đoạn thơhay đoạn văn trong những hoàn cảnh khác nhau Giáo viên cần tăng cường cáchình thức nâng cao bài viết để một mặt tạo cho giờ học không khí vui tươi sinhđộng, nhẹ nhàng và thường xuyên khen thưởng động viên các em viết đẹp Phốihợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường để giúp các em học tốt hơn và viếtngày càng đẹp hơn
- Về chương trình và vở tập viết hiện hành
Vở tập viết do Bộ Giáo dục phát hành giúp học sinh không ngừng nâng cao
về chất lượng chữ viết mà còn phối hợp với các môn học khác nhằm phát huyvai trò cuả phân môn Tập viết
Học kì 1: Sau mỗi bài học vần học sinh được luyện viết những chữ các emvừa học và cách một tuần lại có 2 tiết tập viết
Học kì 2: Mỗi tuần có một tiết tập viết, mỗi tiết có 35 phút và học sinh đượclàm quen với chữ viết hoa
3 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 1B do tôi chủ nhiệm
4 Đối tượng khảo sát, thực nghiệm
Tất cả các em HS lớp 1B do tôi chủ nhiệm tham gia khảo sát, thực nghiệm
5 Các phương pháp nghiên cứu
6 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu: “ Rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 để nâng cao chất lượng Vở sạch – chữ đẹp ”
-Thời gian nghiên cứu từ đầu năm học 2014- 2015 đến hết năm học 2014- 2015
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Những nội dung lí luận của đề tài nghiên cứu
Muốn nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh, người giáo viên cần nắmvững:
* Yêu cầu cơ bản của dạy tập viết ở lớp 1:
+ Kiến thức: Giúp học sinh có được những hiểu biết về đường kẻ, dòng kẻ,
tọa độ, độ cao, cỡ chữ, hình dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, khoảngcách giữa các chữ, chữ ghi tiếng, cách viết các chữ viết thường, dấu thanh vàchữ số
+ Kỹ năng: Viết đúng quy trình - nét, viết chữ cái và liên kết các chữ cái
tạo thành chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch Viết thẳng hàng các chữ trêndòng kẻ Ngoài ra học sinh còn được rèn luyện các kỹ năng như: tư thế ngồiviết, cách cầm bút, để vở… bài kiểm tra cuối năm là bài tập chép một đoạntrong bài tập đọc (không mắc quá 5 lỗi chính tả)
- Muốn đổi mới phương pháp giảng dạy, giáo viên cần hiểu rõ ý đồ của vở tậpviết Cấu trúc mỗi bài gồm phần tập viết chữ cái và từ ứng dụng Ở vở tập viếtlớp 1 thì cứ sau bài học vần có một bài tập viết thêm để học sinh rèn luyện cáchviết các chữ vừa học
- Các ký hiệu trong vở tập viết phải được học sinh nắm chắc, như: đường kẻngang, quy định độ cao chữ cái, dấu chấm là điểm đặt bút đầu tiên của chữ, kýhiệu luyện viết ở nhà
* Chương trình và vở tập viết hiện hành:
Vở tập viết của Bộ giáo dục phát hành giúp học sinh không ngừng nâng cao
về chất lượng chữ viết mà còn phối hợp với các môn học khác nhằm phát huyvai trò của phân môn tập viết Chương trình tập viết lớp một gồm có:
+ Học kỳ I: Sau mỗi bài học vần học sinh được luyện viết những chữ các emvừa học và mỗi tuần có thêm 1 tiết tập viết
+ Học kỳ II: Mỗi tuần có 1 tiết tập viết, mỗi tiết 35 phút và học sinh được làmquen với chữ viết hoa
* Cơ sở tâm lý:
Tâm lý tình cảm có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình nhận thức Nếu trẻ đượcviết trong tư thế thoải mái, tâm trạng phấn khởi thì dễ có kết quả tốt Ngược lại,nếu trẻ buồn phiền thì chữ viết cũng bị ảnh hưởng
* Lý thuyết hoạt động:
Để viết được chữ thì học sinh phải hoạt động (phải tiêu hao năng lượngcủa thần kinh và bắp thịt) Hoạt động viết của học sinh được thực hiện qua thaotác sau:
- Làm quen với đối tượng: Khi giáo viên hướng dẫn thì trẻ sẽ tri giác bằng mắt, tai và tay sẽ làm theo
- Nói điều mình tri giác được, vừa nói vừa đưa tay theo các đường nét của chữ cái để nhấn mạnh cách viết đồng thời nhận ra tên gọi, hình dáng chữ đó
- Nói thầm kiến thức mới thu nhập được để tái hiện hình ảnh đó trong óc trướckhi viết
Trang 8- Làm thử: Hình ảnh đã có trong óc cần được thể hiện trên bảng, trên giấybằng các dụng cụ như bút bảng, phấn, bút mực.
- Kiểm tra lại kết quả so với mẫu để rút kinh nghiệm cho lần sau
* Đặc điểm đôi tay trẻ khi viết:
- Tay trực tiếp điều khiển quá trình viết của trẻ Các cơ và xương bàn taycủa trẻ đang độ phát triển nhiều chỗ còn sụn nên cử động các ngón tay vụng về,chóng mệt mỏi
- Khi cầm bút các em có tâm lý sợ rơi Điều này gây nên một phản ứng tựnhiên là các em cầm bút chặt, các cơ tay cứng nên khó di chuyển
- Muốn có thói quen viết chữ nhẹ nhàng, thoải mái, trước hết học sinhphải biết kỹ thuật cầm bút bằng ba ngón tay (ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa), bàntay phải có điểm tựa là mép cùi của bàn tay Cầm bút phải tự nhiên, đừng quáchặt sẽ khó vận động, nếu lỏng quá sẽ không điều khiển được bút
- Nếu các em cầm bút sai kỹ thuật bằng 4 đến 5 ngón tay, khi viết vậnđộng cổ tay, cánh tay thì các em sẽ mau mệt mỏi, sức chú ý kém, kết quả chữviết không đúng và nhanh được
* Đặc điểm đôi mắt trẻ khi viết:
- Trẻ tiếp thu hình ảnh chữ viết qua mắt nhìn Vì vậy, nếu chữ viết được trìnhbày với kích thước quá nhỏ hoặc ánh sáng kém thì các em phải cúi sát xuống đểnhìn cho rõ chữ, từ đó dẫn đến cận thị
- Trong thời gian đầu, có thể các em nhận ra đúng hình chữ nhưng bàn taychưa ghi lại đầy đủ hình dáng của mẫu chữ Chỉ sau khi luyện tập, số lần nhắc đinhắc lại nhiều hay ít tuỳ theo từng học sinh, thì các em mới chép đúng mẫu
2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Thực tế hiện nay, chữ viết của các em học sinh đa phần chưa đẹp Đặc biệtngay cả các em học sinh tiểu học cũng viết chữ chưa đẹp Các em viết bừa viếttháo, viết cho có viết; chữ viết chưa đúng mẫu, sự liên kết giữa các nét chữ hoặcliên kết từ âm đến vần chưa chuẩn, tốc độ viết còn chậm Đứng trước hoàn cảnh
đó tôi nhận thấy dạy lớp 1 là nền móng của bậc tiểu học Dạy Tiếng Việt lớp 1
- Nếu ở lớp 1 mà không rèn được chữ đẹp thì lên lớp trên lại càng khó có thểrèn các em viết chữ đẹp được Các em lớp 1 cũng như những cây non, muốn trởthành các cây vững chắc sau này thì phải được uốn nắn kịp thời ngay từ nhữngbuổi đầu cầm bút
- Do bộ giáo dục nhiều lần thay sách ảnh hưởng rất nhiều đến chữ viết củahọc sinh Vì một số học sinh được gia đình dạy trước ở nhà Do gia đình không
Trang 9nắm vững qui tắt chữ viết nờn khi cỏc em viết sai rồi rất khú sửa Đa số phụhuynh chưa quan tõm đến việc học của con em mỡnh Một số cho rằng lớp 1 rấtđơn giản chưa cần phải quan tõm
- Trẻ em đến trường là để được học đọc, học viết… Nếu phõn mụn tập đọc –học vần giỳp trẻ biết đọc thụng thỡ phõn mụn tập viết sẽ giỳp trẻ viết thạo Trẻđọc thụng, viết thạo sẽ giỳp trẻ tiếp thu bài nhanh hơn, học tốt hơn ở lớp và ởnhững lớp cao hơn Muốn viết chữ đỳng mẫu, đỳng qui trỡnh, viết nhanh hỡnhthành ở cỏc em tớnh cẩn thận, tớnh kỉ luật cỏc em phải gắng cụng khổ luyện dưới
sự dỡu dắt tận tỡnh của cỏc thầy giỏo, cụ giỏo và gia đỡnh.Muốn nõng cao chấtlượng chữ viết cho học sinh, người giỏo viờn luụn giữ vai trũ quyết định Bờncạnh đú cần phải phối hợp với phụ huynh để cú biện phỏp rốn học sinh củamỡnh
Khảo sỏt thực tế :
Thuận lợi:
Phong trào giáo dục ở trường tụi nhiều năm gần đây có nhiều khởi sắc Cơ
sở vật chất đầy đủ, khuụn viờn nhà trờng đảm bảo xanh- sạch - đẹp Bàn nghếđỳng quy cỏch , phũng học đủ ỏnh sỏng…Giáo viên có chuyên môn, nhiệt tình ,tinh thần trách nhiệm trong công tác cao
Khó khăn:
Cha mẹ các em phần lớn là làm nghề nông va buụn bỏn , điều kiện kinh tếmột số gia đỡnh còn khó khăn nên sự quan tâm , chăm lo đến việc học hành , đặcbiệt việc quan tâm đến rèn chữ viết cho con em còn nhiều hạn chế cha thực sựchú trọng
Chất lợng chữ viết của nhà trờng trong những năm gần đây đã đợc nânglên nhng cha ổn định, cha thực sự đáp ứng yêu cầu hiện nay Học sinh cha cóphong trào rèn chữ viết, các em còn ngại khó, ngại khổ cha mẹ và bản thân các
em còn xem nhẹ chữ viết, thờng chỉ quan tâm đến kết quả học các môn văn hoá
nh Toán, Tiếng Việt
* Phơng pháp, đối tợng nghiên cứu:
- Để nắm chớnh xỏc về khả năng viết của học sinh ngay từ khi bước vào đầunăm học , dựa trờn hiểu biết của cỏc em trong thời gian học tụi thấy những họcsinh đọc tốt thỡ thường viết tốt Bờn cạnh đú những học sinh đọc ờ a , khụngthuộc mặt chữ thỡ viết yếu và xấu khụng đỳng nột chữ , thậm chớ khụng biết viết
- Nguyờn nhõn chủ quan xuất phỏt từ bản thõn cỏc em Tay cầm bỳt yếu , mồhụi tay ra nhiều khi viết dẫn đến cầm bỳt trơn khú viết , hoặc cầm bỳt quỏ chặt
* Kết quả điều tra khảo sát nh sau:
Trang 10Líp Tổng sè Lo¹i A Lo¹i B Lo¹i C
3 Tổ chức thực nghiệm các giải pháp
Thực nghiệm giáo dục
+ Phương pháp nghiên cứu và hướng dẫn học sinh sửa sai
- Ngay từ đầu năm nhận lớp, tôi đã cho học sinh viết một bài chữ viết để chấmphân loại chữ viết phát hiện ra những yêu nhược điểm về chữ viết của từng họcsinh và ghi vào sổ tay chủ nhiệm
- Xếp chỗ ngồi cho phù hợp với từng đối tượng học sinh
Những công việc thực tế đã làm
Trong giai đoạn học và tập viết âm giáo viên cần hướng dẫn cho học sinhthực hiện đúng quy định khi viết chữ :
* Tư thế ngồi viết : Tư thế lưng thẳng , không tì ngực vào bàn , đầu hơi cúi ,
mắt cách vở 25- 30 cm ; nên cầm bút bằng tay phải , tay trái tì nhẹ lên mép vở
để trang viết không bị xê dịch ; hai chân để song song , thoải mái
* Cách cầm bút : Học sinh cầm bút bằng 3 ngón tay ( ngón cái , ngón trỏ và
ngón giữa ) với độ chắc vừa phải ( không cầm bút chặt quá hay lỏng quá ) : khiviết dùng 3 ngón tay di chuyển bút nhẹ nhàng , từ trái sang phải , cán bútnghiêng về bên phải ; cổ tay , khuỷu tay và cánh tay cử động theo , mềm mại ,thoải mái
* Cách để vở , xê dịch vở khi viết : Khi viết chữ đứng học sinh cần để vở ngay
ngắn trước mặt Nếu tập viết chữ nghiêng cần để vở hơi nghiêng sao cho mép vởphía dưới cùng với mép bàn tạo thành một góc khoảng 15 độ Khi viết độnghiêng của nét chữ cùng với mép bàn tạo thành một góc vuông 90 độ Như vậy, dù viết theo kiểu chữ đứng hay kiểu chữ nghiêng , nét chữ luôn phải đúng mẫu
và đẹp
* Cách trình bày bài : Học sinh nhìn và viết đúng theo mẫu trong vở tập
viết ; viết theo yêu cầu được giáo viên hướng dẫn tránh viết dở dang chữ ghitiếng hoặc viết chòi ra mép vở không có dòng kẻ li ; khi viết sai chữ không đượctẩy xóa mà cần để cách một khoảng ngắn rồi viết lại
+ Đối với học sinh lớp 1 thì những việc làm trên đòi hỏi phải tỉ mỉ , kiên trì
và nhắc nhở thường xuyên
* Dạy các nét cơ bản : Phần dạy học sinh viết các nét cơ bản là phần rất
quan trọng để học sinh viết thành các chữ cái Để giúp cho các em viết đúng cỡchữ, viết đẹp giáo viên dạy cho học sinh các nét cơ bản thật kỹ chứ không thểcoi thường phần viết nét chữ cơ bản này :
1 Nét ngang
Trang 11Với 13 nét cơ bản này, tôi yêu cầu học sinh học thuộc và viết chính xác.
Từ những nét cơ bản này học sinh viết sang các con chữ rất dễ dàng
Do đó giáo viên cần hướng dẫn kĩ để học sinh xác định được vị trí củacác dòng kẻ ; mỗi đơn vị dòng kẻ trong vở gồm có 5 dòng kẻ ngang ( dòng kẻthứ nhất đậm hơn , 4 dòng kẻ sau được in nhạt hơn ) Ta ký hiệu các đường kẻtrên là đường kẻ số 1 , các đường kẻ khác là 2,3,4,5 kể từ dưới lên trên Xácđịnh rõ dòng kẻ dọc và các ô vuông trong khung chữ Cần phải hướng dẫn kĩhơn ở các kĩ năng :
- Điểm đặt bút : Là điểm bắt đầu khi viết một nét chữ trong chữ cái Điểm đặt
bút có thể nằm trên dòng kẻ ngang , hoặc không nằm trên dòng kẻ ngang
-.Điểm dừng bút : Là vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái Điểm dừng
bút có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên dòng kẻ ngang
- Viết liền mạch : Là thao tác đưa ngòi bút liên tục từ điểm kết thúc của nét
đứng trước tới điểm bắt đầu của nét đứng sau
-.Kỹ thuật lia bút : Để đảm bảo tốc độ trong quá trình viết nối giữa các chữ cái
với nhau , nét bút được thể hiện liên tục nhưng dụng cụ viết ( đầu ngòi bút ,phấn ) không chạm vào mặt phẳng viết ( giấy , bảng )
-.Kĩ thuật rê bút : Đó là trường hợp viết đè lên theo hướng ngược lại với nét chữ
vừa viết Ở đây xảy ra trường hợp dụng cụ viết ( đầu ngòi bút , phấn ) chạy nhẹ
từ điểm kết thúc của nét đứng trước đến điểm bắt đầu của nét liền sau Ví dụ khi
Trang 12viết chữ p phải viết nét thẳng của chữ , sau đó không nhấc bút để viết mà rêngược bút lên đường kẻ ngang thứ 2 để viết nét móc hai đầu.
-Sau khi đã hướng dẫn kĩ các thao tác trên giáo viên cần phải hình thành cho họcsinh nắm chắc tên gọi và cách viết 13 nét cơ bản
Tám tuần đầu các em được học viết bằng bút chì, trước khi học sinh viếtgiáo viên phải kiểm tra ngòi bút của các em, ngòi nhọn quá chữ sẽ cứng và ấn
vở, nhòi tù thì viết chữ to xấu Vì vậy trước giờ học giáo viên dành thời gian gọtbút chì cho các em Khi viết luôn nhắc và tập cho các em viết nhẹ tay, tuyệt đốikhông dùng tẩy, vì tẩy nhiều tạo ra thói quen viết xấu, bẩn vở và khi viết bútmực thì các em sẽ hay viết sai vì không tẩy được
- Phần học sinh viết chữ cái phần rất quan trọng, vì vậy giáo viên cần tỉ mỉ,kiên trì hướng cho học sinh viết những nét chữ cơ bản, thật đúng về chiều cao,
độ rộng của con chữ, đặc biệt là nét khuyết trên, nét khuyết dưới và nốt thắt chữ
s, r, cách đặt bút đưa nét của từng con chữ Giáo viên khắc sâu biểu tượng vềchữ cho các em bằng nhiều con đường , kết hợp mắt nhìn , tai nghe , tay luyệntập Điều này giúp các em chủ động phân tích hình dáng , kích thước và cấu tạotheo chữ mẫu , tìm sự giống và khác nhau của chữ cái đã học trước đó trongcùng một nhóm bằng thao tác so sánh tương đồng Ngoài ra , để việc dạy chữkhông đơn điệu , giáo viên cần coi trọng việc sử lý quan hệ giữa âm và chữ tức
là giữa đọc và viết Do đó trong tiến trình dạy tập viết , nhất là những âm mà địaphương hay lẫn , giáo viên cần đọc mẫu Việc viết đúng củng cố việc đọc đúng
và giúp vai trò quan trọng để viết đúng
- Hằng ngày tranh thủ thời gian rảnh rỗi như:đến lớp sớm hơn, giờ ra chơi, giờ nghỉ trưa để kèm cặp các em viết yếu, giáo viên bắt tay hướng dẫn các em viếthoặc viết mẫu để các em quan sát chữ viết mẫu trực tiếp cho dễ viết
- Không chỉ rèn luyện cho học sinh tập viết đúng đẹp trong vở tập viết, vở ô ly,
mà còn phải rèn cả khi các em viết bảng con, bảng lớp, làm bài tập toán Trongphần luyện viết bảng con giáo viên phải hướng dẫn kĩ cách chuẩn bị bảng ( bảngcon có dòng kẻ đồng dạng với dòng kẻ li trong vở tập viết , phấn viết có độ dàivừa phải, khăn lau sạch và hơi ẩm để khi lau không bị bụi), cách lau bảng , cáchgiơ bảng , cách sử dụng và bảo quản phấn hoặc bút viết bảng Khi viết bảng cầnngồi đúng tư thế , cầm và điều khiển viên phấn đúng cách , viết xong cần kiểmtra lại , tự nhận xét và bổ sung chỗ còn thiếu, giơ bảng ngay ngắn để giáo viên
- kiểm tra nhận xét , đọc lại chữ đã viết trước khi xóa bảng
- Khi các em viết tiến bộ giáo viên kịp thời biểu dương , khen ngợi và hoannghênh sự tiến bộ của các em trước tập thể lớp , để khích lệ tinh thần viết đúng ,viết đẹp của các em
- Nhắc nhở và khen ngợi những em viết chữ đẹp và biết giữ vở sạch đẹp , khônglàm quăn mép vở
- Từ nửa học kì 1 trở đi học sinh lớp một được làm quen với việc tập viết bằngbút mực , giáo viên cần hướng dẫn kĩ cách sử dụng loại bút này như không viết
ấn bút làm tòe ngòi bút dẫn đến chữ viết to và xấu , không nghịch bút làm mựcdây bẩn ra tay và sách vở … , các em phải viết bằng bút mực tím , tuyệt đốikhông viết bút bi , không được bút xóa trong vở
Trang 13- Khi học sinh đã viết thành thạo các chữ cái đúng và đẹp , giáo viên cần hướngdẫn kĩ ở phần viết tiếng đặc biệt là cách viết liền nét giữa các con chữ trongcùng một tiếng , viết hết các con chữ mới viết dấu thanh của tiếng và dấu của
con chữ như dấu của chữ ư , ơ , t , ô , ă , â…, đến phần viết từ cần lưu ý các em
viết đúng khoảng cách giữa các tiếng trong một từ ( cách nhau với độ rộng bằngmột con chữ o )
ví dụ
- Từ giữa kì 2 trở đi các em được làm quen với việc viết chữ cỡ nhỏ và tập chépmột đoạn thơ hoặc văn ngắn Trong thời gian này việc rèn chữ cho các em đặcbiệt quan trọng cũng phải tỉ mỉ như lúc ban đầu các em mới tập viết , giáo viêncần viết mẫu cho học sinh từng chữ cái một để học sinh luyện viết và nắm chắc
về độ cao của chữ viết cỡ nhỏ như những chữ có nét khuyết trên , nét khuyết
dưới , nét thắt ( r , s ) …sau đó hướng dẫn kĩ tiếp cách viết câu , đánh dấu phẩy ,
dấu chấm …, cách viết hoa chữ cái đầu câu và viết hoa sau dấu chấm
-Khi chấm bài cho học sinh giáo viên phải chữa lỗi cẩn thận , nhận xét kết quảbài chấm cụ thể , khen ngợi những bài đạt kết quả tốt , những bài viết tiến bộ ,động viên những em viết chưa đẹp phải cố gắng nhiều hơn, tuyệt đối không chêbai làm các em chán viết
-Khi học sinh đã viết thành thạo các chữ cái theo kiểu viết chữ đứng , giáo viên hướng dẫn thêm cho các em kiểu chữ viết nghiêng và phải tuyệt đối không đượcviết nghiêng trái
* Một số biện pháp hữu hiệu khác
- Chữ viết của giáo viên phải đúng mẫu và đẹp không chỉ viết mẫu trong vở mà
ở tất cả các tiết học ghi trên bảng
- Không nên để phụ huynh viết mẫu cho con em mình viết theo , vì nhiều phụhuynh viết không đúng mẫu chữ quy định
- Tổ chức phong trào thi giữ vở sạch , viết chữ đẹp trong lớp hàng tháng , trong
tổ hàng tuần
- Luôn lưu ý học sinh khi viết phải giở cả cuốn vở , không gập đôi Kê lên vở một tờ giấy để tránh dây bẩn ra vở , rửa tay sạch trước giờ vào lớp Đối vớinhững em mồ hôi tay ra nhiều phải có một chiếc khăn tay khô và sạch để lau taythường xuyên khi viết
- Trong lớp dành riêng một góc học tập để trưng bày bài viết đẹp của các em đạtgiải hàng tháng để các em học tập và noi theo
*Hướng dẫn học sinh về:
+ Cấu tạo chữ viết:
* Xác định tọa độ và chiều hướng chữ:
Tọa độ chữ được xác định trên đường kẻ ngang của vở tập viết Mỗi đơn
vị dòng kẻ trong vở gồm có 4 dòng kẻ ngang (1 dòng đầu đậm và 3 dòng còn lại
Trang 14được in nhạt hơn) Ta ký hiệu đường kẻ trên là số 1 các đường khác là 2, 3, 4 kể
từ dưới lên trên
Ví dụ:
-> Đường kẻ ngang
Đường kẻ dọc
Cách xác định tọa độ trên khung chữ phải dựa vào đường kẻ dọc, đường
kẻ ngang và các ô vuông làm định hướng Đây là một trong những điều kiện đểdạy chữ viết thành một quy trình Quy trình được thực hiện lần lượt bởi các thaotác mà hành trình ngòi bút đi qua tọa độ các chữ
Xác định tọa độ cấu tạo các chữ viết hoa đều phải căn cứ vào các ô vuôngcủa khung chữ mẫu để phân tích cách viết
Ngoài việc thống nhất các khái niệm về đường kẻ, ô vuông như trên, đểviệc tổ chức dạy tập viết có hiệu quả hơn, cần chú ý thêm một số thuật ngữ cóliên quan:
- Điểm đặt bút: Là điểm bắt đầu khi viết một nét trong chữ cái Điểm đặt bút có thể nằm trên đường kẻ ngang, hoặc không nằm trên đường kẻ ngang
Ví dụ: điểm đặt bút (1) điểm đặt bút (1)
nằm trên đường kẻ ngang không nằm trên đường kẻ ngang
- Điểm dừng bút: Là vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái Điểm dừng
có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ ngang
Ví dụ : điểm dừng bút (2) trùng với điểm trên đặt bút
điểm dừng bút (2) không nằm trên đường kẻ ngang
Trang 15- Tọa độ điểm đặt hoặc dừng bút: Về cơ bản, tọa độ này thống nhất ở vị trí1/3 đơn vị chiều cao chữ cái, có thể ở vị trí trên hoặc dưới đường kẻ ngang.
- Viết liền mạch: Là thao tác đưa ngòi bút liên tục từ điểm kết thúc của nétđứng trước tới điểm bắt đầu của nét đứng sau
Ví dụ: - a nối với m -> am
- x nối với inh -> xinh
=> Các nét bút viết liền mạch khi viết không nhấc bút
- Kỹ thuật lia bút:
Để đảm bảo tốc độ trong quá trình viết một chữ cái hay viết nối các chữcái với nhau, nét bút được thể hiện liên tục nhưng dụng cụ viết (đầu ngòi bút,phấn) không chạm vào mặt phẳng viết (giấy, bảng) Thao tác đưa bút trên không gọi là lia bút
Ví dụ: Khi viết chữ ph phải viết nét thẳng của chữ ( ) sau đó không nhấc bút
để viết mà rê ngược bút lên đường kẻ ngang thứ 2 để viết nét móc 2 đầu ( )
Chú thích : Đoạn (1), (2) là đoạn rê bút
* Cấu tạo của chữ cái Tiếng Việt:
Kí hiệu ngôn ngữ do các chất liệu âm thanh hoặc nét đồ họa thể hiện Chữviết được xây dựng trên cơ sở của hệ thống kí tự đã được chuẩn hóa Những đặcđiểm cấu tạo chữ viết là những yếu tố cần và đủ để phân biệt các chữ cái khi thể