Bên cạnh tập trung phát triển các dịch vụ truyền thống nhóm dịch vụ bưu chính chuyển phát: Bưu phẩm, bưu kiện, phát hành báo chí, chuyển phát nhanh EMS,.., Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––
ĐẶNG THỊ PHƯỢNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TẠI BƯU ĐIỆN TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––
ĐẶNG THỊ PHƯỢNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TẠI BƯU ĐIỆN TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS TẠ THỊ THANH HUYỀN
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Toàn bộ nội dung luận văn này là do tác giả tự nghiên cứu từ những tài liệu tham khảo, những việc làm thực tế của Bưu điện tỉnh Bắc Kạn và làm theo hướng dẫn của cô giáo hướng dẫn khoa học theo quy định
Bản thân tác giả tự thu thập thông tin và dữ liệu của Bưu điện từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết nhất để phục vụ cho đề tài
Tác giả xin cam đoan với đề tài “Nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tài
chính tại Bưu điện tỉnh Bắc Kạn” là không sao chép từ luận văn, luận án của ai Các
số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác
Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình trước nhà trường và những quy định pháp luật
Bắc Kạn, ngày 15 tháng 10 năm 2013
Người cam đoan
Đặng Thị Phượng
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế & Quản
trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã truyền đạt cho tôi kiến thức trong suốt những năm học ở trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Bưu điện tỉnh Bắc Kạn đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Tạ Thị Thanh Huyền đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành tốt luận văn này
Bắc Kạn, ngày 15 tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Đặng Thị Phượng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục biểu đồ, sơ đồ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ TÀI CHÍNH BƯU CHÍNH 4
1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh dịch vụ tài chính bưu chính 4
1.1.1 Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh 4
1.1.2 Nội dung phân tích hoạt động kinh doanh các dịch vụ Tài chính Bưu chính 10
1.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính 17
1.2 Cơ sở thực tiễn về hoạt động kinh doanh các dịch vụ tài chính bưu chính 24
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ tài chính bưu chính của một số nước trên thế giới 24
1.2.2 Hoạt động kinh doanh các dịch vụ Tài chính ở trong nước 28
1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 32
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 34
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 34
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 36
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38
2.3.1 Các chỉ tiêu định lượng 38
2.3.2 Các chỉ tiêu định tính 42
Chương 3: THỰC TRẠNG KINH DOANH DỊCH VỤ TÀI CHÍNH BƯU CHÍNH CỦA BƯU ĐIỆN TỈNH BẮC KẠN 43
3.1 Tổng quan về Bưu điện Bắc Kạn và tỉnh Bắc Kạn 43
3.1.1 Giới thiệu về Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 43
3.1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn tác động tới hoạt động kinh doanh của Bưu điện Bắc Kạn 51
3.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ tài chính bưu chính của Bưu điện Bắc Kạn 57 3.2.1 Đặc điểm hoạt động và kết quả kinh doanh của Bưu điện Bắc Kạn 57
3.2.1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Bưu điện Bắc Kạn 57
3.2.2 Phân tích thị phần các dịch vụ Tài chính Bưu chính của Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 64
3.2.3 Thực trạng kinh doanh các dịch vụ Tài chính bưu chính của Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 67
3.2.4 Đánh giá của khách hàng đối với dịch vụ tài chính bưu chính của Buu điện Bắc Kạn 78
3.3 Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ tài chính bưu chính tại bưu điện tỉnh Bắc Kạn 81
3.3.1 Nhân tố con người 81
3.3.2 Tiến bộ khoa học kỹ thuật 83
3.3.3 Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin 84
3.3.4 Trình độ tổ chức kinh doanh và quản lý của Bưu Điện Bắc Kạn 84
3.3.5 Nhân tố thị trường 84
3.4 Đánh giá hiệu quả kinh doanh dịch vụ tài chính bưu chính của Bưu điện Bắc Kạn 86
3.4.1 Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ của hoạt động kinh doanh các dịch vụ tài chính bưu chính của Bưu điện Bắc Kạn 86
3.4.2 Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh các dịch vụ tài chính bưu chính của Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 89
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CÁC DỊCH
VỤ TÀI CHÍNH BƯU CHÍNH CỦA BƯU ĐIỆN TỈNH BẮC KẠN 93
4.1 Một số định hướng phát triển 93
4.1.1 Định hướng phát triển của Bưu Điện Việt Nam (VNPost) 93
4.1.2 Định hướng phát triển của tỉnh Bắc Kạn 94
4.1.3 Định hướng phát triển của Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 96
4.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh các dịch vụ Tài chính bưu chính của Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 98
4.2.1 Nâng cao chất lượng dịch vụ 98
4.2.2 Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ 98
4.2.3 Hoàn thiện và phát triển kênh phân phối 100
4.2.4 Hoàn thiện công tác quản trị quan hệ khách hàng tại Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn 102
4.2.5 Nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến hỗn hợp trong công tác huy động khách hàng sử dụng dịch vụ 102
4.2.6 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 105
4.2.7 Đầu tư công nghệ, mở rộng mạng lưới 106
4.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh các dịch vụ Tài chính bưu chính của Bưu điện Bắc Kạn 107
4.3.1 Kiến nghị với Tổng Công ty Bưu Điện Việt Nam 107
4.3.2 Kiến nghị với Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 108
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
BCUT Bưu chính ủy thác
BCVN Bưu chính Việt Nam
BTTTT Bộ Thông tin và Truyền thông
CB-CNV Cán bộ công nhân viên
CNTT Công nghệ thông tin
CPN Chuyển phát nhanh
KHCN Khoa học công nghệ
PHBC Phát hành báo chí
PHBCTƯ Phát hành báo chí Trung ương
SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Số dư tiết kiệm của Bưu Điện Việt Nam (ĐVT: Tỷ VNĐ) 29
Bảng 1.2: Doanh số dịch vụ chuyển tiền của Bưu điện Việt Nam 29
Bảng 1.3: Doanh số kinh doanh dịch vụ khác của Bưu điện Việt Nam 30
Bảng 1.4: Số dư tiết kiệm của Bưu Điện tỉnh Cao Bằng 31
Bảng 1.5: Doanh số dịch vụ chuyển tiền của Bưu điện tỉnh Cao Bằng 31
Bảng 1.6: Doanh số kinh doanh dịch vụ khác của Bưu tỉnh Cao Bằng 32
Bảng 3.1: Số lượng lao động tại các đơn vị trực thuộc Bưu điện tỉnh 50
Bảng 3.2: Tổng hợp doanh thu, chi phí năm 2010-2012 57
Bảng 3.3: Biến động doanh thu, chi phí và lợi nhuận Bưu điện Bắc Kạn 59
Biểu 3.4: Doanh thu dịch vụ Tài chính bưu chính qua các năm 60
Bảng 3.5: Tài sản cố định Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn 61
Bảng 3.6: Kết cấu tài sản của Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn 62
Bảng 3.7: Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn của Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn 63
Bảng 3.8: Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động của Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn 63
Bảng 3.9: Tình hình phát triển mạng bưu cục cung cấp dịch vụ TKBĐ 72
Bảng 3.10: So sánh mạng lưới TKBĐ với một số ngân hàng thương mại 73
Bảng 3.11: So sánh lãi suất của VNPost với một số ngân hàng thương mại 76
Bảng 3.12: Bảng cước dịch vụ Thư chuyển tiền của VNPost 77
Bảng 3.13: Bảng cước dịch vụ Chuyển tiền nhanh của VNPost 77
Bảng 3.14: Những thông tin chung về khách hàng 79
Bảng 3.15: Mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ Tiết kiệm bưu điện 79
Bảng 3.16: Mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ Chuyển tiền 80
Bảng 3.17: Mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ Bảo hiểm bưu điện 80
Bảng 3.18: Mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ Thu hộ - chi hộ 81
Bảng 3.19: Cơ cấu lao động của Bưu điện Bắc Kạn 82
Bảng 3.20: Doanh thu dịch vụ Tài chính Bưu chính 89
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ:
Biểu đồ 3.1: Tỷ trọng dịch vụ Tiết kiệm bưu điện so với các doanh nghiệp khác
trên địa bàn 64
Biểu đồ 3.2: Tỷ trọng dịch vụ Chuyển tiền so với các doanh nghiệp khác trên địa bàn 65
Biểu đồ 3.3: Tỷ trọng dịch vụ Bảo hiểm phi nhân thọ bưu điện so với các doanh nghiệp khác trên địa bàn các doanh nghiệp khác trên địa bàn 67
Biểu đồ 3.4: Tỷ trọng dịch vụ Bảo hiểm nhân thọ bưu điện so với 66
Biểu đồ 3.5: Cơ cấu mạng lưới kinh doanh dịch vụ TCBC 73
Biểu đồ 3.6: Biểu đồ cơ cấu doanh thu dịch vụ Tài chính Bưu chính 90
Sơ đồ: Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức bộ máy của Bưu điện tỉnh Bắc Kạn 46
Sơ đồ 3.2 : Ma trận SWOT 86
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
ểứ
Theo đó, thị trường kinh doanh Bưu chính Việt Nam trong một vài năm gần đây trở nên sôi động hơn và cạnh tranh khốc liệt hơn khi ngày càng có nhiều nhà khai thác dịch vụ trong và ngoài nước tham gia vào lĩnh vực này Các nhà cung cấp dịch vụ Tài chính Bưu chính tại Việt Nam gồm có: VNPost, Viettel, hệ thống các Ngân hàng, các doanh nghiệp vận tải Trước xu thế hội nhập và cạnh tranh như vậy đòi hỏi ngành kinh doanh dịch vụ Bưu chính nước ta phải không ngừng đổi mới, nâng cao và phát triển nhanh hơn nữa để đảm bảo hiệu quả kinh doanh, tăng trưởng thị phần và phát triển bền vững
Hiện nay, các dịch vụ bưu chính đang đi vào trạng thái gần như bão hòa với tốc độ tăng trưởng chậm (từ 1-3% trong 3 năm trở lại đây) Cơ cấu dịch vụ có sự chuyển mạnh từ dịch vụ chuyển phát Bưu chính thường sang dịch vụ chuyển phát nhanh, chuyển tiền nhanh,… Điều đó thể hiện yêu cầu về chất lượng dịch vụ ngày càng tăng Để đảm bảo cơ cấu phát triển doanh thu nhằm duy trì và nâng cao đời sống người lao động, Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam trong chiến lược kinh doanh đã mở rộng, đa dạng hóa cung cấp các dịch vụ Bên cạnh tập trung phát triển các dịch vụ truyền thống (nhóm dịch vụ bưu chính chuyển phát: Bưu phẩm, bưu kiện, phát hành báo chí, chuyển phát nhanh EMS, ), Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam đặc biệt trú trọng phát triển kinh doanh nhóm các dịch vụ tài chính bưu chính của ngành (Tiết kiệm Bưu điện, chuyển tiền, Bảo hiểm Bưu điện,…)
Bắc Kạn với đặc thù là tỉnh miền núi, không có khu phát triển kinh tế trọng điểm, việc kinh doanh các dịch vụ bưu chính tại địa bàn rất khó khăn Trong các
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
năm từ 2009 đến 2012 sự tăng trưởng doanh số của các dịch vụ bưu chính đạt thấp
từ 3-5%, đặc biệt là các dịch vụ tài chính bưu chính Hiện tại doanh số đạt được từ nhóm các dịch vụ tài chính bưu chính tại Bưu điện tỉnh Bắc Kạn rất thấp mới chỉ chiếm khoảng 15% thị phần tại địa bàn
Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh các dịch vụ bưu chính đang là một bài toán rất khó đòi hỏi Bưu điện Bắc Kạn cần phải quan tâm đến, đây là một vấn đề có
ý nghĩa quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đòi hỏi Bưu điện Bắc Kạn cần phải có độ nhạy bén, linh hoạt trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình
Với mục đích nâng cao hiệu quả kinh doanh các dịch vụ Bưu chính tại Bưu
điện Bắc Kạn nên tôi chọn nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch
vụ Tài chính tại Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn” luận văn thạc sỹ
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng năng lực hoạt động kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính của Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính tại các Bưu Điện
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính của Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính của Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính tại Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ Tài chính: dịch vụ Tiết kiệm Bưu Điện; dịch vụ Chuyển tiền; dịch vụ Thu hộ - Chii hộ, AVG, dịch vụ thu tiền điện, dịch vụ Bảo hiểm nhân thọ bưu điện, dịch vụ điện hoa quà tặng,… của Bưu Điện Bắc Kạn
- Thời gian: Số liệu, tài liệu được thu thập từ năm 2010 - 2012
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài tác giả tập trung
nghiên cứu về nhóm dịch vụ tài chính bưu chính, bao gồm các dịch vụ: dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện, chuyển tiền, bảo hiểm bưu điện phi nhân thọ (PTI), bảo hiểm nhân thọ bưu điện và dịch vụ Thu hộ - chi hộ
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, luận văn đã góp phần vào hệ thống hóa và cập nhật những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ tài chính bưu chính, là tài liệu tham khảo cho Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính trong thời gian tới
Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống, những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính của Bưu Điện tỉnh Bắc Kạn, có thể áp dụng đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính tương tự
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh dịch vụ Tài
chính Bưu chính
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính của Bưu
Điện tỉnh Bắc Kạn
- Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính tại Bưu Điện Bắc Kạn
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ TÀI CHÍNH BƯU CHÍNH 1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh dịch vụ tài chính bưu chính
1.1.1 Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Hiệu quả kinh doanh là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức, quản
lý kinh doanh Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các doanh nghiệp muốn tồn tại trước hết đòi hỏi kinh doanh phải có hiệu quả
Hiệu quả kinh doanh càng cao, càng có điều kiện mở mang và phát triển sản xuất đầu tư mua sắm tài sản cố định, nâng cao đời sống người lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí ít nhất Hiệu quả kinh doanh phải được xem xét một cách toàn diện cả về thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân (hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội)
Nhà kinh tế học người Anh - Adam Smith cho rằng: "Hiệu quả sản xuất kinh doanh là kết quả đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá" Ở đây hiệu quả được thống nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh Với cách tiếp cận này khó giải thích kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng do tăng chi phí mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng hiệu quả
Quan điểm thứ hai cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế-xã hội tổng hợp để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động thực tiễn ở mọi lĩnh vực kinh doanh và tại mọi thời điểm Bất kỳ các quyết định cần đạt được phương án tốt nhất trong điều kiện cho phép, giải pháp thực hiện có tính cân nhắc, tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của quy luật khách quan trong
từng điều kiện cụ thể", [9]
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo quan điểm này hiệu quả ở đây hiểu trên một số nội dung sau:
+ Hiệu quả là kết quả hoạt động thực tiễn của con người
+ Biểu hiện của kết quả hoạt động này là các phương án quyết định
+ Kết quả tốt nhất trong điều kiện cụ thể
Để làm sáng tỏ bản chất và đi đến một khái niệm hiệu quả kinh doanh hoàn chỉnh chúng ta phải xuất phát từ luận điểm của triết học Mác - Lênin và những luận điểm của lý thuyết hệ thống
Hiệu quả kinh doanh, chủ yếu được thẩm định bởi thị trường, là tiêu chuẩn xác định phương hướng hoạt động của doanh nghiệp
Như vậy hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (bao gồm nhân lực, tài lực và vật lực) vào hoạt động sản xuất kinh doanh để có được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất
- Hoạt động kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính của Bưu Điện:
Là hoạt động kinh doanh các dịch vụ Tài chính mà ngành Bưu điện tham gia cung cấp cho xã hội dựa vào mạng lưới bưu chính hiện có của mình
- Hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính của Bưu Điện:
Phát triển dịch vụ Tài chính tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho các đơn vị cung cấp dịch vụ Vì thông qua các dịch vụ mới các đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính thu được phí và thu hút được khách hàng Do đó đơn vị cung cấp dịch vụ có điều kiện nâng cao hiệu quả kinh doanh góp phần vào sự tồn tại và phát triển của đơn vị, giúp cho đơn vị đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của thị trường
Mặt khác phát triển các dịch vụ Tài chính làm tăng khả năng cạnh tranh của dịch vụ Trong môi trường cạnh tranh hiện nay các tổ chức cung cấp dịch vụ Tài chính nào có dịch vụ mới hơn, hiện đại hơn, giá cả hợp lý, chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng sẽ có sức thu hút khách hàng hơn Chính vì vậy đa dạng hoá các dịch vụ tài chính, nâng cao chất lượng dịch vụ, cải tiến phương thức cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của tất cả khách hàng sẽ tạo cho đơn vị cung cấp dịch vụ có ưu thế nổi trội và đứng vững trong cạnh tranh Để có thể đứng vững trên thị trường trong nước và khu vực trong điều kiện cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, không còn cách nào khác là các đơn vị cung
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cấp dịch vụ tài chính phải nhanh chóng tìm ra các giải pháp để phát triển dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của chính bản thân các tập đoàn kinh tế và nhu cầu của xã hội Có như vậy các đơn vị này mới mong tồn tại và phát triển
1.1.1.2 Phân loại các hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp:
Thực tế cho thấy, hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất
cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị … Trong công tác quản lý, hiệu quả sản xuất kinh doanh được biểu hiện ở những dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trưng, ý nghĩa cụ thể của hiệu quả Việc phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý Nó là
cơ sở để xác định chỉ tiêu và mức hiệu quả sản xuất kinh doanh để từ đó đề ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt
động kinh doanh trong doanh nghiệp được chia thành hai loại sau: Hiệu quả tuyệt
đối và hiệu quả so sánh
Hiệu quả tuyệt đối là lượng hiệu quả được tính toán cho từng phương án cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu được với lượng chi phí bỏ ra Chẳng hạn tính toán mức lợi nhuận thu được từ một đồng chi phí sản xuất hoặc từ một đồng vốn bỏ ra…
Người ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ ra để thực hiện một nhiệm
vụ SXKD nào đó, để biết được với những chi phí bỏ ra sẽ thu được những lợi ích cụ thể mục tiêu cụ thể gì, từ đó đi đến quyết định có nên bỏ ra chi phí hay không Vì vậy công tác quản lý kinh doanh, bất kỳ công việc gì đòi hỏi bỏ ra chi phí dù một lượng lớn hay nhỏ cũng đều phải tính toán hiệu quả tuyệt đối
Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án với nhau Nói cách khác, hiệu quả so sánh chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án Mục đích chủ yếu của việc tính toán là so sánh mức độ hiệu quả của các phương án (hoặc cách làm khác nhau cùng thực hiện nhiệm vụ) do đó cho phép lựa chọn một cách làm có hiệu quả cao nhất
Trên thực tế, để thực hiện một nhiệm vụ nào đó, người ta không chỉ tìm thấy một cách (một phương án, một con đường, một giải pháp) mà có thể đưa ra nhiều cách làm khác nhau Mỗi một cách làm đó đòi hỏi lượng đầu tư vốn, lượng chi phí
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khác, thời gian thực hiện và thời gian thu hồi vốn đầu tư khác nhau Vì vậy, muốn đạt được hiệu quả kinh tế cao, người làm công tác quản lý và kinh doanh không nên
tự trói mình vào một cách làm mà phải vận dụng mọi sự hiểu biết để đưa ra nhiều phương án khác nhau, rồi so sánh hiệu quả kinh tế của các phương án đó để chọn ra một phương án có lợi nhất
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh trong ngành Bưu Điện có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau song chúng lại có tính độc lập tương đối Trước hết, xác định hiệu tuyệt đối là cơ sở để xác định hiệu quả so sánh Nghĩa là trên cơ sở những chỉ tiêu tuyệt đối của từng phương án, người ta so sánh mức hiệu quả ấy của các phương án với nhau Mức chênh lệch chính là hiệu quả so sánh
Tuy vậy, có những chỉ tiêu hiệu quả so sánh được xác định không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối Chẳng hạn, việc so sánh mức chi phí của các phương án với nhau để chọn ra phương án có chi phí thấp, thực chất chỉ là sự so sánh mức chi phí của các phương án chứ không phải là việc so sánh mức hiệu quả tuyệt đối của phương án
Trong công tác quản lý hoạt động SXKD các dịch vụ bưu chính, việc xác định hiệu quả nhằm hai mục tiêu cơ bản:
- Để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh
- Phân tích luận chứng kinh tế của các phương án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, từ đó lựa chọn phương án có lợi nhất
1.1.1.3 Vai trò nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
a, Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là công cụ quản lý kinh doanh
Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải tập hợp các phương tiện vật chất cũng như con người và thực hiện sự kết hợp giữa lao động với các yếu tố vật chất để tạo ra kết quả phù hợp với ý đồ của doanh nghiệp và từ đó có thể tạo ra lợi nhuận Như vậy, mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở những nguồn lực sản xuất sẵn có Để đạt được mục tiêu này nhà quản trị doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ để nhà quản
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trị thực hiện chức năng quản trị của mình Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp tích hợp trên
cả hai phương, tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả Bản chất của phạm trù hiệu quả chỉ rõ trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất: Trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất càng cao, doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào Đây là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa Do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm đưa ra một giải pháp tối
ưu nhất, đưa ra phương pháp đúng đắn nhất để đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa
b, Sản xuất kinh doanh có hiệu quả là điều kiện sống còn đối với doanh nghiệp
Sản xuất ra cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai sẽ không thành vấn
đề bàn cãi nếu nguồn tài nguyên không hạn chế Người ta có thể sản xuất vô tận hàng hóa, sử dụng thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, lao động một cách không cần tính toán, không cần suy nghĩ cũng không sao nếu nguồn tài nguyên là vô tận Nhưng thực tế mọi nguồn tài nguyên trên trái đất như: Đất đai, khoáng sản, hải sản, lâm sản… là một phạm trù hữu hạn và ngày càng khan hiếm và cạn kiệt do con người khai thác và sử dụng chúng
Điều kiện đủ cho sự lựa chọn kinh tế là cùng với sự phát triển của kỹ thuật sản xuất thì con người ngày càng tìm ra nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo sản phẩm Kỹ thuật sản xuất phát triển cho phép với cùng những nguồn lực đầu vào nhất định người ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau Điều này cho phép các doanh nghiệp có khả năng lựa chọn kinh tế, lựa chọn sản xuất kinh doanh sản phẩm (cơ cấu sản phẩm) tối ưu Sự lựa chọn đúng đắn sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh cao nhất, thu được nhiều lợi ích nhất
Như vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất kinh doanh, đạt được sự lựa chọn tối ưu Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện không thể không đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trong cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai dựa trên quan hệ cung cầu giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác Các doanh nghiệp phải tự ra quyết định kinh doanh của mình, tự hoạch toán kinh tế, lãi nhiều hưởng nhiều, lãi ít hưởng ít, không có lãi
sẽ đi đến phá sản Lúc này, mục tiêu lợi nhuận trở thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất, mang tính chất sống còn của nhà sản xuất kinh doanh
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh
để tồn tại và phát triển Môi trường cạnh tranh này khá gay gắt, trong cạnh tranh đó nhiều doanh nghiệp trụ vững, phát triển sản xuất, nhưng không ít doanh nghiệp bị thua lỗ, giải thể, phá sản Để có thể trụ lại trong cơ chế thị trường, cac doanh nghiệp luôn phải nâng cao chất lượng hàng hóa giảm chi phí sản xuất, nâng cao uy tín … nhằm tới mục tiêu tối đa lợi nhuận
Các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt được lợi nhuận càng cao càng tốt Do vậy, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu qủa kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tạo và phát triển trong nền kinh tế thị trường
Đối với toàn xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quan trọng thể hiện trên các mặt sau đây:
- Hiệu quả kinh tế ngày càng cao là cơ sở để phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đảm bảo nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu
- Hiệu quả kinh tế cao của các hoạt động sản xuất kinh doanh là nền tảng để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, tạo cơ sở cho việc giải quyết các nhiệm vụ xã hội và sự ổn định về chính trị - xã hội của đất nước
- Nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu của việc
mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế, chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và toàn thế giới
- Trong việc khai thác các nguồn lực và lợi thế của đất nước, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc nâng cao hiệu quả kinh tế là yêu cầu quan trọng để bảo đảm sự phát triển và bền vững của đất nước
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Với vai trò quan trọng của mình, trong cơ cấu kinh tế của đất nước, việc nâng cao hiệu quả kinh tế trong các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đó là nền tảng cho việc nâng cao hiệu quả kinh tế ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội của đất nước
1.1.1.4 Ý nghĩa của hoạt động phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
Sau mỗi chu kỳ hoạt động kinh doanh phải kịp thời tổ chức phân tích đánh giá tình hình hoạt động, kết quả và hiệu quả đạt được, để nắm bắt những mặt mạnh, những tồn tại trong hoạt động kinh doanh, thông qua đó đề xuất những giải pháp cho thời kỳ hoạt động kinh doanh tiếp theo có kết quả và hiệu quả cao hơn
Phân tích hoạt động kinh doanh sẽ giúp các nhà đầu tư quyết định hướng đầu
tư và các dự án đầu tư Các nhà đầu tư thường quan tâm đến việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác quản lý cũng như khả năng thực hiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích hoạt động kinh doanh sẽ đáp ứng những đòi hỏi này của các nhà đầu tư
Phân tích hoạt động kinh doanh là điều hết sức cần thiết và có vai trò quan trọng đối với mọi doanh nghiệp Nó gắn liền với hoạt động kinh doanh, là cơ sở của nhiều quyết định quan trọng và chỉ ra phương hướng phát triển của các doanh nghiệp
1.1.2 Nội dung phân tích hoạt động kinh doanh các dịch vụ Tài chính Bưu chính
1.1.2.1 Khái niệm dịch vụ Tài chính Bưu chính
Dịch vụ được hiểu là rất nhiều loại hình hoạt động và nghiệp vụ thương mại
khác nhau và được hiểu là mọi biện pháp hay lợi ích một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu không sờ thấy và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó Việc thực hiện dịch vụ có thể có và cũng có thể không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó và được diễn ra theo một trình tự gồm nhiều khâu, nhiều bước Mỗi khâu, mỗi bước có thể là những dịch vụ nhánh hoặc dịch vụ độc lập Mỗi loại dịch vụ mang lại cho người tiêu dùng một giá trị nào đó Nó gắn với lợi ích mà họ nhận được Vậy dịch vụ là tất cả những gì có thể thỏa mãn được nhu cầu hay mong muốn và được chào bán trên thị trường với một mục đích thu hút sự chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội
dưới hình thức giá trị Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định Đó chính là quá trình hình thành và phân phối các nguồn tài chính, phân phối của cải xã hội thể hiện dưới hình thức giá trị, dưới dạng các quỹ của chủ thể
Dịch vụ tài chính được hiểu chung nhất đó là các công việc trung gian về tiền
tệ của các tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng về sinh lời, đầu tư, giữ hộ hay đảm bảo an toàn tài sản, đem lại nguồn thu phí cho tổ chức cung ứng dịch vụ
Doanh nghiệp bưu chính là một tổ chức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực
bưu chính Các dịch vụ Tài chính Bưu chính được doanh nghiệp bưu chính cung ứng là một bộ phận hợp thành của doanh nghiệp bưu chính, nó vừa dựa vào bưu chính nhưng lại có những dịch vụ khác so với dịch vụ bưu chính truyền thống
Do vậy có thể đưa ra khái niệm dịch vụ Tài chính Bưu chính như sau: “Dịch
vụ Tài chính Bưu chính là những dịch vụ tài chính mà doanh nghiệp bưu chính tham gia cung cấp cho xã hội dựa vào mạng lưới bưu chính hiện có của mình” 1.1.2.2 Đặc điểm dịch vụ Tài chính Bưu chính
Dịch vụ Tài chính Bưu chính với khái niệm được xác định trên đây có những đặc điểm cơ bản sau:
Tính vô hình của sản phẩm dịch vụ
Sản phẩm dịch vụ Tài chính Bưu chính không phải là vật thể cụ thể Tính vô hình của dịch vụ làm cho các giác quan của khách hàng không nhận biết được trước khi mua dịch vụ Tính vô hình cũng dẫn đến chủ quan cao khi đánh giá chất lượng dịch vụ Khách hàng được cung cấp dịch vụ Tài chính Bưu chính dựa trên sự cam kết của nhà cung cấp Do đó yếu tố cơ bản để khách hàng lựa chọn một tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính là sự tin tưởng đối với tổ chức đó, thông qua chất lượng
đã cung cấp và mức độ cam kết của nhà cung cấp với khách hàng
Tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ
Quá trình cung cấp dịch vụ luôn gắn liền với quá trình tiêu dùng dịch vụ xét
cả về không gian và thời gian, điều đó có nghĩa là khách hàng thông thường phải
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đến với doanh nghiệp bưu chính để sử dụng dịch vụ tài chính (ngoại trừ trường hợp doanh nghiệp bưu chính thực hiện cung cấp dịch vụ thông qua các trung gian như đại lý dịch vụ) Ngay tại thời điểm tương tác giữa nhân viên cung cấp dịch vụ và khách hàng thì các thủ tục được thực hiện đồng thời là quá trình tiêu dùng nó Vì vậy đảm bảo cung ứng dịch vụ Tài chính Bưu chính ở mọi thời điểm và xem trọng yếu tố khách hàng trong hoạt động kinh doanh là vấn đề hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp bưu chính
Tính không đồng đều về chất lượng
Sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ chịu sự tác động mạnh
mẽ bởi kỹ năng, thái độ của nhân viên cung cấp dịch vụ Thái độ của nhân viên cung cấp dịch vụ lại phụ thuộc vào các yếu tố sức khoẻ, tâm lý, động cơ… Thêm nữa mỗi khách hàng đều có sự khác biệt về các hình dung dịch vụ cũng như yêu cầu dịch vụ Do vậy, dịch vụ Tài chính Bưu chính nếu được thực hiện bởi những nhân viên khác nhau, cho những khách hàng khác nhau và tại những địa điểm, thời gian khác nhau thì có thể không giống nhau
Tính không dự trữ được
Tính không dự trữ được là hệ quả của tính vô hình Người cung ứng dịch vụ đồng thời thực hiện hai chức năng: vừa sản xuất, vừa bán hàng Người bán hàng phải có kiến thức và kỹ năng để tránh tối đa sai sót khi thực hiện 2 chức năng này Tính không dự trữ được làm cho năng lực phục vụ của nhà cung cấp dịch vụ tại một thời điểm xác định nếu không sử dụng sẽ bị mất đi vĩnh viễn và do vậy, việc cân đối giữa cung và cầu dịch vụ sẽ rất khó thực hiện, năng lực phục vụ của nhà cung cấp bị lãng phí
Qui trình cung cấp dịch vụ Tài chính Bưu chính có sự tham gia của nhiều đơn vị nằm trên những vùng địa lý khác nhau trong doanh nghiệp bưu chính
Đặc điểm này đòi hỏi tính thống nhất cao trong việc cung cấp dịch vụ, đồng thời phải đảm bảo phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị tham gia cung cấp dịch vụ
Khách hàng có thể sử dụng dịch vụ Tài chính Bưu chính nhiều lần trong một đời người và mối quan hệ giữa nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng là mối quan hệ qua lại lẫn nhau
Khách hàng có thể yêu cầu chuyển tiền nhiều lần, yêu cầu mua những dịch
vụ bảo hiểm với khoảng thời gian khác nhau Một khách hàng có thể là người bán (dịch vụ tiết kiệm) vừa là người mua (dịch vụ chuyển tiền, nhờ thanh toán…)
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.2.3 Phân loại dịch vụ Tài chính Bưu chính
Dựa trên nền tảng của các loại hình dịch vụ tài chính, các doanh nghiệp bưu chính đã phát triển các loại hình dịch vụ thuộc dịch vụ Tài chính Bưu chính sau: Dịch vụ Tiết kiệm qua bưu chính, dịch vụ Chuyển tiền bưu chính, dịch vụ Thu hộ - Chi hộ, dịch vụ đại lý Bảo hiểm bưu chính
Dịch vụ Tiết kiệm qua bưu chính
Là dịch vụ tiền gửi cá nhân do doanh nghiệp bưu chính mở, là một phần rất quan trọng của dịch vụ Tài chính Bưu chính Đối tượng phục vụ chủ yếu là các cá nhân trong xã hội Tiết kiệm Bưu Điện cho dù cung cấp ở quốc gia hay vùng lãnh thổ nào thì cũng có cùng những mục tiêu giống nhau: Tạo kênh huy động vốn cho nguồn vốn đầu tư phát triển đất nước, cung cấp công cụ hữu hiệu cho người dân giúp người dân tiết kiệm từng đồng vốn nhỏ lẻ của mình và phát huy tối đa năng lực mạng lưới Bưu điện
Dịch vụ huy động tiền gửi là hình thức huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư được thực hiện trên mạng lưới bưu chính công cộng nhằm mục đích bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia Hiện tại, doanh nghiệp bưu chính cung ứng dịch vụ huy động tiền gửi với các hình thức sau đây:
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là hình thức gửi tiền tiết kiệm cho phép khách hàng gửi và rút tiền theo đúng kỳ hạn đã định trước và trả lãi sau Các loại gửi tiền có kỳ hạn, mức gửi ban đầu không giống nhau, nhưng đều không hạn chế mức cao nhất Kỳ hạn dài ngắn khác nhau thì tiêu chuẩn lãi suất cũng khác nhau; kỳ hạn càng dài lãi suất càng lớn
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là hình thức gửi tiền cho phép khách hàng gửi tiền có thể gửi vào lấy ra bất cứ lúc nào Tiền gửi không kỳ hạn thường có lãi suất thấp Khách hàng gửi tiền không mang tính chất để thanh toán mà chỉ nhằm mục đích an toàn tài sản, khi cần khách hàng có thể đến rút tiền để chi tiêu Số lần
và mức tiền lấy ra trong loại gửi không kỳ hạn không bị hạn chế, lại linh hoạt tiện lợi, thích hợp cho người gửi khoản tiền chờ ngắn ngày để tiêu dùng trong sinh hoạt
và gửi tiền tiết kiệm hỗ trợ của đơn vị và dân cư
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Dịch vụ Chuyển tiền bưu chính
Là dịch vụ mà doanh nghiệp bưu chính cho phép người uỷ thác chuyển tiền
dùng phương thức phiếu chuyển tiền tại địa chỉ trong nước và chi trả cho người nhận chỉ định ở nơi khác
Dịch vụ chuyển tiền giúp cho người gửi không mất thời gian công sức mang tiền đến cho người nhận Mặt khác giúp nhà nước thu hẹp phạm vi vận chuyển tiền mặt trong tay nhân dân, tiết kiệm công sức, điều hoà tiền tệ giữa các địa phương Các loại tiền chuyển trong dịch vụ chuyển tiền bưu chính bao gồm:
- Dịch vụ Thư chuyển tiền: Là dịch vụ chuyển các phiếu yêu cầu trả tiền do người gửi viết để chuyển số tiền từ người gửi tới người nhận Dịch vụ thư chuyển tiền không trực tiếp vận chuyển tiền mặt, mà do đơn vị bưu chính ở hai nơi áp dụng phương thức thông báo chuyển tiền theo chứng từ và kế toán nội bộ để thực hiện Dịch vụ này cung cấp cho đối tượng khách hàng ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa
- Dịch vụ Chuyển tiền nhanh: Là dịch vụ trong hệ thống nghiệp vụ chuyển tiền bưu chính được tổ chức nhận tiền người gửi, phát hành thành ngân phiếu và chuyển phát cho người nhận bằng phương tiện nhanh nhất, đảm bảo chỉ tiêu thời gian toàn trình đã công bố
Dịch vụ Đại lý bảo hiểm bưu chính
Bảo hiểm với chức năng kinh tế mà mục đích là bồi thường những thiệt hại
về của cải hay sức khoẻ, tính mạng con người, bằng cách đảm nhiệm những rủi ro
và đền bù những rủi ro ấy Người muốn được bảo hiểm phải mua bảo hiểm và khi bị thiệt hại thì được bồi thường Việc bồi thường được quy định bằng một hợp đồng giữa tổ chức bảo hiểm và người được bảo hiểm
Dịch vụ đại lý Bảo hiểm Bưu chính là dịch vụ mà bưu chính thay mặt cơ quan bảo hiểm làm nghiệp vụ bảo hiểm thông qua mạng lưới bưu chính của mình phân phối các sản phẩm bảo hiểm tới khách hàng
Dịch vụ Thu hộ - Chi hộ
- Dịch vụ Thu hộ: phục vụ các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ như làm đại
lý thu tiền bảo hiểm, thu tiền điện, nước, thu cước dịch vụ viễn thông, mua hàng qua Bưu Điện
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Dịch vụ Chi hộ: doanh nghiệp bưu chính cung ứng dịch vụ này sẽ thực hiện theo yêu cầu của người có nghĩa vụ trả tiền để chi trả cho người thụ hưởng, ví dụ như dịch vụ phát hộ lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội, dịch vụ chi hộ tín dụng cho các ngân hàng
1.1.2.4 Vai trò của các dịch vụ tài chính bưu chính trong nền kinh tế quốc dân
- Là một trung gian tài chính nên dịch vụ tài chính bưu chính cũng có vai trò như đối với trung gian tài chính khác, cụ thể là:
+ Cùng với các trung gian tài chính khác với ưu thế về mạng lưới, dịch vụ tài chính bưu chính mang lại lợi ích trọn vẹn và đầy đủ cho cả người cung về vốn và người cầu về vốn cũng như cho nền kinh tế đất nước
+ Dịch vụ Tài chính Bưu chính trong hệ thống tiền tệ quốc gia về cơ bản giữ vai trò bổ xung cho các ngân hàng thương mại Về bản chất nó là một yếu tố thúc đẩy sự cạnh tranh trong thị trường tài chính bán lẻ và nó sẽ sử dụng ưu thế điểm mạnh và ưu thế về uy tín của bản thân để chiếm vị thế trọng yếu trong hệ thống tài chính bán lẻ
- Phát triển kinh doanh của dịch vụ Tài chính Bưu chính có lợi cho việc cung cấp các sản phẩm tài chính phổ biến và đa dạng hơn cho công chúng xã hội, có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện hệ thống tài chính tín dụng của xã hội và
từ đó phát huy chức năng điều tiết, ổn định xã hội, cân bằng phát triển các khu vực
- Tận dụng được lợi thế mạng lưới rộng khắp, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực của mạng lưới bưu chính hiện có để tạo ra doanh lợi mới với chi phí thấp
- Biến nguồn tiền nhàn rỗi tản mạn, nhỏ nhặt trong dân cư thành nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển Đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính bưu chính thực chất là một trung gian tài chính
- Tạo thói quen tiết kiệm cho đầu tư đối với dân chúng và góp phần tạo cho người dân có thói quen thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần thúc đẩy thị trường tài chính tiền tệ
- Hơn thế nữa, dịch vụ Tài chính Bưu chính đã mang lại một hình ảnh mới cho Bưu điện trong mắt người dân, Bưu điện giờ không chỉ là nơi để gửi thư, gọi điện thoại mà còn là trung tâm cung cấp các dịch vụ tài chính mới
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Việc phát triển kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính đã góp phần đưa các dịch vụ tài chính đến gần với dân, đặc biệt là với dân cư vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa
- Góp phần nâng cao cạnh tranh giữa đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính Sự góp mặt của các dịch vụ Tài chính Bưu chính đã tạo thêm một hình thức dịch vụ mới trên nền các dịch vụ tài chính
- Thực hiện chính sách tiền tệ và chống lạm phát Bản thân dịch vụ Tài chính Bưu chính ví dụ như Tiết kiệm Bưu Điện là kênh huy động vốn bằng tiền mặt, sự phát triển của nó sẽ làm giảm bớt khối lượng tiền mặt trong lưu thông Do vậy, sự phát triển của Tiết kiệm Bưu Điện một mặt góp phần cải thiện quan hệ tiết kiệm - tích luỹ - tiêu dùng trong nền kinh tế, mặt khác gia tăng vốn đầu tư cho ngân sách
từ rủi ro thấp đến rủi ro rất cao, điều này tạo điều kiện cho các chủ thể cung cấp dịch
vụ tài chính bưu chính và các khách hàng có điều kiện lựa chọn tham gia vào nhiều loại hình dịch vụ tài chính bưu chính khác nhau cùng một lúc, tránh được rủi ro khi chỉ sử dụng được một loại dịch vụ duy nhất
1.1.2.5 Hiệu quả kinh doanh các dịch vụ Tài chính Bưu chính
Phát triển kinh doanh các dịch vụ Tài chính Bưu chính sẽ giúp cho ngành Bưu chính nói chung, Bưu điện Bắc Kạn nói riêng cung cấp dịch vụ đáp ứng tốt các nhu cầu của thị trường và tận dụng hệ thống mạng lưới dịch vụ bưu chính, mối quan hệ
và uy tín sẵn có với khách hàng, khả năng phục vụ tại địa điểm khách hàng yêu cầu
Phát triển kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính làm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp nào có dịch vụ mới hơn, hoàn hảo hơn đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng sẽ có sức thu hút khách hàng lớn hơn Chính vì vậy, việc đa dạng hoá các dịch vụ Tài chính Bưu chính và cải tiến nâng cao chất
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lượng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu cho tất cả khách hàng tạo cho Bưu điện có ưu thế nổi trội để có thể đứng vững trong cạnh tranh
Phát triển kinh doanh các dịch vụ Tài chính Bưu chính cũng giống như phát triển dịch vụ ngân hàng là thực hiện nguyên tắc phân tán rủi ro trong kinh doanh Doanh nghiệp nào phát triển kinh doanh nhiều lĩnh vực dịch vụ có hiệu quả thì doanh nghiệp đó sẽ tỏ rõ ưu thế của mình, nếu một lĩnh vực hoạt động dịch vụ gặp khó khăn thì doanh nghiệp vẫn có thể phát triển các lĩnh vực khác
Việc phát triển kinh doanh dịch vụ còn tạo ra một nguồn thu nhập đáng kể cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
1.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính
1.1.3.1 Nhân tố con người
- Chất lượng nguồn nhân lực: Mỗi nhân tố thuộc về doanh nghiệp hay môi trường hoạt động của doanh nghiệp đều có những tác động nhất định tới sự phát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên, mọi quan điểm đều đồng ý rằng yếu tố nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Sự phát triển kinh doanh của dịch vụ Tài chính Bưu chính nói riêng càng chịu ảnh hưởng to lớn của yếu tố này Nguồn nhân lực có thể được chia thành bộ phận lãnh đạo, các phòng ban quản lý (bộ phận hỗ trợ), các bộ phận tác nghiệp Mỗi bộ phận đều có những chức năng, vai trò riêng đối với sự phát triển kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính
- Đội ngũ các giao dịch viên: Hoạt động sản xuất, cung cấp và tiêu dùng một dịch vụ diễn ra đồng thời với quá trình giao tiếp giữa nhân viên và khách hàng Thái
độ, trình độ của nhân viên là hai biểu hiện của chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố
cơ bản quyết định chất lượng dịch vụ, bên cạnh những yếu tố khác như công nghệ,
cơ sở vật chất,…Thái độ kém văn minh, thiếu nhiệt tình sẽ khiến khách hàng bỏ đi; còn trình độ của nhân viên sẽ tác động tới sự an toàn, chính xác của các giao dịch tài chính Tại nhiều bưu cục, do giao dịch viên làm kiêm nhiệm dịch vụ bưu chính
và dịch vụ tài chính bưu chính nên nhiều lúc khách hàng phải chờ Bên cạnh đó, mức độ chuyên nghiệp khi cung cấp dịch vụ tài chính bưu chính cũng còn nhiều hạn chế so với đội ngũ giao dịch viên của các ngân hàng thương mại
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Đội ngũ cán bộ quản lý: Đây là những nhân sự chủ chốt, đóng vai trò quan trọng trong việc đề ra các chiến lược kinh doanh nói chung và chiến lược phát triển kinh doanh dịch vụ nói riêng Vị trí này đòi hỏi người quản lý phải nhanh nhạy trước sự biến động hàng ngày của môi trường kinh doanh, tìm ra những hướng đi mới, quyết định danh mục các dịch vụ mới, mức độ đầu tư cho các dịch vụ hiện tại
để phát triển kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính
- Đội ngũ nhân viên phát triển kinh doanh dịch vụ mới và kiểm soát viên (kiểm tra, giám sát quy trình thực hiện và chất lượng dịch vụ) là hai bộ phận có vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính
1.1.3.2 Nhân tố tiến bộ khoa học công nghệ
Dịch vụ Tài chính nói chung và dịch vụ Tài chính Bưu chính nói riêng đòi hỏi sự chuẩn xác tuyệt đối để đảm bảo các giao dịch tài chính diễn ra an toàn, chính xác, thuận lợi, kịp thời Sự phát triển của khoa học công nghệ là cơ sở cho việc hiện đại hoá công nghệ trong lĩnh vực tài chính, bưu chính (chủ yếu là công nghệ thông tin, đặc biệt là các phần mềm quản lý chuyên dụng) Do vậy, đơn vị cung cấp dịch
vụ cần luôn đổi mới công nghệ vì đi kèm với đổi mới công nghệ là việc ra đời của các dịch vụ Tài chính Bưu chính Từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh cho chính bản thân đơn vị cung cấp dịch vụ Tài chính Bưu chính
1.1.3.3 Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin
Đối với tất cả các nước trên thế giới hiện nay, khoa học kỹ thuật tiến bộ đang làm thay đổi hẳn nhiều lĩnh vực sản xuất, trong đó tin học và điện tử đóng vai trò đặc biệt quan trọng Thông tin được coi là đối tượng lao động của các nhà kinh doanh và nền kinh tế thị trường hiện nay là nền kinh tế thông tin hoá Để kinh doanh thành công trong điều kiện cạnh tranh trong nước và quốc tế phát triển, các doanh nghiệp rất cần nhiều thông tin chính xác về thị trường, thông tin về công nghệ, thông tin về người mua và người bán, thông tin của các đối thủ cạnh tranh, thông tin về tình hình cung cầu hàng hoá, dịch vụ, thông tin về giá cả, thông tin về
tỷ giá không những thế các doanh nghiệp còn rất cần biết về kinh nghiệm thành công, thất bại của các doanh nghiệp trong nước và quốc tế, biết được thông tin về các thay đổi trong các chính sách kinh tế của nhà nước và các nước liên quan thị trường của doanh nghiệp
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Những thông tin kịp thời chính xác sẽ là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp xác định phương hướng kinh doanh, xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn cũng như hoạch định các chương trình sản xuất kinh doanh ngắn hạn Nếu các doanh nghiệp không quan tâm đến thông tin một cách thường xuyên, liên tục, không nắm bắt được thông tin một cách kịp thời, chính xác thì dễ dàng bị thất bại
Nhu cầu thực tế to lớn của các doanh nghiệp đòi hỏi xã hội phải phát triển mạnh hệ thống thông tin liên lạc bằng nhiều hình thức khác nhau, từ việc phát triển báo chí, truyền thanh, truyền hình đến việc phát triển các hoạt động Bưu chính Viễn thông Trong kinh doanh nếu biết mình biết người và nhất là biết được các đối thủ cạnh tranh thì sẽ có chính sách để thắng lợi trong cạnh tranh, có chính sách để phát triển quan hệ hợp tác chặt chẽ để hỗ trợ nhau trong kinh doanh Kinh nghiệm thành công của nhiều doanh nghiệp cho thấy nắm chắc được các thông tin cần thiết và biết xử
lí các thông tin đó kịp thời đúng đắn trong kinh doanh là một yếu tố, một điều kiện hết sức quan trọng để thắng lợi trong cạnh tranh và kinh doanh đạt lợi nhuận cao
Tổ chức khoa học hệ thống thông tin nội bộ, vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin kinh doanh lại vừa đảm bảo giảm thiểu chi phí kinh doanh cho thông tin là một nhiệm vụ rất quan trọng của công tác quản trị doanh nghiệp hiện nay Hệ thống thông tin nội bộ đáp ứng tốt nhất yêu cầu hiệu quả là hệ thống thông tin có sự trợ giúp của hệ thống chế biến dữ liệu điện tử (hệ thống computer cá nhân và nối mạng trong doanh nghiệp thông qua mạng INTRANET, nối mạng ra bên ngoài mạng quốc gia và mạng thế giới thông qua mạng INTERNET)
1.1.3.4 Trình độ tổ chức kinh doanh và quản lý doanh nghiệp
Trong kinh doanh hiện đại, đối với doanh nghiệp có đặc điểm sản xuất kinh doanh cũng như quy mô khác nhau càng ngày nhân tố quản trị càng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Quản trị doanh nghiệp hiện đại luôn chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng trong hoạt động kinh doanh, xác định đúng các chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp là cơ sở đầu tiên đem lại hiệu quả, kết quả hoặc phí hiệu quả, thất bại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Vật tư, nguyên liệu và hệ thống tổ chức cung ứng vật tư, nguyên liệu của doanh nghiệp là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc nhân tố trình độ tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất vật chất nào cũng đều phải có đủ 3 yếu tố: Lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong đó vật tư, nguyên liệu là yếu tố không thể thiếu được trong sản xuất kinh doanh Do vậy số lượng chủng loại, cơ cấu, tính đồng bộ của việc cung ứng nguyên liệu, chất lượng nguyên liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu và do đó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh Trước tiên việc cung cấp đầy đủ, có chất lượng cao nguyên liệu cho sản xuất sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm, thu hút được khách hàng, nâng cao uy tín doanh nghiệp, tăng hiệu quả kinh tế Cần chú ý là đối với nhiều doanh nghiệp sản xuất, tỷ trọng chi phí kinh doanh sử dụng nguyên vật liệu chiếm rất lớn trong cơ cấu chi phí kinh doanh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nên việc sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp Tiết kiệm nguyên vật liệu đồng nghĩa với việc tạo ra kết quả cao hơn trong cùng một lượng nguyên liệu không đổi Do trình độ quản lý yếu kém nên trung bình hao phí nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm ở các doanh nghiệp nước ta cao gấp 2 -3 lần mức trung bình của thế giới
Ngoài ra chất lượng hoạt động của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn vào việc thiết lập một hệ thống cung ứng nguyên liệu thích hợp trên cơ sở tạo dựng mối quan hệ lâu dài, hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau giữa người sản xuất và người cung ứng, đảm bảo khả năng tổ chức cung ứng vật tư, nguyên vật liệu đầy đủ kịp thời, chính xác, đúng nơi cần thiết, tránh tình trạng không có vật tư để sản xuất hoặc vật
tư quá nhiều gây ứ đọng vốn
Cùng sự phát triển của kỹ thuật, việc nghiên cứu ứng dụng vật liệu mới trong sản xuất, dịch vụ cũng là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Ở trên đã phân tích ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Mọi nhân tố đã phân tích ở trên đều có thể tác động tích cực hoặc
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tiêu cực đến hiệu quả và kết quả của doanh nghiệp thông qua các hoạt động quản trị của bộ máy quản trị doanh nghiệp và đội ngũ các nhà quản trị của nó Ảnh hưởng của các nhân tố này tuỳ thuộc rất lớn vào việc tạo ra cơ cấu sản xuất cũng như trình
độ tổ chức sản xuất của bộ máy quản trị doanh nghiệp
Kinh doanh là hoạt động thể hiện sự liên kết chặt chẽ và ngày càng tối ưu các yếu tố sản xuất bằng các kiến thức khoa học và nghệ thuật kinh doanh Nhà quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là lãnh đạo doanh nghiệp (Quản trị viên cao cấp), bằng phẩm chất và tài năng của mình, có vai trò quan trọng bậc nhất, có ý nghĩa quyết định đối với việc duy trì thành đạt cho một tổ chức một công ty, trong các nhiệm vụ phải hoàn thành, người cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp phải chú ý đến hai nhiệm vụ chủ yếu là:
- Xây dựng tập thể thành một hệ thống đoàn kết, năng động với chất lượng cao
- Dìu dắt tập thể dưới quyền, hoàn thành mục đích và mục tiêu một cách vững chắc và ổn định Ơ bất kỳ một doanh nghiệp nào hiệu quả kinh tế đều phụ thuộc lớn vào tổ chức cơ cấu bộ máy quản trị, nhận thức, hiểu biết về chất lượng và trình độ của đội ngũ các nhà quản trị, khả năng xác định chính xác mục tiêu, phương hướng kinh doanh có lợi nhất cho doanh nghiệp của những người lãnh đạo doanh nghiệp
1.1.3.5 Nhân tố thị trường
Trong cơ chế thị trường, các điều kiện của thị trường có tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Những điều kiện đó bao gồm: Sự biến động của hệ cung cầu, thế và lực của các khách hàng và nhà cung ứng, sự thay đổi của các chính sách kinh tế, chính sách đầu tư, chính sách tiền tệ của nhà nước Doanh nghiệp nào thích ứng với những điều kiện thay đổi của thị trường, doanh nghiệp đó sẽ hoạt động kinh doanh có hiệu quả, sẽ tồn tại và phát triển và ngược lại doanh nghiệp sẽ thua lỗ, đóng cửa hoặc phá sản
Tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải thiết lập các mối quan hệ kinh tế với bạn hàng, phải thực hiện các qui định của hệ thống pháp luật, phải giải quyết các vấn đề liên quan xã hội Bất kỳ một doanh nghiệp nào, hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào, to hay nhỏ, suy cho cùng đều chỉ là một
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trong những phần từ cấu thành nền kinh tế quốc dân, hay trên phương diện rộng hơn, trong hoàn cảnh thương mại quốc tế đang phát triển mạnh mẽ ngày nay thì doanh nghiệp có thể coi là một bộ phận cấu thành nền kinh tế thế giới Do vậy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày nay chịu ảnh hưởng tác động rất lớn
từ môi trường bên ngoài Đó là tổng hợp các nhân tố khách quan tác động đến hoạt động kinh doanh và cụ thể là đến kết quả và hiệu quả của hoạt động kinh doanh như chính trị, xã hội, luật pháp, môi trường sinh thái, kinh tế, cạnh tranh, tài nguyên
a, Môi trường pháp lý: Bao gồm luật, các văn bản dưới luật, quy trình qui
phạm kỹ thuật sản xuất tất cả các quy định pháp luật về sản xuất kinh doanh đều tác động trực tiếp đến hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình lại vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế vi mô theo hướng không phải chỉ chú ý đến kết quả và hiệu quả riêng của mình, mà còn phải chú ý đảm bảo lợi ích kinh tế của mọi thành viên trong
xã hội Với tư cách một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp
có nghĩa vụ chấp hành mọi luật pháp qui định, với các hoạt động liên quan đến thị trường ngoài nước, doanh nghiệp không thể không nắm chắc luật pháp của nước sở tại và tiến hành các hoạt động trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nước đó
b, Môi trường văn hoá - xã hội: Tình trạng việc làm, điều kiện xã hội, trình
độ giáo dục, phong cách lối sống, những đặc điểm truyền thống, tâm lý xã hội Mọi yếu tố văn hoá xã hội đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp theo cả hai hướng tích cực hoặc không tích cực Trình
độ văn hoá cao sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho doanh nghiệp đào tạo đội ngũ lao động
có chuyên môn cao và có khả năng tiếp thu nhanh các kiến thức cần thiết nên có tác động tích cực đến việc năng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và ngược lại Phong cách sống công nghiệp tạo thuận lợi cho việc thực hiện kỷ luật lao động, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế và ngược lại
c, Môi trường chính trị: Ổn định thể chất chính trị, xu hướng chính trị, tương
quan giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội cũng có tác động rất lớn đến hiệu qủa kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp Môi trường
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chính trị ổn định luôn luôn là điều kiện tiền đề cho việc phát triển các hoạt động đầu
tư, phát triển các hoạt động kinh tế Vấn đề đầu tư lại tác động rất lớn đến hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh
d, Môi trường sinh thái và cơ sở hạ tầng: Tình trạng môi trường, xử lý phế
thải, ô nhiễm, các ràng buộc xã hội về môi trường, đều tác động trong một chừng mực nhất định đến hiệu quả kinh tế Một môi trường trong sạch, thoáng mát sẽ trực tiếp làm giảm chi phí kinh doanh để cải thiện môi trường bên trong doanh nghiệp và tạo điều kiện để nâng cao năng suất lao động làm tăng hiệu quả kinh tế và ngược lại Cơ sở hạ tầng đóng vai trò rất quan trọng đối với việc trực tiếp giảm chi phí kinh doanh để xây dựng cơ sở hạ tầng liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Điều quan trọng hơn là cơ sở hạ tầng tác động trực tiếp đến chi phí kinh doanh cũng như thời gian vận chuyển hàng hoá của doanh nghiệp và do đó tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong nhiều trường hợp, khi điều kiện cơ sở hạ tầng thấp kém còn ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đầu tư hoặc gây cản trở đối với các hoạt động cung ứng vật tư kỹ thuật, mua bán hàng hoá và do đó tác động xấu đến hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
e, Môi trường quốc tế: Các xu hướng chính trị trên thế giới, chính sách bảo
hộ và mở cửa của thế giới, chiến tranh, ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động mở rộng thị trường mua bán của doanh nghiệp và vì thế tác động đến hiệu quả của sản xuất kinh doanh Môi trường khu vực ổn định (chẳng hạn hiệp hội ASEAN) là cơ sở để các doanh nghiệp trong khu vực (trong đó có các doanh nghiệp nước ta) tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển kinh doanh trong toàn khu vực
g, Môi trường công nghệ: Tình hình nghiên cứu và triển khai khoa học kỹ
thuật mới, mức đầu tư cho khoa học và công nghệ, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển công nghệ của mỗi doanh nghiệp và do đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp
h, Môi trường kinh tế: Tăng trưởng kinh tế quốc dân, các chính sách kinh tế
của Chính phủ, lạm phát, biến động tiền tệ, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh, luôn luôn tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nghiệp Tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ thu nhập quốc dân, biến động của tiền tệ, các chính sách kinh tế, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh, luôn là các nhân tố tác động trực tiếp đến các quyết định cung cầu của từng doanh nghiệp và từ đó tác động mạnh mẽ, trực tiếp đến kết quả và hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp
Nhìn chung, các nhân tố về môi trường bên ngoài tạo ra cả cơ hội lẫn nguy
cơ đối với mỗi doanh nghiệp, nó gắn bó chặt chẽ với môi trường nội bộ tạo nên môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, môi trường kinh doanh tồn tại một cách khách quan, gây ra những khó khăn cũng như các điều kiện thuận lợi tác động đến hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh
1.2 Cơ sở thực tiễn về hoạt động kinh doanh các dịch vụ tài chính bưu chính
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ tài chính bưu chính của một số nước trên thế giới
Xu hướng phát triển kinh doanh dịch vụ tài chính bưu chính trên thế giới:
- Xu hướng đa dạng hoá các loại dịch vụ tài chính bưu chính, linh hoạt về phương thức cung cấp các loại dịch vụ, nâng cao an toàn dịch vụ
- Thực hiện việc chia tách chức năng quản lý Nhà nước với doanh nghiệp trong kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính vận hành theo kiểu công ty hoá, thương mại hoá
- Coi trọng việc xây dựng môi trường pháp lý, Chính phủ ưu tiên cho dịch vụ Tài chính Bưu chính
- Xu hướng tham gia các liên minh, các hiệp hội nhằm mở rộng thị trường cung cấp dịch vụ
- Áp dụng trang thiết bị, công nghệ hiện đại trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính bưu chính, xây dựng và quản lý tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Dịch vụ Chuyển tiền bưu chính của Trung Quốc ra đời năm 1898 Đến năm
1919 dịch vụ Tiết kiệm từ dân cư bắt đầu được triển khai và bị tạm dừng năm 1953 Đến năm 1986 dịch vụ Tiết kiệm được triển khai và mở rộng trên phạm vi toàn quốc Bưu chính Trung Quốc (China Post) với mạng lưới bưu cục rộng khắp toàn
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quốc với khoảng 66.649 bưu cục và 2/3 số bưu cục chủ yếu tập trung ở nông thôn, trong số 34.027 quầy giao dịch cung cấp dịch vụ Tiết kiệm thì có 15.153 quầy được nối mạng tin học với khoảng gần 60 trung tâm Về chuyển tiền quốc tế, năm 1999
có 233 bưu cục được phép chuyển tiền tới 20 nước và cung cấp các dịch vụ như:
- Tiết kiệm: Với các hình thức kỳ hạn có thể kéo dài tới 5 năm như tiết kiệm
có kỳ hạn, tiết kiệm có kỳ hạn lĩnh lãi đầu kỳ, tiết kiệm không kỳ hạn gửi rút nhiều nơi, tiết kiệm có kỳ hạn có thể rút trước một phần Ngoài ra, còn có các loại hình gửi tiết kiệm nhằm vào các đối tượng khác nhau, các khách hàng thuộc các tầng lớp khác nhau, như “gửi tiền cước phí điện thoại”, “gửi tiền sưu tập tem”, “gửi tiền nhà ở”, “gửi tiền giáo dục”, “gửi tiền dưỡng lão” dùng nghiệp vụ cộng thêm để thu hút khách hàng, gia tăng số dư
- Chuyển tiền: Chuyển tiền vào tài khoản tiết kiệm, chuyển tiền lễ nghi (hiếu,
hỷ ), chuyển tiền nhanh, chuyển tiền quốc tế Trung Quốc còn đưa ra loại dịch vụ mới là chuyển tiền nhập tài khoản là loại dịch vụ kết hợp dịch vụ tiết kiệm và dịch vụ chuyển tiền, làm cho tiền chuyển trở thành một khoản tiền có thể sử dụng nhiều lần, vừa duy trì được doanh thu phí chuyển tiền, vừa tăng thêm được số dư tiết kiệm bưu chính, tạo ra doanh thu chênh lệch lãi, trực tiếp thúc đẩy phát triển dịch vụ tiết kiệm
- Dịch vụ Nhờ thu - Nhận trả: Nhờ thu tiền điện, nước, điện thoại qua tài
khoản tiết kiệm, nhờ trả lương, lương hưu trí, tiền bảo hiểm… Cách đây chưa lâu, dịch vụ bưu chính của Trung Quốc chưa đủ tin cậy, khách hàng đã phải nhận và thanh toán các hoá đơn tín dụng tại ngân hàng địa phương Hiện nay, các công ty gửi hoá đơn, và thông báo tới từng cá nhân qua đường bưu chính Bước tiến này là
vô cùng to lớn, Hãng Pitney Bowes ước tính là mỗi tỉnh trong số 30 tỉnh của Trung Quốc gửi trung bình 3 triệu hoá đơn mỗi tháng
- Dịch vụ điện thoại thẻ 200/Green Card: Dịch vụ này kết hợp giữa dịch vụ
Tiết kiệm và Công ty điện thoại nhằm tăng tính tiện ích cho khách hàng có tài khoản tài Tiết kiệm Khách hàng có thể tự động thanh toán tiền cước phí qua tài khoản Tiết kiệm
- Các dịch vụ đại lý: Năm 2008, dịch vụ này tăng, có 23.332 bưu cục và
17.592 đại lý kinh doanh các dịch vụ làm đại lý cho bảo hiểm nhân thọ và đại lý bảo
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hiểm tài sản Trái phiếu Chính phủ được phát hành và bán qua China Post đạt 5,32
tỷ Nhân dân Tệ Các dịch vụ đại lý khác là: Thu phí truyền hình, phí truyền hình
cáp và nước, điện, ga cũng phát triển mạnh
- Mua hàng qua Bưu điện: Phát hàng thu tiền, phát hàng thanh toán qua tài
khoản Tiết kiệm
- Dịch vụ gửi hàng hoá nội địa và quốc tế: Bưu chính Trung Quốc đã mở các
dịch vụ gửi hàng trong 2 giờ, 24 giờ; thời gian thực gửi và thời gian thực nhận hàng hoá gửi Năm 2008, Bưu chính Trung Quốc đã xử lý 204 triệu điện chuyển tiền
Tổng quan lại, Bưu chính Trung Quốc sử dụng tài nguyên vốn có như điểm mạng lưới, nhân viên, thiết bị, mở dịch vụ đại lý chất lượng cao cho khách hàng Tập trung cung ứng dịch vụ có tỷ suất đầu tư ít, giá thành thấp, hiệu ích cao, rủi ro nhỏ Công ty Bưu chính ở các địa phương phần lớn đã căn cứ vào tình hình thực tế
để tạo ra sức triển khai kinh doanh dịch vụ Tài chính Bưu chính và có rất nhiều kinh nghiệm đáng để xem xét và học hỏi
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Dịch vụ Tài chính Bưu chính tại Nhật Bản ra đời từ rất sớm, trước cả sự ra đời của các Ngân hàng thương mại và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản, các giai đoạn phát triển dịch vụ tài chính bưu chính tại Nhật Bản:
- Ngày 2/1/1875 giới thiệu dịch vụ Chuyển tiền Bưu chính
- Ngày 2/5/1875 giới thiệu dịch vụ Tiết kiệm Bưu chính
- Ngày 1/3/1906 giới thiệu dịch vụ Chuyển tiền trực tiếp giữa các tài khoản Bưu chính
- Ngày 1/10/1916 giới thiệu dịch vụ Bảo hiểm Bưu chính
- Ngày 1/4/2003 thành lập Bưu chính Nhật Bản
a) Các dịch vụ Tiết kiệm và Chuyển tiền:
Bưu chính Nhật Bản đã cung ứng với số lượng lớn và dịch vụ Tiết kiệm Bưu chính, Chuyển tiền Bưu chính, dịch vụ Chuyển khoản và nhận chi trả lương hưu Các bưu cục không chỉ được đặt ở các khu dân cư khu vực thành thị mà còn được đặt tại các khu dân cư nơi mà có một số ngân hàng thương mại đang hoạt động, chúng đóng một vai trò quan trọng như một cơ quan cung cấp các dịch vụ tiết kiệm cho cá nhân khách hàng Cuối tháng 5/2008 khách hàng gửi 225,740 tỷ Yên
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Dịch vụ Chuyển tiền thường: Thư chuyển tiền được phát hành tại bưu cục,
người chuyển tiền gửi thư chuyển tiền bằng thư điện tử đến người nhận Người nhận có thể nhận thư chuyển tiền tại nhà và mang thư đến bưu cục để lấy tiền
- Dịch vụ Điện chuyển tiền: Người chuyển tiền sẽ quyết định cách thức trả
tiền đến người nhận qua mạng on-line, Bưu điện sẽ chuyển tiền cho người nhận theo các hình thức mà người chuyển tiền đã chọn như: Trả tiền tại nhà người nhận, trả tiền bằng thư chuyển tiền, trả tiền tại bưu cục
- Dịch vụ Chuyển khoản: Chuyển vào tài khoản (chủ tài khoản chuyển tiền
vào tài khoản của mình); Chuyển khoản (chuyển tiền giữa 2 tài khoản) Hai dịch vụ trên sẽ dùng hình thức chuyển khoản thông thường hoặc điện chuyển khoản và tiền
sẽ được chuyển vào tài khoản Chuyển ra ngoài (chuyển từ tài khoản cho người không có tài khoản) bên nhận sẽ được trả tiền bằng tiền mặt hoặc séc bưu chính
b) Dịch vụ Bảo hiểm Nhân thọ Bưu chính:
Bưu chính Nhật Bản cung cấp các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ với thủ tục đơn giản cho khách hàng, ví dụ dịch vụ “Kampo” cung cấp cho khách hàng một cuộc sống dễ chịu hơn khi về già Cuối tháng 5/2008 đã có 120.011 tỷ Yên đóng góp vào quỹ dịch vụ này Do ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố tác động như kinh tế, lãi suất, số lượng các hợp đồng bảo hiểm năm 2009 giảm 17,5% và doanh thu bảo hiểm giảm
còn 2629,5 tỷ Yên
c) Các dịch vụ khác:
Dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ, mua và bán séc du lịch, mua và bán trái phiếu Chính Phủ, thu hộ, chi hộ, bán xổ số Đồng thời trên cơ sở mạng on-line luôn được nâng cấp, tiết kiệm Bưu điện Nhật Bản đã triển khai nhiều dịch vụ tài chính ngân hàng hiện đại, đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền như các dịch vụ: Internet banking, Thẻ ghi nợ; IC Card (thay thế thẻ từ), chuyển tiền giữa tài khoản mở tại Bưu điện với tài khoản mở tại các ngân hàng khác Mở rộng thời gian hoạt động của các máy ATM bưu chính 24/24, cải tiến dịch vụ bảo hiểm nhân thọ trọn đời với nhiều gói dịch vụ hấp dẫn theo thời gian, mức đóng bảo hiểm, thời điểm đóng bảo hiểm, cải tiến dịch vụ bảo hiểm nhân thọ trong đó tiền bảo hiểm được trả bằng một ngày nhất định cho người đóng bảo hiểm hoặc nhân thân nếu người đóng bảo hiểm chết trước thời điểm đó
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bưu chính Nhật Bản hợp tác với các nhà khai thác tư nhân để cùng phối hợp khai thác các dịch vụ thoả thuận mở rộng các dịch của máy ATM và máy phát tiền mặt, dịch vụ gửi tiền qua lại giữa tiết kiệm bưu chính và hệ thống ngân hàng tư nhân, mở rộng và kết nối mạng ATM với các mạng ATM của các ngân hàng nước ngoài, đáp ứng nhu cầu của khách quốc tế
Tại tất cả các bưu cục, văn phòng vùng và tại trụ sở chính đều có Uỷ ban xúc tiến khách hàng nhận trách nhiệm tiếp nhận và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng, trợ giúp khách hàng Bưu chính Nhật Bản rất năng động trong việc tìm kiếm tiếng nói chung với khách hàng để cung cấp dịch vụ tốt hơn
1.2.2 Hoạt động kinh doanh các dịch vụ Tài chính ở trong nước
1.2.2.1 Hoạt động kinh doanh các dịch vụ Tài chính Bưu chính của Bưu điện Việt Nam
Dịch vụ Tài chính Bưu chính tại Việt nam ra đời từ rất sớm, nhưng chính thức hoạt động kinh doanh vào năm 1947 :
- Năm 1947 giới thiệu dịch vụ Chuyển tiền Bưu chính
- Năm 1999 giới thiệu dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện
- Năm 2005 giới thiệu dịch vụ Bảo hiểm Bưu điện
Ngày 01/01/2008 thành lập Tổng công ty Bưu chính Việt Nam và đến ngày
16 tháng 11 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg về việc chuyển quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam từ Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam về Bộ Thông tin và Truyền thông, và đổi tên thành Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam kể từ ngày 01/01/2013
1746/QĐ-a) Các dịch vụ Tiết kiệm bưu điện và Chuyển tiền:
Bưu điện Việt Nam đã cung ứng với số lượng lớn và dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện, Chuyển tiền Bưu điện, nhận chi trả lương hưu và các dịch vụ hành chính công Các điểm bưu điện không chỉ được đặt ở các khu dân cư thuộc khu vực thành thị mà còn được đặt tại các xã (các điểm Bưu điện văn hóa xã), chúng đóng một vai trò quan trọng như một điểm cung cấp các dịch vụ tiết kiệm cho cá nhân khách hàng Cuối tháng 12/2012 khách hàng gửi 10.200 tỷ VNĐ Số dư tiết kiệm bưu điện mà Bưu điện Việt Nam huy động được như sau (bảng 1.1)
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 1.1: Số dư tiết kiệm của Bưu Điện Việt Nam
- Dịch vụ Chuyển tiền thường: Thư chuyển tiền được phát hành tại bưu cục,
người chuyển tiền gửi thư chuyển tiền bằng thư điện tử đến người nhận Người nhận có thể nhận thư chuyển tiền tại nhà và mang thư đến bưu cục để lấy tiền
- Dịch vụ chuyển tiền nhanh, chuyển tiền nhanh Paypost: Người chuyển tiền
sẽ quyết định cách thức trả tiền đến người nhận qua mạng on-line, Bưu điện sẽ chuyển tiền cho người nhận theo các hình thức mà người chuyển tiền đã chọn như: Trả tiền tại nhà người nhận, trả tiền tại bưu cục
Bảng 1.2: Doanh số dịch vụ chuyển tiền của Bưu điện Việt Nam
(ĐVT: Số phiếu, Tỷ VNĐ)
Dịch vụ
Cuối năm tài chính 2011 Cuối năm tài chính 2012
Số lượng giao dịch Số tiền
Số lượng giao dịch Số tiền
Chuyển tiền trong nước 7.341.585 272,688 6.822.844 269,733
(Nguồn: Ban Dịch vụ Tài chính bưu chính – Tổng Công ty Bưu Điện
Việt Nam năm 2012) b) Các dịch vụ khác:
Dịch vụ bảo hiểm bưu điện; dịch vụ thu hộ, chi hộ, Đồng thời trên cơ sở mạng on-line luôn được nâng cấp, tiết kiệm Bưu điện Việt Nam đã chuyển đổi và
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phát triển thành Ngân hàng Bưu điện Liên Việt triển khai nhiều dịch vụ tài chính ngân hàng hiện đại, đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền như các dịch vụ: Internet banking, Thẻ ghi nợ; IC Card (thay thế thẻ từ), chuyển tiền giữa tài khoản mở tại Bưu điện với tài khoản mở tại các ngân hàng khác; Cải tiến dịch vụ bảo hiểm nhân thọ với nhiều gói dịch vụ hấp dẫn theo thời gian, mức đóng bảo hiểm, thời điểm đóng bảo hiểm
Tại tất cả các bưu cục, điểm Bưu điện văn hóa xã đều nhận và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng, trợ giúp khách hàng Bưu chính Việt Nam đã dần chuyển mình, năng động trong việc tìm kiếm tiếng nói chung với khách hàng để cung cấp dịch vụ tốt hơn
Bảng 1.3: Doanh số kinh doanh dịch vụ khác của Bưu điện Việt Nam
(ĐVT: Giao dịch , Tỷ VNĐ)
Dịch vụ
Cuối năm tài chính 2011 Cuối năm tài chính 2012
Số lượng giao dịch Số tiền
Số lượng giao dịch Số tiền
Bưu điện tỉnh Cao Bằng đã triển khai kinh doanh tốt dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện, dịch vụ Chuyển tiền và các dịch vụ hành chính công khác Với mạng lưới các điểm giao dịch của Bưu điện tỉnh Cao Bằng là 189 điểm giao dịch Tại các điểm giao dịch Bưu điện đã cung cấp các dịch vụ tiết kiệm cho cá nhân khách hàng Cuối tháng 12/2012 khách hàng gửi của Bưu điện tỉnh Cao Bằng là 654,67 tỷ VNĐ Số
dư tiết kiệm bưu điện mà Bưu điện tỉnh Cao Bằng huy động được như sau: