Do vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn để thấy rõ thực trạng về lao động nữ nông thôn, từ đó đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy năng lực của họ t
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRƯƠNG THỊ NGUYỆT ÁNH
SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRƯƠNG THỊ NGUYỆT ÁNH
SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN TÖY
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng Các kết quả trong luận văn là trung thực, chƣa từng công bố ở bất kỳ một học vị nào khác
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đƣợc cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trương Thị Nguyệt Ánh
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo Trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh, các cơ quan, tổ chức huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo Sau Đại học trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh thuộc Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn Đặc biệt xin cảm ơn TS Trần Văn Túy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ cùng các thầy cô đã đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở LĐ-TBXH, Hội Liên hiệp phụ nữ, Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, Ủy ban nhân dân, Phòng Thống kê, Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Đồng Hỷ, Ủy ban nhân dân ba xã đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp cùng gia đình
đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trương Thị Nguyệt Ánh
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Kết cấu của luận văn 2
Chương 1: LAO ĐỘNG NỮ VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA 3
1.1 Những lý luận cơ bản về lao động nữ với phát triển kinh tế nông thôn 3
1.1.1 Những lý luận chung về giới 3
1.1.1.1 Một số khái niệm 3
1.1.1.2 Sự khác biệt về giới 4
1.1.2 Vị trí, vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế - xã hội 5
1.1.2.1 Vị trí của lao động nữ trong gia đình và xã hội 5
1.1.2.2 Vai trò lao động trong phát triển kinh tế - xã hội 7
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến lao động nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 9
1.1.3.1 Một số quan niệm, phong tục, tập quán ở Đông Nam Á và nước ta 9
1.1.3.2 Hạn chế của lao động nữ về trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ 9
1.1.3.3 Yếu tố về sức khỏe ảnh hưởng tới khả năng tiếp nhận thông tin 10
1.1.3.4 Điều kiện tiếp cận vốn đầu tư 11
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.3.5 Một số yếu tố về chủ quan 11
1.2 Các chính sách về lao động nữ trong phát triển nông thôn 12
1.2.1 Kinh nghiệm sử dụng lao động nữ nông thôn ở một số quốc gia 12
1.2.2 Thực trạng về vai trò của lao động nữ nông thôn Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội 13
1.2.2.1 Thực trạng lao động nữ nông thôn Việt Nam 13
1.2.2.2 Sự đóng góp của lao động nữ trong phát triển kinh tế - xã hội 16
1.2.3 Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với phụ nữ 20
1.3 Đặc điểm lao động nữ trong nông thôn và một số vấn đề đặt ra 23
1.3.1 Đặc điểm lao động nữ trong nông thôn 23
1.3.2 Một số vấn đề đặt ra đối với lao động nữ nông thôn 29
1.3.2.1 Sức khoẻ của lao động nữ 29
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Các vấn đề mà đề tài cần giải quyết 43
2.2 Phương pháp nghiên cứu 43
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 43
2.2.2 Phương pháp thu nhập thông tin 44
2.2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 44
2.2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 44
2.2.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 44
2.2.2.4 Phương pháp phân tích 44
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 45
2.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh quá trình sử dụng lao động 45
2.3.2 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất của hộ 45
2.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất của hộ 46
Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NỮ NÔNG THÔN HUYỆN ĐỒNG HỶ 47
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.1 Nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện đồng hỷ ảnh hưởng tới
lao động nữ nông thôn 47
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 47
3.1.1.1 Vị trí địa lý 47
3.1.1.2 Địa hình 47
3.1.1.3 Đất đai và thổ nhưỡng 48
3.1.1.4 Điều kiện khí hậu 49
3.1.1.5 Thủy văn 49
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 49
3.2 Thực trạng về sử dụng lao động nữ nông thôn huyện Đồng Hỷ 51
3.2.1 Tình hình lao động phân theo giới tính 51
3.2.2 Trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật của lao động huyện 52
3.2.2.1 Về trình độ văn hóa 52
3.2.2.2 Về trình độ chuyên môn kỹ thuật 54
3.2.3 Về việc làm của người lao động 55
3.2.3.1 Thời gian sử dụng lao động 55
3.2.3.2 Lao động có việc làm ở khu vực nông thôn huyện Đồng Hỷ 56
3.3 Lao động nữ trong các hộ điều tra 58
3.3.1 Lao động nữ trực tiếp tham gia sản xuất 58
3.3.2 Những đặc điểm của các nông hộ điều tra trong ba xã 60
3.3.3 Lao động nữ trong hoạt động kinh tế - xã hội 61
3.3.3.1 Lao động nữ trong sản xuất kinh tế 61
3.3.3.2 Lao động nữ trong hoạt động xã hội 65
3.3.3.3 Lao động nữ trong kinh tế hộ gia đình 67
3.3.3.4 Lao động nữ trong phân công công việc của nông hộ 68
3.3.3.5 Lao động nữ trong việc nắm nguồn lực của nông hộ 73
3.3.3.6 Lao động nữ trong việc tiếp cận thông tin 74
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.3.3.7 Lao động nữ trong việc quyết định sản xuất và quản lý tài chính
trong gia đình các hộ 76
3.3.3.8 Lao động nữ trong việc tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục 78
3.3.3.9 Lao động nữ trong việc tiếp cận các nguồn vốn 81
3.4 Nhân tố tác động tới lao động nữ trong nông thôn huyện Đồng Hỷ 82
3.4.1 Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân 82
3.4.2 Nhân tố ảnh hưởng đến kiến thức kỹ thuật của hộ 84
3.4.3 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của hộ 88
3.5 Những khó khăn của lao động nữ trong sản xuất 90
3.5.1 Các loại khó khăn chung 90
3.5.2 Các loại khó khăn trong quá trình sản xuất 91
Chương 4: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÕ VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN CỦA HUYỆN ĐỒNG HỶ 95
4.1 Quan điểm, định hướng và mục tiêu nâng cao vai trò và sử dụng lao động nữ nông thôn 95
4.1.1 Quan điểm, định hướng 95
4.1.2 Mục tiêu cụ thể 95
4.2 Một số giải pháp 96
4.2.1 Một số giải pháp chung 96
4.2.1.1 Giải pháp về nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề giới và bình đẳng giới đối với lao động nữ trong phát triển kinh tế - xã hội 96
4.2.1.2 Giải pháp về tạo môi trường thuận lợi để lao động nữ tiếp cận và sử dụng đối với các nguồn lực chủ yếu 97
4.2.2 Một số giải pháp cụ thể đối nông hộ 102
4.2.2.1 Giải pháp tháo gỡ khó khăn về điều kiện sản xuất của hộ 102
4.2.2.2 Giải pháp tháo gỡ khó khăn về hoạt động khuyến nông 104
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4.3 Kiến nghị 106
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 111
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
UNDP Chương trình phát triển của Liên hợp quốc
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Lao động nữ trong một số ngành, nghề 18
Bảng 1.2 Tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp ủy Đảng 18
Bảng 1.3 Tỷ lệ phụ nữ tham gia chính quyền các cấp 18
Bảng 1.4 Tỷ lệ phụ nữ tham gia quản lý doanh nghiệp 19
Bảng 2.1 Các hộ trong các xã nghiên cứu 43
Bảng 3.1 Sử dụng thời gian lao động nữ trong nông thôn của huyện năm 2012 55
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp về lao động có việc làm trong nông thôn năm 2012 57
Bảng 3.3 Tỷ lệ lao động nữ trực tiếp quản lý và tham gia sản xuất 58
Bảng 3.4 Các yếu tố dẫn tới giới nữ tham gia quản lý sản xuất 58
Bảng 3.5 Đặc điểm các nông hộ điều tra 60
Bảng 3.6 Lao động nữ trong ngành kinh tế 62
Bảng 3.7 Kết quả hoạt động của lao động nữ trong tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật 63
Bảng 3.8 Kết quả lao động nữ giúp nhau phát triển kinh tế 64
Bảng 3.9 Sử dụng lao động nữ trong công tác quản lý xã hội 66
Bảng 3.10 Thu nhập bình quân của hộ điều tra 67
Bảng 3.11 Sử dụng lao động nữ trong gia đình 71
Bảng 3.12 Sử dụng lao động nữ trong nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo 71
Bảng 3.13 Lao động nữ trong quyền sử dụng đất 73
Bảng 3.14 Lao động nữ với sự tiếp cận thông tin 74
Bảng 3.15 Lao động nữ trong việc ra các quyết định trong gia đình 76
Bảng 3.16 Mô tả biến trong mô hình hồi quy ảnh hưởng tới thu nhập 82
Bảng 3.17 Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân 83
Bảng 3.18 Mô tả biến trong mô hình hồi quy ảnh hưởng tới kiến thức kỹ thuật 86
Bảng 3.19 Phân tích nhân tố ảnh hưởng tới kiến thức kỹ thuật 87
Bảng 3.20 Mô tả biến ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư 88
Bảng 3.21 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của hộ 89
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 3.22 Những khó khăn của lao động nữ trong quá trình sản xuất 92
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu lực lƣợng lao động của huyện Đồng Hỷ chia theo
nhóm tuổi (%), năm 2012 51
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ lực lƣợng lao động nữ theo nhóm tuổi năm 2012 52
Biểu đồ 3.3 Trình độ văn hóa lao động trong nông thôn theo giới tính 53
Biểu đồ 3.4 Trình độ văn hóa lao động trong nông thôn theo giới tính 54
Biểu đồ 3.5 Trình độ chuyên môn kỹ thuật lao động nông thôn năm 2012 54
Biểu đồ 3.6 Trình độ chuyên môn kỹ thuật lao động nữ trong nông thôn 55
Biểu đồ 3.7 So sánh về mức độ vất vả của lao động trong hộ 70
Biểu đồ 3.8 Mức độ sử dụng dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe 78
Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ sử dụng các biện pháp KHHGĐ 79
Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ biết chữ của lao động nữ 80
Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ vay vốn của hộ điều tra 81
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lao động nữ huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với số lượng là 31.864 người chiếm gần 50% lực lượng lao động của cả huyện đã và đang tạo nên nhiều thay đổi về kết quả sản xuất và sự phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên,
sự bất bình đẳng giới vẫn phổ biến trong mọi mặt của đời sống, dường như sự đóng góp của họ chưa được ghi nhận tương xứng với vị trí và vai trò của họ
Để tháo gỡ những khó khăn mà lao động nữ nông thôn đang gặp phải trong lao động sản xuất, trong gia đình và xã hội thì phải làm gì? Đây là một vấn đề lớn được đặt ra Do vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn để thấy rõ thực trạng về lao động nữ nông thôn, từ đó đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy năng lực của họ trong sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Từ những yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Sử
dụng lao động nữ trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên"
2 Mục tiêu nghiên cứu
Khẳng định vị trí, vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Đồng Hỷ, tiến tới sự bình đẳng giới; Hệ thống hóa những cơ sở lý
luận và thực tiễn về vấn đề "giới"; vị trí, vai trò, khả năng và những đóng góp
của lao động nữ nói chung và lao động nữ nông thôn nói riêng trong phát triển kinh tế - xã hội; Đánh giá năng lực và những hoạt động của lao động nữ nông thôn trong phát triển kinh tế những năm qua; Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò và khả năng đóng góp của lao động nữ trong phát triển kinh tế
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nông thôn; Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của lao động
nữ nông thôn trong phát triển kinh tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng: Là lao động nữ hoạt động kinh tế trong các lĩnh vực ở nông
thôn phân theo điều kiện kinh tế: hộ giàu, hộ trung bình, hộ nghèo; Vai trò của giới trong các hoạt động kinh tế nông thôn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu sử dụng lao động nữ nông thôn
với năng lực và sự đóng góp của họ trong phát triển kinh tế hộ, các hoạt động
xã hội và gia đình Tìm và phát hiện các yếu tố ảnh hưởng tới việc tham gia
và việc sử dụng lao động nữ trong phát triển kinh tế (thuận lợi, khó khăn);
Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong 3 vùng đại diện của
huyện mỗi vùng 01 xã (vùng cao, vùng giữa và vùng thấp);
Thời gian: Các thông tin và tài liệu về tình hình kinh tế - xã hội, sự phát
triển của lao động nữ nói chung và lao động nữ nông thôn huyện Đồng Hỷ nói riêng được thu thập từ năm 2009 đến năm 2012, các thông tin về năng lực và
sự tham gia của lao động nữ nông thôn huyện Đồng Hỷ trong phát triển kinh
tế hộ chủ yếu khảo sát năm 2012 và dự báo đến năm 2015
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 4 chương, gồm:
Chương 1: Lao động nữ với vấn đề phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng về sử dụng lao động nữ trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp về sử dụng lao động nữ trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1 LAO ĐỘNG NỮ VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA 1.1 Những lý luận cơ bản về lao động nữ với phát triển kinh tế nông thôn
1.1.1 Những lý luận chung về giới
1.1.1.1 Một số khái niệm
Ở Việt Nam, khái niệm về "Giới" xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80 Sự
ra đời của khái niệm này làm rõ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trên cả khía cạnh sinh học và xã hội Là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, đề cập đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia: nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một xã hội cụ thể Hay "Giới" là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ giác độ sinh lý học Sự khác biệt này liên quan chủ yếu tới quá trình tái sản xuất nhằm duy trì, di truyền giống nòi, cụ thể là phụ nữ có thể mang thai, còn nam giới là một trong các yếu tố không thể thiếu được trong quá trình thụ thai "Giới" hay còn được gọi là giới tính, chỉ sự khác biệt giữa nữ giới và nam giới về mặt sinh học Sự khác biệt này được thể hiện bằng cấu tạo cơ thể, thể chất, chức năng sinh lý của mỗi giới đã được hình thành từ trong bào thai và tồn tại theo chu kỳ sinh học của con người Về chức năng của nữ và nam không thể thay thế cho nhau, nó là yếu tố bất biến về cả không gian lẫn thời gian Sự biến đổi tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Giới là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ, là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và nâng cao địa vị của phụ nữ trong xã hội
1.1.1.2 Sự khác biệt về giới
Bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được đối xử tùy theo nó là trai hay gái
Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của bố, mẹ Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình Sự khác biệt
về giới quy định thiên chức của họ trong gia đình và xã hội Lớn lên, bắt đầu
đi học, những tri thức xã hội cũng hướng chúng theo sự khác biệt về giới Các tác động của xã hội vô tình hay hữu ý đều làm tăng sự khác biệt về giới trong
xã hội Tuy nhiên, người ta lại thường lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích sự khác biệt về giới Các quan niệm rập khuôn và thói quen đã làm những điều mà xã hội chấp nhận dần dần trở thành thước đo hành vi và cũng
là chuẩn mực để đánh giá phẩm chất của mỗi giới
Người phụ nữ sống thiên hướng về tình cảm, họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm
mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới, cách thể hiện sự quan tâm cũng có sự khác biệt
Nam giới được coi là trụ cột gia đình, cứng rắn, mạnh mẽ và năng động hơn trong công việc Họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc
xã hội và ít bị ràng buộc hơn bởi con cái, gia đình Vì thế, đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội Quan hệ giới và các đặc trưng của giới có sự thay đổi cần phải bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức, hành vi của mọi người trong xã hội về giới và quan hệ giới Xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận với cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn, tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tế Có thể tính từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội, từ điều kiện
và cơ hội đi học tập, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, tiếp cận, điều kiện làm việc, vị trí trong gia đình và ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến
xã hội, phong tục tập quán cũng khác nhau
Theo nhiều nghiên cứu sự khác biệt về giới và giới tính là nguyên nhân
cơ bản gây nên bất bình đẳng trong xã hội Đến nay, trên thế giới đã dần đánh giá đúng mức vai trò của phụ nữ trong gia đình và trong xã hội, kết quả là thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới, nhằm giải phóng sức lao động và xây dựng sự văn minh của loài người Mặc dù vậy, mức độ bình đẳng có sự khác nhau đối với mỗi quốc gia
Về vai trò của giới được thể hiện trên các khía cạnh:
- Trong lao động sản xuất dưới mọi hình thức để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho gia đình, cho cộng đồng, xã hội
- Trong tái sản xuất sức lao động được thể hiện như: duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động Nó không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn
cả việc chăm lo, duy trì và phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như nuôi dạy con cái, chăm sóc và nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ
- Đối với cộng đồng: Những hoạt động nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực, nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng
1.1.2 Vị trí, vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Vị trí của lao động nữ trong gia đình và xã hội
Trên phương diện tổng thể, phụ nữ chiếm hơn 50% trong tổng số lao động; Số giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2 trong tổng sản lượng nông nghiệp
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế đã rút ra: Sự gánh vác nhiều công việc khác nhau, lao động nữ chiếm
tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao
Kết quả các công trình đã nghiên cứu của Đỗ Thị Bình, Trần Thị Vân Anh cho thấy: Lao động nữ tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình Một phần tư số hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ Đóng góp của phụ nữ ngày càng được khẳng định, song sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nước trên thế giới Sự bất bình đẳng thể hiện rõ nhất ở các vùng nông thôn, bị hạn chế về nhiều mặt: đời sống hàng ngày, điều kiện làm việc, địa vị trong xã hội Trong số hơn 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo đói thì có tới 70% là nữ Có ít nhất nửa triệu lao động nữ tử vong do các biến chứng về mang thai, sinh đẻ, các bệnh tật khác
Tạp chí phụ nữ Việt Nam nêu rõ: "Trên thế giới lao động nữ chiếm 13% trong Quốc hội, 14% trong cương vị lãnh đạo, quản lý hay cán bộ cao cấp của doanh nghiệp" Theo điều tra của Văn phòng Quốc tế về Việc làm thì lao động nữ nhận tiền lương ít hơn nam giới 25%
Tại Việt Nam, Ngân hàng thế giới nghiên cứu về "Bạo lực trên cơ sở giới" rút ra có tới 15% các gia đình điều tra có các bà vợ bị chồng đánh và 80% các bà vợ bị chồng mắng chửi Nếu so với các nước khác trong khu vực thì lao động nữ có điều kiện thấp hơn để tiếp cận về giáo dục, học tập, việc làm và tham gia vào quản lý
Ở nước ta với trên 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nước
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo Tạp Chí Nhà báo và Công luận cho thấy, hiện nay có tới 27,31% đại biểu nữ trong Quốc hội, tỷ lệ này cao nhất ở châu Á, là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới Có tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học 36,24%; thạc sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69%
Đó là minh chứng về những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước quan tâm đối với phụ nữ nước ta ngày càng phát triển Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, phụ nữ Việt Nam có nhiều cống hiến, hy sinh góp phần làm nên thắng lợi cách mạng của cả dân tộc Đối với công cuộc xây dựng đất nước hiện nay, vị trí của phụ nữ càng được thể hiện, là một trong các động lực thúc đẩy sự tiến bộ xã hội trên nhiều phương diện Lao động nữ là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và xã hội
Có thể nói: Với vị trí của người công dân, chức năng làm vợ, làm mẹ
và sức sáng tạo, vươn lên của phụ nữ được phát huy sẽ tạo nên và trở thành một trong những nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định, phát triển bền vững của mỗi gia đình, có sự đóng góp rất quan trong đối với cộng đồng, dân tộc và quốc gia
1.1.2.2 Vai trò lao động trong phát triển kinh tế - xã hội
Quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới trên mọi phương diện đã được ghi rõ trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946
Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn lực được sử dụng ngày càng cao và phát triển Lao động nữ trở thành nguồn lực, đóng góp ngày càng nhiều đối với nền kinh tế quốc dân Tỷ lệ lao động nữ tham gia các ngành kinh tế ngày càng nhiều Đặc biệt, trong nông thôn, sản xuất nông nghiệp lao động nữ đảm nhiệm ngày càng lớn hơn Việc trao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân đã cho phép kinh tế gia đình phát triển thuận lợi và đa dạng hơn, càng tạo điều kiện cho lao động nữ phát huy năng lực của mình
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trong nông thôn nhiều gia đình đã tìm kiếm thêm các ngành nghề khác
để có thu nhập cũng tăng lên, trong đó lao động nữ càng chủ động trong sắp xếp công việc ruộng vườn, chăm lo con cái làm cho đời sống gia đình được cải thiện Lao động nữ luôn là người đóng có vai trò then chốt trong gia đình
về khả năng sản xuất và tái sản xuất Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển Lao động
nữ ngày càng chứng tỏ vai trò chủ yếu trong nền kinh tế, trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn:
- Trong lao động sản xuất: Lao động nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho gia đình Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết quả làm việc của lao động nữ Thế nhưng họ lại có rất ít hoặc không có quyền sở hữu trong gia đình Đây là sự phân biệt đối xử đối với lao động nữ ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, nhất là ở các nước, vùng, miền còn kém phát triển
Không chỉ tham gia vào lao động sản xuất góp phần vào thu nhập của gia đình, người phụ nữ phải đảm nhận chức năng, thiên chức của một người
vợ, người mẹ Nhiều công việc không tên lại mà người phụ nữ đảm nhận như
là mặc nhiên nhưng không được trả lương, hoàn một phần tiền công, cho dù các công việc đó có ý nghĩa rất quan trọng đến sự tồn tại, phát triển của gia đình cũng như xã hội, người phụ nữ đảm đương là chủ yếu Hầu hết các việc nội trợ như lo cơm ngon, canh ngọt cho gia đình, chăm sóc dạy bảo con cái là
mà người phụ nữ lại là người chăm sóc, người thày dạy dỗ đầu tiên bằng sự
nỗ lực, hết mực yêu thương
- Trong sinh hoạt cộng đồng: Lao động nữ tham gia hầu hết các hoạt động diễn ra ở xóm, làng, thôn, bản như: việc họ, việc làng góp phần giữ gìn và phát triển giá trị cộng đồng
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thực tế cuộc sống và đóng góp của lao động nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình, trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong lịch sử phát triển của loài người Lao động nữ cùng một lúc đóng nhiều vai trò cả trong gia đình và xã hội, vì thế nam giới cần có sự chia sẻ, thông cảm, xã hội cũng cần có những trợ giúp để vai trò của họ được thể hiện
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến lao động nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
1.1.3.1 Một số quan niệm, phong tục, tập quán ở Đông Nam Á và nước ta
Sau khi nghiên cứu ở một số nước ở Đông Nam Á có sự tương đồng về địa lý, phương thức sản xuất và một số phong tục, tập quán với nước ta, có thể tóm tắt ở một số ý như sau: Đối với lao động nữ trước hết phải chăm sóc việc gia đình, con cái, việc nội trợ luôn luôn là trách nhiệm của họ Quan niệm này
đã ăn sâu và tiềm tàng ở nước ta cũng như ở các nước Đông Nam Á từ nhiều thập kỷ Quan niệm trọng nam khinh nữ đã kìm hãm tài năng, sự sáng tạo của người phụ nữ, kìm hãm sự cống hiến của họ cho gia đình và xã hội Gánh nặng mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai của họ Đây là trở ngại lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản xuất kinh doanh và các hoạt động xã hội Chính sự tồn tại của những quan niệm, hủ tục trên đã khiến nhiều chị em trở nên không mạnh bạo làm ăn, không năng động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội Như vậy quan niệm về giới, sự bất bình đẳng nam nữ và phong tục tập quán đã là một nguyên nhân cơ bản cản trở sự tiến bộ và vai trò của lao động nữ trong phát triển kinh tế
1.1.3.2 Hạn chế của lao động nữ về trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học
kỹ thuật của lao động nữ
Trong nông thôn nói chung và nhất là miền núi các phương tiện thông tin có nhiều hạn chế, nên lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin khoa
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
học liên quan đến kiến thức, phát triển sản xuất và chăn nuôi, trồng trọt gặp nhiều khó khăn Dành thời gian sản xuất và chăn nuôi, trồng trọt là chủ yếu, người phụ nữ có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội là rất ít Phần lớn thời gian còn lại của họ dành cho công việc của gia đình Vì vậy, lao động nữ có nhiều hạn chế về chuyên môn, kỹ thuật và sự hiểu biết xã hội Với một số công trình nghiên cứu cho thấy: phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật là khoảng 6%, còn ở nam giới tỷ lệ lớn hơn là khoảng 10% Đối với Việt Nam, theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ chưa qua đào tạo tương đối cao chiếm tới gần 90% tổng số lao động chưa qua đào tạo của cả nước; có khoảng 0,63% nữ công nhân kỹ thuật có bằng cấp, ở nam giới là 3,47% Tỷ lệ lao động nữ có trình độ đại học và trên đại học chỉ là 0,017%, của nam là 0,078% Như vậy, trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp của lao động
nữ thấp hơn so với nam giới quá lớn, số lao động nữ làm công ăn lương cũng thấp hơn nam giới; Mức lương trung bình chỉ được 72% mức lương so với nam Từ những lý do trên hiệu quả công việc và năng suất lao động giới nữ thấp hơn nam giới
1.1.3.3 Yếu tố về sức khỏe ảnh hưởng tới khả năng tiếp nhận thông tin
Do đặc thù của nữ giới về sức khỏe, thời gian làm việc mà ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh Với đặc thù vừa lao động nặng vừa phải thực hiện thiên chức của mình là mang thai, sinh đẻ, cùng với điều kiện sinh hoạt khó khăn đã làm cho sức khỏe của họ bị giảm sút, nó còn ảnh hưởng lớn đến vai trò của lao động người phụ nữ trong gia đình
Từ việc thiếu thông tin đã gây ra khó khăn trong sản xuất kinh doanh, đồng thời còn hạn chế về tầm nhận thức, hiểu biết xã hội Thực tế có nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân nói đến việc tiếp xúc với báo chí như là chuyện xa vời, có chăng hình thức thông tin như truyền hình cũng ở
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
mức độ rất hạn chế, do đảm nhận công việc hàng ngày rất nhiều, chiếm gần toàn bộ thời gian của họ
Trên những đặc điểm, vai trò quan trọng của lao động nữ trong gia đình
và xã hội, đòi hỏi xã hội và từng gia đình cần có sự quan tâm sâu sắc nhiều hơn nữa, trên nhiều phương diện khác nhau
1.1.3.4 Điều kiện tiếp cận vốn đầu tư
Trong nông thôn, lao động nữ muốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh gặp phải rất nhiều khó khăn về vốn Vốn cho sản xuất ảnh hưởng rất lớn đến lao động của nữ trong phát triển kinh tế Vốn được tích lũy trong các hộ nông dân thường không nhiều, nên phải vay vốn từ các tổ chức xã hội hoặc cá nhân Quyền quyết định việc vay, sử dụng vốn vay thường do người chồng hay chủ hộ quyết định Thông thường giới nữ không có tài sản thế chấp, nam giới đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do vậy điều kiện để tiếp cận nguồn vốn tín dụng là rất ít và khó khăn Thị trường vốn tín dụng ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa hoạt động chưa đều khắp, cơ chế vay vốn chưa thông thoáng, nhiều thủ tục mặc dù đến nay đã có sự đổi mới Một
số nơi còn có tình trạng một vài người đứng đại diện vay lại của số đông các nông hộ, số tiền được vay của NHCS để từng hộ phát triển sản xuất, nay về một nhóm người đó, nhiều trường hợp không được đầu tư đúng mục đích, sản xuất không được phát triển
1.1.3.5 Một số yếu tố về chủ quan
Người phụ nữ ở nước ta nói chung, phụ nữ trong nông thôn nói riêng cho đến nay, vẫn còn nhiều người quan niệm nặng nề về vai trò của mình trong gia đình về việc nội trợ là chính, như là sự mặc định, người đàn ông làm những việc khác to lớn hơn, họ ít chia sẻ với người đàn ông Trong khi đó, người phụ nữ vẫn phải đảm đương việc nước với đầy đủ tinh thần, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình Như vậy, toàn bộ công việc gia đình và sản xuất
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
được đặt cả lên đôi vai người phụ nữ, dẫn tới không có điều kiện, thời gian chăm sóc về sức khỏe, sắc đẹp cho chính bản thân Vô hình họ đã đánh mất dần vai trò của mình ở gia đình, trong xã hội
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định lao động nữ có vai trò rất quan trọng sự phát triển kinh tế, xã hội Tuy còn nhiều nguyên nhân về yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng tới lao động nữ, nhất là lao động nữ trong nông thôn Với sự phát triển chung của xã hội loài người, phụ nữ nói chung, lao động nữ nông thôn nói riêng sẽ có nhiều cơ hội thuận lợi để khẳng định vai trò của mình trong phát triển kinh tế, xã hội, tiến tới xóa bỏ sự bất bình đẳng với nam giới
1.2 Các chính sách về lao động nữ trong phát triển nông thôn
1.2.1 Kinh nghiệm sử dụng lao động nữ nông thôn ở một số quốc gia
Sau khi nghiên cứu về phụ nữ nói chung, lao động nữ nói riêng ở một
số quốc gia như Trung Quốc có dân số nhiều nhất thế giới, Ấn Độ và một số nước kém phát triển như Băngladet, Cămpuchia …có thể rút ra một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, lao động nữ trong nông thôn đều chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động nói chung ở hầu hết các nhóm tuổi
Ở Băngladesh có tới gần 68% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động, trong khi đó phụ nữ thành thị có gần 30%, với nhóm tuổi phổ biến
từ 30 - 49 Ở Trung Quốc lao động trong nông thôn nhiều nhất ở độ tuổi từ
20 - 29, tiếp theo là nhóm tuổi 30 - 39 Họ thường lao động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, tham gia lao động trong các nhà máy đang tăng lên tương đương với số phụ nữ làm việc trong lĩnh vực dịch vụ Trong ngành công nghiệp tập trung vào một số ngành như: May mặc chiếm gần 1/5 số lượng phụ
nữ đang lao động trong lĩnh vực công nghiệp Tỷ lệ lao động nữ nông thôn
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tham gia thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng tăng lên do không
có đất sản xuất, sức lao động còn nhưng thiếu việc làm ở khu vực quốc doanh
và do thiếu sự đào tạo ngành nghề, chuyên môn, kỹ thuật
Thứ hai, trình độ chuyên môn, kỹ thuật của lao động nữ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của
Nhìn chung, trình độ chuyên môn, kỹ thuật của lao động nữ nông thôn
ở các nước đang phát triển còn thấp có tới 31,6% lao động nữ không được học hành; chỉ có hơn 5% học xong phổ thông, nên khó tiếp thu tiến bộ kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi và các kiến thức khác Phần lớn họ tiếp thu thông qua sự
tự học hỏi, từ gia đình, bè bạn Đây là một trong những thách thức lớn nhất trong việc tạo nhiều việc làm cho lao động nữ ở nông thôn
Thứ ba, sự bất bình đẳng giới còn mang tính phổ biến
Cội nguồn tạo ra bất bình đẳng giới trong tiến trình phát triển của xã hội kể từ xưa đến nay, xuất phát từ trình độ học vấn của lao động nữ còn thấp,
nó tương ứng với số ít phụ nữ lao động nữ đủ khả năng, điều kiện làm việc ở
vị trí có thu nhập cao Song song với trình độ học vấn, một nguyên nhân quan trọng là vẫn còn tồn tại định kiến của xã hội về sự phân biệt đối xử với phụ
nữ không chỉ ở một vài quốc gia ở các khía cạnh đề bạt, cất nhắc vị trí cao, quan trọng, nâng lương, giảm biên chế của cơ quan hoặc các Công ty
Phấn đấu bình đẳng giới, nâng cao vai trò, vì sự tiến bộ của phụ nữ nói chung và đối với lao động nữ trong nông thôn là việc làm hết sức cần thiết, không chỉ một quốc gia mà nó có tính toàn cầu
1.2.2 Thực trạng về vai trò của lao động nữ nông thôn Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội
1.2.2.1 Thực trạng lao động nữ nông thôn Việt Nam
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Để khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới, tạo cơ hội việc làm, thu nhập, tiền lương và các tiêu chuẩn lao động, quan hệ lao động có lợi cho phụ
nữ nhằm phát huy vai trò sáng tạo của lao động nữ, bảo vệ sức khỏe cho cả
mẹ và con để duy trì phát triển nguồn nhân lực trong tương lai, Bộ luật Lao động năm 2012 đã quy định cụ thể thêm nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với lao động nữ trong việc bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới không chỉ trong tuyển dụng, sử dụng mà còn cả trong đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác Việc tăng thời gian nghỉ hưởng chế
độ thai sản trước và sau khi sinh con lên 06 tháng, lao động nữ có thể nghỉ trước khi sinh không quá 2 tháng là sự cần thiết nhằm bảo đảm sức khỏe của lao động nữ và trẻ sơ sinh Hiện tại, Việt Nam đang nằm trong số những quốc gia có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng cao nhất nhì thế giới, đặc biệt là suy dinh dưỡng thể thấp còi (hiện tại toàn quốc còn trên 31,8%) Một trong số các nguyên nhân là do trẻ em không được bú sữa mẹ hoàn toàn trong
6 tháng đầu Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2010, chỉ có hơn 18% trẻ em Việt Nam được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời Do vậy, Bộ luật Lao động quy định về thời gian nghỉ thai sản 6 tháng nhằm đáp ứng khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Nhi đồng của Liên Hiệp Quốc (UNICEF) về việc “nuôi con từ 0- 6 tháng tuổi hoàn toàn bằng sữa mẹ” Ngoài ra, Bộ luật Lao động còn quy định quyền đi làm việc sớm sau khi đã nghỉ thai sản ít nhất là 04 tháng Có thể nói đây là những chính sách mới đã được cân nhắc một cách kỹ lưỡng trên nhiều khía cạnh khác nhau, không chỉ nhằm bảo đảm mục tiêu bình đẳng thực chất mà còn nhằm thúc đẩy, phát huy vai trò của phụ nữ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Là một nước có nền công nghiệp chưa phát triển, Việt Nam hiện có khoảng gần 80% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó lao động nữ chiếm 50%, nhưng họ là nhóm người yếu thế và thiệt thòi nhất
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trong xã hội, không được như đội ngũ công nhân, trí thức, phụ nữ nông thôn
bị hạn chế bởi trình độ nhận thức Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia gần như toàn bộ các khâu trong sản xuất nông nghiệp về: cây, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch và chế biến Mấy năm gần đây, lực lượng lao động nữ lại tăng lên một cách đáng kể; Nếu chỉ tính số lao động trong sản xuất nông nghiệp thì từ năm 1990 nước ta có khoảng 11 triệu người đến năm 1995 số lao động nữ tăng lên hơn 16,5 triệu người, trong khi số lao động nam tăng không đáng kể (1990: 10 triệu người, 1995: 13 triệu) [6]
Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao động nữ nông thôn những năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau đây:
- Một là, do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng năm nước ta có khoảng 80 - 90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó, lao động nữ chiếm 55% [7]
- Hai là, do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, xắp xếp lại cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp
bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc
- Ba là, do sự tan rã của thị trường Đông Âu, Nga vào đầu những năm
90, khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất thị trường tiêu thụ hàng hóa, đa số lao động nữ làm nghề này lại chuyển về làm nông nghiệp
- Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông
- Bên cạnh đó, dòng người từ nông thôn ra thành phố làm việc phần đông là nam giới Phụ nữ, nhất là những người có gia đình, do truyền thống
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
gắn chặt với các công việc gia đình, chăm lo cho con cái và do trình độ học vấn, năng lực, hiểu biết thấp, khả năng do điều kiện, hoàn cảnh hạn chế đã ở lại nông thôn thay chồng con làm các khâu trong sản xuất nông nghiệp và quản lý gia đình
1.2.2.2 Sự đóng góp của lao động nữ trong phát triển kinh tế - xã hội
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, lực lượng lao động phụ
nữ đã có những đóng góp to lớn và sự hy sinh cao cả cho độc lập tự do của Tổ quốc, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, xây dựng đất nước Trong đánh giặc người phụ nữ là những anh hùng, bất khuất, mưu trí, dũng cảm Trong đời sống họ lao động cần cù, đảm đang, năng động, sáng tạo, thủy chung, nhân hậu, vị tha Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, các tầng lớp phụ nữ không phân biệt già, trẻ, dân tộc, tôn giáo đã lập nên biết bao kỳ tích anh hùng và những chiến công chói lọi được ghi vào trang sử vàng dân tộc Phụ nữ Việt Nam được Đảng, Bác Hồ tặng: Phụ nữ Việt Nam anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang
Phụ nữ trở thành lực lượng lao động quan trọng trong việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ đã đoàn kết, sáng tạo tích cực trong lao động sản xuất, chăm lo học tập nhằm nâng cao kiến thức về nhiều mặt, vươn lên trong làm kinh tế, tham gia công tác xã hội nhiều hơn, chu đáo trong việc xây dựng tổ ấm gia đình, ngày càng có nhiều đóng góp cho xã hội
Vấn đề giải phóng phụ nữ luôn gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng bảo vệ tổ quốc Quyền của phụ nữ đã ghi rõ và được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992 có sửa đổi năm 2001: "Công dân nam, nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình Nhà nước
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội"
Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập thống nhất tổ quốc, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường trong chiến đấu, dũng cảm đảm đang trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Ngày nay với hơn 50% lực lượng lao động xã hội, phụ nữ Việt Nam đã và đang tham gia tích cực trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội, góp phần đáng kể vào những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh"
Hiện nay, lao động nữ tham gia vào tất cả các hoạt động của xã hội, với đặc tính riêng có của họ là khéo léo, chịu khó Vì vậy, tỷ lệ nữ tham gia vào các hoạt động sản xuất nông lâm thủy sản và dịch vụ nhà hàng, khách sạn, dịch vụ, thương mại đối cao
Sau 5 năm thi hành Luật Bình đẳng giới, điều đáng ghi nhận nhất là Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua, với sự đóng góp toàn diện của phụ
nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội Ví dụ, trong lĩnh vực chính trị, mặc dù tỷ lệ nữ ĐBQH và nữ đại biểu HĐND chưa đạt 30% như chỉ tiêu đề ra nhưng Việt Nam vẫn nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu dân cử cao trên thế giới và trong khu vực (đứng thứ 43/143 nước trên thế giới và đứng thứ 2 trong 8 nước ASEAN có nghị viện) Trong lĩnh vực kinh
tế, tỷ lệ phụ nữ tham gia điều hành, quản lý doanh nghiệp đạt trên 20% - là tỷ
lệ khá cao trong so sánh quốc tế Năm 2012, số lao động nữ được giải quyết việc làm mới chiếm gần 49% số lao động được giải quyết việc làm mới; lao động nữ tham gia xuất khẩu lao động chiếm khoảng 33,5% tổng số lao động xuất khẩu; tuyển mới học nghề, học sinh nữ đạt 44%, trong đó tuyển
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
mới cao đẳng, trung cấp nghề đạt 36% tuyển mới dạy nghề cả nước Đây là nguồn lực đóng góp rất quan trọng cho sự nghiệp phát triển KT - XH đất nước
1 Khách sạn, nhà hàng 72,9 7.Công nghiệp chế biến 49,6
2 Giáo dục - đào tạo 70,1 8 Khoa học công nghệ 40,7
3 Nông nghiệp, lâm nghiệp 65,0 9 Dịch vụ công cộng 52,14
4 Y tế 59,2 10 Công nghiệp khai thác mỏ 35,7
6 Tài chính tín dụng 55,2 12 Kinh doanh, dịch vụ 29,2
Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2012
Đóng góp của lao động nữ Việt Nam còn được thể hiện qua tỷ lệ phụ
nữ tham gia trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội thể hiện trong hệ thống lãnh đạo như sau:
Bảng 1.2 Tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp ủy Đảng
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 1.4 Tỷ lệ phụ nữ tham gia quản lý doanh nghiệp
2 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 7,13
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2012
Mặt khác, do nhu cầu cuộc sống thúc bách, lại được sự quan tâm, định hướng của Đảng, chị em phụ nữ đã trở nên năng động, mạnh dạn mở rộng kinh doanh, phát triển các ngành nghề mới để tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình Bên cạnh việc tham gia trong mọi hoạt động của đời sống xã
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hội, người phụ nữ Việt Nam còn luôn cố gắng làm tròn trách nhiệm làm vợ, làm mẹ gánh vách công việc nội trợ gia đình Trong hoàn cảnh sống còn thiếu thốn đặc biệt đối với đông đảo phụ nữ nông thôn họ phải lo lắng cho gia đình
đủ cơm ăn, con cái được học hành và khỏe mạnh Bên cạnh đó người phụ nữ còn là người giữ gìn truyền thụ những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta từ thế hệ này sang thế hệ khác, gia đình Việt Nam đến nay vẫn giữ được truyền thống tốt đẹp như tình nghĩa thủy chung giữa vợ và chồng, lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, lòng kính trọng, biết ơn người già, sự đùm bọc tương trợ nhau trong họ hàng, làng xóm, ở đây có công lao to lớn của người phụ nữ, người mẹ trong công việc dạy dỗ con cái
Tóm lại, lao động nữ nói chung và lao động nữ nông thôn nói riêng đã đóng góp rất quan trọng cho gia đình và xã hội Lao động nữ ngày nay đã được phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực và ngày càng thoát ly dần công việc gia đình, đã và đang tham gia hầu hết các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
xã hội, ngoại giao Phụ nữ chiếm gần 50% lực lượng lao động xã hội, đóng góp to lớn cho sự phát triển toàn diện của đất nước Để mở rộng cơ hội tuyển dụng đối với lao động nữ, cần bảo đảm thực hiện nghiêm túc, triệt để Luật Bình đẳng giới, tạo mọi cơ hội ngang nhau để phụ nữ được học tập, đào tạo nâng cao trình độ, chuyên môn kỹ thuật có đủ điều kiện tham gia tuyển dụng vào mọi lĩnh vực lao động xã hội Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử trái pháp luật gây cản trở đối với phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng
1.2.3 Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với phụ nữ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người" Người cho rằng, muốn giải phóng phụ
nữ, trước hết phải giải phóng họ ra khỏi sự trói buộc của tư tưởng trọng nam khinh nữ, ra khỏi sự bất công trong gia đình mình cũng như xã hội, đồng thời nâng cao vị thế của họ trong xã hội Thế nên, Người đã yêu cầu các ngành,
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
các địa phương phải tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, để phụ nữ phát huy quyền và khả năng công dân của mình
Chính vì thế, từ mục tiêu nam nữ bình quyền trong Chính cương vắn tắt
và Sách lược vắn tắt (năm 1930) đến khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra đời, trong Hiến pháp đầu tiên (năm 1946) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo biên soạn cũng đã ghi rõ: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện", thể hiện quyết tâm và bản chất ưu việt của chế độ ta trong cuộc đấu tranh xóa bỏ những áp bức, bất công trong xã hội
Điều 24 Hiến pháp năm 1954 nêu: "Phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng với nam giới trong mọi lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá và
xã hội" Hồ Chủ Tịch đã nói: "Phải đặc biệt chú ý đến sức lao động nữ, phụ
nữ là đội quân rất đông, phải giữ gìn sức khỏe cho họ để chị em tham gia lao động sản xuất được tốt" [14] Điều 63 Hiến pháp năm 1992 khẳng định lại quan điểm này: "Nam giới và phụ nữ có quyền bình đẳng về mọi phương diện: đời sống, chính tri, văn hoá, xã hội và gia đình ", " Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ về mọi mặt không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ, các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ"
Tiếp tục kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và thực hiện không ít quyết sách mang tính chiến lược đối với vấn đề phụ nữ như: Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ký Công ước loại trừ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ Ngay từ năm 1984, Ban bí thư Trung ương Đảng khóa V đã ban hành chỉ thị 44/CT-TƯ "Về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ"; Nghị quyết 04/NQ-TƯ ngày 12/4/1993
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
của Bộ Chính trị "Về đổi mới và tăng cường vận động phụ nữ trong tình hình mới"; Chỉ thị 37/CT-TƯ ngày 16/5/1994 của Ban bí thư Trung ương Đảng khóa VII "Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới" Năm
1995, tại Hội nghị lần thứ IV về phụ nữ của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc; Các quốc gia đã nhất trí thông qua Cương lĩnh hành động
vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010 nhằm thúc đẩy sự tiến bộ và tăng cường quyền lực cho phụ nữ trên toàn thế giới Mỗi quốc gia xây dựng Chiến lược của nước mình nhằm thực hiện Cương lĩnh Bắc Kinh Tại Hội nghị Bắc Kinh, Chính phủ Việt Nam đã công bố Chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 với 10 mục tiêu Tiếp đó, ngày 21/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001 -
2010 với mục tiêu là: nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ; Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tháng 4/2011 cũng đã khẳng định: Đối với phụ nữ thực hiện tốt pháp luật và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn, có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo
và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ làm tốt nhiệm vụ người vợ, người mẹ, xây dựng gia đình hạnh phúc
Đặc biệt là Quyết định số 251 ngày 9/3/1996 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển Nông thôn về việc thành lập "Ban vì sự tiến bộ của phụ
nữ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn", chương trình hành động của Ban gồm 7 mục tiêu:
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Tạo việc làm, tăng thu nhập cho phụ nữ
- Nâng cao vai trò, vị trí của phụ nữ trong việc tham gia vào bộ máy lãnh đạo, tư vấn và ra quyết định
- Tạo điều kiện cho phụ nữ bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục, nâng cao trình độ của phụ nữ về mọi mặt
- Cải thiện đời sống và việc làm, tăng cường sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ em
- Phát huy vai trò của phụ nữ trong quản lý môi trường và nguồn lực tự nhiên
- Xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc
- Nâng cao năng lực hoạt động của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp, các ngành
Cùng với phụ nữ cả nước, phụ nữ nông thôn đang góp sức lực, trí tuệ cho phát triển kinh tế - xã hội của nước nhà Sự ra đời của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ đã giúp đỡ, khuyến khích động viên phụ nữ thực hiện tốt vai trò,
vị trí của mình
1.3 Đặc điểm lao động nữ trong nông thôn và một số vấn đề đặt ra
1.3.1 Đặc điểm lao động nữ trong nông thôn
Nguồn lao động của phụ nữ trong nông thôn có ảnh hưởng rất lớn tới
sự phát triển xã hội cũng như gia đình, nó được thể hiện ở cả hai yếu tố về thể chất và tinh thần trong quá trình lao động sản xuất, tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho chính gia đình của họ và xã hội nói chung Chất lượng nguồn lao động của phụ nữ nói chung, của phụ nữ trong nông thôn nói riêng có đặc điểm riêng, khác biệt so với nam giới, tập trung thể hiện trên các mặt chủ yếu: Các nghiên cứu gần đây cho thấy, lao động nữ nông thôn nước ta có một số đặc điểm sau:
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thứ nhất, lao động nữ là lực lượng đông đảo nhất trong cơ cấu dân cư,
cơ cấu lao động ở nông thôn; là nạn nhân của những hủ tục, tập quán truyền thống lạc hậu, của tệ phân biệt đối xử trọng nam, khinh nữ vẫn tồn tại thâm căn cố đế trong xã hội nông thôn; là người gánh chịu nặng nề nhất những mất mát, tai họa do hậu quả của các cuộc chiến tranh mấy chục năm qua; vừa là người sản xuất nuôi sống gia đình, vừa là người nội trợ trong gia đình, vừa là người tham gia các hoạt động quản lý, hoạt động cộng đồng; là người sinh đẻ, chăm sóc con cái, người già, người ốm trong gia đình; trình độ học vấn thấp,
sự hiểu biết về kinh tế - xã hội hạn chế, ít có điều kiện tiếp cận và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, khoa học và công nghệ; ít có điều kiện thụ hưởng các giá trị văn hóa tinh thần; bất bình đẳng với nam giới trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển kinh tế gia đình, cũng không phải là người quyết định những vấn đề quan trọng của gia đình
Thứ hai, lao động nữ nông thôn là dạng lao động đa năng (có thể đồng
thời làm tốt ở nhiều lĩnh vực: sản xuất, kinh doanh, nội trợ, nuôi dạy con, chăm sóc người già, người ốm, tham gia quản lý, lãnh đạo xã hội và cộng đồng…); có mặt ở mọi loại hình lao động trong đời sống xã hội nông thôn; Lao động nữ vượt trội về sự dẻo dai, bền bỉ, chăm chỉ, cần cù, kiên nhẫn; nhiều sáng tạo, năng động, khéo léo và luôn tuân thủ, phục tùng các nguyên tắc, các qui định của người sử dụng lao động và của đặc trưng ngành nghề; phù hợp với những việc làm ổn định có thu nhập chắc chắn, đều đặn
Thứ ba, lao động nữ nông thôn có nhiều bất lợi không chỉ so với lao
động nam giới mà cả lao động nữ ở các đô thị, các vùng công nghiệp Mặc dù, đối với lao động nữ thời gian lao động kéo dài, cường độ lao động cao, môi trường lao động nhiều ô nhiễm, môi trường văn hóa thấp kém… nhưng nhìn chung thu nhập của họ thường thấp, không ổn định, bị phân biệt đối xử, chịu
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhiều áp lực và thường không được bảo hiểm Hơn thế, trong điều kiện mở cửa và hội nhập, do tính chất thường phải gắn liền với gia đình của lao động
nữ nông thôn nên họ đã bỏ lỡ nhiều cơ hội và thời cơ để tìm kiếm việc làm có thu nhập cao hơn ở các đô thị hay các thị trường lao động quốc tế
Thứ tư , vị thế chính trị và xã hội của phụ nữ nông thôn
Tiến bộ rõ rệt đạt được trong việc tiếp cận các phương tiện y tế, mang lại lợi ích trực tiếp cho phụ nữ vì phụ nữ cần dịch vụ y tế hơn nam giới Tuy nhiên, phụ nữ vẫn còn bị thiệt thòi ở những vùng xa xôi, hẻo lánh và đối với những phụ nữ nghèo không đủ tiền trả các dịch vụ mới xuất hiện trong thời kỳ cải cách kinh tế Nhu cầu về dịch vụ y tế của phụ nữ cao hơn, vì vai trò sinh sản và việc họ dễ bị nhiễm các bệnh do sinh sản gây ra, có nghĩa là tình trạng thiếu dịch vụ y tế gây ảnh hưởng lớn hơn đối với phụ nữ Chi phí dịch vụ, việc thực hiện chương trình miễn phí dịch vụ kém hữu hiệu và cơ chế phân bổ ngân sách không công bằng dẫn đến bất công trong việc tiếp cận y tế có chất lượng Chi phí dịch vụ này thường cao hơn khả năng chi trả của gia đình nghèo nhất; họ có thể không sử dụng dịch vụ y tế phải kê đơn và từ chữa cho bản thân và con cái
Các vấn đề y tế phổ biến đối với phụ nữ dân tộc thiểu số và gia đình họ
là bệnh sốt rét, suy dinh dưỡng và lây nhiễm do bệnh viêm hô hấp và phụ khoa Điều đó dẫn đến tỷ lệ chết của bà mẹ, các bệnh sản phụ và tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em cao Với những gia đình thiếu nguồn lực, phụ
nữ thường được ăn ít hơn nam giới Mặc dù trên 50% các gia đình sử dụng các phương tiện tránh thai hiện đại, một trong những nguy cơ đối với sức khỏe của phụ nữ là họ thường hay dùng các phương tiện tránh thai bằng dụng
cụ tử cung và kế hoạch hóa gia đình (nạo, phá thai) Theo ước tính có khoảng 40% phụ nữ đã nạo, phá thai , mức cao nhất trên thế giới (2,5 ca/1 phụ nữ)
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Những vẫn đề mới về vấn đề sức khỏe phụ nữ xuất hiện khi nhận thức về bạo lực trong gia đình và mất an ninh tăng lên ở nhiều vùng nông thôn, khi vấn
đề sử dụng bao cao su còn chưa phổ biến và việc sử dụng thuốc tránh thai là một vấn đề quan trọng thì rủi ro về HIV/AIDS vẫn còn tăng Cuộc chiến chống HIV/AIDS gắn liền với quyền lực của phụ nữ Bạo lực gia đình rõ ràng
là một vấn đề sức khỏe đối với phụ nữ
Phụ nữ không gặp trở ngại chính thức để tham gia vào quá trình bầu cử Mặc dù số phụ nữ được bầu vào các chức vụ ở cấp địa phương ngày càng tăng, song số đại biểu Quốc hội là nữ vẫn còn thấp Phụ nữ ít có đại diện tham gia các cơ quan quyết định chiến lược như các ban của Đảng Nhìn chung, vai trò quyết định chính trị của phụ nữ thấp
Sự tham gia vào các hoạt động kinh tế và các quyền pháp lý: Phụ nữ tham gia nhiều trong lĩnh vực nông nghiệp, ở đó họ có thể tham gia nhiều thời gian hơn so với nam giới trong việc canh tác, chăn nuôi, chế biến nông sản và bán các nông sản, nhưng họ lại ít được tiếp cận với các dịch vụ khuyến nông Từ năm 1993, số nam giới làm nông nghiệp giảm và số lao động nông nghiệp là nữ tăng Rõ ràng là các doanh nghiệp phi nông nghiệp ngày càng hấp dẫn lực lượng lao động hơn, phụ nữ bị tụt hậu phải làm việc ở lĩnh vực nông nghiệp kém năng động hơn
Các cơ hội việc làm công ăn lương trong các lĩnh vực nông nghiệp hạn chế đối với phụ nữ Phụ nữ cũng ít thành công trong việc thành lập các doanh nghiệp vừa và nhỏ vì không có nguồn lực, kể cả thời gian, kỹ năng quản lý, kiến thức về thị trường, tiếp cận tín dụng và đất đai
Một số yếu tố tâm lý xã hội đối với phụ nữ nông thôn: ở mọi xã hội, công việc của cả nam và nữ đều nhằm duy trì sự tồn tại của hộ gia đình và cộng đồng Tuy nhiên, công việc của họ lại có xu hướng khác nhau về tự nhiên và giá trị thể hiện qua sự đòi hỏi về vai trò, trách nhiệm khác nhau giữa
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nam và nữ Đây được coi là sự phân công lao động theo giới Từ đó, công việc của phụ nữ được chia ra ba loại:
- Công việc tái sản xuất: liên quan đến việc chăm sóc và duy trì hộ gia đình (mang thai, chăm sóc con cái, nấu ăn, lấy củi, đi chợ, trông nom nhà cửa
và chăm sóc sức khỏe cho gia đình) Đây là loại công việc thiết yếu để duy trì cuộc sống tồn tại của con người nhưng ít khi coi đây là “công việc thực sự”
- Công việc sản xuất: là các công việc (hoạt động) làm ra của cải vật chất và tinh thần, nhằm tạo ra thu nhập hoặc để tự nuôi sống và tiêu dùng
- Công việc cộng đồng: là các công việc (hoạt động) nhằm phục vụ cho các lợi ích của cộng đồng trong xã hôi Các cấp cộng đồng trong xã hội nông thon bao gồm: xóm, làng, xã, huyện…
Ở hầu hết các gia đình nông thôn, người chồng giữ trụ cột về kinh tế, còn người vợ gắn liền với vai trò làm mẹ, nội trợ Lĩnh vực hoạt động của người chồng là bên ngoài gia đình, lĩnh vực hoạt động của người vợ chủ yếu bên trong gia đình Sự hoạt động của người vợ trong lĩnh vực nội trợ là điều kiện cho người chống thực hiện vai trò trụ cột kinh tế của mình
Nguồn thu nhập bằng tiền và hiện vật trong mỗi gia đình nông thôn đều
do nam giới và nữ giới cùng đem lại, thậm chí, có gia đình ở nông thôn, phụ
nữ là lao động chính Nam giới cũng đã có những chuyển biến quan trọng trong nhận thức và họ cũng đã chia sẻ công việc nội trợ với phụ nữ nhiều hơn, góp phần củng cố quan hệ hôn nhân theo chiều hướng tích cực Tuy nhiên, nhìn trên tổng thể, thời gian lao động không được tính công (không tạo thu nhập) của nữ giới vẫn chiếm tỷ lệ quá cao sơ với nam giới, thời gian nghỉ ngơi cũng chỉ bằng 2/3
Sự bất công mang tính phổ biến này được giải thích là do “chức năng của con người là tự nhiên hay được sinh ra là thế và vì vậy nó nằm ngoài sự thay đổi của xã hội Công việc của phụ nữ trong gia đình và chăm sóc con cái