1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của TPP đến xuất khẩu dệt may Việt Nam

40 574 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài nghiên cứu phân tích, đánh giá những cơ hội và thách thức mà TPP mang lại cho mặt hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ; từ đó đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm tận dụng các cơ hội và vượt qua thách thức, hướng tới phát triển dài hạn.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NIÊN LUẬN

Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Hoa Kỳ

trước tác động của TPP

Hà Nội, Tháng 8 năm 2014

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 8

TỔNG QUAN VỀ TPP 8

1.1 Cơ sở lý luận về FTA 8

1.1.1 Lý thuyết về FTA 8

1.1.2 Tác động của FTA 9

1.2 Khái quát về TPP 12

1.3 Tác động của TPP đến kinh tế Việt Nam 14

1.3.1 Tích cực 14

1.3.2 Tiêu cực 15

CHƯƠNG 2 17

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TPP MANG LẠI CHO HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ 17

2.1 Thực trạng dệt may Việt Nam hiện nay 17

2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 17

2.1.2 Nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may 21

2.1.3 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ 23

2.2 Cơ hội và thách thức từ TPP 28

2.2.1 Đàm phán TPP liên quan đến hàng dệt may 28

2.2.2 Cơ hội 28

2.2.3 Thách thức 31

CHƯƠNG 3 33

MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý 33

3.1 Một số kết luận 33

3.2 Một số hàm ý 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

VINATEX Tập đoàn Dệt May Việt Nam

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thị trường và kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam năm 2013 20

Bảng 2.2: Cân đối Xuất nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam 2012 - 2013 21

Bảng 2.3: Thị trường nhập khẩu bông của Việt Nam tháng 11/2013 22

Bảng 2.4: Thị trường nhập khẩu vải của Việt Nam năm 2013 22

Bảng 2.5: Thị trường nhập khẩu sợi của Việt Nam tháng 1/2014 23

Bảng 2.6: Thị trường nhập khẩu xơ của Việt Nam năm 2013 23

Bảng 2.7: Kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng chủ yếu từ Việt Nam sang Hoa Kỳ trong năm 2012 so với năm 2011 24

Bảng 2.8: Chủng loại hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ 2010 - 2013 25

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Chỉ số RCA dệt may của Việt Nam và một số nước Đông Nam Á 18

Biểu đồ 2.2: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam giai đoạn 2007-2013 19

Biểu đồ 2.3: Diễn biến và dự báo nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ từ một số nước từ 2005-2025 26

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn nền kinh tế từng nước với nền kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở của và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế trên nhiều cấp độ như đơn phương, song phương và đa phương Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình khách quan và nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội của từng nước Việt Nam đã có những bước chuyển đổi

to lớn trong cải cách nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường

có sự điều tiết của Nhà nước, tập trung phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm xuất khẩu Quá trình đổi mới đã đưa Việt Nam từng bước vươn lên và đạt được nhiều thắng lợi trong kinh tế và phát triển xã hội, đặc biệt có những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, có uy tín trên thị trường quốc tế Điển hình nhất trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực vủa Việt Nam đó là ngành dệt may

Trước những cơ hội và thách thức mới trong việc thúc đẩy thương mại quốc tế trước cánh cửa Hiệp định Đối tác Chiến lược Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), những cam kết trong việc cắt giảm thuế quan trong ngành dệt may của TPP mang tính chất sâu, rộng và nhanh hơn Cùng với đó Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam và cũng là thành viên trong TPP Như vậy, những quy định vế xuất xứ hay việc giảm thuế sẽ tạo ra nhiều tác động tới dòng thương mại dệt may của Việt Nam

Vì vậy, bài nghiên cứu “Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Hoa Kỳ trước tác động của TPP” sẽ góp phần làm rõ hơn những cơ hội và thách thức của mặt hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ khi Việt Nam gia nhập TPP Qua đó, nhằm phát huy những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế của dệt may Việt Nam, đưa ra các phương án phát triển phù hợp

Trang 5

2 Tổng quan tài liệu

TPP là một vấn đề mới được nhắc đến trong thời gian gần đây, đó là một vấn đề khá mới đối với Việt Nam và đang được quan tâm nghiên cứu Ngoài những bài báo, bài luận,… viết về tiến trình đàm phán gia nhập TPP, lợi ích khi gia nhập của Việt Nam với cái nhìn tổng quát về TPP thì còn khá nhiều bài viết nghiên cứu sâu về cơ hội, thách

thức của hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ của Việt Nam

Về lợi ích của Việt Nam khi gia nhập TPP

Đại diện Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michael Froman đã có cuộc trao đổi xoay quanh vấn đề lợi ích của Việt Nam khi gia nhập TPP Ông cho rằng, khi TPP

có hiệu lực, Việt Nam sẽ được tiếp cận với các thị trường mới mà trước giờ chưa được tiếp cận Bên cạnh đó, ông cũng đưa ra những quan điểm về vấn đề cạnh tranh, tạo ra sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân

Theo Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng (2014), “Hiệp định TPP là một hiệp định thương mại tự do lớn với phạm vi và mức độ cam kết rộng và sâu nhất mà Việt Nam từng tham gia cho đến nay, tạo ra sân chơi với đóng góp trên 40% GDP và khoảng 30% trao đổi thương mại toàn cầu” Ông đã nêu rõ những lợi ích, những cơ hội

mà Việt Nam nhận được khi gia nhập TPP, Việt Nam có thêm điều kiện tranh thủ hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu; bên cạnh đó cũng có nhiều thách thức to lớn, Việt Nam phải chịu sức ép

mở của, cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Đồng thời, Bộ trưởng cũng chỉ rõ những các doanh nghiệp và chính phủ cần làm gì để có thể khai thác hiệu quả những cơ hội và giảm thiểu tác động tiêu cực do TPP mang lại

Trong 12 nước tham gia TPP, Việt Nam ở mức độ phát triển thấp nhất nhưng là nước được đánh giá là sẽ hưởng lợi nhiều nhất từ TPP (Võ Trí Thành, 2014) Với bài

viết TPP – một “phiếu tín nhiệm” với Việt Nam, tác giả đã phân tích những lợi ích mà

Việt Nam có thể nhận được khi gia nhập TPP, Việt Nam sẽ tiếp cận sâu hơn vào các thị trường lớn (Hoa Kỳ, Nhật Bản,…), xuất khẩu sẽ tăng mạnh, môi trường đầu tư tăng tính hấp dẫn; ngoài ra bài viết còn cho thấy rõ tính tất yếu, sự cần thiết phải gia nhập TPP của Việt Nam

Trang 6

Về cơ hội thách thức cho hàng dệt may xuất khẩu

Đối với những ngành hàng được xem có lợi thế khi gia nhập TPP cũng có thể vấp phải không ít rào cản Trong bài viết của mình, TS.Võ Trí Thành (2014) đã chỉ ra rằng TPP thực sự vừa là cơ hội to lớn, vừa là thử thách nghiêm túc đối với Việt Nam khi dệt may phải đảm bảo nguyên tắc xuất xứ (một tỷ lệ đầu vào kể “từ sợi” phải là từ các thành viên TPP) để được áp thuế suất 0% của nước thành viên nhập khẩu, hay như đối với hàng thủy sản, vốn thuế suất không còn là rào cản chính, song các biện pháp kiểm dịch SPS có thể lại trở nên ngặt nghèo hơn Đồng thời bài viết cũng tập trung phân tích và chỉ ra những việc cần làm của chính phủ Việt Nam, của các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Đối với chính phủ Việt Nam, phải hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, thực thi các chương trình mục tiêu cụ thể nhằm giảm thiểu phí tổn điều chỉnh và những rủi ro xã hội trong quá trình hội nhập Đối với các doanh nghiệp, phải có sự chuẩn bị chu đáo, phải nắm được tinh thần chung và những cam kết

cụ thể nhất là khi có liên quan đến ngành hàng, sản phẩm của mình

Bài viết Dệt may Việt Nam chưa sẵn sàng với TPP của Q.Nguyễn (2014) đã tập

trung phân tích những khó khăn, vướng mắc của Tập đoàn Dệt may Việt Nam – Vinatex khi phải đối mặt với những doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Thông qua

đó, tác giả bài viết đã đánh giá cơ hội của ngành dệt may Việt Nam khi TPP có hiệu lực Dệt may Việt Nam chưa đủ điều kiện để hưởng lợi từ TPP, và còn phải đối mặt với nhiều thách thức khác Trong bài viết này, theo lãnh đạo của Vinatex, ông Trần Quang Nghị, với mức vốn đầu tư khoảng 9.722 tỷ đồng là rất lớn và không dễ xoay sở (năm 2014) Trong khi Vinatex đang thu xếp 9.722 tỷ đồng để đầu tư vào các dự án sản xuất nguyên phụ liệu, thì nhà máy mới của Tập đoàn Dệt may Texhong ở Quảng Ninh đã đi vào hoạt động Theo thống kê, có đến 1 tỷ USD của các nhà dệt may nước ngoài sẵn sàng đầu tư vào Việt Nam để đón đầu TPP: Tập đoàn Hong Kong’s TaL Group đầu tư

200 triệu USD; TexHong đầu tư 300 triệu USD, Korea’s Kyungbang đăng ký đầu tư mới 40 triệu USD, Tập đoàn dệt may Pacific đầu tư 180 triệu USD (Q Nguyễn, 2014) Đây là những bất lợi, những thách thức đối với Vinatex nói riêng và dệt may Việt Nam nói chung khi phải đối đầu với những doanh nghiệp nước ngoài trước ngưỡng cửa TPP

Trang 7

Ngoài ra còn một số bài viết nghiên cứu về những giải rào cản thương mại đối với hàng dệt may Việt Nam

Nguyễn Thị Thu Thủy (2009) đã đánh giá thực trạng, những điều kiện thuận lợi

và khó khăn trong việc xuất khẩu hàng hòa của Việt Nam sang Hoa Kỳ Bài viết tập trung vào việc đề xuất một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa vào khu vực thị trường tiềm năng này như: đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, cập nhật và xử

lý các thông tin dự báo thị trường một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời, tăng cường ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động sản xuất kinh doanh và xúc tiến thương mại,

… Theo Nguyễn Thị Thu Thủy (2009), Hoa Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới với nền công nghiệp hùng mạnh, nông nghiệp hiện đại và là trung tâm thương mại, tài chính của thế giới; là thị trường giàu tiềm năng với sức mua lớn và kim ngạch nhập khẩu hàng hóa mỗi năm đạt gần 2000 tỷ USD Đó là những cơ hội cho Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa

Kỳ trong thời gian tới cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức không dễ gì vượt qua Các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với những hình thức rào cản thương mại ngày càng tinh vi như các rào cản kỹ thuật, các tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn về xuất xứ hàng hóa, nguyên phụ liệu hay các vụ kiện chống bán phá giá Hàng dệt may hiện nay phải chịu sự giám sát chặt chẽ bởi cơ chế giám sát hàng dệt may của Hoa Kỳ

Trong bài nghiên cứu Hệ thống rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế và

những giải pháp khắc phục để xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ trong bối cảnh mới, tác giả Cao Quý Long đã đề cập đến thực trạng khó khăn của xuất

khẩu ngành dệt may sang thị trường Mỹ dưới tác động của hệ thống hàng rào phi thuế quan, những quy định về rào cản kỹ thuật TBT đối với hàng dệt may trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Thông qua những phân tích đó, tác giả đề xuất một số định hướng và giải pháp đáp ứng các rào cản thương mại, đẩy mạnh xuất khẩu bền vững hàng dệt may trong thời gian tới

Như vậy, các bài viết, bài nghiên cứu nói về lợi ích của Việt Nam khi gia nhập TPP và cơ hội thách thức cho hàng dệt may xuất khẩu đã khái quát được phần nào tác động của TPP đến nền kinh tế Việt Nam và mặt hàng dệt may xuất khẩu Tuy nhiên, các

Trang 8

bài viết này mới chỉ đưa ra cái nhìn tổng quát cho nền kinh tế, chưa đi sâu phân tích tác động đối với hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ

Các bài viết về những giải pháp khắc phục rào cản thương mại đối với hàng dệt may Việt Nam đã chỉ rõ những rào cản phi thương mại đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ Nhưng đây mới chỉ là những rào cản trong bối cảnh mới, chứ chưa phải những rào cản, tác động do TPP mang lại

Bài viết này nhằm mục đích cung cấp cái nhìn khái quát về thực trạng xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh vào thị trường Hoa Kỳ; chỉ rõ những cơ hội và thách thức của mặt hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ khi Việt Nam gia nhập TPP Qua đó, nhằm phát huy những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế của dệt may Việt Nam Đồng thời thông qua các số liệu được thu thập và xử lý, bài nghiên cứu đưa

ra một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành dệt may trong thương mại quốc tế

3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

- Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu phân tích, đánh giá những cơ hội và thách thức mà TPP mang lại cho mặt hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ; từ đó đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm tận dụng các cơ hội và vượt qua thách thức, hướng tới phát triển dài hạn

- Câu hỏi nghiên cứu

o TPP là gì?

o Thực trạng xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam sang Hoa Kỳ hiện nay như thế nào?

o TPP có ảnh hưởng như thế nào đến hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam?

o Các hàm ý chính sách nhằm tận dụng những cơ hội, vượt qua những thách thức là gì?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: TPP, dệt may xuất khẩu của Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

Trang 9

o Về mặt không gian: Việt Nam, Hoa Kỳ

o Về mặt thời gian: giai đoạn 2008 – 2013

Bài nghiên cứu chọn giai đoạn 2008 – 2013 vì đây là giai đoạn Việt Nam bắt đầu

đàm phán gia nhập TPP

5 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu chủ yếu sử dụng các phương pháp:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin: đọc, tìm hiểu các bài nghiên cứu, luận văn, luận án Thu thập các số liệu về kim ngạch xuất nhập khẩu dệt may của Việt Nam, các thông tin về TPP và các quy định được đàm phán trong TPP trên một số trang web của Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Vitas, New Zealand Ministry of

Foreign Affairs and Trade, Office of the United States Trade Representative

Phương pháp thống kê: tổng hợp số liệu, tính toán các chỉ số RCA (nguồn dữ liệu

Trang 10

6 Kết cấu nội dung bài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài viết bao gồm có 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về TPP

Chương 2: Cơ hội và thách thức TPP mang lại cho hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ

Chương 3: Một số kết luận và hàm ý

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TPP

1.1 Cơ sở lý luận về FTA

1.1.1 Lý thuyết về FTA Hiệp định thương mại Tự do (Free Trade Agreement – FTA) là một nhóm gồm hai hoặc nhiều các lãnh thổ thuế quan trong đó thuế và các quy định thương mại khác

sẽ bị dỡ bỏ đối với phần lớn các mặt hàng có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ thuế quan đó (Điều XXIV-điểm 8b, GATT 1947) Các Hiệp định thương mại tự do có thể được thực hiện giữa hai nước riêng lẻ hoặc có thể đạt được giữa một khối thương mại và một quốc gia

Theo đó, các nước sẽ tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm tiến tới việc thành lập một khu vực mậu dịch

tự do Điều này cho phép các quốc gia tận dụng lợi thế so sánh của mình, chuyên môn hóa và phân công lao động để thu được tối đa lợi ích từ việc tăng cường giao thương Đây thực chất là một hình thức liên kết kinh tế quốc tế, tiến tới hình thành một thị trường thống nhất về hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên, các nước thành viên vẫn giữ được quyền độc lập, tự chủ trong quan hệ buôn bán với các nước ngoài khu vực Nói cách khác, những thành viên của FTA có thể duy trì chính sách thuế quan riêng và những hàng rào thương mại khác đối với các quốc gia bên ngoài hiệp định (GATT, 1947)

Để tránh trốn thuế (thông qua tái xuất), các nước sử dụng hệ thống xác nhận nguồn gốc phổ biến gọi là quy tắc xuất xứ, trong đó yêu cầu hàm lượng nội địa tối thiểu của các nguyên liệu đầu vào và GTGT của hàng hóa; đạt được tỉ lệ xuất xứ tối thiểu theo yêu cầu, hàng hóa mới được xem xét là thuộc diện giao thương theo FTA Nói cách khác, nhà xuất khẩu về cơ bản phải chứng minh được xuất xứ của sản phẩm, đồng thời nhà nhập khẩu phải có được thông tin sản phẩm từ tất cả các nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng

Hiện nay, ngoài các FTA truyền thống, có rất nhiều FTA thế hệ mới đang được đàm phán và ký kết Theo Thứ trưởng Bộ Công thương Trần Quốc Khánh (2014), sở dĩ gọi là FTA thế hệ mới bởi nếu trước đây, các FTA chỉ liên quan đến lĩnh vực hàng hóa

Trang 12

đơn thuần thì nay các FTA mới có phạm vi rộng hơn; các FTA hiện nay thường đưa ra các cam kết tự do hóa trong nhiều lĩnh vực như thương mại dịch vụ, đầu tư, thậm chí sẵn sàng hợp tác trên các lĩnh vực phi truyền thống trong thương mại khác như: môi trường, lao động, doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ Đồng thời, mức độ cam kết cũng sâu hơn, như phải xóa bỏ gần như 100% thuế nhập khẩu, trong đó trên 90% là xóa bỏ ngay, xóa bỏ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cho hàng đã qua sử dụng Các FTA kiểu này thường tác động lớn hơn đến thể chế, góp phần tích cực cho quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng

Việt Nam tiếp cận và tham gia FTA từ khá sớm Ngay khi là thành viên ASEAN

từ năm 1995, Việt Nam đã bắt đầu thực hiện giảm thuế theo Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung nhằm thiết lập Khu vực thương mại tự do ASEAN (CEPT/AFTA)

từ năm 1996 Từ đó đến nay, Việt Nam đã tham gia các FTA với nhiều đối tác lớn trong khu vực như: Khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA, 2004); Hiệp định xây dựng Khu vực thương mại tự do ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA, 2007); Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP, 2008); Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản (2008); Khu vực thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA, 2009); Khu vực thương mại tự do ASEAN - Úc và Niuzilân (AANZFTA, 2009); Hiện nay, Việt Nam đang đàm phán FTA song phương với Chi Lê, tham gia đàm phán với tư cách thành viên chính thức của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

1.1.2 Tác động của FTA

Chính sách FTA ngày càng trở thành công cụ chính sách kinh tế đối ngoại hữu hiệu của nhiều quốc gia lớn với những cơ hội huy động thêm nhiều nguồn lực phát triển đất nước Các quốc gia lựa chọn giải pháp tham gia ký kết các FTA với mục đích đạt được một số lợi ích nhất định nào đó: lợi ích kinh tế về giá cả, phúc lợi xã hội, thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, tri thức, kỹ năng quản lý, xây dựng năng lực thể chế và học hỏi thực tiễn chính sách, Bên cạnh những lợi ích mà FTA mang lại, việc hình thành có chọn lọc các FTA song phương với những đối tác chủ chốt

sẽ góp phần nâng cao thế và lực của các quốc gia trên trường quốc tế và khu vực, đảm bảo hài hoà hai mục tiêu phát triển kinh tế và xây dựng quốc phòng, an ninh

Trang 13

Về cơ bản, các FTA đều đem đến hai loại tác động gồm tác động tĩnh (static effects) và tác động động (dynamic effects)

1.1.2.1 Tác động tĩnh

Thông thường các FTA được ký đều có những nội dung liên quan đến cắt giảm hoặc những ưu đãi về mặt thuế quan giữa các nước tham gia Điều này thúc đẩy thương mại giữa các quốc gia Khi mức thuế quan được cắt giảm, giá cả hàng hóa nhập khẩu từ các nước trong khối FTA sẽ trở nên rẻ hơn; khuyến khích dân chúng tiêu dùng nhiều hơn do được mua hàng hóa với mức giá thấp hơn

Cụ thể, lợi ích tĩnh của các FTA mang lại là tổng gộp chính của 2 hiệu ứng “tạo

thêm thương mại” (trade creation) và “chệch hướng thương mại” (trade diversion) Theo

T.Giang (2013), nghiên cứu kinh điển của Jacob Viner (1950) về “Các vấn đề của Liên

minh Thuế quan” đưa ra 2 khái niệm trên để mô tả những phúc lợi của các hiệu ứng kinh

tế của các thỏa thuận thương mại khu vực (bao hàm cả hai hình thái Khu vực Thương mại Tự do và Liên minh Thuế quan) đối với hai thành viên tham gia

Hiệu ứng tạo thêm thương mại: Hiệu ứng xuất hiện khi một thành viên của FTA

gia tăng nhập khẩu từ một thành viên khác trong FTA có mức giá cung ứng thấp hơn so với mức giá nội địa của mình hoặc của nhà cung ứng ngoài FTA đó Điều này làm lợi cho người tiêu dùng vì mua được hàng nhập khẩu ở mức giá rẻ hơn trước khi có FTA

Do đó, hiệu ứng này còn giúp người tiêu dùng tăng thu nhập, kích cầu và làm tăng nhu cầu đối với hàng nhập khẩu từ các thành viên cũng như những nước không phải thành viên của FTA

Hiệu ứng chệnh hướng thương mại: Hiệu ứng này xuất hiện khi nhà cung ứng

không phải là thành viên của FTA có mức giá thấp hơn lại bị nước thành viên FTA thay thế bằng một nhà cung ứng trong FTA mặc dù có chi phí cao hơn Như vậy nhà cung ứng kém hiệu quả hơn (thành viên FTA) lại thay thế nhà cung ứng hiệu quả hơn (không phải thành viên FTA) vì được hưởng các ưu đãi thuế quan do việc tham gia FTA mang lại Do vậy, hiệu ứng này làm chệch dòng thương mại của một thành viên FTA từ nhà cung ứng hiệu quả sang nhà cung ứng kém hiệu quả hơn và thành viên đó phải chịu thêm

Trang 14

một khoản chi phí do phải trả giá nhập khẩu cao hơn Hệ quả này còn làm nhà cung ứng ngoài FTA mất thị phần xuất khẩu và có thể buộc họ phải giảm giá xuất khẩu

Qua những phân tích của mình, Viner – Meade (1950) chỉ ra rằng việc hình thành một Hiệp định Thương mại Khu vực sẽ mang lại sự cải thiện về phúc lợi và hiệu quả kinh tế nếu mức độ “tạo thêm thương mại” vượt mức độ “chệch hướng thương mại” Ngược lại nếu mức độ “chệch hướng thương mại” lớn hơn mức độ “tạo thêm thương mại” thì hiệu quả và phúc lợi kinh tế sẽ bị giảm

1.1.2.2 Tác động động

Bên cạnh các hiệu ứng được tạo ra bởi tác động tĩnh, các FTA còn tạo ra một loạt các hiệu ứng khác như: tính kinh tế nhờ quy mô, thúc đẩy cạnh tranh, thúc đẩy đầu tư,

chuyển giao tri thức và công nghệ, học hỏi tập quán tốt,… hay còn gọi là những hiệu

ứng “động” Có những FTA có thể không đạt được những hiệu ứng phúc lợi tĩnh tích

cực như tạo thêm thương mại, cải thiện điều kiện thương mại, thậm chí gây ra những hiệu ứng tiêu cực ban đầu như làm chệch hướng thương mại và làm xấu đi điều kiện thương mại, song các FTA này lại có thể tạo ra những hiệu ứng “động” giá trị như thúc đẩy cạnh tranh, chuyên môn hóa trong hoạt động kinh tế hay tăng hiệu quả từ quy mô kinh tế lớn hơn, từ đó tạo ra những chuyển dịch cơ cấu tích cực mà về lợi ích dài hạn

lớn hơn nhiều những cái giá của các hiệu ứng tiêu cực ngắn hạn có thể có (T.Giang,

2013)

Hiệu ứng tăng trưởng: Hiệu quả này được phản ánh qua hai phương diện chính

là gia tăng hiệu quả kinh tế nhờ quy mô thị trường lớn hơn và tạo ra dòng thương mại

và đầu tư mới và kết quả là làm gia tăng thu nhập

Hiệu ứng thúc đẩy cạnh tranh: Cải thiện môi trường kinh tế cạnh tranh luôn được

coi là mục tiêu dài hạn của những nền kinh tế phát triển khi tìm kiếm mối quan hệ kinh

tế gần gũi hơn với các nền kinh tế thị trường phát triển Mức độ cạnh tranh trong nền kinh tế gia tăng cùng với việc xóa bỏ các rào cản thương mại, các công ty có được điều kiện gia nhập thị trường cởi mở hơn Mức độ cạnh tranh gia tăng giúp giảm giá thành

và cải thiện năng suất Một khối thương mại được tốt sẽ làm tăng hiệu quả và phúc lợi

Trang 15

kinh tế do tạo thuận lợi cho sự lựa chọn của người tiêu dùng và tăng cường môi trường cạnh tranh đối với doanh nghiệp và nhà sản xuất

Hiệu ứng thúc đẩy đầu tư: Việc hình thành FTA không chỉ liên quan đến vấn đề

cắt giảm thuế quan thương mại mà nó còn tạo ra những hiệu ứng quan trọng đối với môi trường đầu tư và hành vi của nhà đầu tư Một FTA khi hình thành có thể thúc đẩy cả dòng đầu tư nội địa và đầu tư nước ngoài, dòng đầu tư giữa các thành viên FTA và bên ngoài FTA Đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), FTA mang lại cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn với sức mua lớn hơn Các dòng FDI từ bên ngoài vào một

khu vực thương mại tự do thường tận dụng điều kiện tiếp cận thị trường mới để vượt

qua các hàng rào thuế quan giữa các thành viên FTA (T.Giang, 2013)

Việc xóa bỏ hay giảm bớt thuế quan, các hàng rào thương mại sẽ thúc đẩy hoạt động cạnh tranh, thu hút đầu tư và quá trình chuyển giao công nghệ, từ đó thúc đẩy năng suất và quá trình phát triển Những hiệu ứng động này không những tạo thêm thương mại cho các nước tham gia FTA mà còn tạo thêm thương mại cho những nước ngoài FTA do hưởng lợi từ mức độ mở cửa thương mại, chính sách thu hút đầu tư

Các FTA thế hệ mới xem xét hợp tác thương mại khu vực ở cấp độ hội nhập sâu hơn, quan tâm hơn đến những thay đổi từ việc gỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan đến những thay đổi chính sách điều tiết (chính sách cạnh tranh, chính sách đầu tư, chính sách môi trường…) bên trong một nền kinh tế Thực thi cam kết trong các FTA cũng tác động lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường nội địa; đòi hỏi phải tổ chức lại thị trường này theo những mô hình kinh doanh mới, xác lập các liên kết từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng và xuất nhập khẩu, hình thành các chuỗi cung ứng để có thể tạo

được chỗ đứng vững chắc trong các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu

1.2 Khái quát về TPP

Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – viết tắt là TPP) là một hiệp định thương mại tự do với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương Đây là một Hiệp định thương mại Tự do kiểu mới, được ký kết giữa nhiều bên, với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước, nhằm thúc

Trang 16

đẩy thương mại, hấp dẫn đầu tư, thúc đẩy các nước cải cách thể chế Trước đây, TPP

được biết đến với tên tiếng Anh là Pacific Three Closer Economic Partnership

(P3-CEP) và được tổng thống Chile Ricardo Lagos, thủ tướng Singapore Goh Chok Tong

và thủ tướng New Zealand Helen Clark đưa ra thảo luận tại một cuộc họp các nhà lãnh đạo của APEC diễn ra tại Los Cabos, Mexico Brunei nhanh chóng tham gia đàm phán

ở vòng 5 vào tháng 04 năm 2005 Sau vòng đàm phán này, hiệp định lấy tên là

Pacific-4 (PPacific-4) (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement: Understanding the PPacific-4

- The original P4 agreement, 2012)

Hiệp định TPP được ký kết ngày 3/6/2005, có hiệu lực từ 28/5/2006 giữa 4 nước Singapore, Chile, New Zealand và Brunei Tháng 9/2008, Hoa Kỳ có ý định muốn tham gia đàm phán TPP; sau đó, tháng 11/2008, các nước Australia, Peru cũng tuyên bố tham gia Tiếp đến là Canada tham gia vào tháng 10/2012 và mới đây nhất, Nhật Bản tham gia đàm phán vào tháng 3/2013 Việt Nam đã tuyên bố tham gia TPP với tư cách là thành

viên đầy đủ từ ngày 13/11/2010 Tính đến thời điểm hiện nay, có 12 quốc gia tham gia

đàm phán, trong đó có những đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Singapore Với sự tham gia của các nền kinh tế lớn trên thế giới, TPP trở thành khu vực kinh tế với hơn 790 triệu dân, đóng góp 40% GDP và chiếm 1/3 thương mại toàn cầu (TTP - Trade Ministers’ Report to Leaders, 2013)

Mục tiêu ban đầu của Hiệp định là giảm 90% các loại thuế xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên trước ngày 01 tháng 01, 2006 và cắt giảm bằng không tới năm 2015 Đây là một thỏa thuận toàn diện bao quát tất cả các khía cạnh chính của một hiệp định thương mại tự do, bao gồm trao đổi hàng hóa, các quy định về xuất xứ, can thiệp, rào

cản kỹ thuật, trao đổi dịch vụ, vấn đề sở hữu trí tuệ, các chính sách của chính quyền…

TPP được đánh giá là Hiệp định mẫu mực cho thế kỷ XXI, không chỉ vì nó là Hiệp định lớn mà còn ở tầm vóc và sức ảnh hưởng của nó Về phạm vi, so với Hiệp định Thương mại song phương (BTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và trong WTO; TPP mở rộng hơn bao gồm cả về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu

tư và sở hữu trí tuệ Ngoài ra, còn có các vấn đề phi thương mại như mua sắm Chính phủ, môi trường, lao động, công đoàn, hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 17

Một số nội dung đàm phán nổi bật, nhạy cảm khi tham gia TPP là: Thương mại hàng hóa, vấn đề đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, lao động, công đoàn, các rào cản kỹ thuật (Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật đối với Thương mại - TBT, Hiệp định về việc áp dụng các Biện pháp kiểm dịch động thực vật

- SPS), chống tham nhũng, bảo vệ môi trường và các vấn đề khác

1.3 Tác động của TPP đến kinh tế Việt Nam

Tác động tổng thể của TPP đối với nền kinh tế Việt Nam có thể rất tích cực, song không có nghĩa đúng với mọi ngành, mọi doanh nghiệp TPP thực sự vừa là cơ hội to lớn, vừa là thử thách nghiêm túc đối với cải cách và phát triển của Việt Nam

1.3.1 Tích cực

Tham gia vào Hiệp đinh Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) mang lại cho Việt Nam cơ hội phát triển nhiều mặt kinh tế - xã hội Theo Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng (2014), Việt Nam có thế nhận được nhiều cơ hội cụ thể như sau:

Thứ nhất, Hiệp định TPP sẽ giúp Việt Nam tận dụng tốt hơn các cơ hội do quá trình tái cấu trúc cục diện quốc tế và khu vực cũng như xu thế liên kết kinh tế khu vực, đặc biệt là tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đem lại

Thứ hai, Hiệp định TPP sẽ giúp Việt Nam có thêm điều kiện tranh thủ hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, triển khai chiến lược hội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói riêng, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, củng cố trạng thái cân bằng trong quan hệ với các đối tác chủ chốt, góp phần duy trì và củng cố môi trường hoà bình,

ổn định và bảo đảm an ninh, quốc phòng

Ngoài ra, tham gia TPP sẽ giúp Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài Tham gia TPP gần như là cách duy nhất trong trung hạn để có quan hệ FTA với Hoa Kỳ và một số nước với thị trường rất tiềm năng với hàng hóa Việt Nam, đặc biệt là mặt hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam sẽ có cơ hội đàm phán để các nước mở cửa thị trường đối với các mặt hàng xuất khẩu

Trang 18

Thuế nhập khẩu nhiều loại hàng hóa sẽ được giảm xuống 0% và đó sẽ là cú hích mạnh cho xuất khẩu Việc Việt Nam có quan hệ FTA với Hoa Kỳ và các nước khác trong TPP chắc chắn sẽ thúc đẩy đầu tư của các nước vào Việt Nam Quy mô chưa thể

dự đoán chính xác được nhưng từ sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam sau khi Việt Nam vào WTO, có cơ sở để cho rằng các nhà đầu tư cũng sẽ quan tâm không kém khi Việt Nam ký kết được Hiệp định TPP (Vũ Huy Hoàng, 2014)

1.3.2 Tiêu cực

Gia nhập TPP, Việt Nam phải mở cửa mạnh hơn và do vậy, cạnh tranh sẽ gay gắt hơn Những ngành vốn được bảo hộ nhiều và những doanh nghiệp kém cạnh tranh sẽ phải giảm sản xuất, thậm chí thu nhỏ hoặc phá sản Các vấn đề xã hội nảy sinh đáng kể

ở nơi này nơi kia

TPP sẽ tạo ra sức ép về mở cửa thị trường, cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Việt Nam Nếu không có sự chuẩn bị tốt, nhiều ngành sản xuất và dịch vụ có thể sẽ gặp khó khăn Tuy nhiên, đây là con đường mà sớm hay muộn Việt Nam cũng phải đi qua

để chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng kinh tế

Tham gia Hiệp định TPP cũng có thể gây ra một số hệ quả về mặt xã hội Tự do hóa thương mại quá đột ngột có thể dẫn tới phá sản và tình trạng thất nghiệp ở các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh yếu Tuy nhiên, do nhập khẩu từ Hoa Kỳ và các nước TPP chưa có FTA với Việt Nam là không lớn nên nếu có thể đàm phán một lộ trình giảm thuế hợp lý, kết hợp với hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, Việt Nam có thể xử lý được vấn đề thất nghiệp nảy sinh do tham gia TPP

Các yêu cầu trong TPP liên quan đến lao động dự kiến sẽ có tác động tới môi trường lao động ở Việt Nam Đây sẽ là vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu để có phương án đàm phán phù hợp nhất Bên cạnh đó, để thực thi cam kết trong TPP, Việt Nam có thể

sẽ phải điều chỉnh, sửa đổi nhiều quy định pháp luật về thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ …

Tóm lại, TPP là hiệp định với tiêu chuẩn cao, có thể đem lại nhiều lợi ích nếu

Trang 19

qua Hiệp định TPP, Việt Nam có cơ hội nâng cao khả năng xuất khẩu bởi khu vực TPP

là thị trường rất lớn Bên cạnh đó, các nội dung của Hiệp định TPP cũng hướng các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng trong khu vực, từ đó từng bước tiếp cận thị trường quốc tế và nâng cao vị thế của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, những cam kết và thực thi cam kết trong TPP đặt ra không ít thách thức, yêu cầu cải cách, tái cấu trúc nền kinh tế và thay đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay

Trang 20

CHƯƠNG 2

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TPP MANG LẠI CHO HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ

2.1 Thực trạng dệt may Việt Nam hiện nay

2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam Dệt may được xem là ngành hàng mũi nhọn của Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Từ những năm 1990 đến nay, sản phẩm dệt may Việt Nam không ngừng phát triển về số lượng, cơ cấu chủng loại và giá trị kim ngạch; trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực và chiếm giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may trong những năm qua luôn đứng thứ hai trong tổng số những ngành có sản phẩm xuất khẩu (đứng sau kim ngạch xuất khẩu của dầu mỏ) thu

về nguồn ngoại tệ lớn, đóng góp phần không nhỏ vào ngân sách của nhà nước Những thành công của sản phẩm may mặc trên thị trường quốc tế đã đánh dấu bước khởi đầu tốt đẹp trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế ở Việt Nam Trong toàn ngành dệt may, may mặc là ngành có nhiều tiềm năng phát triển, có lợi thế cạnh tranh lớn trên trường quốc tế Hàng may mặc Việt Nam giờ đã có mặt ở các thị trường khó tính trên thế giới như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản… (VITIC, 2013)

Hướng đi quan trọng nhất đối với Việt Nam trong những năm trước mắt là tập trung vào xuất khẩu nhóm mặt hàng công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp, nâng cao tỷ trọng của nhóm mặt hàng này trong cơ cấu xuất khẩu chung lên trên 50%, trong đó dệt may và giày dép là hai mặt hàng chính Xuất khẩu hàng dệt may đã, đang và sẽ là ngành hàng xuất khẩu quan trọng hàng đầu của Việt Nam Với sức tăng trưởng cao (trung bình

từ 30-40%/năm) liên tục và ổn định suốt mười năm qua, xuất khẩu hàng dệt may đã vượt qua các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác vươn lên chiếm thứ hạng cao trong danh sách các mặt hàng chủ lực.Việt Nam có thể tự hào khi biết rằng, giá trị kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam đã phát triển 8 lần trong một thời gian ngắn So với các nước trong khu vực có quá trình phát triển lâu dài hơn, thì đây quả là một điểm sáng của dệt may Việt Nam Hơn nữa, Việt Nam thường xuyên đứng trong Top 5 các nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới

Ngày đăng: 18/04/2016, 15:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hữu Bằng, Michael Froman-Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (03/12/2013), Việt Nam được hưởng lợi nhiều nhất từ TPP, báo VTV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam được hưởng lợi nhiều nhất từ TPP
2. Lê Châu, Trần Quốc Khánh-Thứ trưởng Bộ Công thương (21/4/2014), FTA kiểu mới sẽ tác động tích cực đối với tái cơ cấu kinh tế, báo VnEconomy Sách, tạp chí
Tiêu đề: FTA kiểu mới sẽ tác động tích cực đối với tái cơ cấu kinh tế
3. T.Giang (2013), Những vấn đề lý luận về hội nhập kinh tế khu vực, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược, truyền thông và Phát triển (SCDRC – CSCI Group) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về hội nhập kinh tế khu vực
Tác giả: T.Giang
Năm: 2013
4. Hà Trần (4/11/2013), Doanh nghiệp dệt may đón sóng TPP, cafef.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp dệt may đón sóng TPP
5. Đặng Khanh, Vũ Huy Hoàng-Bộ trưởng Bộ Công thương (31/01/2014), Vào TPP, kinh tế Việt Nam được – mất gì, báo VOVonline Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vào TPP, kinh tế Việt Nam được – mất gì
7. Bích Ngọc, Phạm Chi Lan (21/5/2014), Đầu tư dệt may đón TPP: Trung Quốc hưởng lợi thay Việt Nam, báo Đất Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư dệt may đón TPP: Trung Quốc hưởng lợi thay Việt Nam
8. Minh Ngọc (11/2/2014), Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP, VGP News Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP
9. Q. Nguyễn (04/03/2014), Dệt may Việt Nam chưa sẵn sàng với TPP?, báo Trí Thức Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dệt may Việt Nam chưa sẵn sàng với TPP
10. Võ Trí Thành (24/02/2014), Tác động của TPP với Việt Nam có thể rất tích cực, báo VnEconomy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của TPP với Việt Nam có thể rất tích cực
11. Nguyễn Thị Thu Thủy (2009), Một vài giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Hoa Kỳ trong bối cảnh suy giảm kinh tế, tạp chí Khoa học và Công nghệ các trường Đại học Kỹ thuật, Số 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Hoa Kỳ trong bối cảnh suy giảm kinh tế
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Thủy
Năm: 2009
12. VCCI (2014), Việt Nam tham gia đàm phán TPP là cần thiết, http://www.trungtamwto.vn/tpp/viet-nam-tham-gia-dam-phan-tpp-la-can-thiet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tham gia đàm phán TPP là cần thiết
Tác giả: VCCI
Năm: 2014
13. VITIC (2013), Dệt may: tăng trưởng xuất khẩu trong khó khăn, Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương Mại (Bộ Công thương) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dệt may: tăng trưởng xuất khẩu trong khó khăn
Tác giả: VITIC
Năm: 2013
14. Phạm Thị Hồng Yến (2014), Một số nội dung về quy tắc xuất xứ trong hiệp định TPP, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại số 55, Trường Đại học Ngoại thương.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nội dung về quy tắc xuất xứ trong hiệp định TPP
Tác giả: Phạm Thị Hồng Yến
Năm: 2014
18. Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: http://baodientu.chinhphu.vn/ Link
20. Hiệp hội Dệt May Việt Nam: http://www.textile2fashion.org.vn/ Link
22. Tổng cục Hải quan Việt Nam: http://customs.gov.vn/default.aspx 23. Tổng cục Thống kê Việt Nam: http://www.gso.gov.vn/ Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thị trường và kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam năm 2013 - Tác động của TPP đến xuất khẩu dệt may Việt Nam
Bảng 2.1 Thị trường và kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam năm 2013 (Trang 23)
Bảng 2.2: Cân đối Xuất nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam 2012 - 2013 - Tác động của TPP đến xuất khẩu dệt may Việt Nam
Bảng 2.2 Cân đối Xuất nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam 2012 - 2013 (Trang 24)
Bảng 2.4: Thị trường nhập khẩu vải của Việt Nam năm 2013 - Tác động của TPP đến xuất khẩu dệt may Việt Nam
Bảng 2.4 Thị trường nhập khẩu vải của Việt Nam năm 2013 (Trang 25)
Bảng 2.5: Thị trường nhập khẩu sợi của Việt Nam tháng 1/2014 - Tác động của TPP đến xuất khẩu dệt may Việt Nam
Bảng 2.5 Thị trường nhập khẩu sợi của Việt Nam tháng 1/2014 (Trang 26)
Bảng 2.6: Thị trường nhập khẩu xơ của Việt Nam năm 2013 - Tác động của TPP đến xuất khẩu dệt may Việt Nam
Bảng 2.6 Thị trường nhập khẩu xơ của Việt Nam năm 2013 (Trang 26)
Bảng 2.7: Kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng chủ yếu từ Việt Nam sang Hoa Kỳ  trong năm 2012 so với năm 2011 - Tác động của TPP đến xuất khẩu dệt may Việt Nam
Bảng 2.7 Kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng chủ yếu từ Việt Nam sang Hoa Kỳ trong năm 2012 so với năm 2011 (Trang 27)
Bảng 2.8: Chủng loại hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ 2010 - 2013 - Tác động của TPP đến xuất khẩu dệt may Việt Nam
Bảng 2.8 Chủng loại hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ 2010 - 2013 (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w