Sự thay đổi trên đã mang lại cho nền kinh tế đất nước nhiều thành quả đáng kể, tuynhiên, chế định về hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật hiện hànhcủa Việt Nam còn có nh
Trang 1NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Đề tài: Hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu
A Tổng quan về đề tài nghiên cứu
1 Tính cấp thiết của đề tài và tình hình nghiên cứu trong nước………5
1.1 Tính cấp thiết của đề tài……….………… ….5
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước……….…….6
2 Nội dung đề tài nghiên cứu……… …7
3 Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu……… 7
4 Phạm vi nghiên cứu……… 8
5 Phương pháp nghiên cứu……… …… 8
6 Kết cấu bài báo cáo nghiên cứu……….……….8
B Nội dung bài nghiên cứu Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa và pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa……… …… 9
1.1 Một số vấn đề lý luận chung……… 9
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hoá……….9
1.1.2 Lịch sử hình thành hợp đồng mua bán hàng hoá……… ……… 12
1.2 Nội dung pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá……… …… 16
1.2.1 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa……… ……… 16
1.2.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa……… 17
1.2.3 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu, huỷ bỏ hợp đồng, chấm dứt hợp đồng……….21
1.2.4 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa……….26
1.2.5 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa……….………… 29
1.2.6 Trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ và giải quyết tranh chấp trong thương mại… 32
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa……… 37
2.1 Thực trạng pháp luật về nội dung và hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá……….40
Trang 32.1.1 Quy định về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá……… 402.1.2 Nội dung hợp đồng mua bán hàng hoá………41
2.2 Thực trạng pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa….42
2.2.1 Thực trạng giao kết……….…….432.2.2 Thực trạng thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa……… 45
2.3 Thực trạng về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa…… … 49 Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa……….53 3.1 Nguyên tắc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá……….…….53
3.1.1 Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm phápluật trong hệ thống pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa……… ………533.1.2 Xuất phát từ các bất cập tồn tại thực tế trong quy định pháp luật về hợp đồng muabán hàng hóa……….……….543.1.3 Phải phù hợp với xu hướng chung của pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bánhàng hóa của khu vực cũng như thế giới……….………… 55
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa 56
3.2.1 Kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật cụ thể……… 563.2.2 Kiến nghị xây dựng Luật hợp đồng thống nhất……… ………58
C Kết luận
Tài liệu tham khảo
Lời cảm ơn
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trang 5A.Tổng quan về đề tài nghiên cứu
1 Tính cấp thiết của đề tài và tình hình nghiên cứu trong nước:
1.1 Tính cấp thiết của đề tài:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, các giao dịch kinhdoanh diễn ra ngày càng sôi động đặc biệt việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa giữacác thương nhân, giữa các doanh nghiệp với nhau ngày càng tăng về số lượng Thực tiễntrên đòi hỏi Nhà nước phải ban hành các quy định điều chỉnh chi tiết và phù hợp cho quátrình thiết lập và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa Mặt khác, hợp đồng mua bánhàng hóa có vị trí, vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của hoạt động thương mạihàng hóa nói riêng cũng như trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước nói chung.Không chỉ giữ vai trò là cơ sở thực để các bên thực hiện việc mua bán hàng hóa, hợpđồng mua bán hàng hóa còn là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh từhoạt động này Hợp đồng mua bán hàng hóa còn thúc đẩy hoạt động thương mại hànghóa diễn ra thuận lợi, quy củ và ngày càng mang tính chuyên môn hóa cao
Với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trong những năm qua Nhà nước ta đã có nhữngthay đổi lớn về chính sách và pháp luật, đặc biệt là pháp luật liên quan tới hoạt độngthương mại trong đó có pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá Ngày 14 tháng
11 năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Thương mại số 36/2005 - QH11 quy định vềhoạt động thương mại (chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006, thay thếLuật thương mại 1997) nhằm tạo thành một hành lang pháp lý hoàn chỉnh cho các thươngnhân trong hoạt động thương mại Cũng giống như Luật thương mại 1997, Luật thươngmại 2005 cũng quy định khá đầy đủ và chi tiết về mua bán hàng hoá, hợp đồng mua bánhàng hoá
Sự thay đổi trên đã mang lại cho nền kinh tế đất nước nhiều thành quả đáng kể, tuynhiên, chế định về hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật hiện hànhcủa Việt Nam còn có nhiều điểm chưa rõ ràng cụ thể; một số văn bản pháp luật hướngdẫn thi hành đôi khi còn chồng chéo, thiếu rõ ràng và đồng bộ, điều này gây khó khăncho các tổ chức, cá nhân trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 6mà còn là vướng mắc không nhỏ của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý hoạt độngnày Vậy nên pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa của Việt Nam vẫn cầnđược nghiên cứu để hoàn thiện thêm.
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa là bộ phận pháp luật có vị trí quan trọngtrong pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa đượchình thành và phát triển với các quy định tại Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 (đãhết hiệu lực) và đặc biệt sau đó là Bộ luật Dân sự năm 1995 (đã hết hiệu lực), LuậtThương mại 1997 (đã hết hiệu lực), và hai văn bản pháp luật hiện hành là Luật Thươngmại 2005 (LTM 2005) và Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005)
Vấn đề pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa được nhiều nhàkhoa học quan tâm nghiên cứu, dưới những góc độ khác nhau Trên thực tế đã có nhiềuluận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ… nghiên cứu các đề tài liên quan đến hợp đồng mua bánhàng hóa, như đề tài: “Chế độ hợp đồng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay” - luận án phó tiến sỹ khoa học luật học năm 1996 của TS.Phạm HữuNghị; “Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài -Kinh nghiệm so sánh với luật Trung Quốc và những định hướng hoàn thiện cho pháp luậtViệt Nam” - luận văn Thạc sỹ năm 2012 của Trương Thị Bích; “Hiệu lực của hợp đồngtheo quy định của pháp luật Việt Nam” - luận án tiến sỹ luật học năm 2010 của Lê MinhHùng; “Tự do giao kết hợp đồng - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” - luận văn Thạc sỹnăm 2010 của Nguyễn Thị Hường
Ngoài ra còn có sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu, các giáo trình có đề cậpđến các khía cạnh pháp lý của hợp đồng như: Giáo trình Luật kinh tế Việt Namm(2001),Giáo trình Luật Thương Mại (năm 2002) của khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Giáotrình pháp luật kinh tế (2005) của khoa Luật kinh tế, Đại học kinh tế quốc dân; Giáo trìnhLuật kinh tế của đại học Luật Hà Nội; “Chế định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự ViệtNam” của TS.Nguyễn Ngọc Khánh (2007); “Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bìnhluận bản án” của TS Đỗ Văn Đại (2010); “Chế độ hợp đồng kinh tế - Tồn tại hay không
Trang 7tồn tại” của GS.TS Lê Hồng Hạnh (2005); Thống nhất Luật hợp đồng ở Việt Nam, ĐinhThị Mai Phương, NXB Tư Pháp (2005).
Cùng với các công trình nghiên cứu và các sách, giáo trình nêu trên, đã có nhiều bàibáo khoa học đăng trên các tạp trí, như: “Một số bất cập của chế định hợp đồng trong Bộluật dân sự 2005” của tác giả Trần Thị Huệ, tạp chí dân chủ và pháp luật số định kỳ tháng
6 (255) năm 2013 “Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng những vấn đề đặt rakhi sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005” của tác giả Phạm Văn Bằng, tạp chí dân chủ vàpháp luật Số định kỳ tháng 4 năm 2013…
Tất cả các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học, sách chuyên khảo, các luận
án, luận văn nêu trên đều có những thành công nhất định về một số khía cạnh pháp lý củahợp đồng
2 Nội dung đề tài nghiên cứu:
Bài nghiên cứu của nhóm tập trung khái quát tổng hợp các vấn đề pháp lý cơ bản củahợp đồng mua bán hàng hóa Đó là các vấn đề liên quan đến khái niệm, lịch sử hìnhthành pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa, nội dung và hình thức của hợp đồng,điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, vấn đề giao kết, thực hiện hợp đồng
Từ việc khái quát phát luật, nhóm sẽ làm rõ các bất cập đồng thời đưa ra các kiến nghị
và giải pháp để góp phần hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa Cụ thể đó
là các nguyên tắc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá (HĐMBHH),hướng sửa đổi cụ thể pháp luật cũng như các giải pháp kiến nghị cụ thể cho các bên giaokết hợp đồng và các cơ quan quản lý
3 Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
- Mục tiêu nghiên cứu:
Tìm ra được những bất cập còn tồn tại trong pháp luật về hợp đồng mua bán hànghóa
Trang 8 Đưa ra những giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bánhàng hóa.
4 Phạm vi nghiên cứu:
Bài nghiên cứu tập trung phân tích và làm rõ những bất cập của pháp luật Viêt Nam vềhợp đồng mua bán hàng hóa kể từ khi Luật thương mại 2005 có hiệu lực đến nay Tínhđến nay, trải qua 10 năm phát triển, nền kinh tế có nhiều thay đổi, hợp đồng mua bánhàng hóa do Luật thương mại 2005 điều chỉnh đã khắc phục được những điểm còn thiếusót của Luật thương mại 1997 và ngày càng tiếp cận được với pháp luật quốc tế về muabán hàng hóa nói chung, đồng thời trong quá trình thực hiện cũng đã phát hiện ra nhữngbất cập gì cần được sửa chữa, bổ sung… Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian nghiên cứu
và kiến thức còn hạn hẹp, bài nghiên cứu chỉ tập trung vào nghiên cứu về hợp đồng muabán hàng hóa cũng như việc thực hiện hợp đồng trong lãnh thổ nước Việt Nam, không cóyếu tố nước ngoài
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Chương 1:
- Chương 2:
- Chương 3:Phương pháp mô tả, tổng hợp, so sánh, phân tích
6 Kết cấu bài báo cáo nghiên cứu:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục, kết cấu của luận văn được chia làm 3
chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa và pháp luật về hợpđồng mua bán hàng hóa
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 9CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ VÀ
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ
Theo Bộ luật dân sự 1807 của Pháp: Hợp đồng mua bán là sự thỏa thuận theo đó mộtbên có nghĩa vụ giao hàng còn bên kia có nghĩa vụ trả tiền hàng (khoản 1, Điều 1582).Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu do hai nguồn luật điều chỉnh là Bộluật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) và Luật Thương mại năm 2005 (LTM 2005)
Tại khoản 8, Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “Mua bán hàng hóa là hoạt
động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”
Luật thương mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trongthương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong Bộ luật dân
sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa Theo Điều 428 BLDS 2005,hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giaotài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền chobên bán Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏathuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ muabán
Xét về bản chất, hàng hóa cũng là một loại tài sản Hàng hóa là đối tượng của hợpđồng mua bán hàng hóa trong thương mại bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động
Trang 10thương mại 2005) còn đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản lại bao gồm tất cả các tàisản được phép giao dịch bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản
Từ đó cho thấy hợp đồng mua bán tài sản trong thương mại là một dạng cụ thể củahợp đồng mua bán tài sản Như vậy ta có thể đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bánhàng hóa như sau: Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đóbên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhậnthanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữuhàng hóa theo thỏa thuận
b Đặc điểm:
Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại trước hết mang những đặc điểm củahợp đồng mua bán tài sản nói chung Đó là:
Thứ nhất, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là sự thỏa thuận nhằm xác
lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong mua bán hàng hóa
Thứ hai, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là hợp đồng song vụ, bên mua
và bên bán có quyền và nghĩa vụ Quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngượclại Bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và có quyền yêu cầu bên mua trảtiền mua hàng hóa, ngược lại bên mua có quyền yêu cầu bên bán chuyển giao hàng hóa
và có nghĩa vụ trả tiền mua hàng hóa cho bên bán
Thứ ba, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là hợp đồng ưng thuận - tức là
nó được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thờiđiểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việcbàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành động của bên bán nhắm thực hiện nghĩa vụ củahợp đồng mua bán đã có hiệu lực
Thứ tư, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại có tính đền bù - bên bán khi
thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tươngđương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán
Thứ năm, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là hợp đồng song vụ - mỗi
bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia,đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình
Trang 11Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại vàliên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua
và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán
Tuy nhiên, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại còn được nhận diện quanhững dấu hiệu riêng sau:
Thứ nhất, chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân Ngoài thương
nhân, chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa có thể không phải là thương nhân Điều đó cónghĩa thương nhân phải là môt bên của chủ thể mua bán hàng hóa Chủ thể của hợp đồngmua bán hàng hóa là thương nhân hoặc không phải là thương nhân
Thứ hai, đối tượng của loại hợp đồng này là hàng hóa Theo quy định tại khoản 2
Điều 3 LTM 2005, hàng hóa bao gồm: “Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình
thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai” Qua đó cho thấy hợp đồng mua
bán hàng hóa trong thương mại có thể hướng tới việc giao nhận hàng hóa ở một thờiđiểm trong tương lai
Thứ ba, mục đích chủ yếu của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa là sinh lợi.
Đặc điểm này xuất phát và gắn liền với đặc điểm chủ thể chủ yếu của hợp đồng mua bánhàng hóa là thương nhân Tuy nhiên, một số trường hợp một bên của hợp đồng mua bánhàng hóa không có mục đích sinh lợi, loại hợp đồng này, về nguyên tắc không chịu sựđiều chỉnh của LTM trừ khi bên không nhằm mục đích sinh lợi lựa chọn áp dụng LTM
có thể là luật của Việt Nam hay luật của phía đối tác hay cũng có thể là luật của một nướcthứ ba…
Trang 12- Căn cứ vào cách thức thực hiện hợp đồng có thể chia ra hai loại: Hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá và Hợp đồng mua bán hàng hoá không qua sở giao dịch hàng hoá.
đó rút ra bằng điều lệ tạm thời mới khái quát được một vài lĩnh vực cụ thể của hợp đồngkinh tế mà chưa nêu ra được khái niệm chung về HĐKT Sau đó điều lệ về chế độ HĐKTđược ban hành theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 mới đưa ra định nghĩa về HĐKT:HĐKT là công cụ kinh tế pháp lý của nhà nước trong việc xây dựng và phát triển kinh tếquốc dân XHCN Nghị định này đã xây dựng khá rõ mối quan hệ XHCN giữa các bên cóliên quan dấn đến việc kí kết và thực hiện HĐKT đã kí kết đồng thời cũng quy định nghĩa
vụ và chịu trách nhiệm của từng bên đối với nhau, bảo vệ lợi ích của các bên tham gia kíkết, định hướng cho các bên bằng những kế hoạch cụ thể giúp các thành viên thực hiệnđược mục tiêu ban đầu đặt ra Từ những đặc điểm kinh tế và những quy tắc, những quyđịnh về HĐKT trên rút ra được kết luận sau: HĐKT trong nền kinh tế KHHTT có nhữngđặc điểm sau: HĐKT là hình thức pháp lý của các quan hệ mang tính chất kế hoạch -Mục đích của HĐKT là việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước - chủ thể củacác HĐKT là các đơn vị, tổ chức được giao chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước
b Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 (PLHĐKT):
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 19989 (PLHĐKT): Khi đất nước chuyển sang nền kinh tếthị trường các quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế mang một nội dung mới về chất.Trong điều kiện đó, điều lệ về chế độ HĐKT ban hành kèm theo nghị định 54/CP ngày10/3/1975 không còn phù hợp nữa Nhà nước ban hành PLHĐKT ngày 25/9/1989 vànhiều văn bản khác để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng theo quan điểm mới PLHĐKT
Trang 131989 ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực pháp lý về HĐKT nóichung bao gồm cả hợp đồng mua bán hàng hóa.
Chủ thể của HĐKT: Tại Điều 2 PLHĐKT quy định hợp đồng được kí giữa pháp nhânvới pháp nhân (một tổ chức có tư cách pháp nhân cần có những điều kiện quy định tạiĐiều 1 Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/1/1990 quy định chi tiết thi hành PL HĐKT;pháp nhân với cá nhân có đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật (cá nhân cóđăng kí kinh doanh là người được cấp giấy phép kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng
kí kinh doanh) Tuy cá nhân có đăng kí kinh doanh hay pháp nhân đều là chủ thể củaHĐKT nhưng Pháp lệnh chỉ coi HĐKT là hợp đồng có ít nhất một bên là pháp nhân, cònbên kia là pháp nhân hoặc cá nhân có đăng kí kinh doanh mà các bên đều nhằm mục đíchkinh doanh Ngoài ra những người tham gia công tác kĩ thuật, nghệ nhân, hộ gia đình, hộngư dân, nông dân, cá thể, tổ chức và cá nhân nước ngoài tại Viêt Nam kí kết HĐKT vớimột pháp nhân Việt Nam cũng chịu sự điều chỉnh PLHĐKT (Điều 42,43) Khi tiến hành
kí kết, mỗi bên tham gia quan hệ HĐKT chỉ cần cử một đại diện kí vào HĐKT Ngườiđại diện đương nhiên có thể ủy quyền cho người khác thay mình kí kết, thực hiện HĐKTcũng như trong tố tụng khi có tranh chấp hợp đồng
Nội dung của HĐKT là toàn bộ điều khoản mà các bên kí kết thỏa thuận, được hìnhthành nên sau khi đã bàn bạc thương lượng trên cơ sở tự nguyện ý chí Về phương diệnpháp lý, căn cứ vào tính chất của các bên, vai trò của các điều khoản, nội dung củaHĐKT bao gồm 3 loại điều khoản chủ yếu sau:
- Điều khoản thường lệ là những điều khoản mà nội dung của nó được quy định trongcác văn bản quy phạm pháp luật, nếu các bên không ghi nhận trong hợp đồng thì coi nhưmặc nhiên thừa nhận và phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đó
- Điều khoản chủ yếu là những điều khoản căn bản bắt buộc phải có trong HĐKT
- Điều khoản tùy nghi là những điều khoản được đưa vào hợp đồng căn cứ và khảnăng, nhu cầu và sự thỏa thuận của mỗi bên khi quy định của Nhà nước chưa có hoặc đã
có quy định của Nhà nước nhưng các bên được vận dụng linh hoạt trong hoàn cảnh thực
tế của mình và không trái pháp luật
Trang 14HĐKT vô hiệu khi HĐKT đó kí kết trái với quy định của pháp luật Có hai loại hợpđồng vô hiệu là HĐKT vô hiệu từng phần và HĐKT vô hiệu toàn bộ Tòa án là cơ quan
có thẩm quyền quyết định HĐKT vô hiệu Trong những văn bản được pháp luật ban hành
và xây dựng sau khi Đảng và Nhà nước ta khởi xướng chính sách đổi mới thì PLHĐKTđược coi là một trong những bước đi lập pháp tiên phong, một trong những phản ứngnhanh chóng trước đòi hỏi của kinh tế Điểm thành công nhất trong số những thành công
ít ỏi của Pháp lệnh là khẳng định nguyên tắc tự do hơp đồng bằng quy định kí kết HĐKT
là quyền của các đơn vị kinh tế, không cơ quan, cá nhân, tổ chức nào được áp đặt ý chícủa mình cho các tổ chức, cá nhân khi kí kết các HĐKT Pháp lệnh đặt dấu chấm hết cho
sự tồn tại của cơ chế KHHTT trong lĩnh vực hợp đồng nơi mà các chủ thể phải được tự
do tự nguyện thể hiện ý chí của mình Tuy nhiên, PLHĐKT còn tồn tại một số bất cậpsau:
- Xét từ góc độ lý luận, điểm đầu tiên là sự mâu thuẫn giữa tư tưởng xuyên suốt của cơquan soạn thảo pháp lệnh này đó là quyền tự do hợp đồng được thể hiện trên một sốnguyên tắc chung về kí kết và thưc hiện hợp đồng với những quy định của nó trong việc
xử lý các khía cạnh cụ thể của đời sống sản xuất kinh doanh Khi xem xét các quy định
cụ thể trong PL thì quyền tự do có đăng kí kinh doanh tham gia các quan hệ hợp đồng,trong khi đó tự do HĐKT đòi hỏi trước hết là tự do lựa chọn đối tác Điểm thứ hai, cácchủ thể tham gia kí kết còn bị hạn chế bởi nguyên tắc chịu trách nhiệm trực tiếp về tài sảnđồng nghĩa với việc không cho các chủ thể tham gia kí kết HĐKT dưới sự bảo lãnh củachủ thể khác
- Xét từ góc độ thực tiễn áp dụng: sự giới hạn chủ thể tham gia kí kết HĐKT ngay từđầu đa tỏ ra bất công và trong thực tiễn ngày càng trở nên đậm nét hơn Sự giới hạn nàycủa PL đã không tính đến sự đa dạng của các chủ thể tham gia hợp đồng lại bị ràng buộc
và bị triệt tiêu một cách khó giải thích PLHĐKT chỉ cho phép pháp nhân và cá nhân khiđất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong khi đó hệ thốngXHCN của nước ta đã xuất hiện nhiều chủ thể kinh doanh tham gia rộng rãi các quan hệkinh tế như công ty hợp danh - là loại hình doanh nghiệp có số lượng tăng dần nhưngkhông được xếp là pháp nhân theo Pháp lệnh
Trang 15c Hệ thống pháp luật hợp đồng với sự ra đời của BLDS 1995 là Luật thương mai
1997 (LTM 1997):
Trong hai năm 1995 và 1997, Quốc hội đã lần lượt ban hành ra hai văn bản pháp luâtmới là Bộ luật dân sự (BLDS) và Luật thương mại (LTM) Đây chính là một bước độtphá mới trong những quy định về hợp đồng và quyền tự do hợp đồng Nhìn chung, nộidung hai văn bản này đều dựa trên cơ sở nền tảng của PLHĐKT 1989 nhưng BLDS 1995
và LTM 1997 đều có những quy định thoáng hơn về hợp đồng
Thứ nhất, chủ thể tham gia kí kết hợp đồng không chỉ giới hạn ở pháp nhân và cánhân có đăng kí kinh doanh mà tùy thuộc vào từng loại hợp đồng, phạm vi chủ thể cóquyền giao kết có những sự khác nhau nhất định Theo BLDS 1995, các chủ thể của hợpđồng dân sự gồm: cá nhân (có năng lực cá nhân và năng lực hành vi dân sự), pháp nhân,
tổ hợp tác, hộ gia đình Trong Điều 5 LTM 1997 cũng quy định chủ thể của hợp đồngtrong lĩnh vực thương mại là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng kí kinhdoanh hoạt động thương mại
Thứ hai, về hình thức hợp đồng BLDS 1995 là LTM 1997 đều quy định hình thức hợpđồng có thể bằng văn bản, lời nói, hành vi cụ thể Các chủ thể khi giao kết hợp đồng được
tự do lựa chọn hình thức cả kể fax, email… mà vẫn đảm bảo chặt chẽ về mặt pháp luật.Như vậy, với những quy định mở rộng về chủ thể giao kết và hình thức hợp đồng màBLDS 1995 và LTM 1997 đã phần nào giải quyết mâu thuẫn giữa tư tưởng xuyên suốtcủa PL HĐKT 1997 về tự do hợp đồng với các quy định của nó
Tuy nhiện hệ thống pháp luật đang tồn tại đó ngày càng nổi lên nhiều bất cập Đó là,trong hệ thống văn bản pháp luật quy định về hợp đồng, chúng ta thấy có ba khái niệmcùng tồn tại: hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế và hợp đồng thương mại Một mặt cáchợp đồng này có những điểm đặc trưng của hợp đồng nhưng nó lại có điểm thiếu sót như:
sự trùng lặp, thiếu nhất quán và không đồng bộ gây ra không ít sự vướng mắc, sự lúngtúng trong việc áp dụng pháp luật để tiến hành giao kết hợp đồng và giải quyết tranhchấp Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, pháp luật hợp đồng Việt Namchưa tương thích với pháp luật và tập quán thương mại
Trang 16Với thực trạng pháp luật về hợp đồng như vậy thì việc duy trì khái niệm hợp đồngkinh tế và hệ thống các văn bản pháp luật quy định riêng về nó là không cần thiết trongkhi có nguy cơ nảy sinh những vấn đề phức tạp trong việc xây dựng và áp dụng BLDS
1995 và các văn bản về hợp đồng chưa giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật hợp đồngvới điều lệ, quy chế của doanh nghiệp cũng như các điều kiện giao dịch mà các doanhnghiệp tự ban hành Các tiêu chí phân định hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồngthương mại không rõ ràng, vì vậy thường xuyên xuất hiện những quan hệ “giáp ranh”không biế thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 1995 hay LTM 1997 Một yêu cầu cấpthết đặt ra là cần sớm ban hành văn bản quy pham pháp luật mới để thống nhất sự điềuchỉnh pháp luật về hợp đồng
1.2 Nội dung pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa:
1.2.1 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa:
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa: Điều 24 Luật Thương mại 2005 quy định
Ngoài ra, Luật thương mại còn có một số quy định riêng về điều kiện có hiệu lực củahợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài như chủ thể bên Việt Nam phải
là thương nhân được phép hoạt động thương mại trực tiếp với người nước ngoài; hànghóa phải là hàng hóa được phép mua bán theo quy định của pháp luật nước bên mua vànước bên bán; hoạt động mua bán phải được lập thành văn bản…
Trang 171.2.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa:
Nội dung của hợp đồng là tất cả những gì các bên thỏa thuận với nhau và theo quyđịnh của pháp luật, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Nhưchúng ta biết, hợp đồng mua bán hàng hóa cũng là một loại hợp đồng, nên cũng là sựthỏa thuận giữa các bên về việc xác lập quyền và nghĩa vụ của họ trong việc mua bánhàng hóa Do đó, nội dung của hợp đồng trước hết là sự thỏa thuận giữa các bên tronghợp đồng không trái với pháp luật Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợpđồng phát sinh chủ yếu từ những điều khoản mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng, cácbên thỏa thuận càng rõ rang bao nhiêu thì càng thuận lợi cho việc thực hiện hợp đồng bấynhiêu Pháp luật không hạn chế điều khoản thỏa thuận của các bên Điều 402 BLDS 2005
cũng chỉ quy định các bên “có thể thỏa thuận” mà không đòi hỏi bắt buộc phải thỏa thuận
những nội dung nào Luật thương mại 2005 cũng không quy định bắt buộc phải có nhữngnội dung gì trong hợp đồng mua bán Theo đó, các bên tự do thỏa thuận với nhau Khithực hiện hợp đồng tiến hành theo những thỏa thuận đó cũng như khi xảy ra tranh chấpdựa vào những thỏa thuận đó để giải quyết Tuy nhiên, luật cũng dự liệu trước trườnghợp các bên không thỏa thuận đối với những nội dung cơ bản, do đó khi thực hiện hợpđồng cũng như khi xảy ra tranh chấp, đối với những nội dung không được các bên thỏathuận trước sẽ dựa vào quy định của pháp luật để thực hiện và giải quyết
Trên cơ sở các thỏa thuận trong thực tế, các quy định trong BLDS 2005 và LTM
2005, xuất phát từ tính chất của quan hệ hợp đồng mua bán trong thương mại, có thể thấynhững nội dung quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm: đối tượng, chấtlượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn, địa điểm giao nhận hàng, bảo hành hànghóa, thời điểm chuyển rủi ro, thời điểm chuyển quyền sở hữu…
a Đối tượng hợp đồng mua bán hàng hóa:
Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại trong đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, còn bên mua cónghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận
Từ định nghĩa đó, ta có thể thấy rằng trong mua bán hàng hóa, đối tượng của hợp đồng làmột hàng hóa nhất định là điều khoản không thể thiếu được Hàng hóa là sản phẩm lao
Trang 18động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thỏa mãn nhu cầu của conngười Hàng hóa có thể là vật hoặc là sức lao động của con người, là quyền tài sản.Tronghợp đồng phải nêu rõ tên hàng bằng những danh từ thông dụng nhất (tiếng phổ biến) đểcác bên trong hợp đồng và cơ quan hữu quan đều có thể hiểu được
Theo pháp luật thương mại của đa số nước và điều ước quốc tế, hàng hóa là đối tượng
có thể mua bán trong thương mại bao gồm những loại tài sản có hai thuộc tính cơ bản là
có thể đưa vào lưu thông và có tính trao đổi, mua bán Pháp luật Việt Nam cũng quy định
tương tự đối với đối tượng hàng hóa Theo khoản 1 Điều 429 BLDS 2005: “Đối tượng
của hợp đồng mua bán là tài sản được phép giao dịch” Như vậy đối tượng của hàng hóa
chỉ hợp pháp khi nó là hàng hóa được phép lưu thông; nếu đối tượng của hợp đồng này làhàng quốc cấm thì hợp đồng vô hiệu Nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hóa hạn chếlưu thông thì loại hợp đồng mua bán này thường được cơ quan nhà nước quản lý chặt chẽ
số lượng và địa chỉ tiêu thụ, các chủ thể không được áp dụng nguyên tắc tự nguyện vàphải tuân theo quy định của hợp đồng theo chỉ tiêu pháp lệnh Theo khoản 2 Điều 3 Luậtthương mại 2005 quy định cụ thể hơn về đối tượng hàng hóa của hợp đồng mua bán hànghóa, bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; vànhững vật gắn liền với đất đai Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng làhàng hóa, có thể là hàng hóa đang tồn tại hoặc sẽ có trong tương lai, hàng hóa có thể làđộng sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại và phải loại trừ một số hànghóa đặc biệt chịu sự điều chỉnh riêng như cổ phiếu, trái phiếu…
b Số lượng hàng hóa:
Điều khoản số lượng xác định về mặt lượng đối với đối tượng của hợp đồng Sốlượng vật tư, hàng hóa phải được ghi chính xác, rõ ràng theo thỏa thuận của các bên chủthể và tính theo đơn vị đo lường hợp pháp của nhà nước đối với từng loại hàng hóa như
kg, tấn tạ, cái, chiếc, mét… Nếu tính trọng lượng thì phải ghi cả trọng lượng tịnh và trọnglượng bao bì
Đối với những hợp đồng có nhiều loại hàng hóa khác nhau thì phải ghi riêng sốlượng, trọng lượng của từng loại, sau đó ghi tổng giá trị vật tư, hàng hóa mua bán
Trang 19Đối với những hợp đồng có đối tượng là hàng hóa hạn chế lưu thông, hàng hóa đặcbiệt thì số lượng hàng hóa phải tuân theo chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nươc giao đối với sốlượng hàng hóa đó.
c Chất lượng hàng hóa:
Trong Luật thương mại không quy định rõ ràng về chất lượng hàng hóa Tuy nhiênchất lượng hàng hóa cũng là một điều khoản vô cùng quan trọng Chất lượng hàng hóagiúp xác định chính xác đối tượng của hợp đồng, cái mà người mua biết tường tận vớinhững yêu cầu được tính năng, tác dụng, quy cách, kích thước, công suất,hiệu quả… xácđịnh chất lượng cụ thể của hàng hóa cũng là một tiêu chí để định giá hàng hóa đó Do đó
mà các bên trong hợp đồng cần phải ghi rõ chất lượng của hàng hóa, tùy từng loại hànghóa mà các bên có thể thỏa thuận về các điều kiện phẩm chất, quy cách cho phù hợp.Bởi luật chuyên ngành là Luật thương mại 2005 không quy định rõ về chất lượnghàng hóa do đó chúng ta sẽ quay về quy định của luật chung là BLDS 2005 Theo Điều
430 BLDS 2005, trước hết cũng tôn trọng thỏa thuận của các bên, sau đó là đối với cácđối tượng đặc biệt được quản lý chặt chẽ bởi nhà nước thì chất lượng của hàng hóa đượcxác định theo các tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nươc cóthẩm quyền Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quyđịnh về chất lượng thì chất lượng của vật mua bán được xác định theo mục đích sử dụng
và chất lượng trung bình của vật cùng loại
d Giao và nhận hàng hóa:
Giao hàng là điều khoản về nghĩa vụ của bên bán, bên bán có nghĩa vụ giao hàng chobên mua; nhận hàng là điều khoản về nghĩa vụ của bên mua, bên mua có nghĩa vụ nhậnhàng khi bên bán giao hàng Trong các điều khoản này phải xác định trách nhiệm củangười bán phải thông báo cho người mua về việc hàng đã chuẩn bị xong để giao hàng,ngoài ra bên bán còn phải những chứng từ giao hàng mà người bán phải giao khi nhậnhàng Theo Điều 34 Luật thương mại 2005 quy định nghĩa vụ của bên bán, bên bán phảigiao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng, trường hợp không có thỏa thuận cụthể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan theo quy định của Luật này.Điều 37 Luật thương mại 2005, bên bán cũng phải giao hàng đúng thời điểm giao hàng
Trang 20đã thỏa thuận trong hợp đồng Đồng thời với việc giao hàng của bên bán là nghĩa vụ nhậnhàng của bên mua, Điều 56 quy định rõ ràng bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thỏathuận và thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng
Vì thời điểm giao, nhận hàng là rất quan trọng, vì vậy mà các bên cần phải ghi vàohợp đồng thời gian giao nhận cụ thể, có thể chia theo đợt, theo ngày, tháng…, cũng cóthể lập phụ lục hợp đồng với lịch giao nhận phù hợp với tình hình thực tế hai bên có thểchấp nhận được Luật thương mại 2005 còn dự liệu trong cả những trường hợp hai bênkhông có thỏa thuận rõ ràng hoặc không thỏa thuận về thời điểm giao nhận hàng hóa tạikhoản 2 và 3 Điều 37
Địa điểm giao nhận: hai bên cần thỏa thuận cụ thể địa chỉ nơi giao nhận, phải đảm bảonguyên tắc phù hợp với khả năng đi lại của phương tiện vận chuyển, đảm bảo an toàn chophương tiện, cố gắng thẳng từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, bỏ bớt các khâu trung giankhông cần thiết Theo khoản 1 Điều 35 Luật thương mại 2005, bên bán có nghĩa vụ giaohàng đúng địa điểm đã thỏa thuận, như vậy bên bán có trách nhiệm kí hợp đồng vậnchuyển đưa vật tư hàng hóa đến địa điểm đã thỏa thuận, mọi phí tổn sẽ do bên mua thanhtoán Bên mua có thể tự lo liệu phương tiện để đến nhận hàng hóa tại kho của bên bán,trong trường hợp này bên mua sẽ được hưởng toàn bộ chi phí vận chuyển do bên bánthanh toán Ngoài ra, Luật thương mại cũng quy định địa điểm cụ thể cho từng đối tượnghàng hóa trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về địa điểm giao hàng được quyđịnh rõ tại khoản 2 Điều 35 Luật thương mại 2005
e Giá cả và phương thức thanh toán:
Giá cả cũng là một điều khoản vô cùng quan trọng, các bên có quyền thỏa thuận giá
cả và phải được ghi cụ thể trong hợp đồng hoặc nếu không ghi cụ thể thì phải xác định rõphương hướng định giá Các bên trong hợp đồng cần lưu ý đồng tiền thanh tóa là ViệtNam đồng, trừ một số trường hợp được nhà nước cho phép sử dụng ngoại hối trên lãnhthổ Việt Nam theo thông tư 32/2013/TT - NHNN Ngoài ra một điều khoản mà các bênthường hay bỏ qua đó là cách xác định giá khi có biến động, khi có sự kiện bất khảkháng Điều 52 Luật thương mại 2005 cũng quy định đối với trường hợp các bên khôngthỏa thuận về giá, không có thỏa thuận về phương pháp xác định giá
Trang 21Phương thức thanh toán là cách thức mà bên mua và bên bán thỏa thuận, theo đó bênmua phải thanh toán cho bên bán tiền hàng đã mua theo một phương thức nhất định Việcchọn phương thức thanh toán trong hợp đồng hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữacác bên khi tham gia quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa Sự lựa chọn phương thứcthanh toán cũng căn cứ vào mức độ an toàn của phương thức thanh toán và phí tổn choviệc thanh toán
f Nghĩa vụ bảo hành:
Bảo hành là nghĩa vụ của bên mua trong những trường hợp hàng hóa có bảo hành Vềnguyên tắc, những hàng hóa có tính năng kĩ thuật, người sản xuất phải có trách nhiệmbảo hành trong một thời gian nhất định, đồng thời họ phải làm giấy hướng dẫn sử dụngcần thiết cho loại hàng đó, nhất là hàng dược liệu, mĩ phẩm và phương tiện kĩ thuật Tuynhiên Luật thương mại 2005 không quy định rõ ràng về điều này, Điều 49 Luật thươngmại 2005 chỉ quy định bên bán có nghĩa vụ bảo hành hàng hóa theo nội dung và thời hạn
đã thỏa thuận
1.2.3 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu, huỷ bỏ hợp đồng, chấm dứthợp đồng:
a Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
Hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán nói riêng có hiệu lực là hợp đồng đượcpháp luật thừa nhận có giá trị ràng buộc các bên trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
đã được thoả thuận Pháp luật hiện hành không có những quy định riêng về những điềukiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại Song căn cứ vào Điều 122 Bộ luật dân sự
2005 và các quy định có liên quan cho thấy, một hợp đồng trong thương mại có hiệu lựcphải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, các chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Thứ hai, đại diện của các bên giao kết hợp đồng phải là người đại diện hợp pháp Thứ ba, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội
Thứ tư, hợp đồng được giao kết phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện.
Trang 22Thứ năm, hình thức của hợp đồng phải phù hợp với các hình thức theo quy định của
vệ lợi ích của các bên trong hợp đồng cũng như lợi ích của các chủ thể có liên quan Theoquy định của Bộ luật dân sự 2005, các trường hợp hợp đồng vô hiệu được áp dụng theocác quy định về giao dịch dân sự vô hiệu nói chung, theo đó một hợp đồng mua bán hànghóa vô hiệu trong những trường hợp chủ yếu sau:
- Vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội (Điều 128 Bộluật dân sự 2005): điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật có nội dungkhông cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Đạo đức xã hội là nhữngchuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồngthừa nhận và tôn trọng Biểu hiện cụ thể của vi phạm điều cấm trong hợp đồng là các bênthỏa thuận với nhau để thực hiện những công việc mà pháp luật không cho phép thựchiện như: sản xuất, tiêu thụ hàng giả; mua bán, vận chuyển hàng cấm; cung ứng dịch vụ
bị cấm thực hiện; dịch chuyển tài sản trái phép hay những thỏa thuận gây thiệt hại cho lợiích của người thứ ba… Theo cách hiểu thông thường, nội dung hợp đồng gồm toàn bộcam kết của các bên được thể hiện dưới dạng điều khoản Nhưng khi xem xét về nội dungcủa hợp đồng có vi phạm điều cấm của pháp luật hay không, cần lưu ý điều khoản đốitượng của hợp đồng Khi nội dung của điều khoản này vi phạm điều cấm của pháp luậtlàm hợp đồng vô hiệu toàn bộ thì các điều khoản hợp pháp khác của hợp đồng cũng sẽ bị
vô hiệu theo Để xác định nội dung của hợp đồng có vi phạm điều cấm của pháp luật haykhông, cần lưu ý các quy phạm cấm trong các văn bản pháp luật
- Vô hiệu do giả tạo (Điều 129 Bộ luật dân sự 2005): khi các bên giao kết hợp đồngmột cách giả tạo nhằm che giấu một hợp đồng khác thì hợp đồng giả tạo vô hiệu, còn hợp
Trang 23đồng bị che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp hợp đồng bị che dấu cũng vô hiệu theoquy định của pháp luật.
- Vô hiệu do nhầm lẫn (Điều 131 Bộ luật dân sự 2005): một bên có lỗi vô ý làm chobên kia nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng mà giao kết, thì bên bị nhầm lẫn có quyềnyêu cầu bên kia thay đổi nội dung của hợp đồng đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên
bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
- Vô hiệu do lừa dối (Điều 132 Bộ luật dân sự 2005): lừa dối là hành vi cố ý của mộtbên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất củađối tượng hoặc nội dung của hợp đồng nên đã giao kết hợp đồng đó Khi một bên giaokết hợp đồng do bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
- Vô hiệu do bị đe dọa (Điều 132 Bộ luật dân sự 2005): đe dọa là hành vi cố ý của mộtbên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải giao kết và thực hiện hợp đồng nhằmtránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của mình hoặccủa cha , mẹ, vợ, chồng, con của mình Khi một bên giao kết hợp đồng do bị đe dọa thì
có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu
- Vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều
133 Bộ luật dân sự 2005): người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã giao kết hợp đồngvào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêucầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó là vô hiệu
- Vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức (Điều 134 Bộ luật dân sự 2005): trongtrường hợp pháp luật quy định hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án, cơ quannhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thứccủa hợp đồng trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vôhiệu
Ngoài ra cần lưu ý về hai vấn đề: hợp đồng vô hiệu do chủ thể không đảm bảo điềukiện về đăng kí kinh doanh và hợp đồng vô hiệu do người đại diện không đúng thẩmquyền ký kết
Trang 24Mặc dù Bộ luật dân sự 2005 không quy định cụ thể về trường hợp hợp đồng mua bánhàng hóa vô hiệu do chủ thể hợp đồng không đảm bảo điều kiện về đăng ký kinh doanh,song có thể suy ra trường hợp vô hiệu này từ các quy định về điều kiện có hiệu lực củahợp đồng Một trong các bên kí kết hợp đồng không có đăng kí kinh doanh theo quy địnhcủa pháp luật để thực hiện công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng sẽ làm cho hợp đồng
vô hiệu Việc không đăng ký kinh doanh để thực hiện công việc đã thỏa thuận trong hợpđồng thể hiện chủ thể hợp đồng không có năng lực chủ thể để thực hiện các nghĩa vụ hợpđồng trong kinh doanh Tuy nhiên, đăng ký kinh doanh chỉ đòi hỏi bắt buộc với chủ thể làthương nhân Vì vậy nếu pháp luật quy định chủ thể trong một hợp đồng mua bán hànghóa phải có đăng ký kinh doanh mà bên đó không có đăng ký kinh doanh thì hợp đồng đó
bị coi là vô hiệu toàn bộ
Pháp luật dân sự cũng không quy định trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa vôhiệu do được kí kết bởi người đại điện không đúng thẩm quyền Song trường hợp này cóthể áp dụng quy định về đại diện và phạm vi đại diện để xác định hiệu lực của hợp đồng.Khi người không có quyền đại diện giao kết, thực hiện hợp đồng, sẽ không làm phát sinhquyền, nghĩa vụ đối với bên được đại diện, trừ trường hợp được người đại diện hợp phápcủa bên được đại diện chấp thuận Giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện vượtquá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đốivới phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đượcđại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối Người đã giao dịch với người không cóquyền đại diện (hoặc vượt quá phạm vi đại diện) có quyền đơn phương chấm dứt thựchiện hoặc hủy bỏ giao dịch (hoặc đối với phần vượt quá phạm vi được đại diện) đã xáclập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việckhông có quyền đại diện và việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch
Tùy thuộc vào mức độ của sự vô hiệu hợp đồng, hợp đồng vô hiệu trong các trườnghợp nói trên được phân chia thành: Hợp đồng vô hiệu toàn bộ và hợp đồng vô hiệu từngphần Hợp đồng vô hiêu toàn bộ là hợp đồng mà tất cả các nội dung của hợp đồng không
có giá trị pháp lý, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ và cũng không được hưởng cácquyền theo hợp đồng Hợp đồng vô hiệu từng phần là những hợp đồng có nội dung nào
Trang 25đó vi phạm điều cấm của pháp luật và bị vô hiệu nhưng không làm ảnh hưởng đến cácnội dung còn lại của hợp đồng.
Một hợp đồng được coi là vô hiệu sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Căn cứtheo Điều 137 Bộ luật dân sự 2005 thì một hợp đồng bị vô hiệu sẽ không làm phát sinh,thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao kết Cácbên sẽ phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Nếukhông hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giaodịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệthại phải bồi thường
c Huỷ bỏ hợp đồng:
Huỷ bỏ hợp đồng thương mại là sự kiện pháp lý mà hậu quả của nó làm cho nội dunghợp đồng bị huỷ bỏ và không có hiệu lực từ thời điểm giao kết Hủy bỏ hợp đồng có thểđược tiến hành trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng (Điều 425
Bộ luật dân sự 2005), theo đó, các bên cùng thống nhất hủy bỏ thực hiện nghĩa vụ khiviệc thực hiện này không còn phù hợp lợi ích của họ Ở trường hợp khác, hủy bỏ hợpđồng được tiến hành theo ý chí đơn phương của một bên khi xảy ra hành vi vi phạm hợpđồng và đây là một loại chế tài trong thương mại (Điều 292 Luật thương mại 2005).Điều 425 Bộ luật dân sự 2005 quy định bên huỷ bỏ hợp đồng phải thông báo ngaycho bên kia biết về việc huỷ bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồithường Hợp đồng bị huỷ bỏ không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phảihoàn trả cho nhau tài sản đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàntrả bằng tiền Bên có lôi trong việc hợp đồng bị huỷ bỏ phải bồi thường
Điều 294 và Điều 312 Luật thương mại 2005 quy định về huỷ bỏ hợp đồng như mộtchế tài trong thương mại như sau Có hai trường hợp hủy bỏ hợp đồng, đó là:
- Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụhợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng
- Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, cácphần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực
Trang 26Về căn cứ áp dụng, chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng khi xảy ra vi phạm hợpđồng thuộc một trong các trường hợp: xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận
là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng, một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
Việc huỷ bỏ hợp đồng sẽ dẫn đến các hậu quả pháp lý, đó là:
- Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thựchiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụsau khi hủy bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp
- Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theohợp đồng Nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiệnhợp đồng Trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụphải hoàn trả bằng tiền
- Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đồng thời với việc áp dụng chếtài hủy bỏ hợp đồng
hóa Theo Điều 390 bộ luật dân sự “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định
giao kết hợp đồng và chị sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã xác định được cụ thể”.
Đề nghị giao kết hợp đồng là hành vi pháp lý đơn phương của người đề nghị Đó làmột tuyên bố chỉ ra rằng: Người đưa ra đề nghị đó sẵn sàng giao kết hợp đồng với chủthể xác định trên cơ sở điều khoản đã đưa ra, nếu đề nghị này được chấp nhận Điểm mấuchốt của một đề nghị hợp đồng là người đưa ra đề nghị hợp đồng phải dự định bị ràngbuộc bởi các điều khoản mà họ đã đưa ra mà không có sự đàm phán nào khác
Đề nghị hợp đồng mua bán có thể do bến bán hoặc bên mua đưa ra Bộ luật dân sựcũng như luật thương mại năm 2005 không quy định về hình thức của đề nghị hợp đồngmua bán hàng hóa, song có thể dựa vào quy định về hình thức của hợp đồng mua bán
Trang 27theo Điều 24 Luật thương mại để xác định hình thức của đề nghị hợp đồng theo đó đềnghị hợp đồng có thể dược thể hiện bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể hoặc kếthợp giữa các hình thức này.
Đề nghị hợp đồng được gửi đến cho một hay nhiều chủ thể đã xác định Đề nghị đóphải được gửi đích danh và nội dung của đề nghị đó phải rõ ràng, có ý định đặt quan hệmua bán hàng hóa thực sự Đề nghị được coi là rõ ràng nếu trong đó xác định mặt hàngmột cách trực tiếp hoặc gián tiếp, số lượng hàng, giá cả, thủ tục…Vì trong mua bán hànghóa đề nghị giao kết hợp đồng gắn liền với trách nhiệm của người đề nghị, nên yếu tố đềnghị giao kết hợp đồng phải được chuyển cho một hoặc nhiều người xác định là rất quantrọng Nó là cơ sở để phân biệt giữa đề nghị giao kết hợp đồng với các hành vi khác gầngiống với nó như quảng cáo mua bán hàng hóa Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồngmua bán thông thường được bên đề nghị ấn định Trường hợp bên đề nghị không ấn địnhthời điểm có hiệu lực của đề nghị hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể
từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó Khoản 2 Điều 391 Bộ luật dân sự quyđịnh đề nghị được chuyển đến nơi cu trú (bên được đề nghị là cá nhân) hoặc trụ sở củabên được đề nghị (nếu là pháp nhân) đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thứccủa bên được đề nghị; bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông quacác phương thức khác Trong thời hạn đề nghị hợp đồng có hiệu lực, nếu bên được đềnghị thông báo chấp nhận vô điều kiện đề nghị hợp đồng thì hợp đồng mua bán hàng hóađược hình thành và có giá trị ràng buộc các bên Nếu các bên không thực hiện các nghĩa
vụ theo hợp đồng thì phải chịu các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng
Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồngtrong các trường hợp bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thông báo về việcthay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng thời điểm nhận được đề nghị; điều kiện thayđổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên dề nghị có nêu rõ về viẹc đượcthay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh Nếu bên đề nghị thay đổi nộidung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề nghị mới (Điều 392 BLDS 2005)
Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau bên nhận được
đề nghị trả lời không chấp nhận; hết thời hạn trả lời cháp nhận; thông báo về việc rút lại
Trang 28đề nghị có hiệu lực; thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực; theo thỏa thuận củabên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời.
b Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán:
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị chuyển chobên đề nghị chuyển cho bên đề nghị việc chấp thuận toàn bộ nội dung đã nêu trong đềnghị giao kết hợp đồng Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có giá trị khi đó là hành
vi hành động mang tính tích cực của đối tác trong giao dịch mua bán hàng hóa Khôngthể coi là bên được đề nghị giao kết hợp đồng đã đồng ý với lời đề nghị trong khi họkhông có biểu hiện nào ra bên ngoài để cho người đề nghị biết là mình đồng ý toàn bộ đềnghị giao kết hợp đồng
Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng được xác định tùy từng trường hợp cụthể:
- Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận thì chỉ hiệu lựckhi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được sựchấp nhận đề nghị khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mớicủa bên chậm trả lời Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm
vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thôngbáo chấp nhận giao kêt hợp đồng vẫn có hiệu lực,trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngaykhông đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị
- Khi các bên trực tiếp tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc quacác phương tiện khác thì bên đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấpnhận, trừ trường hợp có thỏa thuận về thời hạn trả lời
Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng,nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấpnhận giao kết hợp đồng
c Thời điểm giao kết hợp đồng:
Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có ý nghĩa quan trọngtrong việc khẳng định sự tồn tại của hợp đồng,vlà cơ sở để xác định phát sinh quyền vànghĩ vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa Về nguyên tắc chung, hợp đồng
Trang 29mua bán được giao kết vào thời điểm các bên đạt được sự thỏa thuận Theo Điều 404 Bộluật dân sự 2005 thì việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng mua bán theo các trườnghợp sau:
- Hợp đồng được giao kết gián tiếp bằng văn bản thì hợp đồng mua bán hàng hóa cóhiệu lực khi đủ 2 điều kiện sau đây: Bên đề nghi nhận được thông báo chấp nhận toàn bộcác điều kiện ghi trong đề nghi giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị đó phải đượcnhận trong thời hạn trả lời do người đề nghị đưa ra
- Hợp đồng được giao kết bằng lời nói: thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cácbên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng Các bên có thể sử dụng những biện phápchứng cứ hợp pháp để chứng minh việc các bên thỏa thuận nội dung hợp đồng mua bánhàng hóa bằng lời nói Bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấpnhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
- Hợp đồng cũng được xem như giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên được đề nghịvẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì thờiđiểm giao kết hợp đồng là ngày hết thời hạn trả lời
- Hợp đồng được giao kết trực tiếp bằng văn bản: thời điểm giao kết hợp đồng là thờiđiểm bên sau cùng kí vào văn bản
Hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết hợp pháp được hình thành từ thời điểmgiao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác(Điều 405 BLDS 2005)
1.2.5 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa:
a Các nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán:
Những thỏa thuận trong hợp đồng có hiệu lực sẽ có giá trị ràng buộc các bên Các bênphải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận theo đúng hợp đồng Để đảm bảo việc thực hiệnhợp đồng mang lại lợi ích cho các bên đồng thời không xâm hại đến lợi ích mà pháp luậtcần bảo vệ, pháp luật quy định những nguyên tắc có tính chất bắt buộc phải tuân theo đốivới các chủ thể trong quá trình thực hiện hợp đồng Theo quy định của BLDS 2005, việcthực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng phải tuân theocác nguyên tắc sau:
Trang 30- Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn,phương thức và các thỏa thuận khác.
- Thực hiện một cách trung thực theo tinh thần hợp tác và có lợi ích nhất cho các bênbảo đảm tin cậy lẫn nhau
- Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi íchhợp pháp của người khác
b Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán:
Quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định bởi hợp đồng của các bên và quy địnhcủa pháp luật
Nghĩa vụ cơ bản của bên bán: giao hàng đúng đối tượng và chất lượng, giao chứng từkèm theo hàng hóa; giao hàng đúng thời hạn; giao hàng đúng địa điểm; kiểm tra hàng hóatrước khi giao hàng; đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa mua bán; chuyển giaoquyền sở hữu hàng hóa cho bên mua, bảo hành hàng hóa
Nghĩa vụ cơ bản của bên mua: nghĩa vụ nhận hàng; thanh toán (địa điểm thanh toán,thời hạn thanh toán, xác định giá, chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, ngừng thanhtoán)
Trong đó có một số điểm chúng ta cần lưu ý như sau:
Thứ nhất, thời điểm chuyển giao quyền sở hữu: Trong hợp đồng mua bán hàng hóa,
xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa từ người bán sang người muahết sức quan trọng, không những cho các bên của hợp đồng mà còn cho người thứ ba Ýnghĩa pháp lý của việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa thể hiện
ở chỗ, sau thời điểm chuyển quyền sở hữu, người bán hết quyền định đoạt hàng hóa, cònngười mua có được thẩm quyền của người chủ sở hữu đối với hàng hóa, tức là có thể bánlại cho người thứ ba, thế chấp ngân hàng hay trong trường hợp hàng hóa bị mất mát hay
hư hỏng thì chỉ có chủ sở hữu mới có quyền yêu cầu người gây ra tổn thất hay công tybảo hiểm (nếu hàng hóa có bảo hiểm) bồi thường thiệt hại Ngoài ra, sau thời điểm đó,hàng hóa trở thành tài sản của người mua và chủ nợ của người mua có thể có quyền yêucầu đối với tài sản đó Cuối cùng, sau thời điểm đó, người mua phải chịu trách nhiệmtrước người thứ ba về những tổn thất do hàng hóa gây ra
Trang 31Thông thường, quy định của pháp luật về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối vớihàng hóa từ người bán sang người mua là quy phạm có tính chất lựa chọn, tức là các bên
có quyền tự do thỏa thuận thời điểm quyền sở hữu đối với hàng hóa là đối tượng của hợpđồng mua bán Pháp luật chỉ can thiệp khi không có sự thỏa thuận của các bên TheoĐiều 62 Luật Thương mại Việt Nam 2005, nếu không có thỏa thuận khác hay pháp luậtkhông có quy định khác thì quyền sở hữu đối với hàng hóa được chuyển từ người bánsang người mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao
Thứ hai, thời điểm chuyển rủi ro: Trong thực tiễn mua bán hàng hóa có thể xảy ra
những sự kiện khách quan làm mất mát, hư hỏng hàng hóa như bị trộm cắp, do thiên tai,dịch họa… Trong những trường hợp đó, yêu cầu rất quan trọng đặt ra là phải xác địnhtrách nhiệm gánh chịu rủi ro đối với hàng hóa Tuy nhiên trong hợp đồng, các bên thườngchú trọng đến chất lượng, số lượng hàng hóa; số tiền, phương thức thanh toán, cơ chế giải
quyết tranh chấp… mà ít chú trọng đến nội dung “chuyển rủi ro” nếu có rủi ro xảy ra Để
đảm bảo quyền lợi của mình một cách tối đa, các bên trong hợp đồng nên chú ý về nội
dung “chuyển rủi ro”, tránh xảy ra những tranh chấp không đáng có.
Về nguyên tắc chung, việc xác định trách nhiệm rủi ro đối với hàng hóa trước hết cầncăn cứ vào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng Trong trường hợp các bên không
có thỏa thuận thì áp dụng quy định của pháp luật Luật Thương mại 2005 quy định về rất
rõ ràng cách xác định trách nhiệm về rủi ro đối với hàng hóa trong các Điều 57, 58, 59,
60 và 61 như sau:
- Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định:
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên muatại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển chobên mua khi hàng hoá đã được giao cho bên mua hoặc người được bên mua uỷ quyền đãnhận hàng tại địa điểm đó, kể cả trong trường hợp bên bán được uỷ quyền giữ lại cácchứng từ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hoá
a Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định:
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hợp đồng có quy định về việc vận chuyểnhàng hoá và bên bán không có nghĩa vụ giao hàng tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về
Trang 32mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giaocho người vận chuyển đầu tiên.
b Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà khôngphải là người vận chuyển:
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hàng hoá đang được người nhận hàng để giaonắm giữ mà không phải là người vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoáđược chuyển cho bên mua thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hoá;
Khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hoá của bên mua
c Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hoá đang trên đường vận chuyển:Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hoá đang trênđường vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bênmua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng
Như vậy, có thể thấy thời điểm chuyển quyền sở hữu và thời điểm chuyển rủi ro hànghóa là không đồng nhất với nhau, điều này là phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế.Bởi việc gắn thời điểm chuyển rủi ro với thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với hànghóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa trong nhiều trường hợp là không thể được Khôngphải lúc nào quyền sở hữu đối với hàng hóa cũng được chuyển từ người bán sang ngườimua khi người bán thực hiện xong nghĩa vụ giao hàng của mình
1.2.6 Trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ và giải quyết tranh chấp trong thương mại:
a Khái niệm trách nhiệm hợp đồng:
Khi một hợp đồng được xác lập có hiệu lực pháp luật, các bên có nghĩa vụ phải thựchiện các nghĩa vụ đã thoả thuận Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng màngười có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thì sẽphát sinh trách nhiệm với người có quyền theo quy định trong hợp đồng Tuy nhiên, nếu
sự vi phạm này chưa gây thiệt hại, thì người vi phạm chỉ có trách nhiệm thực hiện đúngnghĩa vụ Mặt khác, nếu vi phạm nghĩa vụ đã gây ra một thiệt hại cho người bị vi phạm,thì người vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Vì vậy, tùy thuộc vào tínhchất, hậu quả của sự vi phạm mà trách nhiệm do vi phạm hợp đồng sẽ là trách nhiệm